TRẦN ĐẶNG VŨ HẰNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL VÀ DAMINOZIDE ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY HOA DẠ YẾN THẢO PETUNIA HYBRIDA TRỒNG CHẬU
Trang 1TRẦN ĐẶNG VŨ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL VÀ DAMINOZIDE ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CÂY HOA DẠ YẾN THẢO
(PETUNIA HYBRIDA) TRỒNG CHẬU TẠI THÀNH
PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Bình Định, năm 2017
Trang 2TRẦN ĐẶNG VŨ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL VÀ DAMINOZIDE ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CÂY HOA DẠ YẾN THẢO
(PETUNIA HYBRIDA) TRỒNG CHẬU TẠI THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CAM ĐOAN v
LỜI CẢM ƠN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY HOA DẠ YẾN THẢO 4
1.1.1 Nguồn gốc 4
1.1.2 Vị trí phân loại 4
1.1.3 Đặc điểm thực vật học 6
1.1.4 Yêu cầu sinh thái 7
1.1.5 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của hoa dạ yến thảo 8
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ HOA DẠ YẾN THẢO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 9
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa dạ yến thảo trên Thế giới 9
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa hoa dạ yến thảo Việt Nam 10
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HOA DẠ YẾN THẢO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 12
1.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa dạ yến thảo trên Thế giới 12
1.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa dạ yến thảo ở Việt Nam 14
Trang 41.4 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẾ PHẨM
PACLOBUTRAZOL VÀ DAMINOZIDE 17
1.4.1 Đặc điểm của chế phẩm paclobutrazol 17
1.4.2 Đặc điểm của chế phẩm daminozide 18
1.4.3 Tình hình nghiên cứu paclobutrazol và daminozide trên Thế giới và Việt Nam 20
1.5 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU TẠI THỜI ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của paclobutrazol đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu 26
2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của daminozide đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
2.3.2 Cách pha hóa chất 29
2.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 31
2.4 BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG 34
2.4.1 Thời vụ gieo trồng 34
2.4.2 Chuẩn bị giá thể 34
2.4.3 Chuẩn bị hạt giống 34
2.4.4 Chuẩn bị chậu trồng 34
2.4.5 Phương pháp nhân giống 34
2.4.6 Kỹ thuật trồng 35
Trang 52.4.7 Chăm sóc và tưới nước 35
2.4.8 Một số sâu bệnh chính gây hại 35
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 37
3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY HOA DẠ YẾN THẢO TRỒNG CHẬU 37
3.1.1 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến một số chỉ tiêu sinh hóa của hoa dạ yến thảo trồng chậu 37
3.1.1.1 Hàm lượng nước tổng số 37
3.1.1.2 Hàm lượng diệp lục 39
3.1.1.3 Hàm lượng nitơ tổng số 41
3.1.2 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến thời gian sinh trưởng của hoa dạ yến thảo trồng chậu 42
3.1.3 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của hoa dạ yến thảo trồng chậu 43
3.1.3.1 Chiều cao cây 43
3.1.3.2 Đường kính tán 45
3.1.3.3 Chiều dài lá 48
3.1.3.4 Chiều rộng lá 49
3.1.3.5 Số lá/thân chính 51
3.1.3.6 Số cành cấp 1/cây 53
3.1.3.7 Chiều dài cành cấp 1 55
3.1.4 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến chất lượng và năng suất hoa dạ yến thảo thương phẩm 56
Trang 63.2 ẢNH HƯỞNG CỦA DAMINOZIDE ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, CHẤT LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT
HOA DẠ YẾN THẢO TRỒNG CHẬU 60
3.2.1 Ảnh hưởng của daminozide đến một số chỉ tiêu sinh hóa của hoa dạ yến thảo trồng chậu 60
3.2.1.1 Hàm lượng nước tổng số 60
3.2.1.2 Hàm lượng diệp lục 61
3.2.1.3 Hàm lượng nitơ tổng số 62
3.2.2 Ảnh hưởng của daminozide đến thời gian sinh trưởng của hoa dạ yến thảo 63
3.2.3 Ảnh hưởng của daminozide đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển hoa dạ yến thảo trồng chậu 64
3.2.3.1 Chiều cao cây 64
3.2.3.2 Đường kính tán 66
3.2.3.3 Chiều dài lá 68
3.2.3.4 Chiều rộng lá 69
3.2.3.5 Số lá/thân chính 71
3.2.3.6 Số cành cấp 1/cây 72
3.2.3.7 Chiều dài cành cấp 1 73
3.2.4 Ảnh hưởng của daminozide đến chất lượng và năng suất hoa dạ yến thảo trồng chậu 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC XỬ LÝ THỐNG KÊ
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Quy Nhơn, ngày… tháng… năm…
Tác giả luận văn
Trần Đặng Vũ Hằng
Trang 8Luận văn này hoàn thành còn có sự giúp đỡ của bạn bè và sự động viên khuyến khích của gia đình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Quy Nhơn, ngày… tháng… năm…
Tác giả luận văn
Trần Đặng Vũ Hằng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa dạ yến thảo ở Mỹ
1.3 Diện tích trồng hoa của Việt Nam từ năm 2001 - 2010 11
3.1 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến hàm lượng nước tổng
3.2 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến hàm lượng diệp lục
3.3 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến hàm lượng Nitơ tổng số
3.4 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến thời gian sinh trưởng
3.5 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.6 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.7 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng 49
Trang 11chiều dài lá dạ yến thảo
3.8 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.9 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.10 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.11 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
3.12 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến chất lượng cây hoa dạ
3.13 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến năng suất hoa dạ yến
3.14 Ảnh hưởng của daminozide đến hàm lượng nước tổng số
3.15 Ảnh hưởng của daminozide đến hàm lượng diệp lục trong
3.16 Ảnh hưởng của daminozide đến hàm lượng Nitơ tổng số
3.17 Ảnh hưởng của daminozide đến thời gian sinh trưởng của
3.18 Ảnh hưởng của daminozide đến động thái tăng trưởng
Trang 123.19 Ảnh hưởng của daminozide đến đường kính tán của cây
3.20 Ảnh hưởng của daminozide đến động thái tăng trưởng của
3.21 Ảnh hưởng của daminozide đến động thái tăng trưởng
3.22 Ảnh hưởng của daminozide đến số lá/thân chính của cây
3.23 Ảnh hưởng của daminozide đến động thái tăng trưởng số
3.24 Ảnh hưởng của daminozide đến động thái tăng trưởng
3.25 Ảnh hưởng của daminozide đến chất lượng cây hoa dạ
3.26 Ảnh hưởng của daminozide đến năng suất hoa dạ yến thảo 77
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
3.1 Ảnh hưởng của paclobutrazol đến động thái tăng trưởng
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoa dạ yến thảo (Petunia hybrida) có tên khác: Dã yên, Yên thảo hoa,
dã yên thảo, dã yến thảo và dạ yên thảo… Màu sắc đa dạng gồm trắng, hồng, đỏ… là loại cây thân thảo thuộc họ cà, có nguồn gốc từ Nam Mỹ [45]
Ở Việt Nam, hoa dạ yến thảo là một trong những loại hoa mới được nhập nội với nhiều ưu điểm: màu sắc, hình dáng hoa đa dạng, hương thơm thanh dịu Dạ yến thảo thích hợp trồng trên ban công, làm chậu treo, trồng viền lối
đi, thảm màu trang trí sân vườn và trồng chậu để trong nhà
Quy Nhơn là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa rất cao Vì vậy việc tận dụng ban công để trồng hoa quả là ý kiến sáng suốt Hiện nay việc trồng hoa trang trí ban công đang rất thịnh hành và được ưa chuộng, đặc biệt là các khu đô thị Xu hướng tận dụng ban công để làm đẹp cho ngôi nhà của mình ngày càng trở nên ưa chuộng, đặc biệt đối với những ngôi nhà có diện tích không lớn, không thể đủ để thiết kế một sân vườn, hay một không gian thoáng rộng nơi mặt đất Kết hợp ban công sắt với họa tiết trang trí đơn giản điểm tô một vài chậu hoa là ý kiến sáng tạo để trang trí cho ngôi nhà Trong số các loại hoa có hoa dạ yến thảo đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, loại hoa được mệnh danh “nữ hoàng hoa ban công” Hoa dạ yến thảo dễ trồng, có thể nuôi cấy mô, nhân giống vô tính bằng cành hoặc nhân giống hữu tính bằng hạt, có thể trồng trong các điều kiện sinh thái khác nhau Trồng hoa
dạ yến thảo có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ hoa, đồng thời có thể giúp người nông dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống trong bối cảnh hiện trạng diện tích đất nông nghiệp của thành phố ngày càng bị thu hẹp
Tuy nhiên, để hoa dạ yến thảo phát triển một cách tự do dẫn đến việc cây vươn quá dài, khả năng phân nhánh kém, cành phát triển không cân đối, hoa
nở không tập trung, màu sắc hoa không bền dẫn đến làm giảm thị hiếu của
Trang 15người tiêu dùng Khả năng sinh trưởng của dạ yến thảo phụ thuộc vào nhiệt
độ và ánh sáng Nhiệt độ dưới 160C, dạ yến thảo có xu hướng phân nhánh và trở nên nhỏ gọn Ở nhiệt độ từ 16 -240C, tăng trưởng của cây phụ thuộc số giờ nắng, nếu ít hơn 12h/ngày thì mỗi nhánh sẽ có một hoa Nếu nhiệt độ trên
240C, dạ yến thảo có xu hướng phát triển chiều cao và phân nhánh kém [15]
Ở Bình Định, hoa dạ yến thảo trồng chủ yếu vào vụ Đông Xuân, nền nhiệt độ ở vụ này luôn vượt quá 240C nên cần phải sử dụng các phương pháp vật lý hoặc hóa học để thúc đẩy sự phân nhánh và cây nhỏ gọn lại Trong số các phương pháp vật lý, ngắt chồi đỉnh được sử dụng rộng rãi nhất, nhưng phương pháp này gây tổn thương đến cây và tạo điều kiện phát triển một số bệnh gây hại Trong số các phương pháp hóa học để kiểm soát chiều cao dạ yến thảo có sử dụng chất làm chậm tăng trưởng [27] Đây là một mũi nhọn của nông nghiệp, trong khi ở Bình Định nói chung và Quy Nhơn nói riêng lĩnh vực này còn mới và chưa được nghiên cứu nhiều
Chất làm chậm sinh trưởng paclobutrazol (PBZ) và daminozide (B9) là những “chất làm ức chế tăng trưởng” có vai trò ức chế sự hình thành gibberellins (hoocmon tăng trưởng thực vật) và do đó có thể sử dụng để làm giảm sự kéo dài của tế bào trong mô chồi Chúng có tác dụng giảm chiều cao, chống đổ lốp, làm chín mía.… chất làm chậm sinh trưởng thực vật đã được sử dụng phổ biến trong làm vườn bằng nhiều cách khác nhau Các chất làm chậm sinh trưởng thực vật được ứng dụng để sản xuất ra những cây trồng nhỏ gọn hơn Từ đó làm giảm chi phí cho việc cắt tỉa, đạt tỷ lệ tốt hơn giữa sự sinh trưởng và phát triển, do đó cải thiện chất lượng hoa dạ yến thảo Chất làm chậm sinh trưởng được sử dụng để tăng màu xanh của lá cây, củng cố cành hoa, kích thích ra hoa, tăng khả năng chống chịu với những điệu kiện bất lợi của môi trường Chất làm chậm sinh trưởng cũng được sử dụng để tăng khả năng chống chịu stress của cây trồng trong quá trình vận chuyển và bán buôn
Trang 16Chất làm chậm sinh trưởng được sử dụng cho cây cảnh bằng cách phun lên lá, ngâm nước, tiêm vào cây thân gỗ hoặc dùng trong nước tưới tiêu [25]
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của Paclobutrazol và Daminozide đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất cây hoa dạ yến thảo
(Petunia hybrida) trồng chậu tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”
2 Mục tiêu
Xác định được nồng độ xử lý PBZ và B9 thích hợp có tác động tích cực đến năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học mới về các chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển và năng suất hoa dạ yến thảo trồng chậu khi xử lý các nồng độ PBZ và B9 khác nhau Là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, người nông dân và chủ trang trại mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất hoa dạ yến thảo trồng chậu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần giúp cho người dân có thêm thông tin và mạnh dạn ứng dụng trong việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng thực vật để nâng cao năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu tại Bình Định
4 Bố cục của luận văn
Mở đầu: Gồm 3 trang (từ trang 1 đến trang 3)
Chương 1 Tổng quan tài liệu: Gồm 22 trang (từ trang 4 đến trang 25) Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: Gồm 11
trang (từ trang 26 đến trang 36)
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Gồm 41 trang (từ trang 37
đến trang 77)
Kết luận và đề nghị: Gồm 2 trang (từ trang 78 đến trang 79)
Tài liệu tham khảo: Gồm 6 trang (từ trang 81 đến trang 85)
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY HOA DẠ YẾN THẢO
1.1.1 Nguồn gốc
- Cây hoa dạ yến thảo có tên tiếng anh là Petunia, thuộc họ cà
(Solanaceae) [18], có nguồn gốc từ Nam Mỹ và có hai loài là Petunia
intergrifolia (P intergrifolia) và Petunia axillaris (P.axillaris) Đây là hai loài
dạ yến thảo đặc hữu cho Nam Mỹ: Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và Brazil và một trung tâm của Deversity ở miền Nam Brazil [37] Ở Việt Nam hoa dạ yến thảo được trồng để trang trí trong nhà, ban công, quán cà phê, công viên và các vườn hoa Ở miền Bắc, hoa nở vào dịp hè thu, còn ở miền Nam hoa nở vào dịp tết Cây có nhiều tên gọi khác nhau, theo Phạm Hoàng
Hộ (2000) [4] cây có tên là dã yên, theo Trần Hợp (2000) [5] cây có tên là hoa
cà Đây là một loài cây lai mà tổ tiên có từ nhiều loài khác của chi Petunia, ví
như P.axillaris bsp (large white petunia) hoa dạng ống hẹp, màu trắng, hoặc P.violacea Lindl (Violet-flowered Petunia) hoa dạng ống dài, thùy rộng, màu
tím Ngày nay các nhà làm vườn lai tạo ra nhiều dạng hoa kép hay cánh hoa xòe rất đẹp [14]
1.1.2 Vị trí phân loại
Theo các nhà phân loại thực vật học thì hoa dạ yến thảo có vị trí phân loại như sau :
Dạ yến thảo là loại cây hai lá mầm (Dicotyledonace) thuộc phân lớp cúc
(Asterydae), bộ cà (Solanales), họ cà (Solanaseae), chi Petunia Juss [18]
Tên khoa học : Petunia hybrid Gọi tắt là Petunia
Ở Việt Nam hoa có tên phổ thông là dạ yến thảo, dạ yên thảo, dã yên thảo, dã yến thảo hay yên thảo hoa…
Trang 18Tên gọi "petunia" xuất phát từ từ "petum" hoặc "betum", đây là tên gọi
bản địa của cây thuốc lá, Nicotiana tabacum L [37]
Chi dạ yến thảo được thành lập bởi Jussieu năm 1803 dựa trên mẫu vật được thu thập tại Montevideo, Uruguay Năm 1846, Miers công bố một sửa đổi về họ cà (solanaseae) ở Nam Mỹ, trong đó ông đã công nhận 10 loài dạ yến thảo Năm 1850, Sendtner công bố bản sửa đổi của ông về họ Cà ở Flora Brasiliensis với 13 loài dạ yến thảo Trong cuốn Candolle's Prodromus, xuất bản năm 1852, Dunal trình bày 16 loài dạ yến thảo, và mô tả thêm một chi mới là Leptophragma được gọi là hoa triệu chuông [37] Petchoa là một giống lai được lai tạo từ triệu chuông và dạ yến thảo [50]
Fries (1911) xuất bản bản khảo sát đầu tiên của dạ yến thảo, chấp nhận
27 loài dạ yến thảo Việc phân loại này đã cung cấp các đặc điểm chi tiết về hình thái học, giới hạn, phân bố địa lý và các mối quan hệ của dạ yến thảo với các giống khác Năm 1984, Sink cung cấp đầy đủ công trình phân loại dạ yến thảo vào thời điểm đó [37]
* Một số loài hoa dạ yến thảo được trồng phổ biến hiện nay [42]:
+ Grandifloras: hoa lớn, nhiều hoa, hoa có đường kính đến 12,5 cm, gồm
cả dạng hoa đơn và hoa kép Một vài giống hoa đơn có cánh gợn sóng hoặc viền, thân leo, có xu hướng lan rộng ra xung quanh Những dạng hoa Grandifloras phổ biến: Supercascade, Super magic, Ultra, Storm và Falcon; + Multifloras: hoa nhỏ, đường kính khoảng 5 – 7,5 cm, nhiều hoa, gồm
cả dạng hoa đơn và hoa kép Những dạng hoa Multifloras đẹp như: Carpet, Primetime, Heavenly Lavender;
+ Floribundas: đây là dạng trung gian giữa Grandifloras và Multifloras Nhóm này trổ hoa nhiều như Grandifloras và kích thước hoa trung bình như Multifloras Một số dạng hoa phổ biến như: Celebrity, Madness, Double Madness;
Trang 19+ Millifloras: cây nhỏ, dạng bụi rậm rạp, cho nhiều hoa có đường kính từ 2,5 – 3,5 cm Fantasy là một dạng trong nhóm này;
+ Spreading Petunias: loại này phát triển chậm nhưng có thể trải rộng ra
từ 0,9 – 1,2 m Hoa có nhiều màu sắc, thích hợp để trồng ở bồn hoa, cửa sổ hoặc trong các giỏ treo Spreading Petunias chịu được khô hạn và rất dễ trồng Một số dạng hoa phổ biến như: Purple Wave, Wave, Laura Bush
1.1.3 Đặc điểm thực vật học
- Thân và lá: Cây thân cỏ, có 2 dạng cây: cây bụi đứng và cây bụi rũ Dạ yến thảo là cây sống hằng năm hoặc một năm, cây cao 15 – 30 cm Thân có lông mịn bao quanh, phân nhánh từ các nách lá thật, một nách có thể phân nhiều nhánh Lá đơn mọc đối hay luân phiên, mặt trên và dưới của lá có phủ lớp lông mịn Lá hình oval, mềm mại, mép nguyên không có răng cưa [37];
- Hoa và quả:
+ Hoa nở bốn mùa, có ba cỡ: hoa nhỏ sấp sỉ 5 cm, nhỡ 8 cm, lớn 13 cm Hoa lớn, đơn độc mọc trên một nhánh dài 2 – 3 cm, đài hoa cao 1 - 2,5 cm Hoa lưỡng tính gồm 5 tiểu nhụy gắn ở phần dưới của ống vành Cánh tràng hợp thành ống loe rộng ở đỉnh, nổi rõ các gân thùy Hoa dạ yến thảo nguyên thủy có hình phễu Tuy nhiên, sự lai tạo đã cho ra nhiều dạng hoa khác nhau như: hoa cánh đơn, hoa cánh kép với mép có viền và gợn sóng, mép hình cung nhọn ở giữa Trên thế giới có khoảng 150 màu hoa: màu sắc hoa có thể thay đổi từ tía đến trắng, tía đến đỏ, đỏ đến cam, tím đến tím nhạt Đặc biệt nhiều loại dạ yến thảo trắng thuần khiết hay xanh nhạt pha hơi đỏ (màu hoa oải hương) [4], [37], [42];
+ Mùi: Hoa dạ yến thảo có mùi thơm dịu dàng, là mùi hỗn hợp của một
số hợp chất chủ yếu: ethylbenzoate, benzaldehyde, và rượu benzyl [37];
+ Quả thuộc dạng quả nang 2 mảnh, trong mỗi quả có khoảng 100 -
300 hạt có kích thước nhỏ [4]
Trang 201.1.4 Yêu cầu sinh thái
1.1.4.1 Phản ứng quang chu kì của cây hoa dạ yến thảo
Dạ yến thảo là cây ngày dài, chúng có thể sống trong bất kỳ thời gian chiếu sáng nào nhưng cây sẽ ra nhanh hoa hơn trong ngày dài Thời gian chiếu sáng dài (trên 13h/ngày) dẫn đến sự ra hoa, cây phát triển về chiều cao
và ít xuất hiện nhánh Thời gian chiếu sáng ngắn (8- 10 h/ngày) làm chậm thời gian từ gieo đến ra hoa, làm chậm sự kéo dài thân chính và tăng sự phân nhánh ở cây [44]
Tuy nhiên phản ứng quang chu kì của dạ yến thảo cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Ở nhiệt độ trung bình ngày dưới 680
F (200C), cây rất nhỏ và phân nhánh tốt bất kể ngày dài hay ngắn, tuy nhiên cây sẽ nhỏ hơn và phân nhánh kém hơn nếu là ngày dài Ở nhiệt độ trên 680
F (200C) trong những ngày ngắn, cây có nhiều cành hơn là trong những ngày dài và việc ra hoa bị trì hoãn Sự ra hoa nhanh nhất xảy ra ở nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 680
F (200C) và thời gian chiếu sáng dài (trên 13 h/ngày), tuy nhiên chiều cao thân
chính được kéo dài, sự phân nhánh bị hạn chế và kích thước lá nhỏ hơn [44]
1.1.4.2 Yêu cầu về nhiệt độ
Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển của dạ yến thảo: nở hoa, chiều cao cây, sự phân nhánh,… Nhiệt độ thích hợp cho dạ yến thảo trong khoảng từ 50 – 770
F (10 – 250C), còn dưới
4oC hoặc cao hơn 35oC thì cây gần như ngừng sinh trưởng, phát triển Nhiệt
độ trung bình ngày cao hơn sẽ giúp cây nhanh ra hoa hơn, cây cao, lá nhỏ và phân nhánh ít hơn Sau khi trồng, nên để dạ yến thảo ở nhiệt độ ban ngày 70 –
750F (21 - 240C), ban đêm từ 60 - 630
F (15 - 170C) cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt Nên duy trì nhiệt độ ban đêm 630
F (170C) trong một tuần hoặc 10 ngày sau khi trồng, sau đó giảm xuống 600
F (150C) nếu cần [44]
Trang 211.1.4.3 Yêu cầu về độ ẩm
Dạ yến thảo là loài cây ưa ẩm nên phải tưới nước thường xuyên và vừa phải, không quá nhiều nhưng cũng không để đất quá khô Tùy thuộc vào từng giai doạn phát triển mà điều chỉnh độ ẩm cho phù hợp : giai đoạn gieo hạt cần đảm bảo độ ẩm bão hòa nhưng khi cây phát triển đến giai đoạn tiếp theo cần giảm độ ẩm để tăng khả năng hoạt động của rễ trong việc chủ động tìm nguồn nước, kích thích sự phát triển của rễ [44]
1.1.4.4 Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng:
- Đất: Dạ yến thảo trồng được trên hầu hết các loại đất, nhưng tốt nhất
là đất màu mỡ, thoát nước tốt, không dịch bệnh, pH thích hợp từ 6,0 – 7,0 và
độ dẫn điện ban đầu khoảng 0,75 ms/cm [44]
- Dinh dưỡng: Không cung cấp chất dinh dưỡng trong 7 – 10 ngày sau
khi trồng để rễ có thể phát triển đến đáy chậu Sử dụng phân bón cung cấp N
ở mức 150 – 200 ppm, nên xen kẽ phân bón hoàn chỉnh 20-10-20 với phân bón cơ sở 15-0-15 hoặc canxi nitrat (15,5-0-0) và kali nitrat (13-0-44) Bảng 1.1 dưới đây liệt kê các mức phân bón khuyến cáo nên dùng cho dạ yến thảo
Tỷ lệ phân bón được giảm xuống một nửa trong một tuần hoặc hai tuần trước khi bán ra thị trường để cây cứng cáp hơn [44]
Bảng 1.1 Liều lượng phân bón cho hoa dạ yến thảo
Nguồn: Plant Analysis Handbook II, MicroMacro Publishing, 1996
1.1.5 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của hoa dạ yến thảo
- Giá trị sử dụng: Hoa dạ yến thảo cho hoa nhiều và thân có tính năng
Trang 22buông rũ nên trồng ở ban công rất đẹp Dạ yến thảo có hoa liên tục, hết đợt này đến đợt khác, dễ tìm các loại giống và hoa có một mùi thơm rất đặc biệt,
ít bị ảnh hưởng bởi sâu bọ và quan trọng nhất là dễ trồng và dễ chăm sóc
- Giá trị kinh tế: Bên cạnh các loại hoa kiểng chủ lực, nhiều nông dân,
nhà vườn ở Bến Tre, Đồng Tháp, Hưng Yên, còn trồng hoa treo, rất bắt mắt, thu hút nhiều người chơi hoa Đó là các loài hoa: dạ yến thảo, dừa cạn, son môi, sò,… Hoa treo giá bán từ 25 ngàn - 40 ngàn đồng/chậu, mỗi đợt ra hoa kéo dài 2-3 tháng Hoa treo đang “thịnh”, nhất là hoa dạ yến thảo, hoa được thị trường tiêu thụ mạnh, góp phần làm phong phú và đa dạng sản phẩm hoa kiểng vào dịp tết nguyên đán
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ HOA DẠ YẾN THẢO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa dạ yến thảo trên Thế giới
Trên thế giới, hoa dạ yến thảo được trồng ở nhiều nước như: Brazil, Colombia, Italia, vương quốc Anh, Nhật Bản,… Tuy nhiên do trồng với số lượng nhỏ lẻ nên những thống kê về tình hình sản xuất và tiêu thụ của loài hoa này là rất hạn chế
Năm 2016, Ấn độ nhập khẩu 6.420.747 chậu hoa dạ yến thảo, có tổng giá trị là 1.136.661 USD Italia là nước xuất khẩu hoa dạ yến thảo vào Ấn Độ chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 36% (409.350 USD), tiếp đến Tazania đạt 17,2% (195,607 USD) và Vương quốc Anh đạt 11,0% (124,818 USD) [51]
Trang 23Bảng 1.2: Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa dạ yến thảo ở Mỹ (2014-2015)[51]
Hoạt động sản xuất và tiêu thụ hoa dạ yến thảo của 15 tiểu bang: 2014 và 2015
[$100,000+ doanh thu]
Doanh thu
Nhà vườn
Số lượng bán ra Chậu nhỏ hơn 5
inch
Chậu 5 inch và lớn hơn
Tổng số lượng
2014 2015 2014 2015 2014 2015 2014 2015 (nhà
vườn)
(nhà vườn)
(1.000 chậu)
(1.000 chậu)
(1.000 chậu)
(1.000 chậu)
(1.000 chậu)
(1.000 chậu)
69
678
916 3.072
668
642
735 1.102
888
531
23 1,997 1,361 17.627
2.514 2.278
69
646 1.692 2.664
650
610 1.447 1.028
824
593
19 1.886
744 17.664
866
333 ( 1 )
213
179 1.191
568
397 1.870
943
474 ( 1 )
197 ( 1 ) 1.408
609
406 1.996
3.032 3.112
69
891 1,095 4.263 1.236 1.039 2.605 1.601 1.023
714
26 2.975 1.709 25.390
3.457 2.752
69
843 1,692 4.072 1.259 1.016 3.443 1.526
951
887
22 2.667
823 25.479 Nguồn: Floriculture Crops 2015 Summary (April 2016), USDA, National Agricultural Statistics Service
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa hoa dạ yến thảo Việt Nam
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa ở Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất tự nhiên Hoa được trồng lâu đời và tập trung ở một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng
An, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (thành phố ((Tp) Hồ Chí Minh), với tổng diện lích trồng khoảng 3500 ha
Trang 24Diện tích trồng hoa ngày càng tăng cao đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là ở các thành phố lớn Tính riêng ở Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng bán các loại hoa chất lượng cao, đó là chưa kể các cửa hàng hoa nhỏ và cả những người bán rong Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn trên ở mức hơn 1 triệu cành các loại trong một ngày Tại Đà Lạt diện tích hoa cắt cành của vùng này năm 1996 chỉ có 174 ha, đến năm 2000
đã tăng lên 853 ha và hiện nay có khoảng 1.467 ha
Bảng 1.3: Diện tích trồng hoa của Việt Nam từ năm 2001 - 2010
Viện Nghiên cứu Rau – Quả, 2006
Những năm gần đây, nghề trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều địa phương Theo số liệu điều tra của Viện Di truyền Nông nghiệp, tại một số địa phương hoa là cây trồng cho thu nhập khá Chẳng hạn, có vùng ở Hà Nội, so với sản xuất 2 lúa 1 màu trong cùng thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tích thì trồng hoa có lợi nhuận cao hơn gần 12 lần Ở Thái Bình, có doanh nghiệp trồng hoa đã thu lãi tới 160 triệu đồng/ha/năm, hay ở Lâm Đồng, bình quân cho mức lãi 250 - 300 triệu đồng/ha/năm từ sản xuất hoa
Tết Đinh Dậu 2017 cơ sở sản xuất rau an toàn Tâm An Farm tại xã Hòa Khương, huyện hòa vang, Tp Đà Nẵng đã ứng dụng công nghệ cao để tạo đột phá trong sản xuất nông nghiệp Cung ứng gần 10.000 chậu hoa dạ yến thảo,
Trang 25phong lữ, cúc sao băng, cúc mắt nai,… ra thị trường với lợi nhuận khoảng
100 triệu đồng [45]
TS Lã Thị Thu Hằng - giảng viên khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Huế - đã nuôi cấy mô thành công cây hoa dạ yến thảo Bước đầu cung cấp cho thị trường 1.000 chậu dạ yến thảo Từ thành công bước đầu trong việc trồng thử nghiệm dạ yến thảo, tương lai không xa, Thừa Thiên - Huế sẽ có thêm một loài hoa mới hoàn toàn được ươm trồng tại Huế, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ cái đẹp và thú vui chơi hoa của người dân Khi dạ yến thảo được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, nhiều nông dân ở Thừa Thiên - Huế sẽ có thêm nguồn giống hoa dạ yến thảo với giá thành rẻ để trồng, mang nguồn lợi kinh tế không nhỏ cho gia đình mình mỗi dịp Tết đến Xuân về [41]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HOA DẠ YẾN THẢO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa dạ yến thảo trên Thế giới
Hiện nay trên Thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoa dạ yến thảo, đặc biệt là các nghiên cứu về hóa sinh, di truyền Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật canh tác dạ yến thảo
Warner (2010) ghi lại ảnh hưởng của nhiệt độ và độ chiếu sáng trong nhà kính trên hoa và hình thái của dạ yến thảo [31]
Gheorghe Popescu Cristian và Monica Popescu (2015) [21] tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các loại môi trường khác nhau đến khả
năng quang hợp, diện tích lá và tiềm năng ra hoa của P grandiflora và
Nicotiana Qua đó đã đưa ra được môi trường phát triển phù hợp với P
grandiflora và Nicotiana là 60% than bùn biolan, acid 30% than bùn và 10%
đá trân châu
Saba Ambreen Memon Muhammad Hanif Baloch và Riaz Ahmed Baloch (2014) [32] nghiên cứu ảnh hưởng của humid acid và chất dinh dưỡng
Trang 26(MgSO4 + S) đến khả năng tăng trưởng và năng suất của cây dạ yến thảo Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ở Công thức 800g humic acid + 60g S + 100g MgSO4 cho hiệu quả cao nhất
Nishijima và cs (2006) ghi nhận rằng khả năng ra hoa của dạ yến thảo có thể chịu tác động của quá trình chăm sóc và biện pháp kỹ thuật canh tác [26] E.El-Mokadem Hoda và Sorour Mona (2014) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của Bio và phân bón về tăng trưởng và ra hoa của cây dạ yến thảo Cây
dạ yến thảo được phun với Azospirillum lipoferum (vi khuẩn cố định đạm, NFB), Bacillus polymxa (vi khuẩn phosphate hòa tan, PDB) và hỗn hợp phân bón hoàn chỉnh 19N: 19P2O5: 19K2O Cả hai vi khuẩn và hỗn hợp phân bón đều làm gia tăng đáng kể các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển (chiều cao, số cành cấp 1, diện tích lá, trọng lượng khô của cây) và các chỉ tiêu chất lượng (ngày ra hoa, số hoa/cây) so với đối chứng Các kết quả cho thấy sử dụng Azospirillum sp + Bacillus sp + 5 g/cây phân bón hóa học đã làm tăng một
số chỉ tiêu về sinh hóa (chất diệp lục, tổng lượng carbohydrate, tỷ lệ N và P), sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa dạ yến thảo so với đối chứng Như vậy chế phẩm vi sinh nâng cao khả năng cung cấp chất dinh dưỡng trong đất
và cũng làm tăng hiệu quả của việc sử dụng phân bón hóa học [20]
Sui Yanhui, Zhang Jian, Zhang Zhiguo [36] nghiên cứu “Ảnh hưởng của daminozide và chlormequat đối với sự phát triển của cây con Dã yên thảo” Cây con được xử lý với daminozide (B9) và chlormequat (CCC) với nồng độ khác nhau bằng cách phun lên lá Sử dụng B9 ở nồng độ 1000 – 2500 mg/L; 0,05 – 0,3% CCC và 1500 mg/L B9 + 0,3% CCC Nồng độ cho hiệu quả nhất
là 2500 mg / L B9; 0,3% CCC và 1500 mg / L B9 + 0.3% CCC Trong đó, sử dụng 1500 mg / L B9 + 0.3% CCC cho kết quả tốt nhất, tiếp đến là 2500mg/L B9 + 0.3 % CCC Nhưng chi phí cho 2500 mg / L B9 là thấp nhất Khi nồng
độ CCC vượt quá 1% thì sẽ gây độc cho cây
Trang 27Shi Zhenzhen ở Đại học Nông nghiệp Chiết Giang, Trung Quốc nghiên cứu B9 và CCC đến khả năng ức chế tăng trưởng của giống hoa dạ yến thảo Vilm, làm tăng số lá, số cành trên cây Việc sử dụng B9 từ 1500 – 6000 ppm
có hiệu quả làm giảm chiều cao cây 61,5 – 67% ở giai đoạn sinh dưỡng và 40,5 - 46,4% ở giai đoạn ra hoa, với sự gia tăng 29,0 - 41,9% số lá; 1 - 12,5% trọng lượng lá và 9,2 - 20,2% hàm lượng diệp lục Ngược lại, một ứng dụng khác sử dụng 2500 – 10000 ppm CCC có làm giảm chiều cao cây từ 18,5 – 50,5% ở giai đoạn sinh dưỡng và từ 2,9 - 23,3% trong giai đoạn nở hoa; số lá, trọng lượng lá và hàm lượng diệp lục lần lượt tăng khoảng 25,8 - 35,5%; 0 - 12,5% và 13,4 - 27,7% Khi nồng độ B9 thay đổi từ 1500 – 3000 ppm có thể thấy rõ hiệu quả, nếu dùng B9 ở nồng độ 6000 ppm hoặc 2500 – 10000 ppm CCC không có ảnh hưởng hoặc ức chế nhẹ [33]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa dạ yến thảo ở Việt Nam
Ở Việt Nam giống hoa dạ yến thảo còn mới lạ đối với người trồng hoa cho nên các nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và phát triển còn rất ít
Dự án của sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị chủ trì “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa, rau trên địa bàn thành phố Đông Hà giai đoạn 2013 - 2015” đã xây dựng thành công 06 quy trình công nghệ Trong đó có quy trình sản xuất hoa dạ yến thảo trồng chậu Năm 2015, sản xuất thử nghiệm dạ yến thảo trồng chậu, dự án thu được 840 chậu hoa dạ yến thảo [46]
Lê Hồng Thủy Tiên [13], Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, năm
2006.“ Khảo sát sự ra hoa trong ống nghiệm ở cây dừa cạn (Catharanthus
roseus) và dã yên thảo (Petunia hybrida)” Đề tài được thực hiện tại Bộ môn
Công nghệ sinh học, Đại học Nông Lâm, Tp Hồ Chí Minh trên đối tượng cây hoa dừa cạn và dạ yến thảo trong điều kiện in vitro Tiến hành nuôi cấy cây con trong môi trường cảm ứng ra hoa như sử dụng kết hợp TDZ với NAA,
Trang 28BA với NAA, tăng nồng độ KH2PO4 và nồng độ đường, giảm nồng độ KNO3 Kết quả thu được với cây dạ yến thảo như sau: a) Trong môi trường MS chứa
340 mg/l KH2PO4 (gấp 2 lần so với nồng độ trong MS) và 40 g/l đường 100% cây ra nụ nhưng nụ không nở thành hoa; b) Các thí nghiệm bổ sung TDZ hoặc
BA kết hợp với NAA, tăng nồng độ KH2PO4 và nồng độ đường, giảm nồng
độ KNO3 đều không cảm ứng sự hình thành nụ và hoa
Trương Thị Cẩm Nhung và cs (2016) [11] nghiên cứu: “ Ảnh hưởng của polyme ưa nước đến khả năng hút nước, ẩm độ đất và sinh trưởng phát triển của dạ yên thảo” Polyme ưa nước có khả năng hút nước rất nhiều so với khối lượng của chúng, do đó chúng được xem như là một tác nhân làm ẩm hiệu quả khi được phối trộn vào trong giá thể Thí nghiệm ảnh hưởng của 3 loại polyme ưa nước đến khả năng hút nước, ẩm độ đất và sinh trưởng, phát triển của dạ yến thảo được thực hiện tại vườn ươm Bộ môn Cảnh quan và kỹ thuật hoa viên, trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ 9/2012 - 12/2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy khi phối trộn polyme với liều lượng 0,5% thì khả năng hút nước tăng từ 24,3 - 27,3% so với đối chứng, ẩm độ đất ở nghiệm thức có polyme sau khi tưới 10 ngày còn khoảng 44 - 47% thì ẩm độ ở nghiệm thức đối chứng chỉ còn 12% Pmasl và gamsorb là 2 loại polyme có ảnh hưởng tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của dạ yến thảo
Kết quả nghiên cứu của Trần Nguyên Vũ và cs cho thấy các đoạn thân
và lá của chồi non dạ yến thảo đang tăng trưởng trong điều kiện in vitro được
nuôi cấy trên môi trường MS có BA hoặc BA và NAA Kết quả được ghi nhận trên giống hoa kép và hoa đơn sau 10 ngày nuôi cấy Tỷ lệ % thành lập chồi cao nhất từ mẫu cấy lá được ghi nhận trên môi trường MS có 0,5 μM BA đối với giống hoa kép và 2 μM BA đối với hoa đơn Chồi được tái tạo từ lóng thân của cả hai giống trên môi trường MS bổ sung 0,5 μM BA và 0,05 μM NAA Việc bổ sung nước dừa 5% kích thích cho sự kéo dài chồi non Cây con
Trang 29có bộ rễ khỏe mạnh được trồng thủy canh trong ½ MS trong 7-10 ngày trước khi ra vườn ươm [14]
Nguyễn Thị Nhi [10] nghiên cứu: “Hiệu quả của môi trường nuôi cấy
trên sự nhân chồi và tạo rễ cây hoa dã yên thảo (Petunia sp.) in vitro” được thực hiện nhằm tìm ra môi trường thích hợp để nhân chồi và tạo rễ in vitro
đáp ứng nhu cầu chất lượng cây con trong qui trình vi nhân giống cây hoa này Đề tài được thực hiện gồm 4 thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 – 2 nhân tố; 3 – 5 lần lặp lại; mỗi lần lặp lại 2 keo; mỗi keo cấy 4 – 5 mẫu Kết quả thí nghiệm cho thấy: a) Môi trường MS có bổ sung
BA 0,5 mg/l+NAA 0,05 mg/l đã làm gia tăng số chồi (5,6 chồi); b) Môi trường MS có bổ sung AgNO3 1,0 mg/l + NAA 0,2 mg/l đã làm tăng chiều cao và lá xanh đậm hơn sau 4 tuần nuôi cấy chồi; c) Sử dụng Fe-EDDHA 50 mg/l giúp gia tăng hàm lượng diệp lục tố trong lá; d) Sử dụng IBA 0,5 mg/l cùng nồng độ khoáng ½ MS cho hiệu quả tạo rễ cao (100%)
Trần Quốc Cường [1] nghiên cứu: “Hiệu quả của BA, NAA và TDZ lên
sự tái sinh chồi dã yên thảo (Petunia sp.) in vitro” được thực hiện nhằm tìm ra
nồng độ chất điều hòa sinh trưởng (BA, NAA và TDZ) thích hợp cho sự tái sinh chồi từ lá, làm cơ sở cho công tác nhân giống Đề tài gồm 2 thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 2 nhân tố, 6 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 keo, mỗi keo cấy 6 mẫu Kết quả thí nghiệm cho thấy: a) Môi trường MS có bổ sung thêm BA 2,0 mg/l + NAA 0,5 mg/l cho tỷ lệ chồi tái sinh từ lá tốt là 88,9% và số chồi đạt mức cao (4 chồi); b) Môi trường MS có
bổ sung TDZ 0,2 mg/l cho tỷ lệ chồi tái sinh từ lá đạt 100%, số chồi tái sinh cao nhất với 9,9 chồi, chiều cao chồi đạt mức cao nhất là 2,3 cm
Từ năm 2011 – 2012, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành nhập nội, khảo sát, đánh giá và so sánh sự sinh trưởng, phát triển của một số giống
hoa dạ yến thảo (Petunia sp.) có nguồn gốc từ Hà Lan Kết quả đã tuyển chọn
Trang 30được giống P5, là hoa dạ yến thảo có màu hồng, có chiều cao cây thấp 27,4 – 31,1 cm, độ bền tự nhiên cao 27,2 – 33,1 ngày, đường kính hoa 4,3 - 4,6 cm, đường kính tán đạt 25,7 – 26,8 cm, hoa lộ trên mặt tán, ít bị nhiễm sâu bệnh, được thị hiếu người tiêu dùng ưa chuộng và đáp ứng được yêu cầu trồng chậu
và yêu cầu trang trí hoa vụ Đông Xuân, Xuân Hè tại Hà Nội [47]
Vào 12/2015 Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Bến Tre đã thực hiện đề tài “Nhân giống cây hoa Dã yên thảo bằng phương pháp nuôi cấy mô” để tìm quy trình nhân giống hoàn chỉnh Với cách nhân giống này sẽ cho ra sản phẩm cây giống đồng đều, khỏe mạnh, số lượng lớn, tiết kiệm thời gian, chi phí [40]
1.4 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẾ PHẨM PACLOBUTRAZOL VÀ DAMINOZIDE
1.4.1 Đặc điểm của chế phẩm paclobutrazol
1.4.1.1 Đặc điểm cấu tạo của paclobutrazol
PBZ có tên thương phẩm piccolo, piccolo 10 XC, bonzi, downsize và paczol PBZ là một hợp chất cấu trúc dị vòng có chứa N, với nhiều nối đơn xen kẻ với nối đôi Tên hoá học của PBZ là: (2RS,3RS)-1-(4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl-2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hoá học tổng quát là C15H20ClN3O Đây là một chất làm chậm sinh trưởng được sử dụng khá rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới [49]
Hình 1.4 Công thức cấu tạo PBZ [49]
Trang 311.4.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm paclobutrazol
Đặc tính căn bản của nhóm chất làm chậm sinh trưởng là ngăn chặn quá trình cytochrom P450-dependent monooxygenase, bằng cách này nó ngăn cản sự oxid hoá ent-kaurene thành ent-kaureonic acid Nhóm này bao gồm các chất tetracyclacis, ancymidol, uniconazole và chất được ứng dụng rộng rãi nhất là PBZ [8]
PBZ có hiệu quả trong việc làm giảm sự phát triển của nhiều loài cây PBZ là hợp chất triazole kiểm soát chiều cao cây trồng bằng cách ức chế sản xuất gibberellins - hoocmon thực vật chịu trách nhiệm cho sự kéo dài tế bào [Rachael], do đó làm chậm tốc độ phân chia tế bào và làm thực vật trở nên già cỗi hơn PBZ được sử dụng để tăng khả năng chịu hạn của cây, làm lá có màu xanh đậm, chống lại sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn, tạo điều kiện cho rễ phát triển [49]
Wang et al (1986) tìm thấy PBZ ở rễ cây có sự di chuyển đến lá mà không có sự di chuyển từ lá đến thân hoặc rễ Do đó sự di chuyển của PBZ đã được giả định là hấp thụ ở rễ, di chuyển chủ yếu thông qua mô xylem lên lá theo sự thoát hơi nước Do đó xử lý PBZ bằng cách ngâm sẽ có hiệu quả PBZ cũng có thể hấp thụ qua lá nhưng không hiệu quả Khi so sánh phương pháp phun lên lá thì phương pháp ngâm đã kiểm soát chiều cao đồng đều hơn, trong một khoảng thời gian lâu hơn [29] Hạt giống có thể ngâm trong PBZ để giảm sự phát triển của hạt [49]
1.4.2 Đặc điểm của chế phẩm daminozide
1.4.2.1 Đặc điểm cấu tạo của daminozide
Daminozide còn được gọi là Alar, Kylar, B-Nine, Dmasa, SADH, hoặc B9 là chất làm chậm sinh trưởng thực vật Tên hóa học là acid 2-oxoglutaric 4-(2,2-Dimethylhydrazinyl)-4-oxobutanoic acid [48]
Trang 32Hình 1.5 Công thức cấu tạo daminozide [48]
1.4.2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm daminozide
B9 là chất làm chậm sinh trưởng, được sử dụng để làm giảm sự tăng trưởng quá mức ở thực vật B9 làm giảm chiều cao cây bằng cách ức chế sinh tổng hợp gibberellin Sử dụng B9 làm lá dày hơn và giảm stress trong quá trình vận chuyển B9 thường phun vào lá và di chuyển đến đỉnh sinh trưởng
để giảm sự kéo dài mô đỉnh Đối với một số loại cây trồng, hỗn hợp daminozide WSG + cycocel có thể mang lại hiệu quả cao nhất [48]
Việc phun B9 lên trái cây để điều chỉnh sự tăng trưởng của chúng, giúp cho việc thu hoạch dễ dàng hơn và giữ cho táo không rơi khỏi cây trước khi chúng chín, điều này đảm bảo táo có màu đỏ và bảo quản tốt hơn B9 được sử dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1963 chủ yếu trên cây táo Đến năm 1989,
Cơ quan bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đề xuất cấm sử dụng B9 vì mối lo ngại
về nguy cơ ung thư cho người sử dụng nhưng vẫn cho phép sử dụng đối với cây trồng phi lương thực như cây cảnh [48]
B9 được sử dụng để tăng khả năng kết trái của cây lấy quả Ở Mỹ, B9 ở nồng độ 2000 ppm đã có tác dụng tăng cường hình thành hoa, đồng thời ức chế sinh trưởng của chồi ngọn ở cây đào B9 ở nồng độ 1000 – 5000 ppm kích thích sự chín nhanh ở quả đào và anh đào Cũng tại Mỹ, người ta sử dụng B9 nồng độ 500 – 2000 ppm phun cho cây táo tây đã gia tăng đáng kể nụ hoa Cũng với nồng độ như vậy, tại Canada, sử lý B9 đã gia tăng số hoa lên từ 50 – 85% tùy theo giống Tại Mỹ, cây lê đã ra hoa với số lượng tăng 2 – 3 lần ở
Trang 33những cây được sử lý B9 với nồng độ 1000 – 3000 ppm phun lặp lại hai lần
so với cây đối chứng không phun B9 Đối với cây chanh, B9 cũng có tác dụng tốt, chẳng hạn giống chanh Eurica ở Israel đã tăng số nụ hoa và năng suất quả lên gấp đôi nhờ phun dung dịch B9 nồng độ 2500 ppm [7]
B9 làm chậm già (héo) của hoa cắt cành: Sử dụng B9 5 – 10 ppm hòa trong dung dịch saccarose 1,5 % có thể kéo dài thời gian còn tươi của hoa mỗm chó lên gấp đôi Đối với hoa cẩm chướng, sử dụng B9 với nồng độ 500 ppm trong dung dịch đường saccarose 4% có thể giúp kéo dài thời gian hoa tươi đến 17 ngày, lâu hơn 10 ngày so với đối chứng không xử lý B9 [7]
1.4.3 Tình hình nghiên cứu paclobutrazol và daminozide trên Thế giới và Việt Nam
1.4.3.1 Tình hình nghiên cứu paclobutrazol và daminozide trên Thế giới
Zhang Jian, Zhang Zhi-Guo, Sui Yan-Hui nghiên cứu ảnh hưởng của các chất làm chậm sinh trưởng trên cây hoa cúc vạn thọ Các chất được sử dụng là B9, CCC, PBZ Nghiên cứu cho thấy nồng độ tối ưu B9, CCC và PBZ cho sự phát triển cây hoa cúc vạn thọ lần lượt là 2500mg/kg; 0,3% và 60mg/kg Nồng độ an toàn của ba chất làm chậm sinh trưởng lần lượt là 1000 – 2000 mg/ kg; 0,1% - 0,3% và 10 - 60mg/ Kg Trong đó, 60 mg/ kg PBZ cho kết quả tốt nhất và mức chi thấp nhất, tiếp theo là 0,3% CCC Khi nồng độ CCC vượt quá 1,0%, có thể gây độc cho cây [39]
Zhang Ben-jie (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của Daminozide đến sự sinh trưởng, phát triển cây dạ yến thảo B9 thường được sử dụng để kiểm soát
sự phát triển của cây Sự phát triển quá mức của dã yến thảo thường làm giảm chất lượng của nó Cây giống dạ yến thảo được xử lý với nồng độ B9 khác nhau bằng việc phun lên lá Kết quả cho thấy B9 có thể kiểm soát chiều cao của cây dạ yến thảo có hiệu quả và an toàn, giảm diện tích lá, tăng hàm lượng diệp lục và độ dày của lá, làm cho lá màu đậm hơn và cải thiện chất lượng
Trang 34hoa quả một cách hiệu quả Nồng độ thích hợp của B9 là 1000-2.500 mg / L, trong đó nồng độ tối ưu là 2500 mg / L [38]
Hai thí nghiệm đã được tiến hành trên 2 loài hoa dạ yến thảo: Petania Bonanza và Velvet Carpet Sử dụng bốn chất làm chậm sinh trưởng (B9, dikegulacnatri, PBZ và uniconazole) ở bốn nồng độ khác nhau và ba tần số ứng dụng Mục đích của những thí nghiệm này là để xác định phương pháp sản xuất các cây hoa dạ yến thảo cho chiều cao thấp nhất (± 80mm cao) để bán Nồng độ đề xuất là: B9 (1250 – 2500 mg/l), PBZ (16-40 mg/1),
uniconazole (8 ":" 25 mg/1) và Dikegulacnatri (1000-2500 mg/l) [19]
Sử dụng B9 ở mức 1000 - 16000 ppm; PBZ từ 5 - 80 ppm và uniconazole từ 2 - 32 ppm cho giống hoa hướng dương Pacino (Helianthus annuus) để so sánh Hiệu quả của các chất kể trên là kiểm soát chiều cao cây hoa hướng dương Kết quả cho thấy sử dụng uniconazole ở nồng độ 16 - 32mg/lít hoặc B9 với nồng độ 4000 - 8000 mg/L thì có tác dụng tốt Phun PBZ đến 80 mg/L lại có ít tác dụng [17]
Ngâm hạt giống hoa hướng dương (HelianthusAnnuus cv 'Pacino') trong dung dịch PBZ ở các nồng độ 0 (Đ/c), 2, 4, 8, 16 hoặc 32 mg/chậu để xác định tác động của PBZ trong việc kiểm soát chiều cao cây Tất cả các công thức đều làm giảm chiều cao cây khoảng 27% so với đối chứng, nhưng
ở nồng độ 16 và 32 mg/chậu cho chiều cao cây thấp nhất Đường kính tán, đường kính hoa giảm lần lượt so với đối chứng là 16% và 4% ở nồng độ 2 và
4 mg /chậu Nhưng chỉ có nồng độ trên 4 mg/chậu mới có sự sai khác có ý nghĩa so với đối chứng PBZ không ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây hoa hướng dương Nồng độ 2 và 4 mg/chậu kiểm soát chiều cao tối ưu tương ứng với đường kính là 16,5 cm [35]
Cây hoa giấy là cây sinh trưởng rất nhanh nên yêu cầu phải cắt tỉa thường xuyên trong suốt quá trình sống của cây Mục đích nghiên cứu của
Trang 35Norcini J.G là đánh giá hiệu quả của uniconazole và B9 trong việc kiểm soát
sự tăng trưởng của cây hoa giấy Kết quả nghiên cứu cho thấy: chiều cao bị ức chế khi sử dụng uniconazole hoặc B9 (10.000 ppm) Phun uniconazole 200 ppm và giúp giảm tốc độ tăng trưởng trong 3 đến 5 tuần Nếu ngâm uniconazole 2,5 hoặc 5,0 mg/ lít giúp cây giảm tối đa mức sinh trưởng [28] James E Faust, Pamela C Korczynski và Robert Klein nghiên cứu ảnh hưởng của PBZ đến chiều cao và sự ra hoa của cây hoa trạng nguyên
„Freedom Red‟ Ngâm PBZ [(A.i.) 0.118 mg / container; (28.350 mg = 1,0 fl oz)] trên cây trạng nguyên phát triển trong tự nhiên Ở cây có dùng PBZ thì trong diện tích lá bắc giảm 15% - 12% so với đối chứng, giảm chiều cao và chiều dài lóng một các nhanh chóng và lâu dài [22]
Barret và cộng sự nghiên cứu trên cây mai địa thảo, xác pháo, cúc vạn thọ và dạ yến thảo trồng trong chậu 610 cm2
được phun uniconazole hoặc PBZ ở nồng độ từ 10 - 160 mg/L Đối với tất cả các loài cả hai hóa chất đều làm giảm kích thước cây trồng so với đối chứng và hiệu quả tăng khi tăng nồng độ Với cùng nồng độ Uniconazole đã tạo ra những cây nhỏ gọn hơn
PBZ [16]
Shi-Ying Wang nghiên cứu: “Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến kích thước, sự phân nhánh và sự ra hoa của cây dạ yến thảo” Bảy loài dạ yến thảo được nghiên cứu: Purple Wave, Pink Wave, Misty Lilac Wave, Rose Wave, Dramatica Cherry và Dramatica Hot Pink Sử dụng B9 phun hai lần ở nồng độ 7500 ppm, PBZ phun hai lần ở nồng độ 30 ppm, ngâm paclobutrazol ở nồng độ 5 ppm, ngâm paclobutrazol ở nồng độ 5 ppm và phun ở nồng độ 30 ppm hoặc sử dụng ethephone (Florel) phun hai lần ở nồng
độ 500 ppm Đường kính cây, chiều cao thân chính được kiểm soát hiệu quả thông qua việc phun B9 và ngâm PBZ Số nhánh tăng đáng kể bởi ethephone
và B9 Tuy nhiên thời gian ra hoa bị trì hoãn khi sử dụng ethephone Kích
Trang 36thước hoa đầu tiên phản ứng với các chất điều hòa sinh trưởng một cách tiêu cực [34]
Ksenija Karlovie và cs (2004) đã nghiên cứu các nồng độ khác nhau của B9 và CCC là những chất ức chế sinh trưởng đến sự sinh trưởng của cây hoa cúc „Revert‟ Kết quả cho thấy ở nồng độ 2000 ppm B9 có tác dụng làm giảm chiều cao cây hoa tốt nhất, số lượng chồi hoa cũng giảm đi và hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng chất chlormequat [24]
1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu paclobutrazol và daminozide ở Việt Nam
Dương Thị Quyên, Trường Đại học Quy Nhơn, năm 2013 nghiên cứu
“Nghiên cứu ảnh hưởng của canxi và Paclobutrazol đến các chỉ tiêu sinh lý,
hóa sinh, năng suất và chất lượng cành thương phẩm hoa Lily (Lilium sp.) tại
Bình Định” Kết quả cho thấy PBZ đã ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh hóa (hàm lượng nước tổng số, diệp lục, nitơ tổng số, kali tổng số, canxi tổng số), làm giảm chiều cao cây, chiều dài lá, làm tăng chiều dài cành hoa Tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến NSTT của cành hoa Lily thương phẩm [12]
Lê Hồng Linh, Trường đại học Quy Nhơn, năm 2012 nghiên cứu
“Nghiên cứu tác động của chế phẩm Paclobutrazol (PBZ) đến một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh, quá trình phát triển và năng suất của xoài cát Hòa Lộc tại Cát Hanh, Phù Cát, Bình Định” Kết quả nghiên cứu cho thấy: Liều lượng và thời gian xử lý PBZ ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh, quá trình phát triển và năng suất của xoài cát Hòa Lộc [8]
Trần Văn Hâu và Nguyễn Việt Khởi, trường Đại học Cần Thơ (2007) nghiên cứu: “Hiệu quả của Paclobutrazol kết hợp với thiourê lên sự ra hoa rải
vụ chôm chôm java (nephelium lappaceum l.) trong mùa nghịch tại Cần Thơ”
Đề tài được thực hiện nhằm xác định hiệu quả của PBZ kết hợp với thiourê trên sự ra hoa rải vụ của chôm chôm Java Các nghiệm thức là nồng độ PBZ
từ 200 – 750 ppm, được thực hiện trong tháng 6, 7, 9 và 11 là những thời
Trang 37điểm chôm chôm không ra hoa ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả cho thấy phun PBZ qua lá ở nồng độ 500 - 750 ppm vào đầu tháng 6 có thể kích thích chôm chôm ra hoa mùa nghịch khi có tiểu hạn trong khi phun PBZ vào tháng 7, 9 và tháng 11 chôm chôm ra hoa vào đầu mùa khô, sớm hơn chính vụ khoảng 30 ngày Phun PBZ giúp mầm hoa phát triển sớm từ 1-2 tuần, làm tăng tỉ lệ ra hoa từ 30 – 240% và tăng năng suất từ 20 – 75% nhưng không ảnh hưởng đến TSS và pH thịt trái [3]
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh [43] đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo nghiệm giống và nghiên cứu khả năng kìm hãm của uniconazole, chlormequat chloride và daminozide lên sự sinh trưởng, phát triển đối với cây hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii) trồng trong chậu mini tại Tp Hồ Chí Minh” được tiến hành từ 1/2015 – 12/2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy: Sử dụng tổ hợp nồng độ và số lần xử
lý B9 trên cây hoa đồng tiền G-1013 và G-10911, ở tổ hợp xử lý một lần duy nhất với 1500 ppm cho tỷ suất lợi nhuận cao nhất, tăng lợi nhuận cao hơn so với không xử lý (tăng từ 0,5 – 0,7 lần)
1.5 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU TẠI THỜI ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nước ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của hoa dạ yến thảo Qua theo dõi ta thấy diễn biến thời tiết tại Tp Quy Nhơn từ tháng 11/2016 đến tháng 03/2017 như sau:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ từ tháng 11/2016 – 3/2017 dao động từ 24,6 –
26,40C; cao hơn so với yêu cầu về nhiệt độ của dạ yến thảo (21,0 – 24,00C) Ở nhiệt độ này, sự tăng trưởng của cây phụ thuộc vào số giờ nắng
- Tổng giờ nắng: Tổng giờ nắng tại địa điểm nghiên cứu từ 11/2016 –
3/2017 biến động từ 54,0 – 223,0 h/tháng Như vậy số giờ nắng trung bình ngày dao động trong khoảng 1,8 – 7,4 h/ngày Trong khi đó yêu cầu về thời
Trang 38gian chiếu sáng của dạ yến thảo là trên 13h/ngày Số giờ nắng trung bình ngày tại thời điểm thí nghiệm quá thấp so với yêu cầu hoa dạ yến thảo, do đó cây sẽ
ra hoa chậm, giảm sự kéo dài thân chính và tăng khả năng phân nhánh;
- Lượng mưa: Trong tháng 11/2016 – 1/2017 lượng mưa biến động từ
153,3 – 803,3 mm, cao hơn so với mặt bằng chung Nhưng dạ yến thảo được trồng trong nhà lưới nên lượng mưa không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây dạ yến thảo;
- Độ ẩm: Độ ẩm 11/2016 – 3/2017 dao động từ 8,02 – 89,0 %, cao hơn
so với mặt bằng chung (79,0 %) Độ ẩm cao tạo điều kiện sâu bệnh trên cây phát triển mạnh, do đó nên hạn chế tưới nước và thường xuyên phun thuốc phòng bệnh
Bảng 1.4 Điều kiện thời tiết tại thời điểm nghiên cứu Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Tổng lượng
mưa (mm)
Tổng giờ nắng (h)
(Nguồn: Trạm khí Tượng thủy văn Quy Nhơn, Bình Định)
Tóm lại: Đi ̣a điểm nghiên cứu nằm tr ong vùng khí hâ ̣u nhiê ̣t đới gió mùa; có thể nó i đây là vùng không thuâ ̣n lợi nhiều cho sinh trưởng và phát triển của hoa dạ yến thảo Tuy nhiên viê ̣c bố trí thời vu ̣, lựa cho ̣n giống dạ yến thảo (dòng dạ yến thảo chịu nhiệt ) cùng với các biện pháp kỹ thuật (tăng số giờ chiếu sáng và sử dụng chất làm chậm sinh trưởng ) phù hợp sẽ nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển hoa dạ yến thảo cho vùng này
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống: hoa dạ yến thảo (Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam
(Petunia hybrida ) trồng chậu tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
+ Địa điểm nghiên cứu: Trong nhà lưới của Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ; ở Khu vực 8, phường Nhơn Phú, Tp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
+ Thời gian nghiên cứu: Vụ Đông Xuân 2016-2017 (11/2016 - 3/2017)
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của paclobutrazol đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu
- Ảnh hưởng của PBZ đến các chỉ tiêu sinh hóa của hoa dạ yến thảo ở các thời kỳ sinh trưởng (hàm lượng nước tổng số, diệp lục và nitơ tổng số);
- Ảnh hưởng của PBZ đến thời gian sinh trưởng của hoa dạ yến thảo;
- Ảnh hưởng của PBZ đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây hoa dạ yến thảo ở các thời kỳ sinh trưởng (chiều cao cây, đường kính tán,
Trang 40chiều dài lá, chiều rộng lá, số lá/thân chính, số cành cấp 1/cây, chiều dài cành cấp 1,);
- Ảnh hưởng của PBZ đến năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo thương phẩm (số nụ hoa/cây, số hoa/cây, đường kính hoa, chiều dài cành hoa,
độ bền hoa, độ bền màu hoa, màu sắc hoa);
2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của daminozide đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu
- Ảnh hưởng của B9 đến các chỉ tiêu sinh hóa của hoa dạ yến thảo ở các thời kỳ sinh trưởng (hàm lượng nước tổng số, diệp lục và nitơ tổng số);
- Ảnh hưởng của B9 đến thời gian sinh trưởng của hoa dạ yến thảo;
- Ảnh hưởng của B9 đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của hoa dạ yến thảo ở các thời kỳ sinh trưởng (chiều cao cây, đường kính tán, chiều dài
lá, chiều rộng lá, số lá/thân chính, số cành cấp 1/cây, chiều dài cành cấp 1,);
- Ảnh hưởng của B9 đến năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo thương phẩm (số nụ hoa/cây, số hoa/cây, đường kính hoa, chiều dài cành hoa, độ bền hoa, độ bền màu hoa, màu sắc hoa);
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ palobutrazol đến một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa dạ yến thảo trồng chậu
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design-CRD) với 3 lần nhắc lại, 4 công thức
- Các công thức thí nghiệm như sau:
+ Công thức I: 0 ppm (nước lã) (Đ/c)
+ Công thức II: 01 ppm