Đánh giá mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016 25 2.5.. Mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chƣa từng đƣợc ai công bố Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Học viên
Lê Thanh Hậu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành và trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, khoa Sinh - KTNN, quý Thầy Cô trường Đại học Quy Nhơn và quý Thầy Cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập Xin tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Xuân Quang đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn, khoa Côn trùng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về bệnh sốt xuất huyết Dengue 3
1.1.1 Đặc điểm và phân loại bệnh 3
1.1.2 Tác nhân gây bệnh 3
1.1.3 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền 4
1.1.4 Tính cảm nhiễm và sức đề kháng 4
1.1.5 Muỗi truyền bệnh 4
1.1.6 Phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue 9
1.2 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.2.1 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 9
1.2.2 Sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam 12
1.2.3 Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Định năm 2015 13
1.3 Các nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue 14
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 14
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.4 Nội dung nghiên cứu 25
Trang 42.4.1 Xác định tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue tại các huyện/thị xã/thành phố
thuộc tỉnh Bình Định năm 2016 25
2.4.2 Xác định các chỉ số véc tơ sốt xuất huyết Dengue tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016 25
2.4.3 Đánh giá mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016 25 2.5 Phương pháp nghiên cứu 26
2.5.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.5.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 26
2.5.3 Kỹ thuật nghiên cứu 26
2.5.4 Phương pháp xử lý mẫu vật 34
2.5.5 Phân tích xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35
3.1 Diễn biến ca bệnh và tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue ở tỉnh Bình Định năm 2016 35
3.1.1 Diễn biến ca bệnh sốt xuất huyết Dengue theo tuần ở tỉnh Bình Định năm 2016 35
3.1.2 Diễn biến ca bệnh sốt xuất huyết Dengue theo tháng ở tỉnh Bình Định năm 2016 39
3.1.3 Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue theo loại bệnh và theo nhóm tuổi ở tỉnh Bình Định năm 2016 42
3.2 Các chỉ số véc tơ, đặc điểm ổ bọ gậy và tập tính trú đậu của véc tơ tại các điểm nghiên cứu 44
3.2.1 Các chỉ số véc tơ Aedes aegypti tại các điểm nghiên cứu 44
3.2.2 Đặc điểm ổ bọ gậy Aedes aegypti tại các điểm nghiên cứu 51
3.2.3 Tập tính trú đậu của muỗi Aedes aegypti tại các điểm nghiên cứu 58
3.3 Mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại các điểm nghiên cứu 67
3.3.1 Mức độ nhạy cảm muỗi Aedes aegypti ở xã Tam Quan Bắc, Hoài Nhơn với hóa chất diệt côn trùng 67
Trang 53.3.2 Mức độ nhạy cảm muỗi Aedes aegypti ở thị trấn Ngô Mây, Phù Cát với hóa
chất diệt côn trùng 69
3.3.3 Mức độ nhạy cảm muỗi Aedes aegypti ở phường Ngô Mây, Quy Nhơn với hóa
chất diệt côn trùng 71
3.3.4 So sánh mức độ nhạy cảm muỗi Aedes aegypti với hóa chất diệt côn trùng ở
các điểm nghiên cứu 73 KẾT LUẬN 79
ĐỀ NGHỊ 81TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
HI : House Index (Chỉ số nhà có bọ gậy)
IRS : Indoor Residual Spraying (Phun tồn lưu trong nhà) KST – CT : Ký sinh trùng – Côn trùng
RH : Relative Humidity (Độ ẩm tương đối)
SXHD : Sốt xuất huyết Dengue
to : Temperature (Nhiệt độ)
tp : Thành phố
ULV : Ultra Low Volume (Dung thể cực nhỏ)
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới) YTDP : Y tế dự phòng
Trang 7Số hiệu Tên bảng Trang 3.1 Diễn biến ca bệnh SXHD ở các địa phương theo tháng
năm 2016 so với 2015 và trung bình giai đoạn 2011-2015 40
3.2 Tỷ lệ mắc SXHD theo loại bệnh và theo nhóm tuổi
3.3 Các chỉ số véc tơ Ae aegypti tại xã Tam Quan Bắc 44 3.4 Các chỉ số véc tơ Ae aegypti tại thị trấn Ngô Mây 46 3.5 Các chỉ số véc tơ Ae aegypti tại phường Ngô Mây 47 3.6 Thành phần, tỷ lệ ổ bọ gậy Ae aegypti tại xã Tam Quan Bắc 51 3.7 Mật độ bọ gậy Ae aegypti ở các DCCN tại xã
3.8 Thành phần, tỷ lệ ổ bọ gậy Ae aegypti tại thị trấn Ngô Mây 53 3.9 Mật độ bọ gậy Ae aegypti ở các DCCN tại thị trấn Ngô Mây 54 3.10 Thành phần, tỷ lệ ổ bọ gậy Ae aegypti tại phường Ngô Mây 55 3.11 Mật độ bọ gậy Ae aegypti ở các DCCN tại phường
3.25 Mức độ nhạy cảm của Ae aegypti ở thị trấn Ngô Mây
3.26 Mức độ nhạy cảm của Ae aegypti ở phường Ngô Mây
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
2.1 Các địa điểm nghiên cứu ở tỉnh Bình Định 23 3.1 Diễn biến ca bệnh SXHD theo tuần năm 2016 so với 2015 36 3.2 Diễn biến ca bệnh SXHD theo tuần tại một số trọng điểm
3.3 Diễn biến ca bệnh SXHD theo tháng năm 2016 so với 2015
3.4 Diễn biến ca bệnh SXHD tại các địa phương qua các năm
3.7 Tỷ lệ trú đậu trên vật dụng của muỗi Ae aegypti tại các
3.8 Tỷ lệ trú đậu theo độ sáng của muỗi Ae aegypti tại các
3.9 Diễn biến tỷ lệ Ae aegypti ở xã Tam Quan Bắc tiếp xúc
3.10 Diễn biến tỷ lệ Ae aegypti ở thị trấn Ngô Mây tiếp xúc hóa
3.11 Diễn biến tỷ lệ Ae aegypti ở phường Ngô Mây tiếp xúc hóa
3.12 So sánh tỷ lệ Ae aegypti tiếp xúc hóa chất chết sau 24h tại
Trang 9MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính nguy hiểm, có thể gây thành dịch lớn Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người
sang người, mà lây truyền qua vật chủ trung gian là muỗi Aedes aegypti (Ae
aegypti) và Aedes albopictus (Ae albopictus), trong đó quan trọng nhất là Ae aegypti Bệnh lưu hành tại các quốc gia, vùng lãnh thổ có khí hậu nhiệt đới và
cận nhiệt đới như: châu Phi, Nam Mỹ, Tây Thái Bình Dương, Địa Trung Hải và các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Theo Cục Y tế dự phòng (YTDP), Bộ Y tế cho biết, trong năm 2015, cả nước ghi nhận 88.324 ca mắc SXHD Khu vực miền Nam ghi nhận 50.160 ca (chiếm 56,8%), miền Trung 21.970 ca (24,9%), miền Bắc 10.308 ca (11,7%), Tây Nguyên 5.886 ca (6,6%) Tại miền Trung, số ca mắc SXHD tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng trở vào: Khánh Hòa 13.397 ca, Bình Định 2.604 ca, Bình Thuận 2.262 ca, Quảng Ngãi 1.782 ca, Phú Yên 1.925 ca Bình Định là tỉnh có số ca mắc cao thứ hai khu vực
Bệnh SXHD đang là vấn đề mang tính toàn cầu và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào nhóm bệnh do véc tơ truyền quan trọng nhất Bệnh lan truyền với tốc độ rất nhanh với khoảng 2,5 tỷ người có nguy cơ nhiễm bệnh trên toàn thế giới, WHO ước tính có ít nhất 50 triệu ca SXHD mỗi năm Kể từ khi được phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, SXHD đã liên tục lan rộng, hiện nay SXHD đang lưu hành trên hơn 128 quốc gia trên toàn thế giới
Đến nay bệnh SXHD vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng bệnh còn đang trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm [3],[14] Vì vậy, kiểm soát véc tơ truyền bệnh là biện pháp phòng chống SXHD quan trọng nhất Sau nhiều năm áp dụng nhiều biện pháp can thiệp, nhất là sử dụng hóa chất diệt đã tác động mạnh mẽ lên các quần thể muỗi Aedes Việc lạm dụng hóa chất một cách rộng rãi trong thời gian dài, sử dụng không hợp lý, không đủ liều hoặc quá
Trang 10liều, độ bao phủ hóa chất không đạt yêu cầu hay sử dụng bừa bãi ở các hộ gia đình… đã tạo áp lực chọn lọc lên các quần thể muỗi làm xuất hiện tính kháng
hóa chất diệt Muỗi Ae aegypti đã tăng mức chịu đựng và xuất hiện tính kháng
hóa chất diệt ở nhiều nơi như: châu Phi, Mỹ La Tinh, Thái Lan, Việt Nam…
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu tỷ lệ mắc, các chỉ số véc tơ
và mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại một số địa bàn trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016”
được thực hiện với các mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ mắc SXHD tại các huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh Bình
Định năm 2016
2 Xác định các chỉ số véc tơ, đặc điểm ổ bọ gậy nguồn và một số tập tính
của véc tơ SXHD tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016
3 Đánh giá mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền
bệnh SXHD tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu tỷ lệ mắc SXHD ở Bình Định năm 2016, giúp chúng ta phân tích chi tiết diễn biến ca bệnh SXHD theo tuần, diễn biến ca bệnh ở các địa phương theo tháng, diễn biến ca bệnh qua các năm, từ đó so sánh với trung bình
5 năm giai đoạn 2011-2015, giúp nắm bắt kịp thời, chính xác diễn biến dịch bệnh và dự báo dịch bệnh SXHD ở các địa phương
Các chỉ số véc tơ phản ánh tình hình SXHD ở một địa phương tại thời điểm điều tra Nghiên cứu các chỉ số véc tơ cung cấp số liệu thực tế giúp nắm bắt chính xác tình tình véc tơ, dự báo nguy cơ gia tăng lan truyền SXHD, từ đó
đề xuất các biện pháp phòng chống dịch bệnh kịp thời, hiệu quả
Tính kháng hóa chất diệt của véc tơ là một trong những thách thức lớn cho Chương trình Quốc gia phòng chống SXHD Việc xác định mức độ nhạy/ kháng với hóa chất diệt của véc tơ truyền SXHD là hết sức cần thiết, làm cơ sở
dữ liệu cho việc lựa chọn và sử dụng hợp lý các loại hóa chất diệt côn trùng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.1.1 Đặc điểm và phân loại bệnh
SXHD là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn Bệnh này thường xuất hiện vào các tháng mùa mưa có nhiệt độ trung bình tháng cao Tại Việt Nam, do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau giữa
3 miền nên miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh năm Miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác miền Bắc thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi truyền bệnh nên bệnh ít xảy ra Thống kê chung trên toàn quốc, bệnh SXHD phát triển nhiều nhất vào các tháng 7-10 (Bộ Y tế, 2014) [3]
Chu kỳ dịch của bệnh SXHD là khoảng 3-5 năm, thường sau một số chu
kỳ dịch nhỏ và vừa lại có một chu kỳ dịch lớn xảy ra Những người sống trong khu vực lưu hành SXHD đều có thể nhiễm vi rút và mắc bệnh Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên tỷ lệ mắc bệnh là rất khác nhau giữa các nhóm dân cư Nhóm người có nguy cơ mắc SXHD cao là trẻ em, người đến từ vùng không lưu hành SXHD, dân cư tại các vùng đô thị hóa có đời sống kinh tế thấp kém, vùng có tập quán lưu trữ và sử dụng nước không kiểm soát, vùng có
mật độ muỗi Ae aegypti thường xuyên cao
Các nhà lâm sàng đã thống nhất bệnh sốt do vi rút Dengue được gọi chung là SXHD và chia thành 3 mức độ bệnh khác nhau: SXHD có dấu hiệu cảnh báo, SXHD nặng và sốc Dengue (WHO, 2009) [69]
Trang 121.1.3 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền
Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày Người bệnh chính là nguồn lây nhiễm chủ yếu của bệnh SXHD trong chu kỳ “người – muỗi Aedes”, nhất là trong 5 ngày đầu của giai đoạn sốt lúc này mật độ vi rút trong máu cao Trong một vụ dịch SXHD, cứ có một trường hợp có triệu chứng SXHD điển hình thì sẽ có hàng chục trường hợp đang mang vi rút Dengue tiềm ẩn, không triệu chứng, đây cũng là nguồn lây truyền SXHD quan trọng [3]
Muỗi Aedes cái có thể truyền vi rút Dengue ngay nếu đốt máu người bệnh rồi đốt ngay sang người lành Khi bị nhiễm vi rút Dengue muỗi sẽ mang vi rút suốt đời và có thể truyền dọc vi rút cho thế hệ sau qua trứng Muỗi hút máu và nhiễm vi rút sau 8-12 ngày là có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời Thời gian nung bệnh ở muỗi cái phụ thuộc vào nhiệt độ: ở 30oC cần 8-12 ngày, 32oC-
35oC cần 4-7 ngày (Bùi Đại, 1999; Burke và cs, 1980) [5],[46]
Nhiều loài muỗi Aedes có thể truyền vi rút Dengue cho người, nhưng chủ
yếu là Ae aegypti (ở thành thị) và Ae albopictus (ở nông thôn, ngoại thành, trong rừng), Ae polynesinensis ở Nam Thái Bình Dương Trong một số vụ dịch,
đôi khi còn có thể phân lập được vi rút Dengue từ một số loài muỗi Aedes khác
ví dụ Ae neveus ở vùng rừng Malaysia và Việt Nam (Bùi Đại, 1999) [5]
1.1.4 Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
Tất cả mọi người, từ trẻ sơ sinh đến người trưởng thành chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể mắc bệnh Sau khi khỏi bệnh, người bệnh sẽ miễn dịch suốt đời với típ vi rút Dengue đã gây bệnh nhưng không miễn dịch chéo với các típ vi rút Dengue khác Nếu mắc bệnh lần hai với típ vi rút Dengue khác, bệnh
có thể nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue (Bộ Y tế, 2014) [3]
Trang 13trong đó quan trọng nhất là Ae aegypti (Bộ Y tế, 2014) [3]
Phân loại muỗi
Côn trùng là lớp đa dạng và phân bố rộng khắp trên toàn thế giới Các nhà khoa học ước tính lớp côn trùng (Insecta) có tới 8-10 triệu loài, trong đó hơn 1 triệu loài đã được mô tả chiếm khoảng 78% số loài của giới động vật được biết đến trên Trái Đất (Nguyễn Viết Tùng, 2006; Chapman, 2011) [36],[49]
Họ muỗi Culicidae, thuộc bộ phụ râu dài (Nematocera), bộ hai cánh (Diptera), lớp côn trùng (Insecta), ngành chân khớp (Arthropoda) còn gọi là ngành tiết túc Họ muỗi Culicidae có khoảng 3.200 loài, chia thành 3 họ phụ và
38 giống (xếp thành 10 tộc): họ phụ Anophelinae gồm 3 giống (Anopheles, Bironella, Chagasia); họ phụ Culicinae gồm 34 giống (3 giống có vai trò Y học quan trọng là Aedes, Culex, Mansonia); họ phụ Toxorhynchitinae gồm 1 giống
là Toxorhynchites (Hồ Đắc Thoàn, 2010) [30]
Trong họ phụ Culicinae, 3 giống: Aedes, Culex và Mansonia chiếm phần lớn số lượng loài, có khả năng truyền bệnh giun chỉ và các bệnh Arboviruses Giống Aedes thuộc tộc Aedini, với khoảng trên 900 loài chia làm 44 giống phụ, phân bố rộng khắp toàn thế giới nhưng chủ yếu ở phương Đông và Úc châu Aedes có khả năng truyền các bệnh: Yellow fever, Dengue, và Arboviruses khác, ngoài ra còn có khả năng truyền bệnh giun chỉ gây bởi Brugian và Bancroftian Stegomyia là giống phụ có vai trò truyền bệnh quan trọng nhất (Hồ Đắc Thoàn, 2010) [30] Đề tài nghiên cứu này đề cập tới 2 loài thuộc giống phụ
Stegomyia là Ae aegypti và Ae albopictus
Theo Vũ Đức Hương (1997), Việt Nam có 27 loài muỗi thuộc giống
Aedes, trong đó Ae aegypti (Linnaeus, 1762) và Ae albopictus (Skuse, 1894) là hai véc tơ truyền bệnh SXHD [16] Muỗi Ae aegypti có mặt ở vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu
nóng ẩm quanh năm nên thuận lợi cho Ae aegypti phát triển
Trang 14Vị trí của Ae aegypti và Ae albopictus trong hệ thống phân loại
- Loài: Ae aegypti (Linnaeus, 1762), Ae albopictus (Skuse, 1894)
Đặc điểm phân loại muỗi Aedes
Muỗi Aedes có kích thước trung bình, thân thường màu đen điểm nhiều vảy trắng tạo thành điểm trắng, băng trắng nên được gọi là muỗi vằn Cơ thể chia 3 phần: đầu, ngực, bụng Vòi hút có các vảy đen, trắng, giữa vòi của một số loài các vảy tập trung thành một khoang trắng Trên pan thường phủ vảy đen, trắng, một số loài các vảy trắng tập trung thành băng trắng ở đỉnh pan Trên tấm lưng và tấm bên phần ngực có phủ nhiều vảy và lông cứng, các vảy thường màu đen, nâu hay trắng, các vảy trắng tập trung thành điểm trắng, băng trắng Hệ thống lông trên tấm ngực giữa của muỗi Aedes không có lông lỗ thở mà chỉ có lông sau lỗ thở Phần ngực mang 1 đôi cánh và 3 đôi chân Màng cánh không phủ vẩy mà có những lông nhỏ li ti Chân gồm 5 đốt, các đốt phủ vẩy đen, trắng tạo thành những điểm trắng hay khoang trắng đặc trưng Phần bụng có 10 đốt, đốt 9 và đốt 10 tiêu giảm tạo thành cơ quan giao phối Trên tấm lưng hay tấm bụng thường phủ vẩy đen, trắng Đầu và cuối các đốt bụng, các cụm vẩy trắng tập trung thành các băng ngang hình chữ nhật hay hình elip (Nguyễn Thị Duyên
Trang 15Một số đặc điểm phân loại muỗi và bọ gậy Ae aegypti
Hình thái muỗi Ae aegypti trưởng thành rất dễ nhận biết: thân có nhiều
vẩy trắng bạc tập trung thành từng cụm hay tạo thành đường trên thân muỗi Vòi không có băng trắng, đỉnh pan trắng Mặt lưng phần ngực có hai đường trắng bạc hình hai nửa vòng cung ôm hai bên lưng còn gọi là hình đàn Chân và bụng
có các khoang đen, trắng rõ rệt Mặt lưng phần bụng, gốc các đốt 2 đến 8 đều có những đường vẩy ngang từng đốt Gốc các đốt bàn chân sau có khoang trắng, riêng đốt bàn chân thứ 5 thì trắng hoàn toàn (Vũ Đức Hương, 1997; James và Harwood, 1979; WHO, 2009) [16],[53],[69]
Bọ gậy Ae aegypti có đốt bụng thứ 8 không có tấm kitin, các răng lược
xếp thành hàng, có gai giữa và hai bên Siphon có chiều dài không quá 4 lần chiều rộng, không có hàng gai ở đỉnh, chùm siphon nằm ngoài khoảng lược siphon, lông siphon không có dạng gai tù Mặt lưng phần ngực không có lông dạng gai, tấm yên không có gai ở phía ngoài, ăng ten có ít gai nhỏ hoặc trơn (Vũ Đức Hương, 1997; James và Harwood, 1979; WHO, 2009) [16],[53],[69]
Một số đặc điểm phân loại muỗi và bọ gậy Ae albopictus
Muỗi Ae albopictus về hình thể rất giống Ae aegypti chỉ khác là mặt lưng
phần ngực có 1 vạch trắng chạy dọc Sinh lý, sinh thái của muỗi Ae albopictus tương tự như Ae aegypti, nhưng Ae albopictus phân bố chủ yếu ở vùng nông
thôn, ít gặp ở thành phố (Nguyễn Thị Duyên và Hồ Viết Hiếu, 2012) [11]
Đặc điểm sinh học muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
Muỗi Aedes giao phối khi đang bay, giao phối chỉ xảy ra 1 lần và tinh trùng muỗi đực được dự trữ trong túi tinh muỗi cái để thụ tinh dần cho trứng Tập tính muỗi cái chỉ giao phối 1 lần và đẻ trứng theo từng đợt nên chúng cần
hút máu để phát triển trứng Muỗi cái Ae aegypti trưởng thành sau khi hút máu
sẽ trú đậu trong hoặc quanh nhà, trên quần áo, gầm giường, gầm bàn… những
nơi độ cao thường <2m để tiêu máu và phát triển trứng Muỗi Ae aegypti đốt
máu chủ yếu vào ban ngày và sống trong nhà, gần người (WHO, 1995) [70]
Trang 16Vòng đời muỗi Aedes trải qua 4 giai đoạn: trứng, bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thành (WHO, 2009) [69]
Hình 1.1 Vòng đời muỗi Ae aegypti
Nếu muỗi đẻ trứng gặp điều kiện không thuận lợi, trứng có thể tồn tại trong điều kiện khô 6 tháng hoặc hơn [5] Trong vòng đời, 3 giai đoạn đầu sống trong nước, giai đoạn trưởng thành sống trên cạn có thức ăn là máu người và động vật (ở muỗi cái) hoặc nhựa cây (ở muỗi đực) Muỗi cái cần hút máu để sinh trưởng, phát triển trứng, trứng thường được đẻ trước khi hút máu lần tiếp theo Tuy nhiên, nếu quá trình đốt hút máu bị gián đoạn, muỗi sẽ tiếp tục đốt và hình thành các chu kỳ sinh thực trong đời sống muỗi Trong suốt đời sống của mình, muỗi đẻ 6-7 lần, mỗi lần khoảng 150 trứng Tuy nhiên, trong điều kiện phòng thí nghiệm, muỗi có thể đẻ tới 13 lần Muỗi Aedes nuôi trong phòng thí nghiệm sống trung bình 20-30 ngày (Burgess và Cowan, 2012; WHO, 1995; WHO, 2009) [45],[ 69],[ 70]
Ở vùng nhiệt đới, thời gian từ khi trứng nở đến khi muỗi thưởng thành khoảng 7-13 ngày Trứng đẻ sau 2-3 ngày sẽ nở thành bọ gậy Bọ gậy Aedes khi nghỉ làm thành một góc với mặt nước, có ống thở để lấy Oxy Mặc dù không có chân nhưng phần đầu bọ gậy phát triển, mình phủ nhiều lông và bơi bằng chuyển động của cơ thể Bọ gậy ăn tảo, vi khuẩn và các sinh vật phù du trong
Trang 17nước Giai đoạn bọ gậy kéo dài 4-7 ngày và phát triển qua 4 giai đoạn (tuổi) khác nhau Bọ gậy sẽ lột xác qua các tuổi Bọ gậy tuổi 4 lột xác chuyển thành quăng, quăng hình dấu phẩy Quăng không ăn mà hầu như chỉ sống sát dưới mặt nước Giai đoạn quăng kéo dài 1-3 ngày, sau đó lột xác phát triển thành muỗi trưởng thành (WHO, 1995) [70]
Mặc dù Ae aegypti chỉ bay xa được khoảng 200m [67], nhưng hiện nay
chúng đã có mặt khắp nơi trên thế giới Nguyên nhân của sự phát tán này là:
+ Sự chuyên chở trứng, bọ gậy: bọ gậy có thể sống và phát triển trong các bồn chứa nước của tàu bè, túi chứa nước của dân du mục, những người hành hương…
+ Sự chuyên chở muỗi trưởng thành qua các phương tiện: ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu thủy…
Tuy nhiên, sự phát tán của Ae aegypti có thể bị hạn chế bởi các yếu tố:
+ Kiểm soát côn trùng thường xuyên theo quy định Quốc tế ở các cảng hàng hải, hàng không…
+ Nâng cao mức sống của người dân, đồ dùng sinh hoạt tiện nghi: sử dụng nước máy, các DCCN có nắp đậy tránh muỗi đẻ trứng…
+ Nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống SXHD
1.1.6 Phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
Đến nay bệnh SXHD chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng bệnh còn đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm [3],[14] Vì vậy, kiểm soát véc
tơ đặc biệt là diệt lăng quăng/bọ gậy với sự tham gia tích cực của cộng đồng là biện pháp phòng chống SXHD quan trọng nhất
1.2 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
SXHD đang là dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe toàn cầu do tốc độ lây lan nhanh tới tất cả các châu lục, tỷ lệ mắc SXHD trên toàn cầu tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây, trong 50 năm qua, số ca mắc SXHD đã tăng 30 lần
Trang 18và trong 10 năm qua, số ca mắc tăng gấp 2 lần (Triệu Nguyên Trung và Huỳnh Hồng Quang, 2012; WHO, 2009) [33],[69] Bệnh phổ biến ở các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, chủ yếu ở đô thị và các vùng ven đô Quá trình đô thị hóa đã
làm tăng khả năng tiếp xúc giữa người với muỗi Ae aegypti SXHD nặng là
nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong ở trẻ em tại một số quốc gia châu Á
và châu Mỹ La tinh
Những vụ dịch đầu tiên được ghi nhận xảy ra vào những năm 1778-1780
ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ Sự xuất hiện gần như đồng thời các vụ dịch trên
3 lục địa khác nhau chứng tỏ rằng vi rút gây bệnh cũng như véc tơ truyền bệnh
đã phân bố rộng khắp trên toàn thế giới từ hơn 200 năm trước Trong thời gian này, sốt Dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ Sau chiến tranh thế giới thứ II, một
vụ đại dịch Dengue xảy ra ở Đông Nam Á sau đó lan rộng ra toàn cầu Cũng tại Đông Nam Á, SXHD được phát hiện lần đầu tiên tại Philippines vào những năm
1950, sau 2 thập kỷ bệnh đã trở thành nguyên nhân nhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này (WHO, 1995) [70]
Khu vực Tây Thái Bình Dương, giai đoạn 2001-2008 đã có tổng cộng 1.020.333 ca mắc SXHD được ghi nhận tại: Campuchia, Malaysia, Philippines, Việt Nam Đây là những quốc gia có số ca mắc và tử vong cao nhất khu vực [69] Năm 2009, ghi nhận 242.424 ca mắc tại 25 quốc gia trong khu vực, khi
phân lập đều tìm thấy cả 4 típ vi rút với véc tơ truyền chính là Ae aegypti và véc
tơ phụ là Ae albopictus SXHD xảy ra chủ yếu ở thành phố, thị trấn, các vùng
ven đô nơi có mật độ dân số cao Tuy nhiên nhiều vụ dịch gần đây tại Campuchia, Việt Nam đã xuất hiện ở cả khu vực nông thôn [69],[70]
Châu Mỹ những năm 1960-1970, nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp kiểm soát véc tơ nhưng không đem lại hiệu quả, SXHD vẫn bùng phát trên diện rộng Năm 1981, Cuba đã xảy ra dịch SXHD lớn đầu tiên với nhiều trường hợp xuất huyết và sốc Dengue, kể từ đó chu kỳ phát sinh dịch SXHD tại đây là
từ 3-5 năm Giai đoạn 2001-2009, hơn 30 quốc gia trong khu vực có dịch SXHD
Trang 19với 6.626.950 ca mắc, trong đó có 180.216 ca nặng và 2.498 ca tử vong, tỷ lệ tử vong là 1,38%, điều tra phân lập tìm thấy cả 4 típ vi rút Bệnh tập trung chủ yếu
ở 6 quốc gia (chiếm hơn 75% ca bệnh trong khu vực), gồm: Venezuela, Brazil, Costa Rica, Colombia, Honduras và Mexico Năm 2010, toàn khu vực có hơn 1.800.000 ca mắc, tập trung chủ yếu ở các nước: Argentina, Bolivia, Brazil, Colombia, Paraguay và Peru [69]
Nhiều vụ SXHD lớn xảy ra với tần suất ngày càng gia tăng tại châu Phi nhưng số ca mắc được ghi nhận tại đây lại rất ít Khu vực Đông Phi phát hiện 3 típ vi rút: DEN-1 và DEN-2 gây dịch ở Comoros năm 1948, 1984, 1993; DEN-3 gây dịch ở Pemba, Mozambique năm 1984-1985 Khu vực Tây Phi năm 1960 phân lập được DEN-1, DEN-2 và DEN-3, từ đó vi rút lan rộng và gây dịch tại nhiều quốc gia khác nhau: Somalia năm 1993 (DEN-2, DEN-3), Senegal năm
1999 (DEN-2), Bờ Biển Ngà năm 2006 và 2008 (DEN-3) [69]
Ở Địa Trung Hải, dịch SXHD được ghi nhận đầu tiên tại Ai Cập năm
1799, sau đó dịch lan rộng ra nhiều quốc gia với tần số ngày càng tăng Điển hình là vụ dịch xảy ra ở Sudan năm 1985 do DEN-1, DEN-2 gây ra và dịch ở Djibouti năm 1991 do DEN-2 gây ra [69]
Khu vực Nam Á, lần đầu tiên dịch SXHD được phát hiện ở Manila, Philippines năm 1954 Đến năm 2000, dịch đã xảy ra ở nhiều nước mà trước đây chưa từng có dịch như Bhutan, Nepal sau đó lan nhanh ra nhiều vùng khác Năm
2003, 8 nước xảy ra dịch lớn: Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Maldives, Malaysia, Myanmar, Sri Lanka và Đông Timor Tại các nước: Thái Lan, Indonesia, Myanmar, Sri Lanka và Đông Timor thì SXHD là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng Những quốc gia này nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới cận xích đạo nên muỗi Ae aegypti rất phổ biến ở cả thành thị lẫn nông thôn
với nhiều típ vi rút Dengue đang lưu hành [69]
Gần đây, dịch SXHD diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới Theo báo cáo của trung tâm YTDP, Sở Y tế Bình Định trích dẫn thông báo của
Trang 20WHO, 2015: dịch bệnh SXHD năm 2015 có biểu hiện gia tăng ở nhiều quốc gia, đặc biệt tại khu vực châu Á Thái Bình Dương Tại Malaysia tính đến ngày 12/9/2015 đã ghi nhận 85.488 ca mắc tăng 21,5% so với cùng kỳ 2014 Tính đến 9/2015, Philipines ghi nhận 7.136 ca mắc, Campuchia ghi nhận 7.799 ca mắc (tăng 350% so với cùng kỳ 2014)
WHO đã cấp phép cho vắc xin SXHD đầu tiên của thế giới vào tháng 4 năm 2016 Đó là vắc xin Dengvaxia (CYD-TDV) của hãng dược phẩm Pháp Sanofi Pasteur sản xuất, có thể ngăn ngừa sự phát triển của cả 4 típ vi rút Dengue Tỷ lệ phòng SXHD của vắc xin là 60,8% Vắc xin đã nghiên cứu trong vòng 20 năm qua và được thử nghiệm tại 17 quốc gia trên thế giới: Mexico, Brazil, El Salvador và Philippines là 4 quốc gia đã cấp phép sử dụng Dengvaxia Vắc xin chủ yếu dùng cho người từ 9-45 tuổi Điều này có nghĩa là trẻ dưới 9 tuổi không thuộc đối tượng sử dụng vắc xin do hiệu quả bảo vệ ở độ tuổi này rất thấp, trong khi trẻ em lại là đối tượng có nguy cơ mắc SXHD cao nhất [14]
1.2.2 Sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam
Theo Bùi Đại (1999): Từ năm 1913, Gaide đã thông báo về bệnh sốt Dengue cổ điển tại miền Bắc và miền Trung Năm 1929, Boyé có viết về một vụ sốt Dengue cổ điển (1927) ở miền Nam Năm 1958, lần đầu tiên Chu Văn Tường và cs căn cứ trên một số bệnh nhân nhi ở bệnh viện Bạch Mai đã thông báo về một vụ dịch sốt xuất huyết nhỏ ở Hà Nội Năm 1960, hai vụ dịch nhỏ xảy
ra ở Cái Bè và An Giang được chẩn đoán lâm sàng là sốt xuất huyết (Vũ Gia Ân, 1974), cũng trong năm đó một vụ dịch Dengue cổ điển lớn đã bùng phát ở hầu hết các tỉnh miền Bắc (Bùi Đại, 1961) Tới năm 1963, xác định được mầm bệnh SXHD đầu tiên trong một vụ dịch ở đồng bằng sông Cửu Long Từ đó bệnh lưu hành và phát tán ra nhiều vùng khác nhau trong cả nước, các vụ dịch xuất hiện lúc đầu cách 5-6 năm về sau mau hơn, dịch xảy ra vào những năm: 1963, 1969,
1973, 1975, 1977, 1979, 1980, 1987 v.v… Từ năm 1988-1998, SXHD tiếp tục gây ra những vụ dịch lớn, cụ thể: năm 1988 có 72.600 ca mắc, năm 1991 có
Trang 2192.122 ca, năm 1995 có 80.447 ca Từ năm 1995-1998 dịch SXHD gia tăng liên tục và bùng phát mạnh, vào năm 1997 có 107.188 ca mắc, số ca mắc SXHD tăng đột biến vào năm 1998 với 234.920 ca ghi nhận tại 56/61 tỉnh/thành phố trên cả nước [5] Trước tình hình dịch SXHD bùng phát mạnh, Chính phủ đã phê duyệt Dự án Quốc gia phòng chống SXHD thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm
Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2010 dịch SXHD xảy ra trên diện rộng, cả nước ghi nhận 128.831 ca mắc, trong đó miền Nam chiếm 58%, miền Trung 28%, Tây Nguyên 10% và miền Bắc 4% Đặc biệt là miền Trung với số ca mắc mới 35.865 ca, tăng 3,1 lần so với năm 2009 (11.519 ca) Năm 2012, số người mắc bệnh SXHD ở khu vực phía Nam là 67.158 người, tình hình dịch bệnh năm sau tăng hơn năm trước Năm 2013, ghi nhận có khoảng 66.000 trường hợp mắc SXHD Sang 2014, trong 5 tháng đầu năm cả nước đã ghi nhận 10.127 ca mắc SXHD (giảm 41% so với cùng kỳ năm 2013) Năm 2015, cả nước ghi nhận 88.324 ca mắc SXHD tại 58 tỉnh/thành phố Trong đó: miền Nam 50.160 ca (chiếm 56,8%), miền Trung 23.251 ca (24,9%), miền Bắc 10.308 ca (11,7%), Tây Nguyên 5.886 ca (6,6%) Khi phân lập vi rút tại các ổ dịch đều xác định có mặt 4 típ vi rút: DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 Nguyên nhân SXHD gia tăng
là do khí hậu biến đổi: nhiệt độ cao, mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho véc
tơ truyền bệnh sinh sản, phát triển, các chỉ số giám sát véc tơ tại các điểm xảy dịch đều cao
SXHD là bệnh lưu hành quanh năm ở Việt Nam nhưng cao điểm là tháng 6-11 Việt Nam lưu hành cả 4 típ vi rút Dengue với tỷ lệ chiếm ưu thế thay đổi theo từng giai đoạn Với tỷ lệ lưu hành 74%, DEN-3 trở thành típ vi rút chủ yếu gây ra các vụ dịch SXHD lớn trong cả nước năm 1998 Sau đó lần lượt chuyển sang DEN-4 năm 1999-2000, DEN-3 2003-2006 và DEN-1 từ 2007 đến nay
1.2.3 Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Định năm 2015
Theo báo cáo của Bộ Y tế (06/01/2016): Tính đến ngày 31/12/2015, toàn
Trang 22tỉnh đã ghi nhận 2.741 trường hợp mắc SXHD Ca bệnh được ghi nhận ở tất cả
11 huyện/thị xã/thành phố trong tỉnh và phân bố theo địa phương: Quy Nhơn
828 ca, Vân Canh 299 ca, Phù Cát 275 ca, Hoài Nhơn 240 ca, Phù Mỹ 258 ca, Tuy Phước 201 ca, Tây Sơn 215 ca, Vĩnh Thạnh 192 ca, An Nhơn 147 ca, Hoài
Ân 82 và An Lão 04 ca So với cùng kỳ năm 2014, số ca mắc tăng gấp 6,4 lần
Ca bệnh tăng từ tháng 5, 6 sau đó giảm và tăng trở lại vào tháng 8, đặc biệt tăng cao vào tháng 10, 11 Quy Nhơn, Phù Cát, Vân Canh, Hoài Nhơn là những địa phương có số ca mắc tăng sớm vào tháng 9, sau đó qua tháng 10 số ca mắc tăng ở các địa phương còn lại Qua tháng 11, số ca mắc ở Vân Canh, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Tây Sơn có chững lại nhưng vẫn còn ở mức cao còn tại Quy Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ số ca mắc tiếp tục tăng Qua tháng 12, số ca mắc ở Hoài Nhơn, Vân Canh có xu hướng giảm, các huyện khác vẫn duy trì ở mức cao, riêng Quy Nhơn và Phù Cát tăng mạnh
Toàn tỉnh đã ghi nhận 163 ổ dịch SXHD xảy ra tại các địa phương: Quy Nhơn 36 ổ, Vân Canh 17 ổ, Phù Cát 17 ổ, Hoài Nhơn 35 ổ, Phù Mỹ 18 ổ, Tây Sơn 9 ổ, Vĩnh Thạnh 9 ổ, Tuy Phước 9 ổ, An Nhơn 6 ổ, Hoài Ân 7 ổ Có 2 ổ dịch xảy ra trên phạm vi xã là xã Cát Tường (huyện Phù Cát) và thị trấn Vân Canh (huyện Vân Canh), các ổ dịch còn lại có từ 2-5 ca trong phạm vi thôn xóm
So với cùng kỳ năm 2014, số ổ dịch SXHD tăng gấp 7,2 lần
1.3 Các nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Xu hướng chung của việc phòng chống SXHD trên thế giới hiện nay vẫn
là phối hợp đồng thời nhiều biện pháp kiểm soát véc tơ trong đó nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và đưa vào sử dụng vắc xin phòng bệnh Một số công trình nghiên cứu về SXHD trên thế giới:
Chen và cs (2014), Nghiên cứu hành vi đốt máu của muỗi Aedes
albopictus (Skuse), Armigers kesseli (Ramalingam), Culex Quinquefasciatus
(Say), và Culex vishnui (Theobald) tại Malaysia Kết quả cho thấy: hoạt động
Trang 23đốt máu của muỗi Aedes albopictus tại các khu dân cư đô thị ở Kuala Lumpur
được phát hiện trong cả ngày nhưng đỉnh cao nhất là 06h00-09h00 và 20h00, hoạt động đốt máu thấp từ cuối đêm cho đến sáng hôm sau (20h00-
15h00-05h00) với tốc độ ≤1muỗi/người/giờ; Armigers Kesseli có hai đỉnh hoạt động tại 06h00-07h00 và 19h00-20h00; trong khi Culex Quinquefasciatus và Culex
Vishnui có nhiều đỉnh hoạt động đốt máu trong suốt đêm [50]
Chadee (2013), nghiên cứu hành vi trú đậu của muỗi Ae aegypti ở
Trinidad năm 2010 Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng 10 tuần nhằm xác
định những nơi muỗi Ae aegypti hay trú đậu Sử dụng vợt lưới nhỏ (small hand
nets) và máy hút Propokock thu thập muỗi ở đường Augustine, Trinidad, West Indies thực hiện trong những tháng mùa mưa (tháng 10-12) Một nghiên cứu khác được tiến hành song song trong phòng thí nghiệm để xác định bao lâu sau khi muỗi cái đẻ trứng thì chúng đốt máu Nghiên cứu cho thấy các nơi mà muỗi
Ae aegypti thường trú đậu là phòng ngủ (81,9%), phòng khách (8,7%), nhà bếp
(6,9%) Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy chỉ 10% muỗi cái là tìm đốt máu ngay sau khi đẻ trứng [47]
Preechaporn và cs (2007), nghiên cứu sinh thái muỗi, bọ gậy Ae aegypti
và Ae albopictus tại 3 khu vực miền Nam Thái Lan Nghiên cứu theo dõi diễn biến theo mùa của muỗi, bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus tại 3 khu vực sinh
thái khác nhau là đồng bằng, miền núi và vùng rừng ngập mặn Kết quả cho thấy
có sự hiện diện của Ae aegypti và Ae albopictus tại tất cả các điểm nghiên cứu,
muỗi đẻ trứng vào các DCCN khác nhau tùy thuộc vào mùa và khu vực địa hình
Ở vùng núi các chỉ số muỗi, bọ gậy Ae albopictus cao hơn Ae aegypti cả mùa
khô và mùa mưa [60]
Laporta và cs nghiên cứu phân tích liên quan giữa sự thay đổi các yếu tố
khí tượng tới sự xâm nhập Ae aegypti và xuất hiện bệnh SXHD tại bang Sao
Paulo, Brazil giai đoạn 1985-2004 Thống kê phân tích cho thấy nhiệt độ tương
quan chặt với sự xuất hiện của Ae aegypti và SXHD Các khu vực có biên độ
Trang 24nhiệt mùa đông và biên độ nhiệt mùa hè khoảng 2°C muỗi xâm nhập nhanh hơn Ngược lại, những nơi biên độ nhiệt mùa đông và biên độ nhiệt mùa hè cao hơn 4°C muỗi xâm nhập chậm và số ca mắc SXHD cũng thấp hơn hơn (Trích dẫn bởi Clark, 2006) [51]
Ponlawat và Harrington (2005), nghiên cứu thành phần máu là thức ăn
của Ae aegypti và Ae albopictus Tiến hành thu thập muỗi từ 7/2003-4/2004 tại
5 điểm nghiên cứu ở Thái Lan, phân tích 1.021 mẫu máu là thức ăn của Ae
aegypti kết quả 99% là máu người, chỉ một lượng nhỏ (<1%) các vật chủ khác:
bò, lợn, chuột, chuột, gà Ở Ae albopictus thì hoàn toàn là máu người (100%, n
= 105) [57]
Chaiyasit và cs (2006), nghiên cứu hiệu lực diệt Ae aegypti ở Chiang Mai, Thái Lan Sử dụng tinh dầu nguồn gốc từ 5 loài thực vật: Apium graveolens (Cần tây), Carum carvi (Caraway), Curcus zedoaria, Piper longum và Illicium
verum (Hoa hồi) Cả 5 loại tinh dầu đều cho hiệu lực diệt cao tới chủng muỗi thu
thập từ tự nhiên và chủng phòng thí nghiệm So với chủng tự nhiên thì chủng phòng thí nghiệm nhạy cảm hơn với các loại tinh dầu này nhưng sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê Hiệu lực diệt cao nhất là Carum carvi, tiếp theo là
Curcus zedoaria, Apium graveolens, Piper longum, Illicium verum với LC50
(mức gây chết 50% cá thể thử nghiệm) lần lượt là: 5.44, 5.94, 5.96, 6.21, 8.52 μg/mg muỗi cái (chủng phòng thí nghiệm); 5.54, 6.02, 6.14, 6.35, 8.83 μg/mg muỗi cái (chủng tự nhiên) Đây hứa hẹn là một phương pháp mới cho việc kiểm soát vectơ [48]
Mani và cs (2005), tiến hành phun nhiệt Deltacide (hỗn hợp Pyrethroid gồm S-bioallethrin 0,7% w/v, Deltamethrin 0,5% w/v và Piperonyl butoxide 8,9% w/v) trong và quanh nhà ở Chennai, Tamil Nadu, Ấn Độ nhằm kiểm soát
Ae aegypti Kết quả cho thấy hiệu quả diệt Ae aegypti khi phun trong nhà cao
hơn phun ngoài nhà, làm giảm quần thể muỗi trú đậu trong nhà 76% và giảm hành vi cắn 40% trong 3 ngày sau phun, phun hóa chất cho hiệu quả ức chế quần
Trang 25thể muỗi trong nhà trong 5 ngày [55]
Yaicharoen và cs (2004-2005), nghiên cứu 5 quần thể muỗi Ae aegypti ở
Bangkok và Pathum Thani của Thái Lan ghi nhận xuất hiện tính kháng Deltamethrine và có hiện tượng kháng chéo với Dichloro-Diphenyl-
Trichloroethane (DDT) Hai quần thể Ae aegypti ở BangKok có tính kháng cao
hơn ba quần thể còn lại [73]
Brengues và cs (2003), đã chứng minh tính kháng hóa chất DDT rộng rãi
của muỗi Ae aegypti tại 13 điểm nghiên cứu thuộc nhiều quốc gia khác nhau
như: Brazil, French, Guiana, French Polynesia, Indonesia, Martinique, Thái Lan, Ivory Coast và Việt Nam [44]
Theo WHO (2003), muỗi Aedes được xem là muỗi đốt hút máu ban ngày với hai đỉnh hoạt động là lúc bình minh sau khi mặt trời mọc và chạng vạng tối trước khi mặt trời lặn, đỉnh điểm chính của đốt hút máu xảy ra khoảng một giờ
trước khi mặt trời lặn Mức độ rất thấp Ae aegypti và Ae albopictus xuất hiện
đốt máu trong suốt cả ngày và đêm Tầm bay của muỗi Aedes thấp hơn so với các giống khác: Anopheles, Culex, Mansonia, mức độ phát tán khoảng 200m
Muỗi Ae aegypti được tìm thấy trong nhà nhiều hơn ngoài trời, không giống như Ae albopictus, nói chung Ae aegypti thích nghỉ ngơi trong nhà ở những nơi râm mát, trong khi Ae albopictus thích nghỉ ngơi ngoài trời trong bụi cây [67]
Prapathadara và cs (2002), kết luận hai quần thể Ae aegypti nghiên cứu ở
Chiang Mai, Thái Lan có một quần thể kháng với DDT, nhạy với Permethrine
và quần thể còn lại kháng với cả hai loại hóa chất này [59]
Ansari (2001), tiến hành phun Deltamethrin với liều lượng 100mg/m2 lên rèm cửa sổ và cửa ra vào ở các hộ gia đình tại khu F thuộc khu vực Moti Bagh
của thành phố New Delhi (Ấn Độ) để đánh giá hiệu lực phòng chống An
stephensi và Ae aegypti Kết quả cho thấy, mật độ các loài nghiên cứu giảm
mạnh (87,9-93,7%, P<0,05) trong khu vực thử nghiệm Rèm tẩm Deltamethrin cũng có tác động rõ ràng đến các loài côn trùng gây bệnh khác (67,9-85,7%,
Trang 26P<0,05) Hóa chất được sử dụng vẫn còn nhạy cảm với An stephensi và Ae
aegypti (tỷ lệ chết là 100%) trong 3-4 tháng thử nghiệm và giảm dần trong
những tháng tiếp theo Sử dụng rèm tẩm Deltamethrin cho kết quả tỷ lệ lam dương tính với ký sinh trùng sốt rét giảm 92,9% và giảm 95,4% các trường hợp mắc sốt rét trên một nghìn dân Chi phí tẩm Deltamethrin là 41,15 Rs (<1USD) cho mỗi nhà/năm [43]
Vythilingam và cs (1992), nghiên cứu các đặc điểm sinh học của Ae
aegypti ở Malaysia và đưa ra một số biện pháp phòng chống véc tơ này [66]
Theo WHO (2016), muỗi Aedes cũng là véc tơ truyền vi rút Zika Bệnh
do vi rút Zika lần đầu được phát hiện ở Uganda năm 1947 trên khỉ Rhesus thông qua mạng lưới giám sát bệnh sốt vàng Sylvatic Sau đó bệnh được xác định trên người năm 1952 tại Uganda và nước Cộng Hòa Tanzania Dịch bệnh vi rút Zika được báo cáo lần đầu tiên ở Thái Bình Dương vào năm 2007 (tại Yap) và 2013 (tại Polynesia thuộc Pháp) Năm 2015 dịch đã xảy ra tại các nước châu Mỹ (Brazil và Colombia), châu Phi (Cape Verde) và hơn 13 quốc gia ở châu Mỹ đã thông báo nhiễm vi rút Zika cho thấy sự lan rộng của vi rút này [71]
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Muỗi Aedes có mặt khắp nơi trên thế giới, Việt Nam có khoảng 40 loài
thuộc 8 phân giống, trong đó Ae aegypti (Linnaeus, 1762) và Ae albopictus
(Skuse, 1894) là hai véc tơ truyền bệnh SXHD [11] Bệnh SXHD hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, các nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm các biện pháp kiểm soát véc tơ, ngăn cản sự tiếp xúc giữa người và muỗi Aedes
Vũ Đức Hương và Đỗ Thị Hiền (1987), nghiên cứu đặc điểm sinh học muỗi truyền bệnh Dengue xuất huyết, xác định muỗi phân bố chủ yếu ở thành phố, thị xã, đồng bằng ven biển và nông thôn Muỗi Aedes phát triển mạnh vào những tháng nóng, mưa nhiều và trứng tồn tại quanh năm [17]
Lê Khánh Thuận và cs (1992), nghiên cứu mùa truyền bệnh SXHD tại tp Quy Nhơn xác định bệnh lưu hành suốt năm, đỉnh cao vào các tháng mùa mưa
Trang 27(tháng 9-11), đây cũng là mùa duy nhất có khả năng xảy ra dịch SXHD mạnh
mẽ và trên diện rộng Muỗi Ae aegypti luôn phát triển mạnh trước khi dịch bệnh
SXHD bùng phát [31]
Đỗ Sỹ Hiển và cs (1992), nghiên cứu kết quả phòng chống chủ động SXHD tại Tổng công ty xây dựng Sông Đà từ năm 1982-1986 đã đưa ra những nhận định: có thể phòng chống chủ động và hiệu quả bệnh SXHD tại một vùng lưu hành nặng của bệnh với một diện tích, dân số tương đối lớn Sử dụng phối hợp các biện pháp phòng chống: hóa chất, sinh học, môi trường, mà chủ yếu là tiến hành thả cá trong các DCCN lớn một cách rộng rãi và liên tục nhiều năm Nhờ đó đã có thể cắt đứt sự lây lan tại chỗ của bệnh, hạ được mật độ véc tơ hầu như xuống tới 0 trong suốt 1 năm [13]
Trần Vinh Hiển và cs (1995), nghiên cứu đặc điểm sinh thái của Ae
aegypti tại vùng đồng bằng sông Mê Kông, kết quả cho thấy: Ae aegypti có mặt
ở mọi nơi với mật độ cao, đậu chủ yếu trên quần áo, chăn màn, không đậu trên tường vách và sống trong nhà gần người [15]
Đặng Tuấn Đạt và Phan Duy Thanh (2005), nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, sinh thái học của muỗi Ae aegypti và bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue tại Đắk Lắk, kết quả: Ae aegypti trú đậu chủ yếu ở dây treo quần áo
trong nhà độ cao từ 1-2m (77,57%), màn (18,24%); thời gian tấn công hút máu
mạnh nhất từ 9-10h (16,86%) và 17-18h (15,29%); muỗi Ae aegypti đẻ trứng
vào tất cả các DCCN như bể xây (52,8%), phế thải (6,62%) [6]
Đỗ Duy Bình và Nguyễn Bá Hành (2007), nghiên cứu muỗi truyền bệnh SXHD khu vực bệnh viện 87 và vùng phụ cận ở tp Nha Trang, xác định có mặt
cả 2 véc tơ truyền bệnh, trong đó Ae aegypti chiếm tỷ lệ 61,54%, Ae albopictus
chiếm tỷ lệ 38,46% [1]
Triệu Nguyên Trung và cs (2009), đã tiến hành thu thập véc tơ truyền
bệnh SXHD ở tp Quy Nhơn năm 2007, xác định mật độ muỗi Ae aegypti tại
đây tăng cao cao vào tháng 9-12, trùng với mùa mưa và mùa phát triển bệnh
Trang 28SXHD ở đây [35]
Triệu Nguyên Trung và Nguyễn Xuân Quang (2010), giám sát phòng
chống SXHD tại Tây Nguyên, xác định có mặt cả hai véc tơ Ae aegypti và Ae
albopictus [34]
Phạm Văn Minh (2011), xây dựng bản đồ phân bố muỗi Ae aegypti có
vai trò truyền bệnh SXHD và khủng bố sinh học giai đoạn 1999-2009, xác định
muỗi Ae aegypti có mật độ cao nhất ở các tỉnh/thành phố phía Nam và không có
mặt ở 11 tỉnh vùng núi phía Bắc [21]
Nguyễn Văn Chương và Nguyễn Xuân Quang (2013), đã báo cáo kết quả giám sát muỗi truyền SXHD tại tỉnh Phú Yên, xác định được sự có mặt của cả
hai véc tơ truyền là Ae aegypti và Ae albopictus, trong đó Ae aegypti là chủ
yếu, đốt máu ban ngày và sống trong nhà, gần người [4]
Vũ Trọng Dược và cs (2013), nghiên cứu muỗi truyền bệnh SXHD tại các điểm công cộng ở Hà Nội năm 2012 Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập muỗi Aedes tại một số ổ dịch SXHD ở Hà Nội, kết quả cho thấy: trong 24 ổ dịch
được điều tra đã thu thập được 923 muỗi Ae aegypti và 47 muỗi Ae albopictus 100% các ổ dịch nghiên cứu đều có mặt Ae aegypti, trong khi sự có mặt của Ae
albopictus chỉ là 50% Nghiên cứu cũng khẳng định được vai trò truyền bệnh
của muỗi Ae aegypti tại các ổ dịch bằng việc xác định có vi rút Dengue trong cơ thể muỗi Tuy nhiên vai trò truyền bệnh của muỗi Ae albopictus vẫn chưa được
xác định do không phát hiện được vi rút trên muỗi này [7]
Vũ Trọng Dược và cs (2013), nghiên cứu phân bố quần thể hai loài muỗi
Ae aegypti và Ae albopictus tại một số khu vực sinh thái khác nhau ở Hà Nội
năm 2011, sử dụng biện pháp điều tra cắt ngang hai lần vào mùa khô và mùa
mưa Kết quả ghi nhận cả 2 loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus có mặt ở Hà Nội Tại khu vực nội thành và vùng đệm có mặt cả 2 loài Ae aegypti và Ae
albopictus, trong khi khu vực ngoại thành chỉ phát hiện muỗi Ae albopictus Chỉ
số mật độ Ae aegypti tại vùng đệm là (0,09 con/nhà) và tại khu vực nội thành là
Trang 29(0,03 con/nhà) Chỉ số mật độ Ae albopictus tại khu vực nội thành là 0,33
con/nhà, vùng đệm là 0,18 con/nhà và ngoại thành là 0,15 con/nhà Vào mùa
mưa, chỉ số mật độ Ae albopictus tại tất cả các điểm sinh thái đều cao hơn nhiều
so với mùa khô [8]
Vũ Trọng Dược và cs (2013), nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại Hà Nội vào tháng 8-9/2012 nhằm xác định ổ bọ gậy nguồn và phân bố muỗi Aedes tại các điểm công cộng ở Hà Nội, nơi có nguy cơ lan truyền bệnh SXHD vì luôn tập trung đông người nhưng công tác giám sát véc tơ còn chưa được chú trọng Nghiên cứu được thực hiện tại 21 điểm: đình (chùa), công viên, trường học và chợ trên địa bàn 3 quận: Đống Đa, Hoàng Mai và Hai Bà Trưng Kết quả cho
thấy: có mặt cả 2 loài Ae aegypti, Ae albopictus và rất nhiều chủng loại DCCN khác nhau đã được tìm thấy Tại đình (chùa) và trường học, bọ gậy Ae aegypti
chiếm tỷ lệ lớn Ổ bọ gậy nguồn tại đình (chùa) là bể cảnh (60,3%), chum/vại (17,6%); trong khi ở trường học là bể cầu (44,8%), đồ phế thải (33,5%) Tại
công viên và chợ, bọ gậy Ae albopictus chiếm ưu thế hơn Ổ bọ gậy nguồn tại
công viên là phế thải (60,9%), bể cầu (33%) và tại chợ là bể cầu (49,3%), bể chứa nước (23,2%) [7]
Nguyễn Khắc Lực và cs (2013), nghiên cứu một số đặc điểm về phân bố,
tập tính sinh thái của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại khu vực Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phân bố hai loài muỗi Ae aegypti và Ae
albopictus lần lượt là 25,96% và 74,04% Ở các quận nội thành như Hoàng Mai,
Thanh Xuân có tỷ lệ Ae albopictus cao hơn Ae aegypti (17,9% và 18,9% so với
5,3% và 5,7%), đây là điều bất thường về tỷ lệ phân bố của hai loài muỗi này
Tỷ lệ hoạt động hút máu trong nhà của Ae aegypti là 79,2% và ngoài nhà là 20,8%, Ae albopictus hoạt động hút máu ngoài nhà là 90,5% và trong nhà là
9,5% Chỉ số BI trung bình ở Hà Nội tại thời điểm nghiên cứu là 109,32 (cao hơn ngưỡng quy định của Bộ Y tế năm 2006 là BI <50) [20]
Tính kháng là sự giảm đáp ứng của quần thể côn trùng với hóa chất diệt,
Trang 30tại nồng độ mà bình thường hóa chất đó gây chết cho các cá thể trong quần thể
loài đó Theo Rozendaal (2000), 4 nhóm hóa chất diệt côn trùng đã và đang sử
dụng trên thế giới gồm: Clor hữu cơ, Phosphor hữu cơ, Carbamat và Pyrethroid
tổng hợp [26] Bộ Y tế Việt Nam đã có hướng dẫn sử dụng cụ thể cho từng loại
hóa chất như: độc lực, liều hoạt tính, kỹ thuật sử dụng… để các địa phương có
thể dễ dàng áp dụng Biện pháp sử dụng hóa chất cũng rất phong phú: từ máy
phun thô sơ đến máy phun có động cơ, từ phun tay đến phun bằng ô tô, máy
bay… Có thể phun lên tường vách để diệt muỗi bằng đường tiếp xúc, phun
không gian dưới dạng khí nóng với dung thể cực nhỏ (ULV) để tăng hiệu quả
tức thời và tiết kiệm hóa chất Ưu điểm của phương pháp sử dụng hóa chất để
diệt côn trùng là: tác dụng nhanh, có thể triển khai trên diện rộng trong thời gian
ngắn đem lại hiệu quả hạ nhanh mật độ quần thể muỗi Aedes trong các ổ dịch
Vũ Sinh Nam và cs (2010), nghiên cứu độ nhạy cảm muỗi Ae aegypti thu
thập tại 20 điểm nghiên cứu thuộc 10 tỉnh miền Nam Việt Nam, giai đoạn
9/2007-9/2009, với 5 loại hóa chất là: DDT 4%, Malathion 5%, Permethrin
0,75%, Lamdacyhalothrin 0,05% và Deltamethrin 0,05% Kết quả cho thấy:
muỗi Ae aegypti đã kháng hoặc có khả năng kháng với DDT 4% ở 100% điểm
nghiên cứu; còn nhạy cảm với Malathion 5% tại 6 điểm (30%), có khả năng
kháng ở 11 điểm (55%), kháng ở 3 điểm (15%); với 3 loại hóa chất thuộc nhóm
Pyrethroid (Permethrin 0,75%, Lamdacyhalothrin 0,05% và Deltamethrin
0,05%), ghi nhận muỗi kháng tại 45% điểm nghiên cứu, có khả năng kháng ở
33% và còn nhạy cảm ở 22% điểm nghiên cứu [22]
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
bệnh SXHD cũng như véc tơ SXHD Tuy nhiên ở Việt Nam, đặc biệt là ở Bình
Định, việc nghiên cứu những vấn đề này vẫn còn hạn chế, đồng thời việc bệnh
SXHD đang gia tăng và ngày càng lan rộng ở nhiều nơi Vì vậy, cần thiết có
những nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh, các chỉ số véc tơ cũng như mức độ
nhạy/kháng của véc tơ truyền bệnh với hóa chất diệt côn trùng
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các ca bệnh SXHD tại tỉnh Bình Định năm 2016
- Muỗi, bọ gậy Ae aegypti (Linnaeus, 1762) và Ae albopictus (Skuse,
1894)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Phần thực địa tiến hành điều tra tại 3 điểm nghiên cứu: xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn; thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát; phường Ngô Mây, tp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Hình 2.1 Các địa điểm nghiên cứu ở tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam, lãnh thổ trải dài 110km theo hướng Bắc - Nam Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và phía Đông giáp Biển Đông Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng Nam Lào Bình Định có diện tích tự nhiên 6.526,6km², dân số 1.508.266 người (nam: 48,7%, nữ: 51,3%; thành thị 33.2%, nông thôn 66.8%), mật độ dân
Trang 32số 220 người/km² Ngoài dân tộc Kinh, còn có một số dân tộc khác: Chăm, BaNa, Hrê… gồm khoảng 2,5 vạn dân (số liệu năm 2015) Khí hậu Bình Định
có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực miền núi là 23,1°C (cao nhất 31,7°C, thấp nhất 16,5°C), vùng duyên hải là 27,0°C (cao nhất 39,9°C, thấp nhất 15,8°C) Độ ẩm tương đối trung bình tháng trong năm khu vực miền núi là 85,5%, vùng duyên hải là 79% Chế độ mưa: mùa khô kéo dài từ tháng 1-8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9-12, riêng khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5-8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Các huyện miền núi có tổng lượng mưa trung bình năm 2.200 mm, vùng duyên hải có tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751 mm Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam [39]
Tam Quan Bắc là một xã thuộc huyện Hoài Nhơn nằm ở phía Bắc tỉnh Bình Định, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1-8, nhiệt độ trung bình 26,9oC, lượng mưa 120 mm/tháng, độ ẩm 79%, mùa này có gió Tây khô nóng kéo dài khoảng 35-40 ngày; mùa mưa từ tháng 9-12, nhiệt độ trung bình 25,6oC, lượng mưa 517 mm/tháng, độ ẩm 86%, mùa này có gió mùa Đông Bắc
và bão có tốc độ gió mạnh, xoáy, kéo theo mưa lớn, gây nên lũ lụt [27]
Phù Cát là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định Phía Bắc
và Tây Bắc giáp huyện Phù Mỹ và Hoài Ân, phía Nam giáp thị xã An Nhơn, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Vĩnh Thạnh và Tây Sơn, phía Đông giáp biển Đông, phía Đông Nam giáp huyện Tuy Phước và tp Quy Nhơn [23]
Tp Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, phía Đông là biển, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Khí hậu Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1-7, mùa mưa từ tháng 8-12 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5°C [12]
Trang 332.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2016
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Xác định tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue tại các huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh Bình Định năm 2016
- Phân tích diễn biến ca bệnh SXHD tại tỉnh Bình Định năm 2016 theo tuần, diễn biến ca bệnh tại các địa phương theo tháng, diễn biến ca bệnh SXHD qua các năm 2014-2015-2016 và trung bình giai đoạn 2011-2015
- Xác định tỷ lệ mắc SXHD tại tỉnh Bình Định năm 2016 theo loại bệnh
2.4.3 Đánh giá mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại một số trọng điểm ở tỉnh Bình Định năm 2016
Đánh giá mức độ nhạy/kháng của muỗi cái Ae aegypti và Ae albopictus
nuôi lên từ bọ gậy thu thập tại 3 điểm nghiên cứu: xã Tam Quan Bắc (Hoài Nhơn), thị trấn Ngô Mây (Phù Cát), phường Ngô Mây (Quy Nhơn) với các loại hóa chất:
Trang 342.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu theo dõi dọc mô tả ca bệnh SXHD ở tỉnh Bình Định năm
2016, số liệu thu thập tại Trung tâm YTDP Bình Định
- Nghiên cứu cắt ngang các chỉ số véc tơ SXHD vào mùa khô và mùa mưa, đặc điểm ổ bọ gậy, tập tính trú đậu của véc tơ tại 3 điểm nghiên cứu: xã Tam Quan Bắc (Hoài Nhơn), thị trấn Ngô Mây (Phù Cát), phường Ngô Mây (Quy Nhơn)
- Nghiên cứu thử nghiệm mức độ nhạy/kháng của muỗi Ae aegypti và Ae
albopictus với hóa chất diệt côn trùng, tiến hành tại phòng thí nghiệm của Viện
Sốt rét – KST – CT Quy Nhơn
2.5.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Ca bệnh: chọn toàn bộ số liệu ca bệnh SXHD ở tỉnh Bình Định trong năm 2016, được quản lý và lưu tại Trung tâm YTDP Bình Định
- Véc tơ truyền bệnh SXHD: thu thập tất cả các chỉ số véc tơ, điều tra đặc điểm ổ bọ gậy và tập tính trú đậu của véc tơ tại 3 điểm nghiên cứu
- Muỗi thử nghiệm hóa chất: chọn muỗi cái Ae aegypti và Ae albopictus
nuôi lên từ bọ gậy thu thập tại 3 điểm nghiên cứu, sử dụng 100 cá thể thử nghiệm và 50 cá thể đối chứng cho mỗi loại hóa chất (tính theo từng loài)
2.5.3 Kỹ thuật nghiên cứu
2.5.3.1 Kỹ thuật xác định tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue
Nghiên cứu thu thập số liệu bệnh nhân SXHD ở tỉnh Bình Định năm
2016, được quản lý và lưu tại Trung tâm YTDP Bình Định
2.5.3.2 Kỹ thuật điều tra xác định các chỉ số véc tơ, đặc điểm ổ bọ gậy và tập tính trú đậu của véc tơ sốt xuất huyết Dengue tại thực địa
Thực hiện theo Quyết định số 3711/QĐ-BYT (2014), “Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue” [3] Cụ thể như sau:
Trang 35Điều tra thu mẫu muỗi trưởng thành
Soi bắt muỗi trú đậu trong nhà ban ngày (mỗi nhà 15p, số nhà giám sát cho một điểm điều tra là 30 nhà) Tiến hành soi đèn pin lên những nơi muỗi thường trú đậu như: quần áo, dây treo, chăn màn, bàn ghế (nhất là bàn ghế để sát tường), một số vật dụng khác có màu tối và đặt nơi ánh sáng yếu … Khi phát
hiện muỗi Ae aegypti hoặc Ae albopictus thì sử dụng ống tuýp chuyên dụng để
bắt muỗi rồi lấy bông nút lại
Có thể dùng vợt chuyên dụng (vợt vải màn) để bắt muỗi trưởng thành Bật đèn sáng cả nhà sau đó dùng vợt gõ nhẹ lên những nơi mà muỗi thường trú đậu, khi muỗi bay lên dùng vợt bắt lấy sau đó dùng ống tuýp để bắt muỗi ở trong vợt
Bắt muỗi ở quanh nhà: dùng vợt vải màn để thu thập muỗi, tiến hành theo cách như trên
Bẫy mồi Biogent GmbH trong và ngoài nhà: Nhằm xác định sự phân bố,
thời điểm hoạt động của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong và ngoài nhà
Bẫy mồi Biogent GmbH được dùng để thu thập muỗi trưởng thành như một người mồi trong và ngoài nhà, đây là sản phẩm do Công ty Biogent của Đức sản xuất Sản phẩm này được Quân đội Úc cung cấp nằm trong Dự án Phòng chống sốt rét và SXHD hợp tác giữa Quân y Việt Nam và Quân đội Australia Bẫy mồi được đặt ở những nơi có ánh sáng yếu, trong nhà là những nơi người trong gia đình thường sinh hoạt, ngoài nhà là những nơi bóng râm mát, ít hoặc không có gió Thời gian tiến hành từ 5h tới 19h
Cách tính các chỉ số muỗi Aedes: Sử dụng 2 chỉ số dưới đây để giám sát
muỗi Ae aegypti và Ae albopictus (tính theo từng loài)
+ Chỉ số mật độ muỗi (DI): là số muỗi cái Aedes trung bình trong một hộ gia đình điều tra
Trang 36
+ Chỉ số nhà có muỗi (AHI): là tỷ lệ % nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành
Giám sát lăng quăng/bọ gậy thường kỳ
Thực hiện cùng với giám sát muỗi trưởng thành Sau khi bắt muỗi, tiến hành điều tra lăng quăng/bọ gậy bằng cách quan sát, thu thập, ghi nhận và định
loại bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus ở tất cả các DCCN (tự nhiên, nhân tạo)
trong và quanh nhà Số nhà giám sát cho một điểm điều tra là 30 nhà Dùng vợt, ống hút để thu thập bọ gậy trong các DCCN Bọ gậy thu thập được giữ vào trong các lọ nhỏ mang về phòng thí nghiệm để tiếp tục định loại và nuôi thử nhạy/kháng
Các chỉ số được sử dụng để theo dõi lăng quăng/bọ gậy muỗi Ae aegypti
và Ae albopictus (tính theo từng loài):
+ Chỉ số nhà có bọ gậy (HI): là tỷ lệ % nhà có lăng quăng/bọ gậy Aedes
Xác định ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn
Phương pháp này dựa vào kết quả đếm toàn bộ số lượng lăng quăng/bọ gậy Aedes trong các chủng loại DCCN khác nhau, xác định nguồn phát sinh chủ yếu và độ tập trung của lăng quăng/bọ gậy tại từng địa phương theo mùa hoặc
Trang 37theo từng giai đoạn trong năm để thực hiện các biện pháp kiểm soát véc tơ thích hợp Xác định ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn sẽ tiến hành theo đơn vị tỉnh, điều tra trong những xã trọng điểm 2 lần/năm, mỗi lần điều tra 100 nhà (phân bổ trong các xã, phường trọng điểm), lần 1 thực hiện vào quý I-II, lần 2 thực hiện vào quý III-IV
Cách tính chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG): là số lượng lăng quăng/bọ gậy trung bình trong 1 DCCN có bọ gậy CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn
2.5.3.3 Kỹ thuật nuôi và bảo quan muỗi ở phòng thí nghiệm
Tiến hành theo quy trình kỹ thuật nuôi và bảo quản muỗi ở phòng thí
nghiệm của Viện Sốt rét – KST – CT Quy Nhơn Kỹ thuật nuôi, bảo quản Ae
aegypti và Ae albopictus:
Thức ăn cho bọ gậy, thành phần: Tôm, gan vịt (Tất cả được nấu chín, sấy khô, xay mịn, để riêng từng loại) và Saccharomycetes Tỷ lệ pha trộn: 50 gram bột gan/150 gram Saccharomyces, trộn đều hỗn hợp Thức ăn sau khi pha trộn xong được bỏ vào hộp, đậy kín nắp, bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh, thời gian bảo quản tối đa 01 tháng Nước nuôi bọ gậy: Sử dụng nước máy đã khử clo (lấy nước máy cho vào thùng và để ít nhất 24 giờ) Nên sử dụng nước đã khử trùng
để nuôi bọ gậy tuổi 1 Thức ăn cho muỗi: Sử dụng đường glucose dạng bột pha thành dung dịch glucose 10%, multivitamin (Tỷ lệ pha trộn: 10ml multivitamin/50ml dung dịch glucose 10%) và chuột bạch
Phòng nuôi phải đảm bảo đủ diện tích để đặt các lồng nuôi muỗi, khay nuôi bọ gậy, có lối đi, nơi đứng thao tác, có điều hoà không khí, thiết bị tạo ẩm, đèn Nhiệt độ phòng khoảng 28o
C ± 1, ẩm độ 80-85%, ánh sáng 30-100 Lux, thời gian chiếu sáng 10h/ngày đêm Phòng nuôi trồng nhiều cây xanh tạo không khí mát và ẩm, trang bị tủ sấy, tủ lạnh, bình tạo hơi ẩm, máy điều hòa nhiệt độ
Trang 38Kỹ thuật lấy trứng và bảo quản trứng muỗi
▪ Bước 1: Liên tục cho chuột vào lồng muỗi để muỗi đốt 3 ngày liên tiếp
▪ Bước 2: Sau khi muỗi đốt chuột được 3 ngày, cho vào lồng muỗi 1 chén nước sạch (chén ăn cơm) trên mặt nước có miếng giấy thấm sạch để muỗi đậu
và đẻ trứng
▪ Bước 3: Khi thấy miếng giấy thấm có nhiều trứng thì lấy giấy thấm ra và thay bằng 1 cái chén mới với miếng giấy thấm mới như trên Giấy thấm đã có trứng muỗi cho vào một cái chén sạch và để khô tự nhiên trong phòng, ghi chú ngày/tháng/năm lấy trứng Sau khi giấy thấm có trứng muỗi đã khô, cho vào hộp nhựa có nắp để bảo quản
▪ Bước 4: Ghi chú tên loài, thế hệ trứng, ngày lấy trứng
▪ Bước 5: Để hộp đựng trứng muỗi ở nhiệt độ phòng
Lưu ý: Có thể giữ trứng được 1-6 tháng Khi cần lấy nhiều trứng thì cho muỗi đốt chuột liên tục
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc bọ gậy
Trứng sau khi lấy được 10 ngày, lấy 3-5 vỉ trứng (tùy lượng trứng nhiều hay ít) cho vào chậu nước (trứng phải chìm dưới mặt nước) Sau khi trứng nở thành bọ gậy tuổi 1, cho vào chậu nuôi 1 mẩu gan tươi Thay nước cho bọ gậy mỗi ngày vào buổi sáng, dùng vợt có lưới mịn lọc bọ gậy và thay chậu mới mỗi ngày Sau 12-14 ngày bọ gậy nở thành quăng (tính từ lúc tuổi 1) Bắt quăng vào chén và để vào lồng cho nở thành muỗi Mỗi chén khoảng 100 quăng, mỗi lồng đặt 5 chén Ghi tên loài, thế hệ muỗi và ngày tháng bỏ quăng vào lồng
Lưu ý: Khi thấy bọ gậy trong 1 khay nhiều thì nên tách bọ gậy ra làm 2-3 khay Hút bỏ bọ gậy chết trong khay (nếu có)
Kỹ thuật nuôi muỗi trưởng thành
Khi quăng nở thành muỗi, đặt đĩa có bông thấm dung dịch đường glucose 10% vào lồng muỗi, lấy chén quăng đã nở hết ra Sau khi muỗi nở được 3 ngày thì cho đốt chuột (treo chuột đã được cố định vào trong lồng muỗi, cho chuột
Trang 39vào buổi chiều hôm trước và lấy ra vào buổi sáng ngày hôm sau) Ghi chú ngày, tháng cho muỗi đốt Sau 3 ngày từ khi muỗi đốt chuột thì đặt chén nước hoặc đĩa petri có giấy thấm ướt vào các lồng muỗi để lấy trứng Thay bông tẩm dung dịch glucose 10% mỗi ngày (Dung dịch glucose 10% được pha và sử dụng trong ngày) Tiếp tục lại quy trình cho đến khi muỗi trưởng thành
Lưu ý: Khi trong lồng muỗi còn ít con, dồn muỗi vào lồng cùng loài Khi lấy chén quăng, thay nước đường, cho chuột vào lồng, lấy trứng phải chú ý tránh
để muỗi bay ra ngoài Đặt lồng muỗi trên kệ tránh kiến, nhện
2.5.3.4 Kỹ thuật xác định mức độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue
- Kỹ thuật này nhằm mục đích xác định mức độ nhạy/kháng của muỗi truyền bệnh SXHD với một số loại hóa chất diệt côn trùng Phát hiện các cá thể
trong quần thể muỗi Ae aegypti, Ae albopictus còn nhạy cảm, có khả năng
kháng hay đã kháng với hóa chất diệt để làm cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng hóa chất một cách hợp lý, có hiệu quả
- Tiến hành theo quy trình thử nhạy cảm muỗi Aedes với hóa chất diệt muỗi của Bộ Y tế năm 2010 [2] và WHO năm 2013 [68] Tiến hành thử nghiệm tại phòng thí nghiệm khoa Côn trùng thuộc Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn
- Chọn muỗi thử nghiệm: Muỗi cái Ae aegypti và Ae albopictus khỏe
mạnh, đủ tiêu chuẩn khoảng 2 – 5 ngày tuổi
+ Số lượng muỗi thử nghiệm cho một loại hóa chất là 100 cá thể
+ Số lượng muỗi đối chứng cho một loại hóa chất là 50 cá thể
Trang 40- Điều kiện thử nghiệm:
+ Trong thời gian tiếp xúc hóa chất: * to
: 27 ± 2oC * RH: 75 ± 10% + Trong thời gian nghỉ: * to: 27 ± 2oC * RH: 75 ± 10%
- Quy trình thử nghiệm:
+ Bước 1 Chuẩn bị các ống nghỉ, đặt một tờ giấy trắng sạch cuộn thành hình trụ lồng vào bên trong mỗi ống nghỉ Dùng vòng kim loại chuyên dụng chặn hai đầu giữ chặt tờ giấy cho sát vào thành ống Lắp đế (tấm đẩy) vào ống
+ Bước 2 Sử dụng tuýp 2 đầu bắt muỗi từ trong các lồng nuôi muỗi, chọn những con muỗi cái khỏe mạnh, đạt tiêu chuẩn cho vào ống nghỉ, mỗi ống 25 con muỗi
+ Bước 3 Chuẩn bị ống đối chứng và ống thử nghiệm, ống đối chứng là ống dùng giấy sạch không tẩm hóa chất, ống tiếp xúc (ống thử nghiệm) dùng một tờ giấy có tẩm hoá chất cuộn thành hình trụ lồng vào bên trong mỗi ống, mặt giấy có in tên hóa chất quay ra ngoài, dùng vòng kim loại chặn 2 đầu giấy cho sát vào thành ống Khi lấy giấy tẩm hóa chất trong hộp kín, phải mang ra một vị trí khác, dùng panh để lấy không để hoá chất không dính vào tay dây ra các dụng cụ khác
+ Bước 4 Chuyển muỗi vào các ống đối chứng và ống thử nghiệm, lắp ống nghỉ vào các ống đối chứng và ống thử nghiệm, kéo tấm đẩy ở giữa đến lỗ thông giữa 2 ống cho 2 ống thông nhau rồi thổi nhẹ muỗi từ ống nghỉ sang ống đối chứng trước và ống thử nghiệm sau Đóng tấm đẩy lại, tháo ống nghỉ ra và đặt sang một bên
+ Bước 5 Đặt các ống thử ở tư thế thẳng đứng, sau đó đếm số lượng muỗi ngã ở từng ống 5 phút một lần trong 60 phút
+ Bước 6 Sau thời gian tiếp xúc chuyển muỗi trở lại sang ống nghỉ, tiến hành tương tự bước 4 nhưng ngược lại với bước 4 Lắp ống nghỉ, kéo tấm đẩy ở giữa và nhẹ nhàng thổi muỗi sang ống nghỉ Lưu ý: khi có một số muỗi bị ngã
do tiếp xúc hóa chất, tiến hành đặt các ống nằm ngang và gõ nhẹ cho muỗi tách