1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tuổi dậy thì chính thức và một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh trường THCS liên việt kon tum tại thành phố kon tum, tỉnh kon tum, năm học 2019 2020

111 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN PHẠM THỊ KIM THÚY NGHIÊN CỨU TUỔI DẬY THÌ CHÍNH THỨC VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI, THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊN VIỆT

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

PHẠM THỊ KIM THÚY

NGHIÊN CỨU TUỔI DẬY THÌ CHÍNH THỨC VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI, THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊN VIỆT KON TUM TẠI THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Định, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Kim Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Võ Văn Toàn đã tận

tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Con cảm ơn bố mẹ đã chăm sóc, động viên con trong suốt quá trình học tập và thời gian hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Sinh học – Khoa Khoa Học Tự Nhiên và phòng Sau đại học trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn

Và cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các trường THCS Liên Việt Kon Tum, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã phối hợp giúp tôi lấy được bộ số liệu hoàn chỉnh

để thực hiện luận văn

Bình Định, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Kim Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Sơ lược về quá trình dậy thì 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Các giai đoạn tuổi dậy thì 4

1.1.3 Sự thay đổi về hình thái, tâm sinh lý và dấu hiệu dậy thì chính thức ở trẻ 5

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi dậy thì 9

1.2 Chỉ số hình thái và thể lực của cơ thể người 10

1.2.1 Chỉ số hình thái 10

1.2.2 Chỉ số thể lực 13

1.3 Các kết quả nghiên cứu về tuổi dậy thì và các chỉ số hình thái, thể lực trên thế giới và ở Việt Nam 14

1.3.1 Những nghiên cứu về tuổi dậy thì 14

1.3.2 Những nghiên cứu về chỉ số hình thái, thể lực 16

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

Trang 5

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 22

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.2 Nội dung nghiên cứu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 23

2.3.3 Phương pháp thực hiện nghiên cứu 23

2.4 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 30

3.1 Tuổi dậy thì chính thức của học sinh trường THCS Liên Việt Kon Tum tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 30

3.1.1 Tỷ lệ (%) học sinh đã dậy thì chính thức theo tuổi và giới tính 30

3.1.2 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh nam và nữ 31

3.1.3 So sánh kết quả nghiên cứu về tuổi dậy thì với các tác giả khác 33

3.2 Kết quả nghiên cứu về hình thái của học sinh 41

3.2.1 Chiều cao đứng của học sinh 41

3.2.2 Cân nặng của học sinh 48

3.2.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 54

3.3 Tình trạng thể lực của học sinh trường THCS Liên Việt Kon Tum tại thành phố Kon Tum 61

3.3.1 Chỉ số BMI của học sinh 61

3.3.2 Chỉ số Pignet của học sinh 65

3.4 Mối quan hệ giữa tuổi dậy thì với một số chỉ số hình thái của học sinh 68 3.4.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi dậy thì 68

3.4.2 Cân nặng của học sinh theo tuổi dậy thì 69

3.4.3 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi dậy thì 71

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74

1 Kết luận 74

1.1 Dậy thì chính thức 74

Trang 6

1.2 Chỉ số hình thái 74

1.3 Đánh giá tình trạng thể lực học sinh 75

1.4 Mối quan hệ giữa tuổi dậy thì và một số chỉ số hình thái 75

2 Đề nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sự phân bố học sinh trong mẫu nghiên cứu 22

Bảng 2.2 Bảng phân loại mức độ gầy - béo của con người 25

Bảng 2.3 Phân loại sức khỏe theo chỉ số Pignet 26

Bảng 3.1 Tỉ lệ (%) học sinh đã dậy thì chính thức theo tuổi và giới tính 30

Bảng 3.2 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính 31

Bảng 3.3 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh theo giới tính 32

Bảng 3.4 Tỉ lệ (%) tuổi dậy thì chính thức của học sinh nam so với nghiên cứu khác 33

Bảng 3.5 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh nam so với các nghiên cứu 35

Bảng 3.6 Tỷ lệ (%) tuổi dậy thì chính thức của học sinh nữ so với các nghiên cứu khác 37

Bảng 3.7 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh nữ so với các nghiên cứu khác 39

Bảng 3.8 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính 42

Bảng 3.9 Chiều cao đứng (cm) của học sinh nam và nữ so với nghiên cứu khác 43

Bảng 3.10 Sự khác biệt chiều cao đứng (cm) của học sinh nam và nữ nhóm 2012 – 2020 so với HSSH 1975 46

Bảng 3.11 Cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi và giới tính 48

Bảng 3.12 Cân nặng (kg) của học sinh nam và nữ so với các nghiên cứu khác 49

Bảng 3.13 Đánh giá sự khác biệt cân nặng (kg) của học sinh nam và nữ nhóm 2012 – 2020 so với HSSH 1975 52

Bảng 3.14 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính 54

Trang 9

Bảng 3.15 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nam và nữ so với các

nghiên cứu khác 55

Bảng 3.16 Đánh giá sự khác biệt vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nam và nữ nhóm 2012 – 2020 so với HSSH 1975 58

Bảng 3.17 Chỉ số BMI (kg/m2) của học sinh theo tuổi và giới tính 61

Bảng 3.18 Tỉ lệ (%) trẻ thừa cân-béo phì của học sinh theo giới tính 62

Bảng 3.19 Tỉ lệ (%) trẻ cân nặng thấp-gầy của học sinh theo giới tính 64

Bảng 3.20 Chỉ số Pignet của học sinh theo giới tính 65

Bảng 3.21 Tỉ lệ (%) trẻ yếu – rất yếu của học sinh theo giới tính 66

Bảng 3.22 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo tuổi dậy thì 68

Bảng 3.23 Cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi dậy thì 70

Bảng 3.24 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi dậy thì 71

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ hiển thị tỷ lệ nam và nữ trong mẫu nghiên cứu 22

Hình 2.2 Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 đến 20 tuổi 25

Hình 2.3 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi 26

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) tuổi dậy thì chính thức của học sinh

theo giới tính 30 Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh

theo tuổi và giới tính 32 Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh

theo giới tính 33 Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tỷ lệ dậy thì chính thức của học sinh nam so với

các nghiên cứu khác 34 Hình 3.5 Biểu đồ so sánh tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh

nam so với các nghiên cứu khác 36 Hình 3.6 Biểu đồ so sánh tỷ lệ dậy thì chính thức của học sinh nữ so với

các nghiên cứu khác 38 Hình 3.7 Biểu đồ so sánh tuổi dậy thì chính thức trung bình của học sinh

nữ so với các nghiên cứu khác 40 Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới

tính 42 Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn chiều cao đứng của học sinh nam so với các

nghiên cứu khác 44 Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn chiều cao đứng của học sinh nữ so với các

nghiên cứu khác 45 Hình 3.11 Biểu đồ so sánh sự khác biệt chiều cao đứng của học sinh nam

nhóm 2012-2020 so với HSSH 1975 47 Hình 3.12 Biểu đồ so sánh sự khác biệt chiều cao đứng của học sinh nữ

nhóm 2012-2020 so với HSSH 1975 47

Trang 11

Hình 3.13 Biểu đồ biểu diễn cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi và giới

tính 48 Hình 3.14 Biểu đồ biểu diễn cân nặng của học sinh nam so với các nghiên

cứu khác 50 Hình 3.15 Biểu đồ biểu diễn cân nặng của học sinh nữ so với các nghiên

cứu khác 51 Hình 3.16 Biểu đồ so sánh sự khác biệt cân nặng của học sinh nam nhóm

2012-2020 so với HSSH 1975 53 Hình 3.17 Biểu đồ so sánh sự khác biệt cân nặng của học sinh nữ 2012 -

2020 so với HSSH 1975 53 Hình 3.18 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo

tuổi và giới tính 54 Hình 3.19 Biểu đồ biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh nam so với

các nghiên cứu khác 56 Hình 3.20 Biểu đồ so sánh vòng ngực trung bình của học sinh nữ so với

các nghiên cứu khác 57 Hình 3.21 Biểu đồ so sánh sự khác biệt vòng ngực trung bình của học sinh

nam nhóm 2012-2020 so với HSSH 1975 59 Hình 3.22 Biểu đồ so sánh sự khác biệt vòng ngực trung bình của học sinh

nữ nhóm 2012-2020 so với HSSH 1975 59 Hình 3.23 Biểu đồ thể hiện chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 62 Hình 3.24 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) thừa cân-béo phì của học sinh nam 63 Hình 3.25 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) thừa cân-béo phì của học sinh nữ 63 Hình 3.26 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) cân nặng thấp-gầy của học sinh nam 64 Hình 3.27 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) cân nặng thấp-gầy của học sinh nữ 64 Hình 3.28 Biểu đồ biểu diễn chỉ số pignet của học sinh theo tuổi và giới

tính 65 Hình 3.29 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) nhóm sức khỏe yếu – rất yếu của học

sinh nam 66

Trang 12

Hình 3.30 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) nhóm sức khỏe yếu – rất yếu của học sinh

nữ 66 Hình 3.31 Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng trung bình của học sinh nam

theo tuổi dậy thì 69 Hình 3.32 Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng trung bình của học sinh nữ theo

tuổi dậy thì 69 Hình 3.33 Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nam theo tuổi dậy thì 70 Hình 3.34 Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nữ theo tuổi dậy thì 70 Hình 3.35 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của học sinh nam theo

tuổi dậy thì 72 Hình 3.36 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của học sinh nữ theo tuổi

dậy thì 72

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Yếu tố con người đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển

xã hội, đặc biệt là trẻ em, những chủ nhân tương lai của đất nước [54], [57] Tuổi dậy thì là một quá trình tự nhiên thiết yếu, diễn ra một cách phức tạp với

sự thay đổi và trưởng thành sinh lý của trẻ trong khoảng thời gian nhất định Đây là một giai đoạn phát triển vượt bậc về các chỉ số hình thái của cơ thể, các tuyến nội tiết đặc biệt là tuyến sinh dục đã thành thục và bắt đầu có khả năng sinh sản [1], [18].

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước nâng cao chất lượng giống nòi góp phần tăng sức khỏe, tuổi thọ người Việt Nam, Thủ tướng chính phủ

đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030” vào ngày 28/4/2011 [37]

Sự tăng trưởng phát triển thể chất của trẻ em chịu sự tác động của nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội v.v [14], [20], [22], [31] Trong những năm gần đây, điều kiện sống của người Việt Nam nói chung và của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở (THCS) nói riêng đã có rất nhiều thay đổi Các yếu tố đó chắc chắn có ảnh hưởng đến tuổi dậy thì và ảnh hưởng đến các chỉ

số sinh học khác Nghiên cứu các chỉ số sinh học người là việc làm đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ban ngành như y học, sinh học, giáo dục học…

Vì vậy, các chỉ số sinh học người Việt Nam được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu và được tổng kết trong hai cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 [2] và cuốn “ Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90, thế kỷ XX” được xuất bản năm 2003 [3], [41] Các chỉ tiêu sinh học trong hai cuốn trên cách nhau 28 năm (1975 – 2003) nhưng đã

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo xu hướng tăng lên Và sau gần 20

Trang 14

năm nữa (2003 – 2020), sự thay đổi này càng có sự khác biệt, nhất là với cuộc sống chất lượng cao như ngày hôm nay Do vậy, việc nghiên cứu tuổi dậy thì

và đặc điểm hình thái, thể lực của cơ thể trong giai đoạn dậy thì cần phải được tiến hành định kỳ trong từng giai đoạn thời gian vì hình thái cơ thể không chỉ chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội

Với mong muốn nâng cao sự phát triển về thể chất của trẻ, để phụ huynh và trẻ vị thành niên nắm bắt được những biến đổi của cơ thể trong độ tuổi dậy thì và có hành vi thích ứng với những biến đổi ấy tôi tiến hành

nghiên cứu “Tuổi dậy thì chính thức và một số chỉ tiêu hình thái, thể lực

của học sinh trường trung học cơ sở Liên Việt Kon Tum tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, năm học 2019-2020”

2 Mục tiêu đề tài

- Xác định thực trạng tuổi dậy thì chính thức của học sinh trường THCS Liên Việt Kon Tum tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái của học sinh theo tuổi và giới tính

- Đánh giá tình trạng thể lực của học sinh theo tuổi và giới tính

- Mối quan hệ giữa tuổi dậy thì chính thức và một số chỉ số hình thái của học sinh

3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu này có thể sẽ thay đổi được nhận thức về phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh Góp phần vào vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em tốt, giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần trong các giai đoạn trẻ trải qua trong thời kỳ trước dậy thì, dậy thì và sau dậy thì

Giúp các nhà nghiên cứu nhận ra tầm ảnh hưởng của điều kiện kinh tế

và dinh dưỡng đến sự phát triển thể chất của trẻ trong giai đoạn dậy thì Từ

Trang 15

đó, có những nghiên cứu sâu hơn về khẩu phần ăn cho trẻ trong giai đoạn này.

- Ý nghĩa thực tiễn

Áp dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng kết quả nghiên cứu hoàn toàn mới vì trong những năm trước đây chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện ở thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum Do đó, kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu vào chiến lược nghiên cứu tuổi dậy thì và một

số chỉ số hình thái, thể lực của học sinh trung học cơ sở quốc gia nói chung cũng như tỉnh Kon Tum nói riêng trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm cơ sở khoa học để đánh giá đúng thực trạng thể lực, sự tăng trưởng thể lực cũng như tuổi dậy thì chính thức của học sinh trung học cơ sở trong tỉnh, từ đó giúp các trường vận dụng sư phạm tương tác và dạy học cá thể hóa học sinh đạt hiệu quả hơn Giúp gia đình, nhà trường nhất là với bữa ăn học đường nhận biết và quan tâm hơn nữa đến chế

độ dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn dậy thì

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về quá trình dậy thì

1.1.1 Khái niệm

Dậy thì là quá trình thay đổi thể chất từ cơ thể một đứa trẻ trở thành cơ thể người lớn có khả năng sinh sản Dậy thì bắt đầu khi những tín hiệu hormon trong não truyền tới các tuyến sinh dục (buồng trứng hoặc tinh hoàn) Đáp lại, các tuyến này sản sinh ra nhiều loại hormon kích thích sự tăng trưởng, hình thành chức năng và biến đổi não bộ, xương, cơ, da, vú và cơ quan sinh sản Cơ thể tăng trưởng nhanh trong nửa đầu của giai đoạn dậy thì

và dừng lại khi quá trình dậy thì hoàn tất Trong quá trình dậy thì, sẽ có những thay đổi lớn về kích thước, hình dạng, cấu tạo và chức năng của nhiều bộ phận và hệ cơ quan trong cơ thể [11], [30]

1.1.2 Các giai đoạn tuổi dậy thì

Tuổi dậy thì là thời kỳ bắt đầu trưởng thành, là chỉ thời kỳ quá độ từ nhi đồng đến trưởng thành, là giai đoạn phát triển cuối cùng của trẻ, cũng là thời kỳ cao độ thứ hai của sự sinh trưởng và phát triển của trẻ Giai đoạn này diễn ra rất dài, hầu như chiếm hết một nửa quá trình sinh trưởng và phát triển [18], [51] Đây là thời kỳ then chốt quyết định thể cách, thể chất, tâm lý và trí lực của một con người

Hiện nay phạm vi tuổi dậy thì và tiêu chuẩn phân kỳ còn chưa thống nhất, đa số cho rằng trung bình tuổi dậy thì ở b gái sớm hơn khoảng 18 tháng (thường bắt đầu khoảng là 10-11 tuổi và k o dài cho đến khi 15-17 tuổi) so với ở b trai (thường bắt đầu dậy thì khoảng từ 11-12 tuổi và hoàn thành trung bình ở độ tuổi 16-17) [53], [55]

Thời kỳ đầu của tuổi dậy thì là từ 10-15 tuổi, ở giai đoạn này thể chất của trẻ phát triển rất nhanh; thời kỳ sau thì tốc độ phát triển giảm đi cho tới

Trang 17

khi ngừng lại, đây là thời kỳ cơ quan sinh dục của trẻ phát triển và dần dần thành thục

Cũng có người kiến nghị chia tuổi dậy thì ra làm ba thời kỳ, thời kỳ đầu

là nữ từ 10-12 tuổi, nam từ 11-13 tuổi, thời kỳ này trẻ chủ yếu phát triển về thể cách và hình thái; thời kỳ giữa là nữ từ 13-16 tuổi, nam từ 14-17 tuổi, chủ yếu là phát triển đặc tính sinh dục cấp II, sự phát triển hình thái dần dần giảm

đi, cho nên cũng gọi là "thời kỳ thành thục giới tính"; thời kỳ cuối chính là giai đoạn phát triển hoàn toàn thành thục, nữ giới là 17-19 tuổi, nam giới là 18-21 tuổi

1.1.3 Sự thay đổi về hình thái, tâm sinh lý và dấu hiệu dậy thì chính thức ở trẻ

1.1.3.1 Đối với bé trai

Khởi đầu quá trình dậy thì là một số thay đổi có thể thấy đó là vỡ giọng, giọng nói của trẻ lúc này sẽ nghe to hơn rõ hơn và có độ trầm Mọc lông mu là biểu hiện rõ nhất cùng với đó là sự phát triển mạnh của tinh hoàn

để sản xuất tinh trùng Ngoài ra, dương vật cũng phát triển hơn Mụn trứng cá bắt đầu xuất hiện nhiều vì lúc này nội tiết tố hoạt động mạnh kích tuyến trên

cơ mặt hoạt động mạnh lên là nguyên nhân gây ra mụn trứng cá Mồ hôi đổ nhiều hơn và có mùi trên một số bộ phận của cơ thể, có thể bạn sẽ phải dùng các sản phẩm khử mùi Đau ở vùng ngực do bị ảnh hưởng của nội tiết tố đi qua, nhưng không phải ai cũng gặp phải tình trạng này, mà tình trạng này chỉ gặp trên một số người [5], [27], [48], [56] Chiều cao của nam giới sẽ cao thêm khoảng 8-12 cm trong 1-2 năm nếu có dinh dưỡng tốt

Mốc để đánh dấu tuổi dậy thì ở các b trai bắt đầu là thể tích tinh hoàn tăng trên 4 ml, còn mốc để đánh dấu thời điểm dậy thì chính thức là lần xuất tinh đầu tiên Tuy nhiên, rất khó xác định chính xác về thời điểm xuất tinh lần đầu tiên vì các em ít để ý (do thường là mộng tinh)

Vào thời kỳ này, dưới tác dụng của hormon sinh dục nam (testosterone)

Trang 18

cùng các hormon tăng trưởng khác, cơ thể phát triển nhanh, đặc biệt khối lượng cơ tăng nhanh Từ khi đứa trẻ sinh ra, tuyến sinh dục nam (tinh hoàn)

im lặng cho tới lúc này mới bắt đầu hoạt động Tinh hoàn bắt đầu sản sinh ra tinh trùng và bài tiết testosterone Dưới tác dụng của testosterone, cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát như dương vật to lên, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản

Trước kia, người ta cho rằng dậy thì là thời điểm tinh hoàn “chín” Sau này khi phát hiện ra các hormon hướng sinh dục của tuyến yên người ta lại cho rằng, nguyên nhân của dậy thì là “sự chín” của tuyến yên Ngày nay, với các thực nghiệm gh p tinh hoàn và tuyến yên của động vật non vào động vật trưởng thành người ta thấy cả hai tuyến đó đều có khả năng hoạt động như của động vật trưởng thành nếu có những kích thích phù hợp Không những thế, ngay cả vùng dưới đồi cũng có khả năng bài tiết đủ lượng GnRH Tuy nhiên, trong thực tế cả ba vùng này đều không hoạt động trong suốt thời kỳ từ sau khi sinh đến trước tuổi dậy thì vì thiếu một tín hiệu kích thích đủ mạnh từ các trung tâm phía trên vùng dưới đồi, mà ngày nay người ta thường cho rằng trung tâm đó chính là vùng limbic

Như vậy, dậy thì chính là quá trình trưởng thành hay quá trình “chín” của vùng limbic Khi vùng limbic trưởng thành, những tín hiệu xuất phát từ vùng limbic sẽ đủ mạnh để kích thích vùng dưới đồi bài tiết đủ lượng GnRH

và phát động hoạt động chức năng của trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục

Ngoài những biến đổi sinh lý ra, hoạt động tâm lý của trẻ lứa tuổi dậy thì cũng có nhiều thay đổi Sự phát triển nhận thức chuyển tiếp dần từ tính chất không chủ định sang tính chất có chủ định, tri giác có trình tự, kế hoạch

và hoàn thiện hơn Các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn

Trang 19

Khả năng ghi nhớ của các em lâu hơn, có tính suy luận hơn Các em có khả năng tự ý thức được mối quan hệ với mọi người xung quanh, đặc biệt là với người khác giới Do khả năng đánh giá và tự đánh giá phát triển nên các em

có khát vọng muốn được làm chủ những phản ứng của mình trong quá trình hành động và ứng xử với mọi người có khả năng tự điều chỉnh hành vi của bản thân và ngăn chặn những hành động mà cá nhân không nên thực hiện

1.1.3.2 Đối với bé gái

Sau khi bé gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được kích thích phù hợp từ tuyến yên Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện qua hoạt động các bao noãn và bài tiết hormon sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục Thời kỳ phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì Giai đoạn này, tâm lý trẻ có những biểu hiện thay đổi so với trước như xấu hổ khi đứng trước bạn khác giới hay tư lự và ít nghịch ngợm hơn, ý tứ hơn trong cách cư xử, v.v

Chức năng sinh giao tử của buồng trứng bắt đầu hoạt động Hàng tháng, dưới tác dụng của hormon tuyến yên, các nang trứng nguyên thuỷ phát triển, thuần thục và rụng trứng Như vậy từ thời kỳ này, các em gái bắt đầu có khả năng sinh con Tuy nhiên, vì chức năng của các cơ quan thuộc hệ thống sinh sản chưa phát triển thành thục nên khả năng mang thai và nuôi con chưa tốt Vì vậy cần tư vấn cho các em cách ứng xử trong quan hệ với bạn khác giới, cách phòng

Khởi đầu dấu hiệu dậy thì ở nữ giới là ngực phát triển Ngực nhú lên thành những cục nhỏ dưới núm vú, có ở một hoặc cả hai bên Những cục này có thể cứng và có kích thước khác nhau Nhưng đây cũng không phải dấu hiệu chắc chắn xảy ra ở tất cả các b gái Sau khoảng 6 tháng, lông mu xuất hiện (mặc dù ở một số trẻ, mọc lông mu lại là biểu hiện đầu tiên của dậy thì), rồi đến lông nách Trong vài năm tiếp theo, ngực tiếp tục lớn lên,

Trang 20

lông mu và cơ quan sinh dục ngoài tăng trưởng dần dần, dẫn tới kỳ kinh nguyệt đầu tiên Thay đổi này thường xuất hiện vào 12,5-13 tuổi, khoảng 2

năm sau khi bắt đầu dậy thì Cơ thể tiếp tục phát triển và toàn bộ quá trình

dậy thì hoàn tất sau 3-4 năm, với ngực, quầng vú và lông mu phát triển như

ở người lớn [5], [27], [55], [56]

Trong giai đoạn dậy thì, các b gái thường cao trung bình 7-8 cm/năm,

và đạt đỉnh điểm khi kỳ kinh đầu tiên xuất hiện Trẻ thường dừng cao khoảng

2 năm sau khi có kinh B gái sẽ cao thêm khoảng 25–35 cm sau khi dậy thì

Và dấu hiệu dậy thì chính thức ở nữ là xuất hiện kỳ kinh nguyệt đầu tiên, chứng tỏ các cơ quan sinh sản đang trưởng thành

Tất cả những biến đổi về cơ thể, tâm lý và hoạt động của hệ thống sinh sản đều do tác dụng của các hormon hướng sinh dục của tuyến yên và các hormon của buồng trứng tạo ra Các dấu hiệu dậy thì ở nữ thường thể hiện rõ rệt hơn ở nam giới

Vì vậy, dậy thì không phải là một thời điểm mà là cả một khoảng thời gian không cố định và thay đổi theo từng cá thể

1.1.3.3 Những thay đổi về tỷ lệ cơ thể

Quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ tuân theo quy luật chung của sự tiến hóa sinh vật: đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong quá trình phát triển của trẻ em, giai đoạn 11-14 tuổi được xếp vào thời kỳ dậy thì Đây là giai đoạn biệt hóa lớn nhất, thay đổi cơ quan sinh dục, phát triển các đặc tính sinh dục, thay đổi hình thái và kích thước cơ thể, thay đổi tâm lý, nhận thức… Sự phát triển cơ thể của học sinh trung học cơ sở diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối Sự hoạt động tăng cường của các tuyến nội tiết quan trọng như: tuyến yên, tuyến sinh dục, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận

đã tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể đứa trẻ Trong đó, rõ ràng nhất là sự phát dục, tăng vọt về cân nặng và chiều cao Kích thước cơ thể tăng nhanh, trung

Trang 21

bình mỗi năm chiều cao tăng thêm từ 8 cm, khối lượng cơ thể tăng thêm

4-8 kg [27] Sự tăng trưởng về chiều cao ở lứa tuổi này chủ yếu là do các xương ống dài nhanh Hệ cơ tuy phát triển nhưng tốc độ chậm hơn so với hệ xương nên trẻ em lứa tuổi này thường gầy, cao, chân tay lèo khèo, các động tác vụng về thiếu chính xác [6]

Cơ thể đứa trẻ phát triển nhanh cơ thể có sự thay đổi rõ rệt:

- Chiều cao: tăng nhanh tạo bước nhảy rõ rệt

- Khối lượng cơ thể: tăng trưởng đột ngột

- Cơ bắp phát triển: ngực và vai nở nang

- Cơ quan sinh dục: bộ phận sinh dục ngoài phát triển

- Trẻ trai: cơ bắp phát triển, thân thể trở nên vạm vỡ, cường tráng

- Trẻ gái: mỡ tập trung ở ngực và mông tạo nên những đường cong mềm mại, cân đối, khung xương chậu phát triển nở rộng [38]

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi dậy thì

Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác giả đều nhận thấy tuổi dậy thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố [17], [23], [39], [40] Khi nghiên cứu tuổi kinh nguyệt lần đầu ở trẻ em các nước Châu Âu và Bắc Mỹ vào cuối thể kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, người ta nhận thấy rằng, cứ khoảng

10 năm tuổi kinh nguyệt của các em nữ lại sớm khoảng 3 - 4 tháng Đó là khuynh hướng thế tục về dậy thì Khuynh hướng đó đã ngừng vào những năm 50 của thế kỷ XX [46], [56]

Ở nước ta, tuổi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu ở nữ cũng có xu hướng giảm dần và có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi dậy thì gồm có các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên trong mang tính chất di truyền liên quan đến thời điểm dậy thì Các em trai có xu hướng dậy thì muộn hơn các em gái, trung bình từ 1 đến 2 năm [40], [51] Các yếu tố bên ngoài khác ảnh hưởng tới tuổi dậy thì là điều kiện

Trang 22

sống đặc biệt là điều kiện kinh tế, chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi dậy thì Các em học sinh sống trong những gia đình có thu nhập kinh tế cao, ít con tuổi kinh nguyệt sẽ xuất hiện sớm hơn các em học sinh sống trong những gia đình có điều kiện kinh tế thấp, đông con Nguyên nhân là do chế độ dinh dưỡng không đủ dẫn đến buỗng trứng không phát triển, trứng không chín nên tuổi dậy thì chậm lại

Ngày nay, nhịp độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, kinh tế xã hội phát triển rất nhanh chóng, cùng với sự giao lưu của các nền văn hóa, sự phát triển của mạng lưới thông tin toàn cầu… đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của em trong đó có sự phát triển tuổi dậy thì Trẻ em ở thành thị dậy thì sớm hơn trẻ em ở nông thôn [10], [26], [56] Như vậy, điều kiện sống (kinh tế, dinh dưỡng, môi trường, xã hội …) là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tuổi dậy thì

1.2 Chỉ số hình thái và thể lực của cơ thể người

1.2.1 Chỉ số hình thái

Chỉ số hình thái là một trong số các chỉ tiêu được rất nhiều nhà nhân trắc học quan tâm khi nghiên cứu về con người Các nhà nhân trắc học đã dùng các phương pháp toán học và thống kê để phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể con người nhằm rút ra những kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày Nhân trắc học còn cho ph p chúng ta tìm ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người Vì vậy, nhân trắc học ra đời khi con người biết đo chiều cao và cân nặng của mình [40] Về mặc lý luận, chúng cho ph p chúng

ta nghiên cứu được các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, phân loại các dạng người và các chủng tộc loài người cũng như tìm hiểu nguồn gốc của loài người

Các chỉ số hình thái là tiêu chí cơ bản để đánh giá thể lực của mỗi người Thể lực là năng lực vận động của con người [56] Thể lực là điều kiện

Trang 23

cơ bản đảm bảo cho các hoạt động học tập, lao động Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá thể lực ở người như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, vòng bụng, vòng đùi, vòng cánh tay, Pignet, BMI, v.v Các chỉ số này nói lên sự tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng của cơ thể từ khi mới sinh ra cho đến lúc chết, trước đây chúng được quan niệm là mang tính di truyền, nhưng sau này

đã được các nhà khoa học chứng minh ngoài di truyền, chúng còn do yếu tố dinh dưỡng và môi trường sống quyết định Trong đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu cơ bản

1.2.1.1 Chiều cao

Chỉ số chiều cao khẳng định sự phát triển của bộ xương Chiều cao là một trong những chỉ tiêu quan trọng thường được dùng trong các cuộc điều tra thể lực ở người Chiều cao chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng, vận động thể lực Nếu được chăm sóc tốt, thế hệ sau bao giờ cũng cao hơn thế hệ trước

Chiều cao của cơ thể con người là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng trong hầu hết các điều tra cơ bản về nhân trắc học, nhân chủng học và

y học Chiều cao còn được xem như một trong những chỉ tiêu quyết định để phân biệt các chủng tộc trên thế giới Chiều cao biểu hiện tầm vóc của một người Do đó, các nhà y học thường dựa vào chiều cao để đánh giá sức lớn của trẻ em và tầm vóc của một người [27] Chiều cao thường thay đổi theo chủng tộc, theo giới tính và chịu một phần ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống Ngoài ra, chiều cao còn giúp đánh giá thể trạng liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người

Sau khi được sinh ra, trong năm đầu tiên chiều cao trẻ phát triển rất nhanh (tăng khoảng 25cm), sau đó (từ 1-10 tuổi) tăng chậm lại Khi đến tuổi dậy thì (11-13 đối với nữ và 13-15 đối với nam), chiều cao lại tăng lên nhanh chóng với tốc độ từ 6-10 cm mỗi năm Sau đó, sức tăng chậm lại, mỗi năm chỉ

Trang 24

tăng khoảng 2 cm [8], [54], [56], [57].

1.2.1.2 Cân nặng

Cân nặng là một trong những chỉ tiêu hình thái cơ bản sau chiều cao Khối lượng cơ thể người có hai phần: Phần cố định chiếm 1/3 gồm xương, da, các tạng và thần kinh; phần thay đổi chiếm 2/3 bao gồm 3/4 khối lượng các

cơ, 1/4 là mỡ và nước Hiện tượng tăng cân là do tăng phần thay đổi có liên quan nhiều đến chế độ dinh dưỡng [56] Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn của toàn bộ cơ thể, nó liên quan đến mức độ,

tỷ lệ hấp thu và tiêu hao Cân nặng khác nhau theo tuổi, giới, chủng tộc…

Cân nặng là một số đo quan trọng thường được sử dụng trong các công trình điều tra về hình thái người Khối lượng cơ thể liên quan đến nhiều kích thước khác nhau nên thường được dùng để đánh giá sự phát triển của cơ thể Đối với cơ thể bình thường trong giai đoạn tăng trưởng, khối lượng cơ thể thường xuyên tăng lên nhưng không đồng đều [32] Cân nặng có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội và chịu tác động tức thời của chế độ ăn uống cũng như liên hệ mật thiết với tình hình sức khoẻ và bệnh tật của mỗi người Cân nặng tăng dần theo tuổi nhưng không đồng đều trong các giai đoạn khác nhau của cơ thể

1.2.1.3 Vòng ngực trung bình

Vòng ngực là kích thước cũng hay được dùng trong nhân trắc Lúc mới đẻ vòng ngực bằng hoặc nhỏ hơn vòng đầu khoảng 1 cm Sau khi đẻ vòng ngực lớn nhanh hơn vòng đầu, lúc 6 tháng vòng ngực bằng vòng đầu, sau đó vòng ngực vượt qua vòng đầu Đây cũng là một trong những chỉ tiêu đặc trưng của cơ thể người Ở mỗi lứa tuổi có một tỷ lệ cân đối giữa chiều cao đứng và đường kính ngang ngực Sự tăng trưởng của vòng ngực có liên quan mật thiết với sự tăng trưởng khối lượng cơ thể Ngoài ra, mức độ tăng trưởng của lồng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của mỗi người [56]

Trang 25

Ngực sẽ bắt đầu phát triển khi trẻ bước vào tuổi dậy thì Khi đó, lượng hormon trong cơ thể trẻ thay đổi và hệ nội tiết sản sinh ồ ạt hormon giới tính

1.2.2 Chỉ số thể lực

1.2.2.1 Chỉ số BMI

Chỉ số khối cơ thể, cũng gọi là chỉ số thể trọng- thường được biết đến với tên viết tắt BMI theo tên tiếng Anh Body Mass Index, là một cách nhận định cơ thể của một người là gầy hay b o bằng một chỉ số Chỉ số này do nhà bác học người Bỉ Adolphe Quetelet đưa ra năm 1832 Nhược điểm duy nhất của BMI là không thể tính được lượng chất b o trong cơ thể - yếu tố tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai Chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể)

là điểm số tiêu chuẩn để xác định mức cân nặng của một người dựa trên chiều cao, cân nặng của cơ thể Với chỉ số BMI bạn có thể biết được cơ thể của mình thuộc tình trạng: nhẹ cân, bình thường, thừa cân hay b o phì sự gia tăng thừa cân - béo phì ở trẻ đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên toàn cầu [58] Chỉ số BMI có sự thay đổi giữa các quốc gia Người ta đã kết hợp nhiều đại lượng tăng trưởng vào một số chỉ số chung như chỉ số Quetelet, Broca, BMI, Pignet… để đánh giá được chính xác hơn Tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả lựa chọn các chỉ số cho phù hợp với nghiên cứu của mình [32], [57]

1.2.2.2 Chỉ số Pignet

Có rất nhiều chỉ số đánh giá thể lực như: Broca, Kaup, Rohrer, Von Pirquet, Vervack,… song nhìn chung, chỉ số Pignet vẫn là chỉ số có nhiều ưu điểm hơn cả Pignet không chỉ được sử dụng rộng rãi trong đánh giá thể lực mà còn áp dụng trong tuyển quân, tuyển sinh, khám sức khỏe cán bộ, công nhân… Chỉ số Pignet đã được quốc tế thừa nhận từ lâu và là một trong những chỉ số chuyên dụng được sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu thể lực ở người Pignet là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng và chu vi

Trang 26

vòng ngực So sánh trong cùng một nhóm trẻ, nữ luôn có Pignet lớn hơn nam Điều này chứng tỏ học sinh nam có thể lực tốt hơn học sinh nữ [32]

1.3 Các kết quả nghiên cứu về tuổi dậy thì và các chỉ số hình thái, thể lực trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Những nghiên cứu về tuổi dậy thì

1.3.1.1 Những nghiên cứu về tuổi dậy thì trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tuổi dậy thì Các công trình nghiên cứu đề cập đến sự phát triển các đặc tính sinh dục ở trẻ em

đã được tiến hành nghiên cứu ở nhiều quốc gia, trên nhiều vùng sinh thái khác nhau Các nghiên cứu ở Âu, Mỹ cho thấy tuổi dậy thì của nam dao động từ 12 đến 14 tuổi, trung bình khoảng 13 tuổi, còn ở nữ dao động từ 11 đến 16 tuổi, trung bình khoảng 13 tuổi [48], [49]

1.3.1.2 Những nghiên cứu về tuổi dậy thì ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tuổi dậy thì ở các vùng miền và các dân tộc khác nhau như:

Theo số liệu của Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975: tuổi bắt đầu có kinh của phụ nữ ở thành phố là 15,8 ± 1,46, phụ nữ lao động trên các công trường là 16 ± 0,2, của học sinh ở Hà Nội là 14,3 ± 1,2 và của học sinh nông thôn là 15 ± 3,4 [2]

Năm 1986, Đinh Kỷ và Cao Quốc Việt nghiên cứu về tuổi dậy thì nước

ta những năm 1978 -1980 cho thấy: tuổi dậy thì của nữ Thành phố Hồ Chí Minh là 13 năm 10 tháng ± 1năm 5 tháng và ở Thái Bình 14 năm 5 tháng ± 1 năm 3 tháng [26];

Năm 1991, Đào Huy Khuê nghiên cứu về tuổi dậy thì của học sinh ở thị

xã Hà Đông Tác giả nhận thấy, tỷ lệ nữ có kinh lần đầu ở lứa tuổi từ 11-14 là tăng dần theo tuổi từ 1,8 % đến 33,9% [23];

Năm 1996, Cao Quốc Việt và cộng sự nghiên cứu tuổi dậy thì của

Trang 27

người Việt Nam nhận thấy tuổi dậy thì của nam là 14,7 ± 1,1 [42];

Năm 2002, Nguyễn Phú Đạt nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ em cho thấy tuổi dậy thì của học sinh nam từ 14 năm 07 tháng đến 15 năm 10 tháng

và ở các học sinh nữ là 13 năm 18 tháng đến 13 năm 11 tháng [7];

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu về tuổi dậy thì của học sinh trường THCS tỉnh Hòa Bình [6];

Năm 2009, Hoàng Thu Soan và cộng sự nghiên cứu đặc điểm tuổi dậy thì của một số trường THCS tỉnh Thái Nguyên cho thấy Tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh THCS Nha Trang là 12.23 ± 1.01 tuổi, và học sinh trường huyện là 13.01 ± 0.93 tuổi Tuổi dậy thì tăng dần theo tuổi [33];

Năm 2012, Nguyễn Ngọc Thùy nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trường THCS Minh Trí, Huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội cho thấy: Tuổi bắt đầu xuất tinh năm 13 tuổi (6,32%), đến năm 15 tuổi (28,91%) Tuổi xuất tinh lần đầu của học sinh nam trung bình là 14 năm 03 tháng ± 1 năm 08 tháng Học sinh nữ bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt năm 12 tuổi (8,75%), đến năm 15 tuổi (81,81%) Tuổi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu của học sinh nữ là 13 năm 04 tháng ± 1 năm 05 tháng [38];

Năm 2014, Mai Văn Hưng và Nguyễn Thị Thanh Nga nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý dậy thì của học sinh một số trường THCS ở Hà Nội cho thấy: Tuổi trung bình có kinh lần đầu của nữ sinh THCS tại Hà Nội (13 năm 3 tháng ± 1 năm 3 tháng) sớm hơn tuổi xuất tinh lần đầu của nam (14 năm 5 tháng ± 1 năm 4 tháng) Điều này khẳng định quy luật dậy thì của học sinh THCS Hà Nội phù hợp với các đặc trưng giới tính và nằm trong giới hạn cho phép [19];

Năm 2015, Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự nghiên cứu một số chỉ số sinh lý của học sinh 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương cho thấy: Tỉ lệ học sinh nữ dậy thì sớm bất thường (8-9 tuổi) là 9 trường hợp (chiếm 1,31%), dậy thì sớm

Trang 28

(10-11 tuổi) là 33,04% Tỉ lệ dậy thì phổ biến là tuổi 12-13, với tổng tỉ lệ trong nhóm nghiên cứu là 57,6% [14];

Năm 2019, Nguyễn Thị Hải Hà và cs nghiên cứu về sự thay đổi ở tuổi dậy thì của học sinh THCS huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cho thấy: Tuổi trung bình xuất hiện kinh nguyệt lần đầu ở nữ (13 tuổi 1 tháng ± 1 năm 3 tháng) sớm hơn so với tuổi xuất tinh lần đầu của nam (14 tuổi 1 tháng ± 1 năm 2 tháng) [13];

Các nghiên cứu cho thấy tuổi bắt đầu dậy thì của thanh niên Việt Nam ngày càng sớm hơn Thanh niên thập kỷ 90 dậy thì sớm hơn thanh niên thập

kỷ 70 của thế kỷ XX [11], [47] Và thanh niên thập kỷ thức hai của thế kỷ 21 dậy thì sớm hơn thanh niên thập kỷ 90

1.3.2 Những nghiên cứu về chỉ số hình thái, thể lực

1.3.2.1 Những nghiên cứu về chỉ số hình thái, thể lực trên thế giới

Năm 1754, Nghiên cứu về sự tăng trưởng thực sự được trình bày trong luận văn tốt nghiệp của bác sĩ Christian Friedrich Jampert ở trường y khoa Halle, Đức Ông đã tìm hiểu chiều cao, cân nặng và một số chỉ số khác ở nam

và nữ từ 1 - 25 tuổi tại trại trẻ mồ côi Hoàng Gia ở Berlin và một vài nơi khác

ở Đức [39]

Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao được Philibert Gu neau de Montbeilard thực hiện trên con trai của mình trong 18 năm, mỗi năm ông đo 2 lần cách nhau 6 tháng, từ khi đứa b được sinh ra (1759) đến 18 tuổi (1777), nghiên cứu này đã được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu về tăng trưởng từ giữa thế kỷ XX đến nay [49]

Thế kỷ XIII, Tenon đã xem cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực Nhưng mãi đến đầu thế kỷ XVIII, nghiên cứu hình thái sinh lý mới trở thành một ngành khoa học thực sự Mối liên hệ giữa hình thái và môi trường sống cũng đã được nghiên cứu từ rất sớm, đại diện là các nhà nhân trắc

Trang 29

học Ludman, Nold và Volanski [12]

Năm 1954, F Vandervael, một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về nhân trắc học, ông đưa ra những nhận x t về quy luật phát triển thể lực theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp và xây dựng những đặc trưng thống kê trung bình cộng và độ lệch chuẩn [17]

Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác của Carlschule (Đức), Bowditch (Mỹ), Paul Godin (Pháp)… đến năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học

ra đời có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới

Năm 2015, Neyzi O và cộng sự nghiên cứu Giá trị tham khảo cho cân nặng, chiều cao, chu vi đầu và chỉ số khối cơ thể ở trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ, và so với dữ liệu tham khảo của WHO, giá trị cân nặng và chiều cao ở trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ cao hơn một chút ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi, trong khi chúng cho thấy sự tương đồng với giá trị được báo cáo ở trẻ em từ Na Uy và Bỉ [52]

Ngày nay các công trình nghiên cứu về chỉ số nhân trắc ở người đã được nhiều cá nhân, tập thể và tổ chức trên thế giới quan tâm (như WHO, CDC…) [44], [45], [49], [52], [54],… nên ngày càng đa dạng phong phú, nhằm đưa ra các chỉ số chuẩn của con người hiện đại, làm cơ sở cho các chương trình giáo dục, chăm sóc hay hoạch định các chiến lược phát triển xã hội trong tương lai

1.3.2.2 Những nghiên cứu về chỉ số hình thái, thể lực ở Việt Nam

Ở Việt Nam nhân trắc học được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỷ

XX, tại Viễn Đông Bác Cổ [32], sau đó là trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về nhân trắc học [39];

Việc nghiên cứu hình thái - thể lực của trẻ em đầu tiên được biết đến là công trình của Bigot A và Đỗ Xuân Hợp (1939) nghiên cứu trên 897 nữ sinh Hà Nội từ 5 đến 18 tuổi (trích theo Đào Huy Khuê [23]) Các công trình này chưa

xử lý bằng toán xác xuất thống kê nên bị hạn chế phần nào, song đây cũng là

Trang 30

những công trình có giá trị để so sánh với các nghiên cứu sau này [8], [17];

Năm 1967 và 1975 với hai Hội nghị sinh học do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì tại Hà Nội đã tập hợp hàng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc học của nhiều nhà khoa học trong hơn 15 năm “Hằng số sinh học người Việt Nam” được xuất bản năm 1975 đã hệ thống hơn 30 chỉ số hình thái, sinh lý, sinh hóa như: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, vòng bụng, BMI, Pignet, QVC, Hitz, Vervaek… kích thước, trọng lượng các phủ tạng người ở các độ tuổi… Đây là công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học y học, đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành Y học Việt Nam Tuy nhiên, đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử) Song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu về người Việt Nam sau này Và đây là một công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ

số nhân trắc của trẻ em và người lớn từ năm 1966 đến 1972 [2];

Năm 1991, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước liên quan với sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ (6 - 17) tuổi

ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc độ tăng trưởng lớn nhất ở nam thường ở lứa tuổi (14 - 16) và của nữ ở lứa tuổi (11 - 15) [23];

Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp nghiên cứu 31 chỉ tiêu hình thái thể lực với phương pháp “nghiên cứu dọc” trên 101 học sinh 7 - 16 tuổi ở một trường phổ thông cơ sở Thực nghiệm Hà Nội trong vòng 10 năm (1980 - 1990) và đưa ra nhiều kết luận về sự tăng trưởng các kích thước ở cơ thể người Theo tác giả, trẻ nữ phát triển mạnh lúc 11 - 12 tuổi và trẻ nam là 13 -

15 tuổi Cân nặng tăng nhanh lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam [9];

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu 17 chỉ số hình thái trên người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở một số vùng Nghệ Tĩnh cho thấy, sự phát triển

Trang 31

cơ thể trẻ không đồng đều ở các giai đoạn khác nhau, có 3 thời kỳ trẻ tăng trưởng nhanh là 5 - 7 tuổi, 10 - 11 tuổi và 13 - 14 tuổi Khí hậu khắc nghiệt ở vùng Nghệ Tĩnh đã ảnh hưởng đến cấu trúc hình thái con người ở đây Các chỉ

số chiều cao, cân nặng, vòng ngực, Pignet, Broca…của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của người Việt Nam, theo tác giả đây là đặc trưng của người dân vùng khí hậu nóng khô và nóng ẩm [35];

Năm 1996, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cộng sự nghiên cứu 8.000 người

từ 1-55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam nhận thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi và nữ đến 14 tuổi Các tác giả cho rằng có quy luật gia tăng về chiều cao ở người Việt Nam là cứ 20 năm tăng khoảng 4 cm [8];

Năm 1997, Lê Nam Trà và cs nghiên cứu trên 7.111 học sinh từ 6 - 15 tuổi ở quận Hoàn Kiếm - Hà Nội và 1.928 học sinh ở thị xã Thái Bình cho thấy cân nặng, chiều cao, vòng đầu ở trẻ tăng dần theo tuổi Cân nặng tăng nhanh nhất lúc 12 - 14 tuổi ở nam và lúc 11 - 13 tuổi ở nữ Chỉ số Pignet tăng dần đến 12 tuổi ở nam và 11 tuổi ở nữ, sau đó giảm dần [39];

Theo Lê Nam Trà (2006), chiều cao của người Việt trong 100 năm so với số liệu của Mondiere (1875), Madrolle (1937) và năm 1975 gần như không thay đổi Giai đoạn 1975 - 2000, chiều cao nam thanh niên tăng chậm; trung bình 1,1 cm qua mỗi thập kỷ [40];

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu các chỉ số chiều cao, cân nặng của các học sinh THCS ở tỉnh Hoà Bình thuộc các dân tộc Mường, Thái, Kinh, Tày và Dao Tác giả nhận thấy, các chỉ số này ở học sinh dân tộc Mường, Thái, Kinh cao hơn so với học sinh dân tộc Tày, Dao Tác giả cho rằng, điều này liên quan tới nơi cư trú của các em Học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh sống ở vùng đồng bằng, thành phố và thị trấn, còn đa số học sinh các dân tộc Tày, Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều kiện kinh tế - xã hội k m phát triển hơn so với thành phố

Trang 32

và đồng bằng [6];

Năm 2012, Hoàng Thị Mai Hoa nghiên cứu một số chỉ số sinh học hình thể của học sinh trường THCS xã Lam Hạ, Thành phố Phủ Lý, Hà Nam cho thấy: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi Chiều cao đứng của học sinh nam tăng trung bình mỗi năm khoảng 5,78 cm, học sinh nữ khoảng 3,71 cm Cân nặng của học sinh nam tăng trung bình 4,63 kg và của nữ 2,68 kg/năm Tốc độ tăng vòng ngực trung bình không đều giữa các năm Mỗi năm vòng ngực trung bình của nam tăng thêm 3,06cm

và của nữ tăng thêm 3,16 cm [15];

Năm 2015, Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự nghiên cứu một số chỉ số sinh lí của học sinh 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương cho thấy: chiều cao đứng, cân nặng của học sinh tăng theo lứa tuổi nhưng có sự khác nhau theo giới tính [14];

Năm 2016, Huỳnh Văn Chúng nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và trí tuệ của học sinh THCS huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định [4];

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học sinh THCS khá phong phú Mặc dù, các kết quả nghiên cứu về các chỉ số này trong các công trình nghiên cứu có chênh lệch không nhiều nhưng đều có sự khác biệt rõ rệt ở từng lứa tuổi và theo giới tính Mốc đánh dấu sự thay đổi

“nhảy vọt” của các chỉ tiêu nghiên cứu trong quá trình phát triển cơ thể trong các công trình là tương đối đồng nhất, đó là giai đoạn dậy thì (từ 11 đến 15 tuổi) Các chỉ số hình thái của trẻ em sống ở các vùng sinh thái khác nhau, trong các điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục khác nhau không giống nhau

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Kon Tum là một tỉnh thuộc vùng cực bắc Tây Nguyên của Việt Nam,

có vị trí địa lý nằm ở ngã ba Đông Dương, phần lớn nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn Kon Tum cũng là tỉnh có diện tích lớn thứ 8 trong 63 Tỉnh thành

Trang 33

Việt Nam Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây Kon Tum có đường Quốc lộ 14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào)

Vị trí địa lý: Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên trong toạ độ địa lý từ 107020'15" đến 108032'30" kinh độ đông và từ 13055'10" đến 15027'15" vĩ độ bắc Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía nam giáp tỉnh Gia Lai (203 km), phía đông giáp Quảng Ngãi (74 km), phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km)

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Kon Tum có 256 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có

14 trường, Trung học cơ sở có 94 trường, Tiểu học có 131 trường, bên cạnh

đó còn có 108 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Kon Tum cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh

Tính đến năm 2019, dân số toàn tỉnh Kon Tum đạt gần 532.000 người, mật độ dân số đạt 55 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 185.000 người, chiếm 35% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 296.800 người, chiếm 65% dân số Dân số nam đạt 237.100 người, trong khi

đó nữ đạt 216.100 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 18,6 ‰ Đây cũng là tỉnh ít dân nhất vùng Tây Nguyên

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng

Học sinh từ 11-14 tuổi (học sinh từ lớp 6 đến lớp 9) ở Trường THCS Liên Việt Kon Tum tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum Đối tượng nghiên cứu đều khỏe mạnh Học sinh không mang dị tật hình thái, không có dấu hiệu tâm sinh lý không bình thường

Tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính theo quy ước Việt Nam và Quốc

tế [16], [44] Học sinh từ 11 đến 14 tuổi là từ 132 tháng đến 180 tháng tuổi

Tổng số học sinh được nghiên cứu là 630 học sinh, phân bố ở các đối tượng theo độ tuổi, theo giới tính và được trình bày ở bảng 2.1:

Bảng 2.1 Sự phân bố học sinh trong mẫu nghiên cứu

Tuổi Giới tính đối tượng nghiên cứu Tổng số

Trang 35

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2020

- Địa điểm nghiên cứu: tiến hành điều tra ở Trường THCS Liên Việt Kon Tum, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định tỷ lệ học sinh đã dậy thì của học sinh trường THCS Liên Việt Kon Tum, tuổi dậy thì chính thức của học sinh nam (tuổi xuất tinh lần đầu của nam) và học sinh nữ (thời gian có kinh nguyệt lần đầu)

- Nghiên cứu các chỉ số hình thái: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình theo tuổi và theo giới tính

- Đánh giá tình trạng thể lực của học sinh theo tuổi và giới tính

- Mối quan hệ giữa tuổi dậy thì chính thức và một số chỉ số hình thái của học sinh

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp mô tả cắt ngang có so sánh

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Cỡ mẫu: toàn bộ (n > 30)

2.3.3 Phương pháp thực hiện nghiên cứu

2.3.3.1 Phương pháp xác định tuổi dậy thì chính thức

Giáo viên được hướng dẫn phương pháp đo và lấy số liệu

Một tuần trước đợt điều tra lấy số liệu của học sinh Điều tra viên sẽ phát bì thư có Thư ngỏ và phiếu Khảo xác thông tin để học sinh, quý phụ huynh học sinh biết và tự nguyện tham gia, đồng ý cung cấp thông tin (vì vấn

đề nhạy cảm phiếu này có phân loại riêng cho nam và nữ) (phụ lục 01 và 02)

Trong thư ngỏ có hướng dẫn cho phụ huynh và học sinh cung cấp các thông tin cơ bản như: tên, lớp, tuổi, địa chỉ nhà và thời điểm có kinh lần đầu đối với

Trang 36

nữ và xuất tinh lần đầu đối với nam.

Vào buổi điều tra do trường sắp xếp, các học sinh sẽ được các giáo viên

đo các chỉ số hình thái để các em tự điền vào nội dung: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, các em sẽ tự dán kín phong thư và nộp lại cho điều tra viên Điều này sẽ thể hiện được sự tự nguyện và khách quan với các thông tin mà các em cung cấp

2.3.3.2 Phương pháp đo các chỉ số về hình thái

Các phương pháp nghiên cứu về các chỉ tiêu tầm vóc thể lực chủ yếu dựa vào tài liệu “nhân trắc học và sự ứng dụng trên người Việt Nam”[32]

- Chiều cao đứng: đo khi học sinh bỏ giày d p, đứng thẳng (gót, mông, vai và đầu áp sát thước đo) Mắt nhìn thẳng về phía trước theo đường nằm ngang Hai tay bỏ xuôi xuống hai bên đùi Dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước đo Chiều cao đứng là chiều cao được đo từ mặt đất đến đỉnh đầu, đơn vị là cm

- Cân nặng: khi xác định cân nặng, đặt cân ở vị trí bằng phẳng, học sinh mặc quần áo mỏng, không đi giầy, d p đứng lên giữa bàn cân và đọc kết quả khi kim đứng yên Khối lượng của cơ thể được xác định bằng cân y học của Trung Quốc, đơn vị là kilogram (kg), tính đến mức 1/10kg

- Vòng ngực trung bình (VNTB): vòng ngực được xác định bằng cách vòng thước dây không dãn quấn quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống sát xương bả vai, phía trước qua mũi ức sao cho thước dậy song song với mặt đất, VNTB được xác định bằng trung bình cộng của vòng ngực lúc hít vào tận lực và vòng ngực lúc thở ra gắng sức

2.3.3.3 Nghiên cứu chỉ số thể lực

- Chỉ số BMI: BMI ( Body mass Index) được tính theo công thức:

BMI = Cân nặng (kg)/ [Chiều cao đứng (m)]2

[16], [57]

Dưới đây là bảng phân loại mức độ gầy - b o của một người dựa vào

Trang 37

chỉ số BMI Thang phân loại của Tổ chức y tế thế giới (WHO) dành cho người châu Âu và thang phân loại của Hiệp hội đái đường các nước châu Á (IDI & WPRO) được áp dụng cho người châu Á.

Bảng 2.2 Bảng phân loại mức độ gầy - béo của con người

Phân loại BMI (kg/m2) - WHO BMI (kg/m2) – IDI & WPRO

Trang 38

Hình 2.3 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi

- Chỉ số Pignet: Đƣợc tính theo công thức:

Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + VNTB (cm)]

Theo tác giả Nguyễn Quang Quyền [32] thì các mức độ để đánh giá thể lực theo chỉ số Pignet nhƣ bảng sau:

Bảng 2.3 Phân loại sức khỏe theo chỉ số Pignet

Trang 39

: giá trị trung bình của mỗi công thức.

Xi : giá trị từng mẫu; n: số mẫu quan sát

+ Độ lệch chuẩn: đánh giá mức độ phân tán trung bình mẫu (n ≥ 30)

: giá trị trung bình nhóm A; : giá trị trung bình nhóm B

nA : cỡ mẫu của nhóm A; nB : cỡ mẫu của nhóm B

Nếu 1,96 (p <0,05); ≥ 2,33 (p <0,02); ≥ 2,58 (p <0,01);

≥ 3,29 (p <0,001): Thì sự sai khác giữa hai giá trị có ý nghĩa thống kê

Trang 40

Nếu <1,96 (p> 0,05): sự sai khác giữa hai giá trị không có ý nghĩa thống kê.

+ Sự sai khác hai tỷ lệ % được kiểm định bằng t-test theo công thức của

Hà Huy Khôi:

Trong đó :

XA : số cá thể của A đặc trưng nghiên cứu

XB : số cá thể của B đặc trưng nghiên cứu

nA : tổng số mẫu nghiên cứu ở quần thể A

nB : tổng số mẫu nghiên cứu ở quần thể B

p và q là hai tỉ lệ quần thể được ước lượng dựa trên hai mẫu

Sau khi tính t ta tính được xác suất p:

Nếu < 1,96 (hay p > 0,05) thì sai khác giữa 2 phương án không có ý nghĩa thống kê;

Nếu ≥ 1,96 (hay p < 0,05) thì sai khác giữa 2 phương án có ý nghĩa thống kê Cụ thể hơn, khi ≥ 1,96 thì p < 0,05; khi ≥ 2,58 thì p < 0,01; khi

≥ 3,29 thì p < 0,001

2.4 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, nguyên tắc, chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu y sinh học của Việt Nam, phù hợp với các chuẩn mực chung của quốc tế

Ngày đăng: 11/08/2021, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ môn sinh lý học, Trường Đại học y Hà Nội (2000), “ Sinh lý sinh sản” Sinh lý học tập I, NXB Y học, Hà Nội, tr 119 - 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản
Tác giả: Bộ môn sinh lý học, Trường Đại học y Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2000
[2] Bộ Y tế (1975), “Hằng số sinh học người Việt Nam”, Nxb Y học [3] Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thậpkỉ XX, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hằng số sinh học người Việt Nam”, "Nxb Y học [3] Bộ Y tế (2003), "Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập "kỉ XX
Tác giả: Bộ Y tế (1975), “Hằng số sinh học người Việt Nam”, Nxb Y học [3] Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học [3] Bộ Y tế (2003)
Năm: 2003
[4] Huỳnh Văn Chúng (2016), Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và chí tuệ của học sinh THCS huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sĩ sinh học, Đại học Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và chí tuệ của học sinh THCS huyện Phù Mỹ
Tác giả: Huỳnh Văn Chúng
Năm: 2016
[5] Đỗ Hồng Cường (2006), "Nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh THCS các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình", Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 6, tr.112-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh THCS các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2006
[6] Đỗ Hồng Cường (2009), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình, Luận án Tiến sỹ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2009
[7] Nguyễn Phú Đạt (2002), Nghiên cứu về tuổi dậy thì và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam, Luận án tiễn sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về tuổi dậy thì và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phú Đạt
Năm: 2002
[8] Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền và cs (1996), Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 - 55 tuổi, “Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam”, NXB Y học, Hà Nội, tr. 68 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 - 55 tuổi", “"Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền và cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
[9] Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái thể lực của học sinh trường phổ thông cơ sở Hà Nội, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái thể lực của học sinh trường phổ thông cơ sở Hà Nội
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp
Năm: 1992
[10] Phạm Thị Minh Đức (2000), “Một số chỉ số về kinh nguyệt của nữ sinh và phụ nữ Việt Nam bình thường thập kỷ 90”, Dự án điều tra cơ bản 1994- 1999, Báo cáo nghiệm thu năm 2000, tr.548-563 [11] Phạm Thị Minh Đức, Lê Thu Liên, Phùng Thị Liên và Cộng sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chỉ số về kinh nguyệt của nữ sinh và phụ nữ Việt Nam bình thường thập kỷ 90”
Tác giả: Phạm Thị Minh Đức
Năm: 2000
[12] Trần Long Giang, Mai Văn Hƣng (2012), “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học THCS Hà Nội và những định hướng giáo dục trong nhà trường”. Tạp chí giáo dục,số 108, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học THCS Hà Nội và những định hướng giáo dục trong nhà trường
Tác giả: Trần Long Giang, Mai Văn Hƣng
Năm: 2012
[13] Nguyễn Thị Hải Hà và cs (2019), “Nghiên cứu về sự thay đổi ở tuổi dậy thì của học sinh THCS huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”, Tạp chí Khoa học và công nghệ ĐHTN, số 207, tr. 231-236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu về sự thay đổi ở tuổi dậy thì của học sinh THCS huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hà và cs
Năm: 2019
[14] Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự (2015), “Nghiên cứu một số chỉ số sinh lí của học sinh 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương”, Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 5(30)-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh lí của học sinh 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự
Năm: 2015
[15] Hoàng Thị Mai Hoa (2012), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học hình thể của học sinh trường THCS xã Lam Hạ, Thành phố Phủ Lý, Hà Nam, Luận văn Thạc sĩ Sinh học thực nghiệm, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học hình thể của học sinh trường THCS xã Lam Hạ, Thành phố Phủ Lý, Hà Nam
Tác giả: Hoàng Thị Mai Hoa
Năm: 2012
[16] Lê Thị Hợp, Huỳnh Nam Phương (2011), Thống nhất về phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học, Tạp chí Dinh dƣỡng và Thực phẩm tập 7 số 2 tháng 6/2011, tr. 1 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất về phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học
Tác giả: Lê Thị Hợp, Huỳnh Nam Phương
Năm: 2011
[17] Mai Văn Hƣng (2017), Đặc điểm hình thể người Việt Nam theo vùng sinh thái (sách chuyên khảo), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội [18] Mai Văn Hƣng (2008), “Sinh lý sinh dục nữ”, “Sức khoẻ sinh sản”,Sinh học sinh sản người, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thể người Việt Nam theo vùng sinh thái" (sách chuyên khảo), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội [18] Mai Văn Hƣng (2008), "“Sinh lý sinh dục nữ”, “Sức khoẻ sinh sản”, "Sinh học sinh sản người
Tác giả: Mai Văn Hƣng (2017), Đặc điểm hình thể người Việt Nam theo vùng sinh thái (sách chuyên khảo), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội [18] Mai Văn Hƣng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội [18] Mai Văn Hƣng (2008)
Năm: 2008
[19] Mai Văn Hƣng, Nguyễn Thị Thanh Nga (2014), Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý dậy thì của học sinh một số trường THCS ở Hà Nội, Sở Khoa học &amp; Công nghệ Hà Nội, 01X-12/03-2014-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý dậy thì của học sinh một số trường THCS ở Hà Nội
Tác giả: Mai Văn Hƣng, Nguyễn Thị Thanh Nga
Năm: 2014
[20] Nguyễn Thị Đoàn Hương, Lê Thị Tuyết Lan, Trần Liên Minh và cs (1979), “Một số đặc điểm về thể lực của sinh viên học tại tp Hồ Chí Minh 1979”. Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb. Y học, Hà Nội, tr. 93-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm về thể lực của sinh viên học tại tp Hồ Chí Minh 1979"”. "Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Đoàn Hương, Lê Thị Tuyết Lan, Trần Liên Minh và cs
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1979
[21] Nguyễn Thị Thanh Hương (2015), Nghiên cứu một số chỉ số thể lực của học sinh trường Trung học cơ sở cao mại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số thể lực của học sinh trường Trung học cơ sở cao mại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2015
[22] Nguyễn Khải và Phạm Văn Nguyên (1978), “Tình hình thể lực học sinh thành phố Huế (từ 6 đến 18 tuổi)” Hình thái học, 19(1), tr.1- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thể lực học sinh thành phố Huế (từ 6 đến 18 tuổi)"” "Hình thái học
Tác giả: Nguyễn Khải và Phạm Văn Nguyên
Năm: 1978
[23] Đào Huy Khuê (1991), Đặc điểm về kích thước hình thái, về tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 -17 tuổi (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình), luận án phó tiến sĩ khoa học sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm về kích thước hình thái, về tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 -17 tuổi (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình)
Tác giả: Đào Huy Khuê
Năm: 1991

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w