1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Huyện đường bình khê (tây sơn, bình định) từ lịch sử đến di tích

101 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng quá trình hình thành, tồn tại và trở thành di tích huyện đường Bình Khê như thế nào, ý nghĩa nó ra sao, việc phát huy giá trị của di tích lịch sử này đến các tầng lớp nhân dân tron

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả

Đặng Văn Đệ

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4.1 Mục đích nghiên cứu 7

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Nguồn tư liệu 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH KHÊ (HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH) 10

1.1 Quá trình hình thành huyện Bình Khê và Sự thay đổi về địa giới hành chính 10

1.2 Điều kiện tự nhiên 12

1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15

1.4 Quá trình hình thành dân cư 19

1.5 Truyền thống yêu nước của nhân dân huyện Bình Khê 22

Trang 4

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 HUYỆN ĐƯỜNG BÌNH KHÊ TRONG LỊCH SỬ 28

2.1 Tổng quan về huyện đường Bình Khê từ năm 1888 đến năm 1945 282.1.1 Bộ máy cai trị của chế độ phong kiến Việt Nam ở huyện Bình Khê (dưới thời Pháp thuộc) 282.1.2 Bộ máy cai trị của thực dân Pháp tại Bình Định và huyện Bình Khê 362.2 Huyện đường Bình Khê thời kỳ cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc làm Tri huyện (từ tháng 7/1909 đến tháng 01/1910) 392.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc 392.2.2 Âm mưu của chính quyền thực dân, phong kiến đối với gia đình Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc 412.2.3 Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc được triều đình Huế cử vào chấm thi tại trường thi Bình Định 452.3 Huyện đường Bình Khê, tỉnh Bình Định và người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành 51Tiểu kết chương 2 56

Chương 3 DI TÍCH LỊCH SỬ HUYỆN ĐƯỜNG BÌNH KHÊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA - XÃ HỘI, DU LỊCH 58

3.1 Tiến trình xây dựng hồ sơ khoa học, xếp hạng và bảo tồn Di tích lịch sử Huyện đường Bình Khê 583.1.1 Xây dựng hồ sơ khoa học và xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh: Huyện đường Bình Khê 583.1.2 Hồ sơ khoa học và xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia: Địa điểm lưu niệm cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tại Huyện đường Bình

Khê 61

3.1.3 Bảo tồn di tích lịch sử Huyện đường Bình Khê 64

Trang 5

3.2 Tác động của di tích lịch sử Huyện đường Bình Khê đối với đời

sống văn hóa, xã hội, cư dân Bình Định 76

3.3 Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch 81

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể dày đặc từ vùng núi, làng quê đến đô thị Trong hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đó, các di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò quan trọng Đây được xem là tài sản vô giá của đất nước, của dân tộc bởi đây là nguồn sử liệu vật chất quan trọng Qua những thông tin lịch sử đó, chúng ta

có thể khôi phục bức tranh, chân thực về quá khứ Không những thế di tích lịch sử - văn hóa còn chứa đựng và lưu giữ các giá trị văn hóa có tính giáo dục, làm phong phú tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam, góp phần đưa dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập quốc tế

1.2 Trong lịch sử, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) là vùng đất có truyền thống yêu nước, là quê hương của ba anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - lãnh tụ phong trào khởi nghĩa Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII và quê hương của anh hùng Mai Xuân Thưởng - lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp ở Bình Định cuối thế kỷ XIX Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Bình Khê là một vùng hẻo lánh, nhưng lại là điểm nóng về kinh tế, chính trị

Huyện Bình Khê được thành lập vào năm 1888 dưới triều vua Thành Thái Về mặt tổ chức hành chính, cũng như các địa phương khác ở Trung Kỳ dưới thời Pháp thuộc, đứng đầu Bình Khê là quan Tri huyện Người có trách nhiệm chăm lo việc an dân, đốc thúc các quan lại cấp tổng, xã thôn làm phận

sự, lo việc cắt đặt chức vụ làng, kiểm soát việc lập bộ thuế Tổ chức thanh tra các trường sơ học, thi hành phận sự tư pháp, giải quyết khiếu kiện… Từ tháng 7/1909 đến tháng 1/1910, huyện Bình Khê là nơi cụ Phó bảng Nguyễn Sinh

Trang 7

Huy (là tên gọi khác của cụ Nguyễn Sinh Sắc), thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được triều đình Huế bổ nhiệm làm Tri huyện

1.3 Bình Định cũng là địa phương may mắn đã có một thời in bóng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành mà sau này trở thành bậc vĩ nhân, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Trong đó, mảnh đất Bình Khê là nơi Người đã đến thăm cha lúc đó làm Tri huyện Người đã sống cùng cha những ngày đẹp đẽ cuối cùng trước khi bước vào cuộc hành trình tìm đường cứu nước Thời gian không nhiều nhưng tình yêu và sự tin cậy của người cha cộng với khí phách của vùng đất võ trời văn đã hun đúc ý chí của Người, thôi thúc Người sớm đưa ra một quyết định có tính chất bước ngoặt đánh dấu sự trưởng thành trọn vẹn trên hành trình tìm đường cứu nước

Mặc dù thời gian cha con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Bình Định và Bình Khê không nhiều, nhưng có được khoảnh khắc đó là một may mắn và cũng là vinh dự dành riêng cho nhân dân Bình Định nói chung, nhân dân Bình Khê nói riêng Để lưu giữ những khoảnh khắc lịch sử đáng trân trọng đó, để ghi dấu địa điểm lịch sử nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc đã từng sống và làm việc, ngày 24/2/2000, địa điểm huyện đường Bình Khê xưa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 426/QĐ-UB với tên gọi di tích lịch sử: Huyện đường Bình Khê

1.4 Những năm gần đây, công tác bảo tồn, tôn tạo di tích Huyện đường Bình Khê đã được chính quyền các cấp địa phương quan tâm Năm 2014, dự

án Khu tưởng niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc tại huyện đường Bình Khê được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phê duyệt xây dựng và hoàn thành, khánh thành đưa vào sử dụng ngày 23/5/2015 nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch

Hồ Chí Minh Và năm 2017, Huyện đường Bình Khê được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia

Trang 8

Có dịp đi qua quốc lộ 19 tại địa bàn xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, chúng ta sẽ chứng kiến một công trình tưởng niệm hoành tráng Nhưng quá trình hình thành, tồn tại và trở thành di tích huyện đường Bình Khê như thế nào, ý nghĩa nó ra sao, việc phát huy giá trị của di tích lịch sử này đến các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh như thế nào vẫn chưa được nhiều người nhận thức rõ ràng Đó là những câu hỏi cấp thiết đặt ra cần phải giải quyết trong quá trình nghiên cứu đề tài này

1.5 Trong một số trường phổ thông hiện nay việc tuyên truyền giáo dục lịch sử địa phương còn hạn chế, chưa được chú trọng đúng mức Việc giảng dạy và bồi dưỡng cho lớp trẻ về truyền thống anh hùng của quê hương nhằm giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, lòng biết ơn với các anh hùng, liệt sĩ đã có công lao to lớn, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do cho quê hương, đất nước

Vì thế, việc nghiên cứu lịch sử huyện đường Bình Khê, thời kỳ cụ Nguyễn Sinh Sắc làm tri huyện Bình Khê vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần làm rõ lịch sử hình thành và phát triển kinh

tế, xã hội ở huyện Bình Khê nói riêng, tỉnh Bình Định nói chung dưới chế độ thực dân, phong kiến Qua đó phục dựng lại bức tranh quá khứ sinh động cũng như quảng bá hình ảnh các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, nhằm thu hút khách tham quan du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương

1.6 Ngoài ý nghĩa nghiên cứu khoa học, là một người con Bình Định

và đang công tác trong ngành văn hóa, trong tôi luôn tự hào về lịch sử quê hương Bình Định Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu, nhằm pháp phát huy giá trị các di tích lịch sử địa phương Bình Định nói chung và di tích huyện đường Bình Khê vừa là trách nhiệm, vừa là niềm vinh dự, tự hào Điều đó không

những thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà còn tìm về cội nguồn

Trang 9

truyền thống, sức mạnh của lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau

Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn

vấn đề “Huyện đường Bình Khê (Tây Sơn, Bình Định) từ lịch sử đến di tích” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) và huyện đường Bình Khê đã được các học giải quan tâm nghiên cứu trong đó có một số công trình tiêu biểu như:

Thứ nhất, các tác phẩm như: Quách Tấn (2003), Non nước Bình Định,

NXB Thanh Niên; Sở khoa học công nghệ và môi trường - Sở Văn hóa và

Thông tin (2000), Vũ Minh Giang (chủ biên) “Bình Định danh thắng & di tích”; Châu Kim Tú (2012), Bảo tàng Quang Trung và di tích Tây Sơn, NXB Sở Văn

hóa thông tin Nghĩa Bình… Những tác phẩm này đã trình bày một cách khái quát về các di tích và danh lam thắng cảnh ở tỉnh Bình Định, trong đó có đề cập đến huyện đường Bình Khê nhưng chỉ sơ lược, một khía cạnh nhỏ

Thứ hai, các cuốn sách về lịch sử địa phương như: Ban chấp hành Đảng

bộ tỉnh Bình Định (9-2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945); Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định (9-2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1954-1975); Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định (1992), Bình Định – lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975) và các cuốn sách lịch sử

Đảng bộ các huyện, xã như: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tây Sơn

(1-1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn (1930-1975); Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (5-1998), Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945-1975, Ban chấp hành Đảng bộ xã Tây Vinh (2006), Truyền thống cách mạng xã Tây Vinh (1930-2000)… Các cuốn sách này chủ yếu trình bày về lịch sử hình

thành và phát triển của các Đảng bộ Cộng sản ở tỉnh Bình Định và lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, chưa đi sâu

Trang 10

vào nghiên cứu riêng huyện đường Bình Khê

Thứ ba, Tỉnh ủy Bình Định (10/2010), Kỷ yếu Hội thảo khoa học

“Nguyễn Tất Thành ở Bình Định”; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định (2008), Đỗ Quyên (chủ biên), Nguyễn Tất Thành ở Bình Định; Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử (2006) tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Sơn Tùng (1982), tiểu thuyết Búp Sen xanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội… Các tác phẩm

này đề cập đến sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành dừng

chân tại Bình Định và đến thăm cha làm Tri huyện Bình Khê lúc bấy giờ

Các Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích như: Sở văn hóa - Thông tin, Bảo

tàng tổng hợp Bình Định (1998), Hồ sơ: Di tích Huyện đường Bình Khê; Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Quản lí di tích Bình Định (2018), Hồ sơ: Di tích Địa điểm lưu niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc tại Huyện đường Bình Khê… Đây là

những công trình đề cập trực tiếp đến nguồn gốc lịch sử và giá trị của di tích huyện đường Bình Khê, xong chưa đầy đủ, chưa có sự tổng hợp, hệ thống vào tiến trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện Tây Sơn và của

tỉnh Bình Định

Tóm lại, hiện nay có nhiều sách, báo, tạp chí, tài liệu tìm hiểu về huyện Bình Khê và có đề cập đến di tích huyện đường Bình Khê, nhưng chưa nghiên cứu sâu về di tích huyện đường Bình Khê Có công trình đề cập về cuộc đời,

sự nghiệp của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng nghiên cứu về khoảng thời gian Người và cha của mình sống và làm việc tại huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) còn rất sơ lược.Vì vậy, đề tài về “Huyện đường Bình Khê (Tây Sơn, Bình Định) từ lịch sử đến di tích” cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có

hệ thống, khoa học

Tuy nhiên, những công trình nêu trên là nguồn tài liệu hết sức bổ ích giúp cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, bổ sung, phát triển và hoàn

Trang 11

thiện đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình thành lập, thời gian tồn tại của huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), huyện đường Bình Khê và di tích lịch sử huyện đường Bình Khê, trên các khía cạnh: lịch sử hình thành, phát triển, bộ máy hành chính của huyện đường Bình Khê, đặc biệt quan tâm đến thời kỳ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc làm tri huyện Quá trình xây dựng hồ sơ khoa học, xếp hạng, bảo tồn di tích lịch sử huyện đường Bình Khê

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, ngoài việc mô tả về hiện trạng, diện mạo kiến trúc của di tích lịch sử huyện đường Bình Khê, luận văn còn tập trung vào nghiên cứu về lịch sử hình thành, tổ chức hành chính, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, phong kiến ở Bình Khê và những hoạt động của Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Tất Thành trong thời gian ở huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định; đồng thời nghiên cứu tác động của di tích lịch sử huyện đường Bình Khê đối với đời sống văn hóa, xã hội và tiềm năng phát triển du lịch địa phương ngày nay

Về thời gian, luận văn nghiên cứu về quá trình hình thành, tồn tại, phát triển của huyện đường Bình Khê, trọng tâm là khoảng thời gian cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc làm tri huyện (từ năm 1909 đến năm 1910) và tác động của

di tích lịch sử huyện đường Bình Khê đối với đời sống văn hóa - xã hội, tiềm năng phát triển kinh tế du lịch của huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định hiện nay

Về không gian, luận văn nghiên cứu di tích lịch sử huyện đường Bình Khê (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định)

Trang 12

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn khẳng định giá trị lịch

sử, giá trị tinh thần của di tích lịch sử huyện đường Bình Khê và tác động của

di tích đến đời sống văn hóa - xã hội tỉnh Bình Định hiện nay và tương lai

- Tiềm năng của di tích huyện đường Bình Khê đối với sự phát triển ngành du lịch nói riêng, kinh tế của tỉnh Bình Định nói chung

- Về việc giáo dục truyền thống, luận văn góp phần tuyên truyền về tình yêu quê hương đất nước đến thế hệ trẻ qua thông qua di tích lịch sử huyện đường Bình Khê ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn phục dựng bức tranh lịch sử về sự hình thành, phát triển và vai trò của huyện đường Bình Khê đối với khu vực miền núi tỉnh Bình Định

- Làm rõ quá trình huyện đường Bình Khê trở thành một di tích lịch sử

- văn hóa và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị của nó

- Tác động của di tích huyện đường Bình Khê đến đời sống văn hóa-xã hội và tiềm năng phát triển kinh tế du lịch địa phương hiện nay

5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:

- Văn kiện Đảng; các cuốn lịch sử - Tổng kết của Trung ương và địa

phương; tài liệu ở các kho lưu trữ (báo cáo; điện văn chỉ thị; Nghị quyết)

- Kỷ yếu Hội thảo và các công trình nghiên cứu, biên soạn về tỉnh Bình Định và hồ sơ khoa học xếp hạng di tích của Sở Văn hóa và Thể thao Bình Định

- Luận văn còn sử dụng một số văn bản của thực dân Pháp và triều đình Huế như: Tờ tấu bổ nhiệm cụ Nguyễn Sinh Huy vào Ban chấm thi Hương trường thi Bình Định khoa Kỷ Dậu; Tờ tấu bổ nhiệm cụ Nguyễn Sinh Huy

Trang 13

làm Tri huyện Bình Khê ngày 11 tháng 4 năm Duy Tân thứ 3 (29/5/1909) (bản dịch); Tờ trình của Bộ Hình ngày 15 tháng 8 năm Duy Tân thứ 4 (18/9/1910) (bản dịch); Hồ sơ A37801 ngày 21 tháng 1 năm 1920 của tòa Khâm sứ Trung kỳ của Sở mật thám Trung ương (Phủ toàn quyền Đông Dương); Công văn mật số 711 ngày 7 tháng 5 năm 1920 của Sở mật thám Trung kỳ

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những tư liệu tranh ảnh, bản đồ, hồi kí của các nhân chứng lịch sử góp phần bổ sung cho luận văn được hoàn thiện

và phong phú hơn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Trên cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu theo quan điểm Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử và di tích

lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp lịch sử,

phương pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, điền dã, hệ thống hóa, phỏng vấn, điều tra, nghiên cứu

chọn lọc tư liệu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn tổng hợp và phục dựng bức tranh lịch sử một cách hệ thống, theo trình tự thời gian về quá trình hình thành, phát triển của Huyện đường Bình Khê

Thông qua các sự kiện lịch sử đã diễn ra có liên quan trực tiếp đến huyện Bình Khê và huyện đường Bình Khê, luận văn làm rõ vai trò của huyện đường Bình Khê trong từng giai đoạn lịch sử của tỉnh Bình Định nói chung và huyện Tây Sơn nói riêng

Làm rõ quá trình huyện đường Bình Khê trở thành Di tích Lịch sử -

Trang 14

Văn hóa; nêu những tác động của di tích đến đời sống văn hóa - xã hội và tiềm năng phát triển kinh tế du lịch của địa phương hiện nay

Bổ sung tư liệu trong việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương Đồng thời, giới thiệu địa điểm di tích huyện đường Bình Khê cho các buổi học ngoại khóa về tìm hiểu lịch sử địa phương trong nhà trường, giáo dục thế hệ trẻ hôm nay và mai sau…

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Bình Khê (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) Chương 2: Huyện đường Bình Khê trong lịch sử

Chương 3: Di tích lịch sử huyện đường Bình Khê và tác động của nó

đến đời sống văn hóa - xã hội, du lịch

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH KHÊ (HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)

1.1 Quá trình hình thành huyện Bình Khê và Sự thay đổi về địa giới hành chính

Huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), xưa kia là vùng đất thuộc vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành) cổ Sau khi vua Lê Thánh Tông chinh phục Chăm Pa (năm 1471), mở đất đến đèo Cù Mông Nhà Lê lập phủ Hoài Nhân (tức Hoài Nhơn) gồm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn thuộc Thừa tuyên Quảng Nam [12, tr.558-564] Bình Khê lúc đó là một phần đất nằm ở phía tây huyện Tuy Viễn (bao gồm cả vùng rừng núi Vĩnh Thạnh và

An Khê)

Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi tên phủ Hoài Nhân thành phủ Qui Nhân (Qui Nhơn) Năm 1800 sau khi chiếm lại phủ thành Quy Nhơn chúa Nguyễn Ánh lập dinh Bình Định thay phủ Qui Nhơn, năm 1808 vua Gia Long đổi dinh thành trấn vẫn gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn [6, tr.9]

Sau nhiều lần đổi tên, năm 1832 nhà Nguyễn đổi tên phủ Hoài Nhơn thành tỉnh Bình Định, chia lại phủ, huyện, tổng Huyện Tuy Viễn cũ chia thành phủ An Nhơn và hai huyện Tuy Phước, Tuy Viễn Vùng đất Bình Khê bao gồm tổng Thời Hòa và tổng Phú Phong thuộc huyện Tuy Viễn Tháng 5 năm 1877 (dưới thời vua Tự Đức), sau khi di dân khai phá, lập thêm 28 làng phía nam sông Ba, nhà Nguyễn thành lập thêm 3 tổng Thuận Đức, Tân Phong

và An Khê thuộc nha kinh lý An Khê Tháng 9 năm 1888, nhà Nguyễn cắt 18 làng thuộc hai tổng Phú Phong và Mỹ Thuận (thuộc Tuy Viễn) nhập vào nha kinh lý An Khê thành lập huyện Bình Khê (gồm 4 tổng: Tân Phong, Thuận Đức, An Khê và Vĩnh Thạnh) Khoảng năm 1937 lập tổng Trường Định, lúc

Trang 16

đó Bình Khê có 4 tổng: Vĩnh Thạnh, Phú Phong, Trường Định và Thuận Truyền với 47 làng Đầu năm 1946 do có sự điều chỉnh địa giới giữa An Nhơn và Bình Khê nên có thêm 3 làng: Bính Đức, Nhơn Thuận và Mỹ Đức,

tổng cộng Bình Khê có 50 làng [6, tr.9-10]

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, tổng Phú Phong được gọi là tổng Tây Sơn, tổng Trường Định gọi là tổng Hương Sơn, tổng Thuận Truyền gọi là tổng Võ Cự Công, tổng Vĩnh Thạnh giữ nguyên tên Cuối năm 1945, bỏ cấp tổng, thành lập cấp xã

Đầu năm 1946, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định bỏ cấp “Kỳ” (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) thay bằng “Bộ” (Bắc bộ, Trung Bộ, Nam bộ), xóa bỏ cấp châu, quận, phủ, tổng, hình thành chính quyền 4 cấp: Bộ, tỉnh (thành phố), huyện, xã và chủ trương tiến hành hợp nhất

xã lần thứ nhất, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định quyết định cắt 3 thôn Bính Đức, Mỹ Đức, Nhơn Thuận thuộc huyện Bình Khê Tháng 3 năm 1946, Bình Định nhập xã lần thứ nhất, huyện Bình Khê từ 50 làng hợp thành 21 xã [6, tr 9-11]

Tháng 4 năm 1947, Bình Định thành lập 4 huyện miền núi: An Lão, Kim Sơn, Vĩnh Thạnh (tổng Vĩnh Thạnh cũ của huyện Bình Khê), Vân Canh Đầu năm 1948, nhập xã nhỏ thành xã lớn, huyện Bình Khê nhập xã lần thứ hai, còn 10 xã: Bình Quang, Bình Giang, Bình Tường, Bình Phú, Bình Nghi, Bình Tân, Bình Thuận, Bình Thành, Bình Hòa, Bình An

Từ cuối năm 1955 đến đầu năm 1958, sau khi tiếp quảng vùng tự do tỉnh Bình Định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập nha hành chính ở các huyện miền núi, đổi tên xã Bình Quang (nguyên thuộc huyện Bình Khê) thành

xã Vĩnh Quang nhập vào nha Vĩnh Thạnh; tháng 5 năm 1958 cải biến nha hành chính Vĩnh Thạnh thành quận Vĩnh Thạnh [26]

Ngày 19/7/1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra nghị định số

Trang 17

588-NV lập xã Phùng Thiện thuộc quận Vĩnh Thạnh gồm các thôn Tiên Thuận, Thượng Sơn (nguyên thuộc các xã Bình Giang, quận Bình Khê), một phần xã Vĩnh An (thuộc quận Vĩnh Thạnh), 2 thôn Định Quang, Định Bình (thuộc xã Vĩnh Quang, quận Vĩnh Thạnh), phần còn lại của xã Vĩnh An nhập vào xã Bình Giang (thuộc Bình Khê); xã Vĩnh Bình (nguyên thuộc quận Vĩnh Thạnh) nhập vào xã Bình Tường (thuộc quận Bình Khê)

Từ tháng 4/1965 đến tháng 6/1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cải biến quận Vĩnh Thạnh thành cơ sở phái viên hành chính Vĩnh Thạnh trực thuộc quận Bình Khê, rồi bãi bỏ, lại tái lập rồi bãi bỏ cơ sở phái viên hành chính, đặt các xã của huyện Vĩnh Thạnh trực thuộc huyện Bình Khê

Sau ngày thống nhất đất nước, quận đổi thành huyện Tháng 11 năm

1975, Bình Khê và Vĩnh Thạnh hợp nhất thành huyện Tây Sơn Tháng 8 năm

1981, huyện Vĩnh Thạnh tách khỏi huyện Tây Sơn Tháng 2 năm 1986 chia

xã Bình Hiệp thành 2 xã Bình Tân và Bình Thuận Tháng 8 năm 1987, chia xã Bình An thành 3 xã: Tây Bình, Tây Vinh, Tây An; xã Bình Phú thành 2 xã: Tây Phú và Tây Xuân; xã Bình Giang thành 2 xã: Tây Thuận và Tây Giang

Hiện nay, huyện Tây Sơn có 14 xã và một thị trấn huyện lỵ đặt tại thị trấn Phú Phong Phía bắc sông Kôn có các xã: Bình Tân, Bình Thuận, Bình Thành, Bình Hòa, Tây Bình, Tây Vinh, Tây An Phía nam sông kôn có các xã Tây Thuận, Tây Giang, Bình Tường, Tây Phú, Tây Xuân, Bình Nghi, Vĩnh

An [15, tr.9-12]

1.2 Điều kiện tự nhiên

Huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định và Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) là huyện trung du và miền núi nằm phía tây nam tỉnh Bình Định Bắc giáp huyện Phù Cát, Nam giáp huyện Vân Canh và thị xã An Khê (tỉnh Gia Lai), Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh, Đông giáp thị xã An Nhơn

Khí hậu của huyện vừa chịu ảnh hưởng khí hậu Tây Nguyên, vừa ảnh

Trang 18

hưởng khí hậu Duyên hải miền Trung nên có hai mùa mưa nắng rõ rệt Nhiệt

độ không khí trung bình năm là 26,70C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm, phân phối không đều trên địa bàn huyện

Dãy Trường Sơn Đông từ cao nguyên Gia Lai chia nhiều nhánh tạo thành vòng cung bao bọc huyện Bình Khê từ đông bắc qua phía bắc, sang phía tây, xuống tây nam Dãy Kình sơn án ngữ phía bắc và tây có các ngọn Kiền Kiền, Bạch Thạch, Càn Dương, Cà Ca, Trà Ly, Hắc Sơn cao từ 400-800m so với mặt nước biển Dãy Hội Sơn phía đông bắc có các ngọn Độc Nhũ, Lỗ Tây cao từ 300-700m Vùng núi Vĩnh An phía tây nam có các cao điểm 874-807-771m

Xuống vùng thấp, các dãy núi bị chia cắt thành những cụm núi, đồi, gò rải rác xã nào cũng có với những cao điểm lợi hại về quân sự Chen giữa các cụm núi, đồi, gò có những đèo, truông, dốc khá hiểm trở, nhất là đèo An Khê phía tây xã Bình Giang trên quốc lộ 19 lên An Khê

Sông Kôn là một trong những dòng sông lớn của tỉnh Bình Định, phát nguyên từ các dãy núi cao ở KBang (Gia Lai) và An Lão (Bình Định) cùng với các chi lưu ở huyện Vĩnh Thạnh như Nước Trinh, Kà Xôm, Tà Má, Kriêm (Sem) tạo thành xuôi hướng tây bắc - đông nam chia địa bàn huyện Bình Khê thành hai mảng bắc, nam vào An Nhơn, Tuy Phước đổ ra đầm Thị Nại và cảng biển Qui Nhơn Sông Quéo phát nguyên từ rừng núi Hội Sơn phía đông bắc xuôi hướng nam hợp lưu với sông Kôn tại Bình Hòa Các con suối từ vùng núi Vĩnh An và Bình Phú ở phía tây nam tạo thành sông Đồng Hươu (còn gọi là sông Hầm Hô) đổ ra sông Kôn tại Phú Phong Sông Kôn còn có nhiều chi lưu ở các xã phía nam

Xen giữa các thung lũng ven núi các xã Bình Nghi, Bình Phú, Bình Tường, Bình Giang, Bình Quang là những cánh đồng nhỏ hẹp, kín đáo, thổ nhưỡng thích hợp trồng hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc Tư bản

Trang 19

Pháp đã từng chiếm hữu các cánh đồng này để lập đồn điền trồng cao su, bông, nuôi bò, dê Đây cũng là những căn cứ địa của các phong trào yêu nước

ở địa phương trước thế kỷ XX và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ

Cuối thế kỷ XVIII, (thời Tây Sơn) đã hình thành con đường trạm (đường bộ cho người ngựa đi lại) ven sông Kôn, lập các trạm Lai Nghi (Bình Nghi), Đồng Phó (Bình Giang), ngược lên dốc Ván Định Quang (Bình Quang) lên Cửu An, Tú Thủy (An Khê) Những năm đầu thế kỷ XX, nhằm đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, tư bản và thực dân Pháp cải tạo nâng cấp con đường trạm cũ, mở một nhánh từ Định Quang lên suối Kà Xôm (xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh), lập đồn binh tại Định Bình (Bình Giang); xây dựng quốc lộ 19 từ cảng Quy Nhơn ra Tuy Phước, An Nhơn ngược tây bắc men theo bờ nam sông Kôn qua Bình Khê, rẽ phía tây qua đèo An Khê lên Pleiku, Kon Tum qua Atôpư (Hạ Lào) Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng mở rộng và nâng cấp quốc lộ 19, lắp đặt ống dẫn dầu từ cảng Quy Nhơn lên Tây Nguyên Đây là con đường chiến lược huyết mạch ở khu vực Trung Đông Dương nối các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ với Tây Nguyên, đông bắc Campuchia, Hạ Lào [15, tr.10-11]

Nối với quốc lộ 19 và quốc lộ 1 có những đường liên tỉnh, liên huyện là những tuyến giao thông huyết mạch của huyện Bình Khê Đường từ ngã ba Vườn Soài (Bình Giang) trên quốc lộ 19 men sông Kôn lên Bình Quang, Vĩnh Thạnh, Gia Lai (tỉnh lộ 637) Đường từ thị trấn Phú Phong qua cầu Kiên Mỹ (tỉnh lộ 636) qua Kiên Ngãi (Bình Thành) chia hai ngả: ngả phía nam xuống Bình Hòa, Bình An qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại Gò Găng; ngả phía bắc lên Bình Thuận, Bình Tân qua Phù Cát nối với quốc lộ 1 tại Các Trinh Đường từ thị trấn Phú Phong xuống Bình Nghi vượt sông Kôn qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại thị trấn Bình Định Đường từ Bình Giang men bờ bắc sông

Trang 20

Kôn xuống Bình Thành, Bình Hòa, Bình An qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại Nhơn Hậu Đường từ Bình Tân men bờ đông sông Quéo xuống Bình An qua

An Nhơn nối với quốc lộ 1 tại thị trấn Đập Đá Hệ thống đường liên xã, liên thôn chằng chịt rất thuận tiện giao thông và cơ động về quân sự Khi đế quốc

Mỹ đưa quân viễn chinh trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược, chúng chiếm một phần đất của Bình An, Bình Thuận, An Nhơn, Phù Cát, xây dựng xân bay Gò Quánh là một trong những sân bay quân sự lớn ở miền nam, xây dựng sân bay dã chiến ở Định Bình (Bình Quang)

Như vậy, với địa hình huyện Bình Khê phức tạp, đa dạng, chia cắt tạo nên những vị trí có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế Qua các thời kì lịch sử chính nơi đây đã diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt Chính địa bàn chiến lược quan trọng Bình Khê sớm hình thành đơn vị hành chính và nơi diễn ra nhiều cuộc đối đầu lịch sử mà ngày nay còn lưu lại nhiều di tích lịch

sử - văn hóa

1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tuy có nhiều khó khăn về giao thông và địa hình đồi núi chia cắt, nhưng Bình khê cũng có lợi thế cho việc xây dựng phát triển kinh tế - văn hóa

- xã hội Là vùng đất bán sơn địa, đất đai thích hợp với nhiều loại cây, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng; nhân dân Bình Khê có tập quán làm thủy lợi từ lâu đời Do núi áp sát đồng bằng nên các sông suối đều có độ dốc cao, mùa mưa nước chảy xiết, mùa nắng dễ cạn kiệt Sông Kôn là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho các cánh đồng Nhân dân

đã xây dựng hai bên bờ sông hàng chục bờ xe nước, đã làm nhiều công trình thủy nông lớn như Văn Phong, Tiên Thuận vừa có Trinh Tường, An Chánh nhỏ là các đập bổi của các làng ven sông Lúa là cây lương thực chính của nhân dân địa phương, phương thức canh tác còn lạc hậu, năng suất thấp Các cánh đồng phì nhiêu tập trung ở các xã Bình An, Bình Hòa, Bình

Trang 21

Phú, đều canh tác thuận lợi, mỗi năm có thể làm hai, ba vụ lúa ăn chắt Ngoài lúa, nhân dân còn tận dụng các gò, đồi, thung lũng, bãi bồi ven sông

để phát triển các loại cây màu, cây công nghiệp giá trị kinh tế cao như dâu tằm, lạc, mía

Ngoài sản xuất nông nghiệp, từ lâu Bình Khê đã từng nổi tiếng trong vùng về phát triển ngành nghề thủ công truyền thống như gạch ngói, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, làm đồ gốm Đồ gốm Mỹ Yên (Bình An), tơ lụa Phú Phong khá nổi tiếng trong và ngoài tỉnh Giao thông thủy bộ khá thuận tiện, hệ thống chợ nông thôn buôn bán sầm uất, có các chợ lớn như: Vĩnh Thạnh (nay là chợ huyện Vĩnh Thạnh), Định Bình (Bình Quang), chợ Đồng Phó (Bình Giang), chợ Phú Phong (thị trấn Phú Phong), chợ Kiên Mỹ (Bình Thành), chợ Mỹ Yên (Bình An)…

Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, phần lớn ruộng đất bị quan lại, địa chủ, thực dân chiếm hữu Ví dụ, địa chủ Quách Bình người Hoa ở Bình Thành chiến hữu hơn 400 mẫu [15, tr.18]

Từ năm 1887-1931 thực dân Pháp cấp một số nhượng địa ở Bình Định cho một số nhà tư bản Pháp, tập trung ở Quy Nhơn và phủ An Nhơn cũ (gồm

An Nhơn, Bình Khê, An Khê) Các nhượng địa ở phủ An Nhơn tập trung vào trong tay hai tên thực dân: Delignon và Paris, chúng tiến hành khai thác, xây dựng các đồn điền ở Đồng Xiêm, Vĩnh Thạnh, Đồng Phó trồng cao su, cà phê, dâu tằm, chăn nuôi trâu, bò và khai thác gỗ Tính đến năm 1902, chúng chiếm hơn 40.000 mẫu đất, thuê hàng ngàn nhân công Tên Mathay tới Trà Sơn (Bình An), An Xuân (Bình Phú) lập đồn điền và chăn nuôi Năm 1903, nhà máy dệt Delignon được xây dựng thuộc công ty SFATE, công nhân làm việc ở đây phần lớn là nông dân và thợ thủ công Đến năm 1911 tách ra thành lập công ty Delignon gồm 4 phân xưởng có 600 công nhân, năm 1945 tăng lên 2000, là một trong những nhà máy dệt lớn của cả nước thời đó Delignon

Trang 22

đọc quyền khai thác, chế biến tơ lụa các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Hãng SADCA tức công ty nấu rượu Trung Trung kỳ lập vào những năm 1912-1914, hãng này đã mở một phân xưởng nấu rượu ở An Vinh Công ty L’UCIA và tư sản người Hoa tại Quy Nhơn lên Bình Khê kết hợp với tri huyện sở tại lập các đại lý bán rượu, vải tại Phú Phong, Đồng Phó, An Vinh [15, tr.15]

Bình Khê có nhiều di tích lịch sử - văn hóa được du khách trong và ngoài nước biết tới: tháp Dương Long là công trình liến trúc Chămpa cổ; khu Văn Chí là trung tâm văn hóa của nhà nho; mả Mẹ Chàng Lía (Phú Lạc); điện Tây Sơn Tam kiệt, lăng Mai Xuân Thưởng, thứ Hương Sơn, Đài Kính Thiên, Địa điểm tưởng niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc tại Huyện đường Bình Khê

Nhân dân Bình Khê có tinh thần thượng võ, nổi tiếng về “roi Thuận Truyền, quyền An Vinh”, nơi đây đã xuất hiện các tướng tài liệt xuất như anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và các tướng: Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân, Mai Xuân Thưởng Nghệ thuật hát tuồng của Bình Khê nổi tiếng từ lâu đời với nhiều nghệ sĩ có tên tuổi trong và ngoài tỉnh

Nhân dân Bình Khê rất hiếu học, thời phong kiến đã có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng Tuy bị ách thống trị của phong kiến, thực dân đè nặng, dân số

mù chữ, nhưng người Bình Khê vồn có truyền thống hiếu học, không ít người học giỏi, đỗ đạt cao Dưới thời nhà Nguyễn, so với các huyện trong tỉnh thì số người đậu cử nhân và thủ khoa trong các kỳ thi hương không nhiều nhưng số người đậu đại khoa thì Bình Khê chiếm khá đông (3/9 đại khoa, 2/6 tiến sĩ của toàn tỉnh) Trước Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị, hơn 90% dân số mù chữ, toàn huyện chỉ có một trường tiểu học ở Phú Phong và một số trường ở các làng, nhưng nhân dân tự lực mở thêm nhiều trường tư thục và gia đình học hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em

Trang 23

Về y tế, cả huyện chỉ có một nhà thương “thí” chữa các bệnh thông thường, nhân dân thường dùng thuốc bắc hoặc thuốc nam để chữa bệnh, nạn hữu sinh vô dưỡng, dịch bệnh thường xuyên đe dọa Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cướp xảy ra ở nhiều nơi Mê tín dị doan, các phong tục tập quán lạc hậu còn nặng nề

Cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, trước Cách mạng Tháng Tám thực dân pháp xây dựng một bộ máy cai trị làm tay sai từ huyện đến các xóm, làng trực tiếp bóc lột, hà hiếp, sách nhiễu nhân dân Chúng chia nhân dân ta thành nhiều loại để phân biệt đối xử Bọn có chức quyền, hàm trước được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi, ăn trên ngồi trước Nhiều tên trở thành cường hào gian ác, nhân dân lao động bị khinh rẻ

Thời phong kiến, ở Bình Khê kinh tế nông nghiệp vẫn chủ yếu, nông dân chiếm 95% dân số nhưng sở hữu không quá 50% diện tích ruộng đất; trong đó trung nông chiếm khoảng 30%, phần lớn dân nghèo trực tiếp lao động làm ra của cải vật chất, nhưng nhiều người không có một tất đất, phải đi

ở đợ, cày thuê, phiêu bạt nhiều nơi tìm kế sinh sống qua ngày Ngược lại, địa chủ chiếm tỷ lệ thấp, toàn huyện có một số ít địa chủ lớn ở Vĩnh Thạnh, Kiên

Mỹ, Thuận Nghĩa, còn lại là địa chủ nhỏ, nhưng chúng bao chiếm nhiều ruộng đất Các hình thức bóc lột địa tô, cho vay nặng lãi, các thứ phụ thu, lao dịch, lễ vật vào các ngày lễ, tết là gánh nặng càng bần cùng hóa nhân dân lao động Nặng nhất, dã man nhất là loại thuế đinh đánh vào đàn ông từ 18 - 60 tuổi (tức thuế thân)

Thời Pháp thuộc, Bình Khê là một trong những trung tâm công nghiệp của tỉnh Bình Định Lực lượng công nhân Bình Khê chiếm khá đông (hơn 2.000 trong tổng số 7.000 công nhân lao động toàn tỉnh) Công nhân ở đây chủ yếu xuất thân từ nông dân và thợ thủ công nghèo ở các làng do bị tước đoạt ruộng đất, cuộc sống khó khăn phải vào nhà máy, đồn điền làm thuê Tại

Trang 24

đây họ bị bóc lột về sức lao động, bị đánh đập, hành hạ đủ điều và bị súc phạm về nhân phẩm

Những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đủ các yếu tố thuận lợi để các tầng lớp nhân dân Bình Khê vùng lên đấu tranh chống áp bức, bất công, chống đế quốc - phong kiến, đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ, tiến lên làm cách mạng tự giải phóng cho mình

1.4 Quá trình hình thành dân cư

Người đồng bào Bana, Chăm… là dân cư bản địa sống lâu đời ở vùng núi huyện Bình Khê, tập trung chủ yếu ở xã Vĩnh An, làng M6 - Thuận Ninh

và rải rác ven núi các xã Bình Quang, Bình Giang, Bình Tân, Bình Tường, Bình Phú

Từ thế kỷ XIII một bộ phận người Việt từ phía Bắc lần lượt di cư vào khai khẩn vùng đất mới phía Nam Khi lập phủ Hoài Nhơn (1471), một bộ phận lớn dân cư từ Bắc Trung bộ vào khai phá đất phủ Hoài Nhơn, lập nên nhiều làng mạc, dân cư thêm đông đúc Tháng 7/1471, người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống ở phủ Hoài Nhơn Ngoài dân nghèo vào lập nghiệp còn có quân đội đi trấn nhậm tiền phương, trong đó có cả tội nhân bị lưu đày cũng bị quân

sự hóa thành lực lượng chiến đấu và sản xuất ở Hoài Nhơn; đặc biệt sau năm

1474, khi có sắc chỉ của vua Lê Thánh Tông tăng cường lực lượng sản xuất ở

Hoài Nhơn “Tháng 4 năm Hồng Đức thứ 5 (tức năm 1477) có sắc chỉ rằng:

tù xử tội lưu đi cận châu thì sung vệ quân Thăng Hoa, đi ngoại châu thì sung

vệ quân Tư Nghĩa, đi viễn châu thì sung vệ quân Hoài Nhơn, tội nhân được tha chết thì cũng sung vệ quân Hoài Nhơn” [10, tr.292]

Từ đây các làng xã cũng được hình thành ở vùng đất Bình Khê, dân cư

ngày càng đông đúc, “…phủ Hoài Nhơn vào năm Hồng Đức 1490 có 3 huyện

là Bồng Sơn: 7 tổng, 32 xã; huyện Phù Ly có 6 tổng, 60 xã; huyện Tuy Viễn 6 tổng…” [19, tr.34], lúc này vùng đất Bình Khê thuộc huyện Tuy Viễn

Trang 25

Dưới thời Hậu Lê (1533 - 1789) chúa Trịnh cát cứ Đàng Ngoài (từ sông Gianh, Quảng Bình ra Bắc), chúa Nguyễn cát cứ Đàng Trong (từ sông Gianh vào Nam) Nạn Trịnh - Nguyễn phân tranh và cuộc nội chiến Nam Bắc triều kéo dàu hơn hai thế kỷ, đất nước loạn lạc Trong đợt giao tranh ác liệt năm

1648 và từ năm 1653 - 1657, quân chúa Nguyễn đánh chiếm đất Hà Tĩnh và Nghệ An, bắt nhiều dân thường, quan lại cấp thấp và quân sĩ của chúa Trịnh đưa vào khai khẩn đất Đàng trong Trong số dân bị cưỡng bức di trú đó có ông Tổ 4 đời của anh em nhà Tây Sơn vào cư ngụ tại ấp Tây Sơn Nhất miền Thượng du huyện Tuy Viễn phủ Hoài Nhơn (vùng Tây Sơn thượng đạo giữa

An Khê và vùng núi xã Bình Giang huyện Bình Khê)

Khi thành lập huyện Bình Khê (1888) dân số toàn huyện khoảng 14.000 - 15.000 người, năm 1913 khoảng 37.000 người, trước tháng 8/1945 khoảng 50.000 người [6, tr.215]

Đến năm 1910, dân số của huyện Bình Khê khoảng 25.000 người:

“Huyện Bình Khê gồm 4 tổng: tổng Vĩnh Thạnh có 13 thôn với 12.132 người; tổng Phú Phong có 11 thôn với 2.680 người; tổng Thuận Truyền có 12 thôn với 5.617 người; tổng An Khê có 11 xã thôn với 4.792 người” [50, tr.302]

Vùng đất Bình Khê có hai dân tộc chính là Kinh và Bana Dân tộc Bana

cư trú chủ yếu ở xã Vĩnh An và làng M6 - Thuận Ninh Dân cư người Việt ở huyện Bình Khê có nguồn gốc từ tỉnh Thanh - Nghệ vào sinh cơ lập nghiệp nhiều nhất là từ thế kỷ XVIII Người Bana và người Kinh sống gần gũi, cùng nhau xây dựng quê hương và đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Ở Bình Khê có hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Thiên Chúa giáo Phật giáo xuất hiện khá sớm (khoảng đầu thế kỷ XVIII) Nhân dân bị áp bức, bóc lột, bị tập tục xã hội ràng buộc đã tìm đến cửa Phật Do đó đạo Phật dần ăn sâu vào các tầng lớp nhân dân Chùa chiền được xây dựng ở nhiều làng, hương khói quanh năm, như chùa Núi Kiến ở Trinh Tường, chùa Đại Viên ở

Trang 26

Phú Lạc, chùa Trúc Lâm ở An Dõng, chùa Minh Tịnh ở An Vinh

Giữa thế kỷ XIX với chính sách xâm lược của thực dân Pháp, đạo công giáo phát triển, nhiều nhà thờ ở Kỳ Bương, Sông Cạn, Mỹ Thạch, Phú Phong, Đồng Phó được xây dựng Khi phát xít Nhật xâm lược, đạo Cao Đài phát triển, các phái Tây Ninh, Cầu Kho xây dựng một số thánh nhất

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, dân số của huyện có 50.000 người

Có hai dân tộc Kinh và Bana Tuy nhiên, nông dân vẫn chiếm 95% dân số nhưng sở hữu không quá 50% diện tích ruộng đất; trong đó trung nông chiếm khoảng 30%, phần lớn dân nghèo trực tiếp lao động làm ra của cải vật chất, nhưng nhiều người không có một tất đất, phải đi ở đợ, cày thuê, phiêu bạt nhiều nơi tìm kế sinh sống qua ngày Ngược lại, địa chủ chiếm tỷ lệ thấp, toàn huyện có một số ít địa chủ lớn ở Vĩnh Thạnh, Kiên Mỹ, Thuận Nghĩa, còn lại

là địa chủ nhỏ, nhưng chúng bao chiếm nhiều ruộng đất Các hình thức bóc lột địa tô, cho vay nặng lãi, các thứ phụ thu, lao dịch, lễ vật vào các ngày lễ, tết là gánh nặng càng bần cùng hóa nhân dân lao động Nặng nhất, dã man nhất là loại thuế đinh đánh vào đàn ông từ 18 - 60 tuổi (tức thuế thân)

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, một bộ phận nhân dân vùng

bị chiếm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum tản cư đến Bình khê sinh sống Cuối năm

1954 đầu năm 1955 một bộ phận bộ đội, cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, học sinh Bình Khê tập kết ra miền Bắc; một số ít giáo dân từ miền Bắc di cư vào chủ yếu cư trú ở các xứ đạo trong huyện Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh ác liệt, một bộ phận khác bị cưỡng bức đi kihai hoang lập “dinh điền”, “khu trù mật” ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Đến ngày giải phóng quê hương tháng 3/1975 toàn huyện khoảng 65.000 dân Sau ngày đất nước được thống nhất, nhiều thành phần dân cư tụ họp về đây khiến cho vùng đất này ngày càng phát triển phồn vinh

Trang 27

1.5 Truyền thống yêu nước của nhân dân huyện Bình Khê

Để bảo vệ quê hương, đất nước và cuộc sống của mình, trong lịch sử nhân dân Bình Khê không ngừng đấu tranh chống áp bức bóc lột, cường quyền bất công, chống xâm lược

Trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơn không lâu, có cuộc khởi nghĩa của Võ Văn Doan (tục gọi chàng Lía) sức khỏe cường tráng, võ nghệ cao cường nhưng lâm cảnh khốn cùng phải đi ở đợ làm mướn cho nhà giàu Căm ghét bọn tham quan, địa chủ hà hiếp dân lành, chàng Lía tập hợp nông dân nổi dậy khởi nghĩa với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” Địa bàn hoạt động của nghĩa quân chàng Lìa từ tây bắc huyện Bồng Sơn (nay là huyện Hoài Ân) vào Tuy Viễn (Bình Khê, An Nhơn), gây nhiều tổn thất về của cải

và kinh hoàng cho bọn tham quan Cuộc khởi nghĩa chàng Lía đã thức tỉnh ước vọng giải phóng kiếp tôi đòi của lớp nông dân cùng khổ, để lại những dấu

ấn sâu đậm trong ký ức dân gian:

“Chiều chiều én liện Truông Mây Cảm thương chú Lía bị vây trong thành” [38, tr.5]

Năm 1771, từ vùng đất Tây Sơn thượng đạo bùng nổ phong trào nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xướng Ba anh em Tây Sơn đã tập hợp nhân dân, lập đồn trại, trích trữ lương thảo, rèn sắm vũ khí, dựng cờ khởi nghĩa, kêu gọi những tù trưởng và đồng bào dân tộc thiểu số vùng Nam Trường Sơn cùng tham gia phong trào Mùa thu năm Quí Tỵ (1773), bằng kế trá hàng của Nguyễn Nhạc chỉ trong một đêm, nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm được phủ Quy Nhơn, chia đặt cơ quan cai quản ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn, sau đó nhanh chóng đánh chiếm Quảng Ngãi, Phú Yên

Năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng Tây Sơn Vương, lấy thành

Đồ Bàn (kinh đô cũ của vương quốc cổ Champa, nay thuộc xã Nhơn Hậu,

Trang 28

thị xã An Nhơn) làm đại bản doanh Thế lực Tây Sơn càng mạnh và phát triển nhanh chóng, chúa Trịnh phải tìm cách hòa hoãn, nhà Lê phải kiêng

nễ [15, tr.23]

Năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, lấy niên hiệu Thái Đức, thành lập vương triều mới, đổi tên Đồ Bàn thành Thành Hoàng Đế làm Kinh đô, phong Nguyễn Huệ làm Long nhương tướng quân

Tháng 1/1785 quân Tây Sơn đánh tan 5 vạn thủy binh và 300 thuyền chiến của quân Xiêm (Thái Lan) tiếp tay cho chúa Nguyễn Ánh tại Rạch Gầm

- Xoài Mút Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân hạ thành Phú Xuân (Huế) tiêu diệt thế lực chúa Trịnh Xuân Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn lập một chiến công oanh liệt, chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa đánh tan 29 vạn quân Thanh, với âm mưu xâm lược và cai trị nước ta

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Nhằm thực hiện mưu đồ mở rộng xâm chiếm toàn bộ bờ cõi nước ta, Pháp liên tục yêu sách gây sức ép với nhà Nguyễn, rắp tâm bắt vua Hàm Nghi - một vị vua yêu nước mới lên ngôi hòng khống chế theo mưu đồ của chúng Trước tình hình đó, đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5/7 năm Ất Dậu (1885) các trung thần nhà Nguyễn đã thực hiện vụ biến tại kinh thành Huế, vụ biến không thành công, quan quân đã đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở, Quảng Trị Tại đây, vua ban chiếu Cần Vương hiệu triệu sĩ phu, hào kiệt cùng nhân dân đứng lên chống Pháp, cứu nước

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, tại Bình Định từ giữa tháng 8/1885, dưới

sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước như Đào Doãn Địch (Tuy Phước), Mai Xuân Thưởng (Bình Khê), Tăng Bạt Hổ (Hoài Ân), Bùi Điền (Phù Mỹ), nghĩa quân Cần Vương đã nổi dậy ở khắp các phủ, huyện Cuối tháng 8/1885, nghĩa quân Đào Doãn Địch đánh chiếm thành Bình Định (tỉnh lỵ Bình Định lúc bấy giờ) Đầu tháng 9/1885, quân đội Nam triều và quân Pháp tập trung lực lượng

Trang 29

bao vây thành Bình Định, cuộc chiến diễn ra ác liệt, nhưng lực lượng chênh lệch nghĩa quân buộc phải rút lui Đào Doãn Địch rút quân về Bình Khê phối hợp với nghĩa quân Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ liên kết với Bùi Điền tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài, nhưng chênh lệch về tương quan lực lượng, khí giới, nghĩa quân bị kẻ thù đàn áp và thất bại năm 1887

Nối tiếp phong trào Cần Vương, những năm 1900 - 1914, đồng bào dân tộc miền núi phía bắc huyện Bình Khê liên tiếp đứng lên phối hợp với đồng bào Kinh chống sưu thuế, chống cướp đất, giết tên quan bà đồn trưởng đồn Bình Định (Bình Quang) kiêm chưởng lý tổng Vĩnh Thạnh Đồng bào dân tộc vùng núi phía nam vũ trang tự vệ, rào làng, cắm chông thò, bất hợp tác với quân Pháp và bọn nha lại địa phương, liên kết với phong trào đấu tranh của đồng bào Chăm vùng Vân Canh, Đồng Xuân (Phú Yên), các cuộc đấu tranh kéo dài đến năm 1929

Hưởng ứng phong trào đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân các tỉnh miền Trung năm 1908, một số hào lý Bình Khê như các ông Trương Các, Trương Dị, Nguyễn Thiện, Ưng Văn Lê, Ưng Văn Diện (Bình Quang), Hương Phấn (Bình Giang), Chánh tổng Nguyễn Hàm (Bình Tường)… hô hào nông dân nổi dậy bao vây huyện đường tại Đồng Phó Từ ngày 16/4 đến 19/5/1908 hàng ngàn nông dân Bình Khê phối hợp với 30.000 quần chúng khắp các phủ huyện bao vây tỉnh thành Bình Định, sôi sục đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, đòi trừng trị bọn quan lại sâu dân mọt nước Thực dân Pháp phải điều lính lê dương từ Hà Nội, Hải Phòng vào phối hợp với quân Nam Triều, đàn áp đẫm máu quần chúng, nhiều người bị bắn chết tại chỗ, bị thương, bị bắt Tòa án đại hình xử 11 người đày đi Côn Đảo, trong đó có Nguyễn Hàm, 11 người khác bị tử hình trong đó có Hương Phấn bị xử bắn tại Đồng Phó [15, tr.29]

Ngày 3/2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt

Trang 30

Nam Bình Định trong năm đó đó các tổ chức Cộng sản cũng lần lượt ra đời như: Chi bộ Nhà Đèn (Quy Nhơn), Chi bộ Cửu Lợi (Hoài Nhơn) Tháng 10/1936, đồng chí Huỳnh Đăng Thơ chủ trì thành lập Chi bộ Hồng Lĩnh, tại

xã Nhơn Mỹ, An Nhơn gồm 7 đồng chí Cuối năm 1937, từ chi bộ Hồng Lĩnh thành lập chi bộ huyện Tây Sơn 13 đảng viên do đồng chí Nguyễn Văn làm bí thư Dưới dự lãnh đạo của tổ chức Đảng địa phương, phong trào đấu tranh của công nhân lao động, nông dân, thợ thủ công, tiểu thương, thanh niên, học sinh, viên chức, trí thức được đẩy mạnh, hòa nhịp với phong trào dân chủ cả nước đang diễn ra sôi nổi Năm 1942, phối hợp với phong trào công nhân đường sắt Diêu Trì, Quy Nhơn, công nhân xưởng dệt Đờ li ông, Phú Phong liên tục bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp lương, đuổi việc, đặc biệt là cuộc đấu tranh của 500 nữ công nhân kéo dài nhiều ngày, buộc giới chủ phải chấp nhận yêu sách

Kế tục và phát huy truyền thống yêu nước, kiên trung, bất khuất của quê hương, noi gương các bậc tiền bối xã thân vì nghĩa lớn, các lực lượng vũ tranh nhân dân huyện Bình Khê dưới sự chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng bộ, cùng nhân dân địa phương viết tiếp những trang sử oanh liệt, hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Tháng 5/1945, đồng chí Võ Xán chủ trì cuộc họp đại biểu Việt Minh và cùng với một số đảng viên cũ ở Phú Phong, Phú Lạc, Vĩnh Lộc, Thủ Thiện… thành lập

Ủy ban vận động Việt Minh do đồng chí Võ Xán là tổng Bí thư Ngày Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện (15/8/1945) cùng với khí thế khởi nghĩa của toàn tỉnh, huyện Bình Khê đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang Ngày 23, rạng sáng 24/8/1945, trên 3000 quần chúng gồm công nhân lao đổng xưởng Đờ-li-nhông, nông dân Phú Phong, Phú Mỹ, Vĩnh Thạnh… do lực lượng tự vệ cứu quốc dẫn đầu tiến vào huyện lị, chiếm huyện đường Bình Khê, buộc tri huyện Tôn Thất Diên phải giao nộp con dấu, bộ điền, bộ thuế và

Trang 31

toàn bộ hồ sơ, tài liệu

Sau Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nhân dân huyện Bình Khê xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhân dân Bình Khê anh dũng đứng lên tiếp tục kháng chiến, với nhiệm vụ vừa là hậu phương, vừa là tuyền tuyến, góp phần làm nên chiến thắng vang dội trong cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân

1953 -1954, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải

kí Hiệp định Giơnevơ Miền Bắc được giải phóng đi lên Xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Sau khi hất cẳng Pháp, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền

và xây chính chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ Ngày 16/5/1955, chính quyền miền Nam tiếp quản Quy Nhơn

và toàn tỉnh Bình Định Thực hiện chính sách phản động như “Tố cộng, diệt cộng”, “đưa cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, với phương châm “đào tận

gốc, trốc tận rễ”, “thà giết lầm hơn bỏ sót”, sẵn sàng giết hại những người yêu nước ở Bình Định

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975, điều kiện và hoàn cảnh của Đảng bộ và nhân dân Bình Khê hết sức khó khăn Nhưng nhờ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, chiến đấu anh dũng nhân dân Bình Khê đã phối hợp cùng nhân dân các địa phương khác lần lượt các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền tay sai: chiến tranh đơn phương (1954 -1960), chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965), chiến tranh cục bộ (1965 -1968), Việt Nam hóa chiến tranh (1969 - 1973)

Cùng với thắng lợi chung trong cả nước, vào đêm 31/3/1975 nhân dân Bình Khê đã nổi dậy mạnh mẽ giải phóng huyện Bình Khê, giải phóng Quy Nhơn và toàn tỉnh Bình Định, góp phần xứng đáng vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam 30/4/1975, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) là huyện trung du nằm phía tây nam tỉnh bình Định Vùng đất ít được thiên nhiên ưu đãi, địa hình phức tạp, con người ở đây luôn phải vật lộn với thiên nhiên đã tạo cho con người ở đây luôn cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất xây dựng và bảo vệ quê hương

Là chiếc cầu nối giữa đồng bằng với Tây Nguyên chính vì vậy Bình Khê đã sớm có sự cộng cư và hội tụ giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số ngay từ buổi đầu mở rộng lãnh thổ Chính cộng đồng dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất như thế tạo nên phong phú, đa dạng về lịch sử, văn hóa

Với những đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và truyền thống đoàn kết, kiên cường bất khuất trong đấu tranh, truyền thống thượng võ Bình Khê là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng và là một trong những căn cứ và phong trào cách mạng vững chắc của khu V, Bình Định trong lịch sử và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Trong suốt chiều dài lịch sử, vùng đất Bình Khê trải qua không ít những biến động đầy gay go thử thách, đặc biệt là tinh thần đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm là điểm nổi bật của vùng đất mệnh danh là “đất võ” Truyền thống đấu tranh bất khuất đó được lưu lại, như một minh chứng sinh động không thể phủ nhận qua các di sản văn hóa vật thể

Trang 33

Chương 2 HUYỆN ĐƯỜNG BÌNH KHÊ TRONG LỊCH SỬ

2.1 Tổng quan về huyện đường Bình Khê từ năm 1888 đến năm 1945

2.1.1 Bộ máy cai trị của chế độ phong kiến Việt Nam ở huyện Bình Khê (dưới thời Pháp thuộc)

Dưới thời nhà Nguyễn phủ, huyện, đạo, châu đều là cấp hành chính tương đương nhau, trong đó huyện lớn được gọi là phủ, châu lớn được gọi là đạo Đứng đầu các cấp này là Tri phủ, Tri huyện, Quản đạo, Tri châu

Tri huyện là trưởng quan cấp huyện thời Nguyễn, là người đứng đầu bộ máy hành chính cấp huyện

Huyện đường: nơi làm việc của tri huyện Hay đây là trung tâm hành chính cấp huyện ở thời phong kiến, nơi đặt bộ máy hành chính, cai trị dân trong huyện

Trước năm 1888, Bình Định có 2 phủ là Hoài Nhơn và An Nhơn Phủ Hoài Nhơn có 3 huyện là Bồng Sơn, Phù Cát và Phù Mỹ Phủ An Nhơn có 2 huyện Tuy Viễn và Tuy Phước Đứng đầu phủ là Tri phủ (hàm tòng ngũ phẩm), phủ nhiều việc có thêm một Đồng Tri phủ (Chánh lục phẩm) Bên cạnh việc phân chia trên, triều đình Huế còn căn cứ vào số huyện thuộc hạt,

cụ thể là địa bàn quản lý nhiều hay ít huyện để phân thành các loại Phủ trung

khuyết và giản khuyết

Thông thường có một Tri phủ kiêm quản một huyện (không đặt huyện thừa), còn lại mỗi huyện có một Tri huyện (hàm ngũ phẩm) đứng đầu Phủ An Nhơn và Hoài Nhơn ở tỉnh Bình Định thuộc diện này, Tri phủ Hoài Nhơn kiêm Lý huyện Phù Cát, Thống hạt các huyện Phù Mỹ và Bồng Sơn Tri phủ

An Nhơn kiêm Lý huyện Tuy Viễn, Thống hạt huyện Tuy Phước

Từ năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), huyện Bình Khê được thành lập

Trang 34

thuộc Phủ An Nhơn, tên huyện Bình Khê ra đời từ đó: “Huyện Bình Khê nằm

về phía Tây phủ An Nhơn, từ Đông đến Tây cách nhau 30 dặm, từ Nam đến Bắc các nhau 70 dặm, phía Đông giáp huyện Tuy Viễn, phía Tây giáp với vùng núi, phía Nam giáp với huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, phía Bắc giáp với huyện Bồng Sơn (nguyên đất thượng du huyện Tuy Viễn) Niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888) cắt 10 thôn trong tổng Phú Phong, 8 thôn trong tổng Mỹ Thuận, cùng 28 thôn mới mộ khẩu chia làm 4 tổng: Vĩnh Thạnh, Thuận Đức,

An Khê và Tân Phong đặt làm huyện này, thuộc An Nhơn thống hạt, nay lãnh

4 tổng và 46 thôn trang” [50, tr.300]

Bắt đầu từ năm Thành Thái thứ 18 (1906), huyện Bình Khê được tách biệt lập hẳn, làm việc trực tiếp lên tỉnh, không thuộc phủ An Nhơn nữa Nhưng do núi sông, đường đèo cách trở, 3 tổng ở phía tây được cắt lên nhập với tỉnh Gia Lai, thành lập huyện Tân An (tức An Khê bây giờ) Sau đó rút bớt một số thôn của tổng Mỹ Đức, phủ An Nhơn nhập với các thôn thuộc tổng

Mỹ Thuận chia làm hai tổng Thuận Truyền và Trường Định Như vậy đến năm 1910, huyện Bình Khê gồm 4 tổng với 47 thôn, tổng Phú Phong gồm 12 thôn, tổng Thuận Truyền gồm 13 thôn, tổng Trường Định gồm 12 thôn và tổng Vĩnh Thạnh gồm 10 thôn

- Tổng Vĩnh Thạnh (có 10 thôn): Thạnh Quang, Vĩnh Khương, Định Thành, Định Quang, Vĩnh Thạnh, Tiên Thuận, Thượng Giang, Tả Giang, Hữu Giang, Trinh Tường

- Tổng Phú Phong (có 12 thôn): Phú Phong, Xuân Hòa, An Xuân, Lai Nghi, Thủ Thiện, Phú Lạc, Phú Mỹ, Kiên Mỹ, Thuận Nghĩa, Vĩnh Lộc, Dõng Hòa, Kiên Thành

- Tổng Thuận Truyền (có 13 thôn): Thuận Truyền, Thuận Hòa, Phú Ân, Phú Hữu, Hưng Long, Mỹ Thạch, Thuận An, Thuận Ninh, Hội An, Thuận Nhất, Thuận Hạnh, Hòa Bình, Mỹ Thành

Trang 35

- Tổng Trường Định (có 15 thôn): Trường Định, Kiên Long, Kiên Ngãi,

An Dõng, Vân Tường, An Chánh, Mỹ Thuận, Mỹ An, Háo Nghĩa, Trà Sơn,

An Vinh, Đại Chí, Bính Đức, Nhơn Thuận, Mỹ Đức.[50, tr 305-306]

- Vị trí Huyện đường Bình Khê: huyện Bình Khê ra đời thì cũng cần

phải có một huyện đường mới, vì thế Huyện đường Bình Khê được gấp rút xây dựng tại thôn Hữu Giang, tổng Vĩnh Thạnh (bờ bắc sông Kôn, ngày nay thuộc xã Tây Giang, huyện Tây Sơn)

Năm Thành Thái thứ 4 (1892), huyện đường dời về thôn Thượng Giang

- Thị tứ Đồng Phó, tổng Vĩnh Thạnh (bờ nam sông Kôn)

Đến năm Bảo Đại thứ 4 (1929), huyện đường dời đến Gò Sặt, thôn Trinh Tường, tổng Vĩnh Thạnh (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn)

Năm Bảo Đại thứ 17 (1942), huyện lỵ dời về vườn Quận, tổng Phú Phong, nay là thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn cho đến nay [39, tr.18]

- Về kiến trúc Huyện đường Bình Khê: hiện nay, không thấy các tài

liệu sử sách ghi chép về kiến trúc của huyện đường Bình Khê thời phong kiến, cùng với biến động về thời gian và chiến tranh toàn bộ công trình đã sụp

đổ nên không còn dấu tích

Theo các cụ cao niên kể lại, đường trạm dịch xưa kia từ tỉnh thành Bình Định lên đến Bình Khê phải qua các đoạn: Từ Bình Định đi lên chợ An Thái đến Trạm Bình Nghi, lên Phú Phong, qua đò Kiên Mỹ theo phía bắc bờ sông Côn lên trạm Hữu Giang, qua sông đến bến đò Thượng Giang rồi vào Huyện đường và thị tứ Đồng Phó Từ bến đò vào thị tứ Đồng Phó theo một con đường đất nhỏ vừa cho xe bò đi và ngang qua huyện đường, tức huyện đường nằm ở đầu thị tứ Huyện đường nằm hướng mặt về phía đông, trông ra dòng sông Côn, nhìn xuống phía dưới có hai mỏm núi ở hai bên: bên phải là núi Hữu Giang, bên trái là hòn Lãnh Lương Công đường kiến trúc kiểu chữ

“Môn”, dãy chính là nơi quan Tri huyện làm việc, hai bên là nơi làm việc của

Trang 36

Lại mục, Thừa phái, Lệ mục Phía sau công đường có nhà bông nơi Tri huyện

ăn ở, nghỉ ngơi ngoài giờ làm việc và nhà tạm giữ thường phạm của huyện đường Các dãy nhà công đường kiến trúc theo kiểu nhà lá mái ba gian hai chái, khung gỗ chắc chắn, vách tường tô trát bằng đất, mái nhà lợp tranh săn, cửa gỗ kiểu bàn pha, nền nhà đắp cao, xung quanh kè đá Lối vào huyện đường ở phía đông theo con đường từ bến đò lên Cổng ngõ làm bằng gỗ, hàng rào bao quanh bằng cây xanh Từ cổng vào sân hai bên có hai cây dông đồng tạo bóng mát và sự trang nghiêm cho huyện đường Ngoài ra trong khuôn viên còn có khu vực trồng cây cảnh, trồng rau…[39, tr.23]

Tuy nhiên, do tác động của thời gian và chiến tranh, sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, toàn bộ phần kiến trúc Huyện đường Bình Khê cũ không còn dấu tích gì

- Quan cai trị huyện Bình Khê từ năm 1888 đến năm 1945: Huyện

Bình Khê được thành lập từ năm 1888 theo chỉ dụ của vua Thành Thái và tồn tại đến năm 1945 (kết thúc chế độ phong kiến Việt Nam) Cho đến nay chưa

có tài liệu nào ghi chép một cách đầy đủ về những quan tri huyện được triều đình Huế cử về huyện Bình Khê Nhưng qua nhiều nguồn tài liệu khác nhau, luận văn trình bày những tri huyện đến Bình Khê làm việc theo trình

tự thời gian:

- Tri huyện Nguyễn Đôn Phục: ông đỗ Cử nhân, là người có văn tài, nổi tiếng thơ phú Nôm Ông sinh năm 1954, người làng Phương Danh, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, nay là thôn Phương Danh, Thị trấn Đập Đá, Thị xã An Nhơn Khoa Quý Dậu, Tự Đức thứ 26 (1873), ông dự thi Hương tại trường Bình Định, đỗ Cử nhân với vị thứ 9/15 Ông làm quan đến chức Tri huyện Bình Khê, có tham gia phong trào Cần Vương tại Bình Định [18, tr.244]

Tuy nhiên, không có tài liệu nào ghi rõ thời gian cũng như quá trình Nguyễn Đôn Phục làm Tri huyện Bình Khê như thế nào

Trang 37

- Tri huyện Hồ Tiếu Khanh: Có nhiều tài liệu ghi chép về việc Hồ Tiếu Khanh từng làm Tri huyện Bình Khê trước khi cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc lên thay, tuy nhiên không biết ông làm Tri huyện Bình Khê bao nhiêu năm và

là một vị quan như thế nào? Chỉ biết rằng: Cuối năm 1908 đầu năm 1909, Tri huyện Hồ Tiếu Khanh do dính líu đến chuyện tiền nong bị triệu hồi về Huế chờ xét xử Trong tờ tấu bổ nhiệm Nguyễn Sinh Huy làm Tri huyện Bình Khê

có ghi: “Phụng chiếu tri huyện Bình Khê (Bình Định) hiện đã khuyết (do Hồ Tiếu Khanh dính líu tiền nong, triệu hồi chờ xét xử)” [47]

- Quyền Tri huyện Phạm Lê Doãn (từ cuối năm 1908 đến đầu năm 1909): Sau khi Tri huyện Hồ Tiếu Khanh bị cách chức chờ xét xử, Tổng đốc Bình Định đã phái Phạm Lê Doãn kiêm tạm quyền Tri huyện Bình Khê, trong

Tờ tấu bổ nhiệm Nguyễn Sinh Huy làm Tri huyện Bình Khê có ghi: “Tỉnh ấy

đã phái viên Hậu bổ Phạm Lê Doãn kiêm tạm” [47]

Tuy nhiên, đến tháng 5/1909, xảy ra cuộc tranh chấp đất đai giữa nông dân với cường hào, quyền Tri huyện Bình Khê Phạm Lê Doãn bị viên chánh dân vệ Coutelle và Slanger, chỉ huy đồn Đồng Phó lợi dụng, khiến ông bị tòa

Lê Doãn, người tạm điều hành công việc của huyện Bình Khê

Trang 38

Tháng 5/1909, Nguyễn Sinh Sắc lúc này tên là Nguyễn Sinh Huy khi đang chấm thi tại trường thi Hương Bình Định, được triều đình Huế bổ nhiệm làm Tri huyện Bình Khê Ngày 01/7/1909, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chấm thi, cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc lên Bình Khê nhậm chức Tri huyện Ông

là một vị quan yêu nước, thương dân, luôn đứng về phía nhân dân, bênh vực, giúp đỡ dân nghèo

Đến ngày 17/1/1910, Nguyễn Sinh Sắc bị triều đình Huế cách chức Tri Huyện, đưa về Huế hậu xét xử

- Tri huyện Nguyễn Thúc: không có nhiều tài liệu ghi chép về thời gian

và quá trình thực hiện nhiệm vụ Tri huyện Bình Khê của Nguyễn Thúc, nhưng trong Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn có ghi: “Tháng 3/1927 thầy trò Trường tiểu học Phú Phong bãi khóa phản đối tri huyện Nguyễn Thúc nhục

mạ, hiếp đáp giáo viên và học sinh Hiệu trưởng Nguyễn Quí bị cách chức, một số học sinh bị đuổi học, trong đó có Võ Hà (tức Võ Xán)” [15, tr.31]

- Tri huyện Tôn Thất Cẩn: Tôn Thất Cẩn là viên Tri huyện có tiếng tàn độc, là tay sai đắc lực của chính quyền thực dân phong kiến, ông đã dùng quyền lực của mình để bắt bớ, đánh đập những chiến sĩ yêu nước và đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân

Ở Bình Khê, cuối năm 1939, nhân cuộc đấu tranh đòi thay đổi quân cấp công điền của nhân dân làng Mỹ Thuận, dưới sự chỉ huy trực tiếp của tri huyện Tôn Thất Cẩn, mật thám và tay sai lùng sục đánh phá các làng An Chánh, Mỹ Thuận, Thủ Thiện, Vân Tường, Vĩnh Lộc, hòng uy hiếp tinh thần của nhân dân [6, tr.39]

Đầu năm 1942, do ảnh hưởng phong trào đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm ở một số địa phương, công nhân Delignon đã cử đại diện lên gặp chủ đòi tăng lương giảm giờ làm nhưng không được chấp nhận Do đó công nhân đã quyết định đình công, đòi bọn chủ giải quyết yêu sách Được

Trang 39

tin, Công sứ Qui Nhơn đích thân lên Phú Phong, cùng với tri huyện Bình Khê

là Tôn Thất Cẩn đem lính uy hiếp, buộc anh em đi làm… Trước sự khủng bố

dã man của kẻ thù, công nhân chẳng những không đi làm, mà còn tập trung kéo về huyện đường đòi bọn chúng phải thả người bị bắt [6, tr.40,41]

- Tri huyện Tôn Thất Diên: Tôn Thất Diên là viên tri huyện cuối cùng của huyện Bình Khê Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ phong kiến

ở Việt Nam bị xóa bỏ, chính quyền của giai cấp công nông được thành lập

Tại Bình Khê, vào những ngày đầu tháng 8/1945, không khí cách mạng

đã thực sự trở nên khẩn trương Trong công nhân Delignon và chung quanh thị trấn Phú Phong, các đội tự vệ cứu quốc lần lượt ra đời, rèn vũ khí và tập luyện Bộ máy chính quyền tay sai từ huyện đến các tổng, làng… bắt đầu hoang mang, dao động tìm cách tranh thủ quần chúng hòng tìm chỗ nương thân Sáng ngày 24/8/1945, dưới sự lãnh đạo của các đảng viên và Việt Minh Phú Phong… đã tổ chức đội ngũ kéo về Phú Phong, phối hợp với lực lượng công nhân Delignon thành đoàn biểu tình lớn gần một ngàn người, có băng,

cờ khẩu hiểu và trung đội tự vệ vũ trang đi đầu tiến về huyện lỵ (khi này Huyện đường Bình Khê đóng tại Phú Phong)

Đoàn biểu tình nhanh chóng tiến về huyện đường, không gặp sự kháng

cự nào của chính quyền tay sai Tại đây, tên tri huyện Tôn Thất Diên cùng bộ

hạ cúi đầu xin chấp nhận giao chính quyền cho cách mạng Đứng trên thêm cao của huyện đường, trước đông đảo quần chúng nhân dân, Chủ tích Phạm Lương tuyên bố xóa bỏ bộ máy chính quyền thực dân phong kiến địa phương, thành lập chính quyền cách mạng lâm thời, kêu gọi mọi người tham gia ủng

hộ cách mạng [6, tr.46-48]

Tuy chưa xác định rõ ràng danh tính, thời gian, quá trình nhậm chức của các Tri huyện Bình Khê, nhưng đủ thấy không phải vị quan nào cũng có lòng yêu nước thương dân như cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Trang 40

- Về tổ chức hành chính, cũng như các địa phương khác ở Trung Kỳ

thời thuộc Pháp, đứng đầu huyện Bình Khê là viên Tri huyện do vua bổ nhiệm, lãnh đạo mọi mặt về dân chánh, có trách nhiệm chăm lo trật tự an ninh, đốc thúc các nhà chức trách tổng, làng làm phận sự, lo việc cắt đặt chức việc làng, kiểm soát việc thu thuế, thanh tra các trường sơ học, thi hành phận

sự tư pháp, giải quyết khiếu kiện

Các phụ tá của Tri huyện gọi là “lại mục”, bên dưới có một số nhân viên gọi là “thừa biện” hoặc “thừa phái”

Về mặt bảo an, bảo vệ cơ quan huyện và sai phái trong việc công thì có một Lệ Mục (gọi là Đội Lệ), dưới có một số lính Huyện chia làm nhiều tổng, đầu mỗi tổng có một vị Chánh tổng lo việc dân chính [16, tr.16]

Đơn vị hành chính dưới phủ huyện còn có cấp tổng Tổng như là một cấp trung gian giữa phủ, huyện và các cơ sở xã, thôn Đứng đầu mỗi tổng có một Chánh tổng, sau gọi là Cai tổng và có thêm Phó tổng Cai tổng không do dân bầu ra như Xã trưởng và cũng không được nhà vua bổ nhiệm như Tri phủ, Tri huyện Tiêu chuẩn để cân nhắc đó là tài năng và phẩm chất Quan Tri huyện và Tri phủ đề nghị, và các quan Lưu thủ (dinh), Trấn thủ (trấn) bổ nhiệm Nhiệm vụ Chánh tổng (Cai tổng) là thúc lương tiền, tuần phòng trộm cắp ở các xã trong địa bàn của tổng

Xã là cấp hành chính nhỏ nhất, căn bản nhất trong guồng máy cai trị của chính quyền triều Nguyễn Nhiều xã hợp thành tổng, nhiều tổng hợp thành phủ hay huyện

Bộ máy hành chính cấp cơ sở lúc đầu chủ yếu gồm Xã trưởng Xã trưởng là người đứng đầu làng xã về mặt hành chính Giúp việc cho Xã trưởng là Thôn trưởng, mỗi xã có thể có từ 1 đến nhiều Thôn trưởng tuỳ thuộc vào quy mô lớn nhỏ của mỗi xã Theo quy định của Triều đình Huế, Hội đồng

Kỳ mục phải lựa chọn trong thành viên của mình một số lý dịch (hay còn gọi

Ngày đăng: 11/08/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[10] Phan Huy Chú (1992), Lịch triều Hiến chương loại chí, Hình luật chí, tập 2, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều Hiến chương loại chí, Hình luật chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1992
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), NXB Tổng hợp Bình Định, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1990)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Tổng hợp Bình Định
Năm: 1990
[12] Đại Việt Sử ký toàn thư, Tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử ký toàn thư
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
[17] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
[18] Lộc Xuyên Đặng Quý Địch (2009), Chuyện cũ Kẻ sĩ Bình Định, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện cũ Kẻ sĩ Bình Định
Tác giả: Lộc Xuyên Đặng Quý Địch
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2009
[19] Lê Quý Đôn (1964), Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1964
[21] Hồ sơ A37801 ngày 21 tháng 1 năm 1920 của tòa Khâm sứ Trung kỳ của Sở mật thám Trung ương (Phủ toàn quyền Đông Dương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ A37801 ngày 21 tháng 1 năm 1920 của tòa Khâm sứ Trung kỳ
[22] Nguyễn Hữu Hiếu, Ngô Bé (2008), Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiếu, Ngô Bé
Năm: 2008
[23] Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[24] Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử (2006) tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[25] Hồ Chí Minh toàn tập (2000) tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[27] Trần Nhu, Sách Nguyễn Sinh Sắc - Cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Nguyễn Sinh Sắc - Cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn
Nhà XB: NXB Văn học
[28] Lê Đình Phụng (2002), Di tích văn hóa Champa ở Bình Định, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích văn hóa Champa ở Bình Định
Tác giả: Lê Đình Phụng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
[30] Quốc sử quán triều Nguyễn (1971), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1971
[31] Quốc hội (2001), Luật Di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[32] Quốc hội (2009), “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa”, website thư viện pháp luật (www.thuvienphapluat.vn 02/7/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa”, "website thư viện pháp luật
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
[39] Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Quản lí di tích Bình Định (2017), Hồ sơ: Di tích Địa điểm lưu niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc tại Huyện đường Bình Khê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ
Tác giả: Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Quản lí di tích Bình Định
Năm: 2017
[40] Lê Minh Sự (2009), Luật di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Lê Minh Sự
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009
[41] Tài liệu về việc cử Nguyễn Sinh Huy đi chấm thi ở Bình Định, bản dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về việc cử Nguyễn Sinh Huy đi chấm thi ở Bình Định
[42] Quách Tấn (2003), Non nước Bình Định, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Bình Định
Tác giả: Quách Tấn
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w