1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện kế toán quản trị tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ hoàng chương

99 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Kế Toán Quản Trị Tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Hoàng Chương
Tác giả Võ Lý Nguyên Bảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Văn Thị Thái Thu
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, k

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị tại

Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương” là do tôi nghiên cứu

thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Văn Thị Thái Thu Các

thông tin trong luận văn là những thông tin thu thập thực tế tại đơn vị Luận

văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Bình Định, ngày… tháng… năm 2020

Tác giả luận văn

Võ Lý Nguyên Bảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Văn Thị Thái Thu, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này, cũng như đã giúp đỡ tôi hoàn thiện kiến thức chuyên môn của bản thân

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo sau đại học và toàn thể các Quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Quy Nhơn đã truyền đạt những kiến thức trân quý cho tôi trong thời gian tham gia khóa học tại Trường Đại học Quy Nhơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Bình Định, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Võ Lý Nguyên Bảo

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6

7 Bố cục của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 7

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 7

1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị 9

1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị 10

1.1.4 Phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 26

1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp 28

1.2.1 Kế toán quản trị chi phí 28

1.2.2 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh 30

1.2.3 Hệ thống đánh giá thành quả trong doanh nghiệp 31

1.2.4 Hệ thống hỗ trợ cho việc ra quyết định 32

Trang 5

1.3 Đặc điểm hoạt động doanh nghiệp thương mại ảnh hưởng đến kế toán

quản trị 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOÀNG CHƯƠNG 37

2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương 38

2.1.2 Tình hình hoạt động của Công ty trong những năm gần đây 39

2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý Công ty 41

2.1.4 Tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán tại Công ty 43

2.2 Thực trạng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương 49

2.2.1 Thực trạng kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh 49

2.2.2 Thực trạng kế toán quản trị về chi phí và giá thành sản phẩm 52

2.2.3 Thực trạng kế toán quản trị về doanh thu và kết quả kinh doanh 56 2.2.4 Nhận xét hệ thống kế toán và kế toán quản trị của Công ty 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOÀNG CHƯƠNG 70 3.1 Quan điểm hoàn thiện 70

3.1.1 Hoàn thiện những nội dung đã thực hiện 70

3.1.2 Quan điểm về xây dựng mới 70

3.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng chương 70

3.2.1 Nội dung cần hoàn thiện 70

Trang 6

3.2.2 Về việc xây dựng những nội dung chưa có trong hệ thống kế toán

quản trị tại công ty 72

3.2.3 Sử dụng phương pháp kế toán để thực hiện nội dung kế toán quản trị tại Công ty 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN CHUNG 89

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Năm 2019 40

Bảng 2.2: Bảng Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Năm 2019 56

Bảng 2.3: Bảng tính biến phí năm 2009 57

Bảng 2.4: Bảng tính định phí năm 2009 57

Bảng 2.5: Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh Năm 2019 58

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị 10

Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí 11

Sơ đồ 1.3: Phương pháp chi phí thực tế kết hợp với ước tính 15

Sơ đồ 1.4: Mô hình thông tin từ trên xuống 19

Sơ đồ 1.5: Mô hình thông tin từ dưới lên 20

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 41

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 46

Sơ đồ 2.3: Sơ đồ trách nhiệm 62

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại Công ty CP Hoàng Chương 81

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra các quyết định sản xuất kinh doanh

Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của đơn vị và có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đích khác nhau

Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản

lý, điều hành hoạt động kinh doanh của đơn vị

Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ

có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục

vụ cho công tác quản lý và ra quyết định hầu như chưa có Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước

ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về hệ thống

kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong thời gian gần đây

Vì vậy, đối với các doanh nghiệp, bên cạnh hệ thống kế toán tài chính là công cụ cần thiết để quản lý doanh nghiệp, còn phải tổ chức hệ thống kế toán quản trị để hỗ trợ các nhà quản lý trong việc hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và đưa ra quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất Công ty cổ phần

Trang 11

thương mại và dịch vụ Hoàng Chương cũng không năm ngoài bối cảnh đó Điều đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Thông tin kế toán quản trị không chỉ cung cấp cho bên ngoài mà còn cung cấp cho nội bộ, để nhà lãnh đạo nắm bắt kịp thời và nhanh chóng cho ra quyết định để phân tích, đánh giá chi tiêu tài chính trong kinh doanh

- Thông tin kế toán quản trị cung cấp đặt trọng tâm cho tương lai là thông tin cần thiết và trực tiếp cho nhà lãnh đạo từ đó làm cơ sở để điều khiển mọi hoạt động của doanh nghiệp luôn tồn tại và phát triển

- Do nhận thức và hiểu biết về kế toán quản trị còn nhiều hạn chế và chưa thống nhất nên việc tìm hiểu lý luận về kế toán quản trị và vận dụng kế toán quản trị tại Công ty là cấp bách và cần thiết

Như vậy, nếu Doanh nghiệp thực hiện được hệ thống kế toán quản trị song hành cùng kế toán tài chính một cách đồng bộ, chặt chẽ thì sẽ tăng được tính hiệu quả cũng như sức mạnh trong thời kỳ cạnh tranh

Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị trên phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài

"Hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương" nhằm góp phần vào việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản

lý của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương nói riêng và các doanh nghiệp thương mại dịch vụ nói chung

2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan

Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu thực tiễn, tác giả đã hệ thống hóa một

số đề tài luận văn cũng đã nghiên cứu về kế toán quản trị trong các doanh

nghiệp

Tổ chức kế toán quản trị tại công ty TNHH Xây dựng – Thương mại

Đình Nguyễn, Phạm Thị Ngọc Yến, 2019 Luận văn thạc sỹ - Đại học Kinh tế

thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu của luận văn chính là tổ chức kế toán quản

Trang 12

trị tại Công ty TNHH Xây dựng – Thương mại Đình Nguyễn, một công ty có quy mô vừa và nhỏ nhưng hết sức năng động trong ngành nghề xây dựng Bằng phương pháp phỏng vấn sâu Ban Giám đốc cũng như Kế toán trưởng, tác giả đã tìm hiểu tình hình tổ chức công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán quản trị nói riêng, từ đó đưa ra giải pháp, kế hoạch hành động phù hợp Đây sẽ là giải pháp gia tăng năng lực cạnh tranh cho công ty, đồng thời có giá trị tham khảo cho những công ty có đặc điểm hoạt động kinh doanh tương tự

Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty TNHH Visual Merchangdising, Lê Thị Ngọc Hằng, luận văn thạc sỹ đại học Kinh tế TP Hồ

Chí Minh (2019) Luận văn mong muốn tổ chức, hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị, giúp công ty có thể vận dụng được lợi ích mà kế toán quản trị mang lại trong điều hành và ra quyết định của nhà quản lý trong quá trình lãnh đạo công ty Qua nghiên cứu, trước hết luận văn trình bày các nội dung chính liên quan đến cơ sở lý luận về kế toán quản trị như quá trình hình thành, khái niệm, nội dung kế toán quản trị và nội dung tổ chức kế toán quản trị,… Tiếp

đó bằng phương pháp nghiên cứu định tính, luận văn mô tả và phân tích được thực trạng tổ chức công tác kế toán hiện nay tại Visual Merchandising nói chung, cũng như nội dụng, tổ chức kế toán quản trị tại đơn vị này nói riêng

Từ đó, xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

về kế toán quản trị tại đơn vị Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Visual Merchandising dựa trên các nguyên nhân về hạn chế của kế toán quản trị đã xác định sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển, quan điểm hoàn thiện kế toán quản trị của công ty, từ đó góp phần hoàn thiện kế toán quản trị tại Visual Merchandising trong thời gian tới

Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty cổ phần bao bì nhựa

Trang 13

Tân Tiến, Trần Thị Thanh Tiến, luận văn thạc sỹ đại học Kinh tế TP Hồ Chí

Minh (2019) Luận văn đã xác định việc hoàn thiện kế toán quản trị phải phù hợp với quan điểm của kế toán, phù hợp môi trường pháp lý của Việt Nam;

bộ máy kế toán quản trị đơn giản, phù hợp với quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý, đảm bảo hài hòa giữa chi phí và lợi ích; hoàn thiện kế toán quản trị trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin của công ty Trên quan điểm đó, tác già đề nghị tổ chức lại bộ máy kế toán quản trị hợp lý và đưa ra những nội dung cơ bản của kế toán quản trị cần thực hiện cùng như đưa ra một số biện pháp hỗ trợ về nguồn nhân lực và phần mềm kế toán để công tác hoàn thiện kế toán quản trị có thể triển khai thành công, nhằm phục

vụ hoạch định, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát hoạt động

và ra quyết định của nhà quản trị

“Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Một thành viên Cảng Quy Nhơn”, Đinh Mai Thảo, luận văn thạc sĩ đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2013) Trong luận văn này đã đánh giá được thực trạng và đưa ra một số giải

pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại doanh nghiệp Tuy nhiên luận văn chủ yếu đi vào đặc trưng của doanh nghiệp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ hàng hải nên đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT chi phí sản xuất xuất phát từ đặc thù kinh doanh

Các tác giả thông qua các đề tài nghiện cứu của mình đã hệ thống các nội dung cơ bản của kế toán quản trị cũng như kế toán quản trị chi phí và vận dụng vào các ngành cụ thể như ngành du lịch, ngành viễn thông, ngành xây dựng, ngành hàng hải

Như vậy, về cơ bản các tác giả nghiên cứu về đề tài xoay quanh kế toán quản trị các năm trước đều hướng đến công tác kế toán quản trị qua thực trạng của các đơn vị cụ thể và thường gắn với một mốc thời gian xác định Tiếp tục

kế thừa những nội dung mà các đề tài trước đã thực hiện, tác giả muốn cụ thể

Trang 14

hóa hơn, đi sâu hơn vào các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán quản trị

cụ thể tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

- Hệ thống hoá làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán

quản trị tại doanh nghiệp

- Đề tài vận dụng những lý luận và phương pháp phân tích khoa học để nghiên cứu thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương, từ đó đánh giá thực trạng kế toán quản trị tại công ty về ưu nhược điểm và đưa ra nguyên nhân khách quan và chủ quan

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã nghiên cứu để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương, góp phần phục vụ công tác quản lý công ty hiệu quả hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích đã xác định, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu đánh giá thực trạng kế

toán quản trị tại Công ty cổ phần phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương giai

đoạn 2015-2018

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp sau:

 Để tiến hành khảo sát thực trạng kế toán quản trị tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu từ nguồn dữ liệu thứ cấp bằng cách thu thập thông tin qua các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, các số liệu kế toán, dữ kiện hoạt động trên các phương tiện truyền thông, ấn phẩm, các cơ quan quản lý nhà nước

 Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp phân tích, hệ thống hóa; phương pháp tổng hợp, so sánh; phương pháp thực chứng để đối chiếu, trình bày, đánh giá các vấn đề có liên quan đến kế toán quản trị

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

- Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị tại Công

ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương, góp phần tích cực phục vụ cho nhà quản trị công ty đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

7 Bố cục của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần

thương mại và dịch vụ Hoàng Chương

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG

DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị

Hai chức năng của hoạt động kế toán là kiểm tra thông tin và cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như: Ban giám đốc, nhà đầu tư, người lao động, cơ quan thuế, Các đối tượng này có mục đích và yêu cầu khác nhau khi sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp khi cơ quan thuế khi thực hiện thu ngân sách về thuế TNDN thì cần các thông tin về các chỉ tiêu tổng doanh thu, chi phí, thu nhập khác, lợi nhuận trong kỳ,… Còn đối với các nhà quản trị doanh nghiệp điều hành hoạt động của doanh nghiệp thì cần các thông tin cụ thể, chi tiết của các yếu tố cấu thành thông tin tổng quát, trên cơ sở phân tích và xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin cần thiết và dự toán đề đưa ra để quyết định để doanh nghiệp hoạt động tối ưu trong tương lai Từ đó hình thành nên hai bộ phận kế toán tài chính và kế toán quản trị vững mạnh trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp

Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị Thông qua một số quan điểm để hiểu rõ về vấn đề kế toán quản trị như sau: Theo định nghĩa của Hiệp hội Kế toán Quốc gia Hoa Kỳ (NAA) cho

biết: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý về việc lập, thực hiện kế hoạch, kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, thu thập, tích lũy, phân tích, giải thích để các nhà quản trị xử lý các thông tin theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”

Theo định Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ - IMA:“KTQT là một quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, diễn giải và truyền

Trang 17

đạt các thông tin tài chính bởi các nhà quản lý nhằm mục đích hoạch định, đo lường và kiểm soát một chức và đảm bảo rằng nguồn lực của tổ chức đó được

sử dụng một cách phù hợp và có trách nhiệm KTQT cũng bao gồm việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các nhóm đối tượng không thuộc nhà quản lý như cổ đông, chủ nợ, cơ quan thuế,…”

(IMA, 1981, 1) Theo đó, KTQT là một nhân tố giúp doanh nghiệp quản trị chi phí và rủi ro, từ đó lập kế hoạch và kiểm soát doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh Bên cạnh đó, KTQT còn cung cấp báo cáo tài chính, báo cáo phân tích những chỉ số cần thiết, giúp nhà quản trị xem xét đề

ra quyết định, vạch định chiến lược cho doanh nghiệp (IMA, 2008)

Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế - IFAC cho biết: “KTQT hướng về các quá trình xử lý và kỹ thuật, tập trung vào việc sử dụng một cách có hiệu quả và hiệu suất những nguồn lực của tổ chức, giúp hỗ trợ các nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ gia tăng giá trị cho khách hàng cũng như cổ đông”

Theo Luật kế toán Việt Nam: “KTQT được định nghĩa là việc thu thập,

xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán,

điều 4) Kế toán quản trị gồm các bước công việc thu thập, xử lý phân tích và cung cấp thông tin để nhà quản trị ra quyết định cho doanh nghiệp

Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng

Trang 18

nhìn chung những quan điểm này có những điểm thống nhất về kế toán quản trị như:

- Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp Kết hợp với kế toán tài chính để cung cấp thông tin cho nhà quản trị

- Là cung cụ để nhà quản trị phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị ngày càng được nâng cao và đa dạng của doanh nghiệp

- Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin hoạt động tài chính và phi tài chính đã phát sinh, mà còn có tính dự báo, định hướng và giúp nhà quản trị ra quyết định để doanh nghiệp phát triển theo chiều hướng tốt nhất trong tương lai

1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị

Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của

tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao KTQT bao gồm 4 vai trò chính:

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng hoạch định (planning): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng hoạch định là thiết lập mục tiêu cho tổ chức và xác định con đường để thực hiện chúng, bằng việc chọn cách triển khai hành động cụ thể

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức – điều hành (organizing – directing): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là “triển khai và giám sát các hoạt động của tổ chức hằng ngày – overseeing the company’s day-to-day operations”, theo dõi việc thực hiện các

kế hoạch để đạt được các mục tiêu của tổ chức Ngoài ra, sau khi lên kế hoạch, tổ chức cần phải hướng dẫn cụ thể cách thức thực hiện mục tiêu đó Vai trò của KTQT phục vụ chức năng kiểm soát (controlling) là “Đánh giá các kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức, so sánh và điều chỉnh giữa kế hoạch và thực hiển để luôn hướng đúng với mục tiêu của tổ chức – evaluating the results of business operations against the plans and making adjustment to

Trang 19

keep the company pressing towards its goals” (Bamber et al, 2008) Nói cách khác, giữa việc lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cần phải được kiểm soát để đảm bảo hiệu quả đề ra (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng ra quyết định (decision making): KTQT liên quan đến việc hoạch định, tổ chức – điều hành và kiểm soát, điều này có nghĩa là chúng đang tham gia vào quá trình ra quyết định, đây chính là vai trò còn lại của KTQT (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)

Theo Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, bốn chức năng này phụ thuộc và liên kết chặt chẽ với nhau Mối liên kết này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 như sau:

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị

Nguồn: Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, (2012) The Roles and Responsibilities of Management Accountants in the Era of Globalization, Global Journal of Management and Business Research, Vol 12(15), pp 47

Như vậy, KTQT còn đóng góp vai trò rất lớn trong việc nghiên cứu và cung cấp các bảng phân tích nhằm tạo ra một sự cải thiện hiệu quả, từ đó đưa

ra những quyết định hợp lý và chính xác hơn

1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị

1.1.3.1 Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí

a) Phân loại chi phí

Sau khi tham khảo báo cáo của IFAC (1998) với tên gọi “management acounting concepts: International Management Accounting Practice

Trang 20

Statement” và nghiên cứu của Ashish Lodha (2013) về “Cost – Methods, Techniques of Cost Accounting anh Classification of Cost”, tác giả khái quát lại cách phân loại chi phí theo các tiêu thức phân loại cơ bản sau:

(1) Theo chức năng hoạt động

(2) Theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh (3) Theo phương pháp quy nạp

(4) Sử dụng đánh giá thành quả quản lý

(5) Theo cách ứng xử của chi phí

Cách phân loại này được khái quát qua sơ đồ 1.2 như sau:

Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí

- Phân loại theo chi phí chức năng hoạt động

Trang 21

Chi phí sản xuất (production cost): là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm trong một thời ký nhất định Hoạt động của một DN sản xuất gắn liền với sự chuyển biến của nguyên liệu thành thành phẩm thông qua

sự nổ lực của công nhân và việc sử dụng thiết bị sản xuất, do đó CPSX của một sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất được tạo thành từ 3 yếu tố cơ bản: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC

Chi phí ngoài sản xuất (non-production cost): là những loại chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung toàn DN và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí BH và chi phí QLDN

- Phân loại theo chi phí mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh

Chi phí sản xuất (product cost) là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc sản xuất hoặc mua bán sản phẩm Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được sang kỳ sau khi sản phẩm đang tồn kho chờ bán và khi sản phẩm

đã được tiêu thụ thì chúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ

Chi phí thời kỳ (period cost) là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ

và được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí BH và chi phí QLDN là những chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã được coi là phí tổn trong kỳ

- Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp

Chi phí trực tiếp (direct cost) là những chi phí khi phát sinh được tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC

Trang 22

trực tiếp, nó được tính thẳng vào từng đơn hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm,…

Chi phí gián tiếp (indirect cost) là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp Ví dụ như chi phí SXC sẽ được phân bổ cho các đối tượng sử dụng theo giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lượng sản phẩm sản xuất,…

- Phân loại chi phí sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý

Chi phí kiểm soát được (controllable cost) đối với một cấp quản lý là những chi phí mà nhà quản trị cấp đó quyền ra quyết định

Chi phí không kiểm soát (non-controllable cost) là chi phí mà nhà quản trị cấp đó không được quyền ra quyết định

- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Việc xem xét chi phí sẽ thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổi gọi là sự ứng xử của chi phí Dựa trene cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chi toàn bộ chi phí thành 3 loại: Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp

Biến phí (variable cost) là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức

độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị của mức

độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động Biến phí được phân tích thành các loại sau: Biến phí tuyến tính, biến phí cấp bậc và biến phí phi tuyến

Định phí (fixed cost) là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại Định phí có thể chia làm thành 2 loại như sau: Định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc Chi phí hỗn hợp (semi-variable cost or semi-fixed cost) là chi phí mà

Trang 23

thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và khả biến Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí Sự pha trộn giữa định phí và biến phí có thể theo những tỉ lệ nhất định Để xác định thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp, có 3 phương pháp

cơ bản thường được sử dụng là phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp

đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất

b) Phân tích biến động chi phí

Để kiểm soát được chi phí, các nhà quản trị cần phải phân tích biến động của chi phí, xem các loại CPTT đã phát sinh tăng giảm như thế nào so với dự toán, đồng thời tìm hiểu được nguyên nhân của sự tăng giảm đó để có thể đề

ra những giải pháp kịp thời Theo Huỳnh Lợi (2012), phân tích sự biến động chi phí trong DN gồm 4 bước sau:

Bước 1: Xác lập chỉ tiêu phân tích

Xác định rõ nội dung chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí thành một biểu thức toán học trong mối liên hệ với nhiều nhân tố cần xem xét đánh giá Bước 2: Xác định đối tượng phân tích

Đối tượng phân tích là những biến động của chỉ tiêu cần phân tích, ở đây chính là chênh lệch của chỉ tiêu chi phí cần phân tích giữa thực tế so với dự án

Bước 3: Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của CPSX kinh doanh

Tiến hành dùng phương pháp kỹ thuật tính toán để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của CPSX kinh doanh

Bước 4: Xác định nguyên nhân, xu hướng và giải pháp

Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chi phí theo chiều hướng thuận lợi hay bất lợi, chỉ ra được nguyên nhân chủ quan

và khách quan tác động làm tiết kiệm hay lãng phí chi phí Đồng thời chỉ rõ

Trang 24

được những người có trách nhiệm liên quan và đề ra các giải pháp thích hợp

để quản lý chi phí

c) Các mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Theo Huỳnh Lợi (2012), có ba mô hình kế toán CPSX và tính giá thành

sản phẩm thường gặp: (1) theo chi phí thực tế, (2) theo chi phí thực tế kết hợp với ước tính và (3) theo chi phí định mức

(1) Mô hình kế toán và tính giá thành theo CPTT

Theo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất bao gồm chi phí NVL trực tiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phí SXC thực tế phát sinh trong quá trình quản xuất sản phẩm

Mô hình này đảm bảo tính chính xác của CPSX thực tế phát sinh trong

kỳ, giá thành thực tế trong kỳ Tuy nhiên, thông tin về giá sản phẩm không được cung cấp kịp thời cho yêu cầu quản lý, định hướng sản xuất và kiểm soát CP trong kỳ

(2) Mô hình kế toán CPSX và tính giá theo CPTT kết hợp với ước tính Theo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán bằng cách cộng các chi phí NVL trực tiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phí SXC ước tính phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm

Sơ đồ 1.3: Phương pháp chi phí thực tế kết hợp với ước tính

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Như vậy, phương pháp CPTT kết hợp với ước tính và phương pháp

Trang 25

CPTT chỉ khác nhau ở phần chi phí SXC Trong phương pháp CPTT kết hợp với ước tính, chi phí SXC được ước tính cho các sản phẩm sản xuất bằng việc

áp dụng một tỷ lệ xác định trước Tỷ lệ này được tính toán trên cơ sở các hoạt động sản xuất hoặc chi phí của hoạt động sản xuất, thí dụ số giờ lao động trực tiếp, số giờ máy hoạt động, chi phí NC trực tiếp,…

Mô hình theo CPTT kết hợp với chi phí ước tính phần nào đã giải quyết được tốc độ thông tin chi phí, giá thành trong kỳ để phục vụ cho việc điều hành sản xuất và các quyết định quản trị chi phí, giá thành Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi một quy trình điều chỉnh chi phí SXC phức tạp cuối kỳ (3) Mô hình kế toán CPSX và tính giá thành theo chi phí định mức

Theo mô hình này, giá thành được tính theo chi phí định mức cho cả ba khoản mục phí (NVL trực tiếp, NC trực tiếp và SXC) Phần chênh lệnh giữa CPTT và chi phí định mức sẽ được xử lý vào tài khoản giá vốn hàng bán

Để áp dụng được mô hình này, DN cần tiến hành xây dựng các định mức chi phí cụ thể cho từng loại sản phẩm và để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí định mức và CPTT, các định mức chi phí cần được định kỳ xem xét lại cho hợp lý

Trên đây là ba mô hình kết toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của KTQT mà các DN thường sử dụng Theo tác giả, mô hình theo phương pháp CPTT kết hợp với ước tính và theo phương pháp chi phí định mức có tính ưu việt hơn Tuy nhiên, hai mô hình này phát sinh thêm công việc cho kế toán trong quá trình xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ Đối với các DNNVV đang kinh doanh trong lĩnh vực ăn uống, nguồn lực tài chính và nhân sự còn hạn chế như hiện nay, tác giả đề xuất các DNNVV này nên lựa chọn mô hình theo phương pháp thực tế để có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí lao động

Trang 26

1.1.3.2 Dự toán

a) Khái niệm và mục đích của dự toán

- Khái niệm về dự toán

Theo Drury et al (1993) thì dự toán là một phương pháp kỹ thuật cần thiết cho việc lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Còn theo Abdel – Kader, M & Luther, R (2006) thì dự toán được xem là một nội dung phổ biến nhất của việc vận dụng KTQT ở các nước đã phát triển và các nước đang phát triển

Và trong một số tác giả trong nước nghiên cứu về dự toán thì tác giả Phạm Ngọc Toàn (2010) cho rằng dự toán là một kế hoạch mà trong đó thể hiện những mục tiêu tổ chức cần phải đạt được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động các nguồn để thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra Dự toán được xác định bằng hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai Hay “ Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng kỳ cụ thể” (Phạm Văn Dược, Trần Văn Tùng, 2011, trang 153)

- Mục đích của dự toán

Mục đích chính của dự toán ngân sách là hoạch định và kiểm soát (Drury

et al, 1993)

Hoạch định: là dự toán ngân sách buộc nhà quản trị phải dự tính những

gì xảy ra trong tương lai Nếu những dự tính sẽ xảy ra có kết quả không tốt, các nhà quản trị phải thấy được những gì cần phải làm để thay đổi kết quả không mong muốn đó

Kiểm soát: là quá trình so sánh kết quả thực hiện với dự toán và đánh giá việc thực hiện dự toán đó Việc kiểm soát phụ thuộc vào dự toán, nếu không

có dự toán thì DN sẽ không có cơ sở để so sánh và đánh giá kết quả của việc

Trang 27

thực hiện dự toán

Chức năng hoạch định đi liền với chức năng kiểm soát, kết quả hoạt động thực tế so sánh với dự toán ngân sách Nếu DN không thực hiện việc kiểm soát thì dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó

- Phân loại dự toán

(1) Phân loại dự toán theo thời gian

Dự toán ngắn hạn (short-term budget) thường được lập cho kỳ kế hoạch

là một năm và được chia ra từng kỳ ngắn hạn hơn là hàng quý và hàng tháng

Dự toán ngắn hạn bao gồm các dự toán chức năng như dự toán doanh thu, dự toán sản xuất, dự toán tiền,… Dự toán ngắn hạn được lập hàng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc và được xem là một công cụ của hoạch định nhằm làm mục tiêu hành động của năm

Dự toán dài hạn (long-term budget) có thời gian trên một năm còn được

gọi là dự toán vốn, đây là dự toán được lập liên quan đến tài sản dài hạn Dự toán dài hạn thường bao gồm việc dự toán cho các mục tiêu dài hạn của DN như các chiến lược kinh doanh, các tài sản lớn, hệ thống phân phối Đặc điểm

cơ bản của dự toán dài hạn là dự toán cho một khoảng thời gian dài và định hướng mục tiêu chiến lược của DN Dự toán dài hạn được thực hiện thông qua các dự toán ngắn hạn của năm

(2) Phân loại dự toán theo phương pháp lập (theo mức độ hoạt động)

Dự toán cố định (fixed budget) là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định Dự toán cố định phù hợp với DN có hoạt động kinh tế ổn định Nhược điểm của dự toán cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán, do đó nó không có ý nghĩa cao trong kiểm soát nếu các DN thay đổi quy mô hoạt động trong kỳ do điều kiện hoặc môi trường kinh doanh biến động

Trang 28

Dự toán linh hoạt (flexible budget) là dự toán về doanh thu chi phí trong một kỳ kinh doanh theo các mức độ hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt được lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách

dự kiến tương ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt được lập trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh được xem là công

cụ của hoạch định và dự toán linh hoạt được lập sau khi kết thúc một kỳ kinh doanh thì được xem là công cụ của kiểm soát Thông thường dự toán linh hoạt được lập ở 3 mức độ hoạt động cơ bản: Mức độ hoạt động trung bình, mức độ hoạt động cao nhất, mức độ hoạt động thấp nhất

b) Các mô hình dự toán

Theo tài liệu của Larry M Walther (bản chỉnh sửa năm 2016) với tên gọi

“Financial Accouting: Budget Processes And Human Behavior”, có ba mô

hình dự toán như sau:

(1) Mô hình ấn định từ trên xuống (top-down budget)

Sơ đồ 1.4: Mô hình thông tin từ trên xuống

(Nguồn: Larry, M Walther, 2016)

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý cao cấp của tổ chức, sau đó truyền xuống cho quản lý trung gian, sau khi quản lý

Trang 29

cấp trung gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở làm mục tiêu,

kế hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong DN

Ưu điểm: Đơn giản, ít tốn kém

Nhược điểm: mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao xuống nên rất

dễ làm cho cấp dưới không thực hiện được, tạo ra sự bất bình

(2) Mô hình thông tin từ dưới lên (bottom-up-budget)

Sơ đồ 1.5: Mô hình thông tin từ dưới lên

(Nguồn: Larry, M Walther, 2016)

Theo mô hình này, cách lập dự toán là căn cứ vào các bộ phận cấp thấp nhất, căn cứ vào khả năng, năng lực hiện có của mình lập các chỉ tiêu của bộ phận mình sau đó sẽ trình cấp quản lý trung gian Quản lý cấp trung gian tổng hợp số liệu của cấp cơ sở và căn cứ vào năng lực và tính thực tiễn của bộ phận mình để tiến hành lập dự toán và trình lên quản lý cao cấp Quản lý cao cấp sẽ tổng hợp số liệu quản lý cấp trung gian và kết hợp với tính khả thi, mục tiêu của tổ chức đề xét duyệt và đưa ra dự toán chính thức làm căn cứ thực hiện kết hoạch trong kỳ

Ưu điểm: các bộ phận tự đề xuất các chỉ tiêu của bộ phận mình nên sẽ

có trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu đề ra

Nhược điểm: các bộ phận có thể đặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực

Trang 30

thưc tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện và đạt được mục tiêu

(3) Mô hình thông tin phản hồi (negotiated budget hay top-down vs bottom-up budget)

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán đầu tiên được dự thảo từ ban quản lý cấp cao nhất trong DN và được truyền xuống cho các cấp quản lý trung gian Trên cơ sở đó, các đơn vị quản lý trung gian sẽ được phân bổ các chỉ tiêu xuống cho các đơn vị cấp cơ sở Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn

cứ vào chỉ tiêu dự thảo, căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình để xác định các chỉ tiêu dự toán có thể thực hiện được và những chỉ tiêu dự toán cần giảm bớt hoặc tăng lên Sau đó, bộ phận quản lý cấp cơ sở bảo vệ dự toán của mình trước bộ phận quản lý cấp trung gian

Bộ phận quản lý cấp trung gian, trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu của dự toán từ các bộ phận cấp cơ cở và khả năng thực tế của bộ phận mình quản lý

mà tiến hành xác định các chỉ tiêu dự kiến của bộ phận mình Sau đó tiến hành bảo vệ dự toán trước cấp trên là bộ phận quản lý cấp cao

Bộ phận quản lý cấp cao trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các bộ phận cấp trung gian, căn cứ vào mục tiêu của đơn vị mình và tính thực tiễn Bộ phận quản lý cấp cao sẽ xét duyệt thông qua các chỉ tiêu dự toán của bộ phận quản

lý trung gian và bộ phận quản lý trung gian xét duyệt thông qua quản lý cơ sở Khi đó, dự toán chính thức được sử dụng như định hướng cho hoạt động của

kỳ kế hoạch

Ưu điểm: do có sự phản hồi, phối hợp giữa các bộ phận nên tính khả thi

mô hình này rất cao

Nhược điểm: phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí

Trong 3 mô hình trên thì mỗi mô hình có ưu và nhược điểm nhất định Theo tác giả, với mô hình ấn định từ trên xuống, thì đối với các DNNVV hoạt động kinh doanh vẫn chưa thể hiện được vì số lượng nhân viên nhiều mà trình

Trang 31

độ lao động giữa các bộ phận lại có sự chênh lệch khá lớn, nếu áp đặt từ trên xuống thì với trình độ nhân sự hiện tại chưa thể thực hiện được các dự toán

mà DN đề ra

Trong ba mô hình thì mô hình thông tin phản hồi có tính ưu việt nhất Tuy nhiên, mô hình này phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí lao động mà quy mô của các DN trên còn nhỏ, tài chính hạn hẹp, số lượng nhân sự cần sử dụng cho KTQT chưa có, vì vậy sẽ không khả thi nếu DN áp dụng mô hình thông tin phản hồi này

Vì thế, đối với các DNNVV đang kinh doanh, tác giả đề xuất nên sử dụng mô hình thông tin từ dưới lên Và để khắc phục nhược điểm các bộ phận

có thể đặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực thực tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện và đạt được mục tiêu thì nhà quản trị cấp cao và cấp trung gian cần thường xuyên kiểm tra việc thực hiện dự toán, nếu các bộ phận hoành thành

dự toán một cách dễ dàng thì nhà quản trị cần xem xét tiềm năng có thể đạt được dự toán cao hơn mà điều chỉnh lại dự toán sao cho phù hợp với năng lực của các bộ phận nhằm giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực

1.1.3.3 Kế toán trách nhiệm

a) Định nghĩa kế toán trách nhiệm

Theo định nghĩa của Kohler, E L và cộng sự (1983) thì kế toán trách nhiệm là việc phân loại, quản lý, duy trì, đánh giá và thẩm định các tài khoản phục vụ cho mục đích cung cấp thông tin về chất lượng, số lượng và chỉ số thực hiện được từ những người được giao quyền hạn

Hay theo như Horngren, C T và những cộng sự (2011), nhóm tác giả cho rằng: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán công nhận các trung tâm trách nhiệm khác nhau trong toàn tổ chức, phản ánh kế hoạch và thực hiện của mỗi trung tâm này bằng cách ấn định doanh thu và chi phí cụ thể cho người xem có trách nhiệm đứng đầu mỗi trung tâm Nó còn được gọi là kế

Trang 32

toán lợi nhuận và kế toán hoạt động Cũng theo định nghĩa này, tổ chức được chia thành nhiều trung tâm trách nhiệm và mỗi trung tâm trách nhiệm sẽ được

đo lường bằng các chỉ tiêu đánh giá thành quả của từng trung tâm trách nhiệm

Hay theo một số tài liệu nghiên cứu trong nước thì Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2013) có khái quát rằng: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập,

xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư,… mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đưa ra các quyết định tác động lên nó

b) Nội dung cơ bản của hệ thống kế toán trách nhiệm

Theo như Horngren và cộng sự (2011), kế toán trách nhiệm gồm có 4 loại trung tâm trách nhiệm:

(1) Trung tâm chi phí

Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó

Thành quả của trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh CPTT với CPDT và phân tích các chênh lệch phát sinh

(2) Trung tâm doanh thu

Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó

Thành quả của trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu thực tế với doanh thu dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh (3) Trung tâm lợi nhuận

Trung tâm lợi nhuật là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuật đạt được trong bộ phận đó

Trang 33

Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí nên các nhà quản trị của trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm cả về doanh thu, và chi phí phát sinh ở bộ phận đó Thành quả của các trung tâm lợi nhuận thường được đánh giá bằng việc

so sánh các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh thực tế với các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh tổng thể và dự toán linh hoạt

(4) Trung tâm đầu tư

Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó

Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng các thước đo: Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) và lợi nhuận còn lại (RI) Hai chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:

Trong đó:

Lợi nhuận hoạt động để xác định ROI nói trên là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Đây là lợi nhuận do sử dụng tài sản được đầu tư mang lại mà không phân biệt nguồn tài trợ cho các tài sản đó (không bao gồm lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư tài chính, lợi nhuận khác) ROI cho biết cứ một đồng tài sản đầu tư vào trung tâm đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROI càng lớn thành quả quản lý vốn đầu tư càng cao

Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi đi từ lợi nhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư Lợi nhuận còn lại càng lớn thì lợi nhuận hoạt động tạo ra càng nhiều hơn lợi nhuận mong muốn tối thiểu, khi đó thành quả quản lý của các nhà quản trị ở

Trang 34

trung tâm đầu tư được đánh giá càng cao

Hiện nay có 3 mô hình kế toán trách nhiệm được áp dụng rộng rãi trong các DN là mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chức năng, mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên quy trình và mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chiến lược Trong ba mô hình thì mô hình kế toán trách nhiệm theo chức năng là đơn giản và dễ thực hiện nhất Do đó, tác giả đề xuất các DNNVV nên xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm theo mô hình chức năng này Và về quan điểm vì sao lựa chọn mô hình này, tác giả sẽ trình bày ở mục 3.2.4.1 (quan điểm về xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm)

c) Thiết lập thông tin KTQT phục vụ việc ra quyết định

Ra quyết định là việc lựa chọn một phương án thích hợp nhất từ nhiều phương án khác nhau Ra quyết định là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản trị

Căn cứ vào thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết

định, việc ra quyết định thường được chia thành hai loại: quyết định ngắn hạn

và dài hạn

Trong quá trình lựa chọn phương án để ra quyết định, việc nhận diện thông tin là rất quan trọng Nhà quản trị phải nhận diện được thông tin nào là thích hợp và thông tin nào không thích hợp Do đó, một quá trình phân tích thông tin thích hợp đối với việc ra quyết định là hết sức cần thiết Theo Huỳnh Lợi (2012), quá trình này gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Tập hợp tất cả các thông tin thu thập, chi phí liên quan đến từng

phương án kinh doanh được xem xét, so sánh lựa chọn Điều cần quan tâm ở đây là thu thập, chi phí được tập hợp không những bao gồm thu thập, CPTT

mà còn phải bao gồm cả thu nhập, chi phí tiềm ẩm, chi phí cơ hội

Bước 2: Loại bỏ các khoản chi phí chìm, là những khoản chi phí đã phát

sinh luôn tồn tại ở tất cả các phương án kinh doanh

Trang 35

Bước 3: Loại bỏ các khoản thu nhập, chi phí sẽ phát sinh như nhau trong

tương lại ở tất cả các phương án kinh doanh

Bước 4: Tổng hợp những thông tin còn lại sau khi thực hiện bước 2, và

bước 3 chính là những thông tin thích hợp cho quyết định chọn lựa phương án kinh doanh Hay nói cách khác hơn đây chính là thông tin chênh lệch, thông tin khác biệt giữa các phương án kinh doanh cần thiết để xem xét đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh

1.1.4 Phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Kế toán quản trị tạo ra các sản phẩm là báo cáo quản trị, các kế hoạch, chiến lược tài chính quản trị giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định cho doanh nghiệp Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê Sự khác nhau cơ bản giữa hai loại hình này như sau:

Trang 36

– Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

Đặc điểm thông tin:

– Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư

– Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị

Nguyên tắc cung cấp thông tin:

– Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp

– Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc

Phạm vi của thông tin:

– Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng

Trang 37

bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan

– Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp

Kỳ báo cáo:

– Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày – Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

Quan hệ với các môn khoa học khác:

– Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản

lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin – Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác

Tính bắt buộc theo luật định:

– Kế toán quản trị không có tính bắt buộc

– Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định: Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành)

1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.2.1 Kế toán quản trị chi phí

Theo Kaplan và Atkinson (1998) Thông tin kê toán quản trị đóng một vai trò quan trọng trong tổ chức Nó hỗ trợ cho việc ra quyết định, chỉ dẫn phát triển chiến lược và đánh giá các chiến lược hiện tại, tập trung nỗ lực liên quan đến việc nâng cao thành quả của tổ chức và để đánh giá việc đóng góp vào thành quả này theo từng phòng ban, từng cá nhân

Trang 38

Một trong những thông tin kế toán quản trị quan trọng nhất là thông tin

về chi phí Tổ chức sử dụng những thông tin về chi phí đế đưa ra các quyết định quan trọng về tính năng sản phẩm hay là hỗn hợp sản phẩm Tổ chức cũng sử dụng thông tin về chi phí để phát triển chiến lược cạnh tranh của mình Hơn nữa, tồ chức sử dụng thông tin về chi phí phù hợp để điều hành và cải tiến các hoạt động của họ

Đối với nhà quản trị, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát và đưa chi phí xuống mức thấp nhất có thể Để làm được điều này thì nhà quán trị phải xác định được các phương pháp phân loại chi phí (như: chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất chi phí thời kỳ, chi phí sản phẩm, chi phí khả biến, chi phí bất biến, chi phí hỗn hợp ), các phương pháp tập hợp chi phí (như: phương pháp trực tiếp, phương pháp phân bổ), cách xác định các trung tâm chi phí (trung tâm mua hàng, trung tâm sản xuất ) để có thể đưa ra quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động của nhà quản trị

Hệ thống chi phí truyền thống

Tất cả các hệ thống chi phí đều bắt đầu từ việc phân bố chi phí nguồn lực đến các đối tượng chịu chi phí Dữ liệu từ hệ thống tài chính cùa doanh nghiệp, ví dụ như hệ thống thông tin kế toán hay hệ thống dự toán ngân sách, được phân loại theo từng nhóm chi phí nguồn lực như: lương, phụ cấp lương, lương ngoài giờ, chi phí tiện ích, nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí đi lại, chi phí viễn thông, chi phí sử dụng

máy tính, chi phí bảo trì, chi phí khấu hao tài sản cố định Thông tin về chi phí trên hệ thống sổ sách kế toán được sử dụng để phân bổ chi phí nguồn lực sử dụng thực tế trong kỳ đến các bộ phận hoạt động và sau đó phân bổ chi phí ở các bộ phận hoạt động đến các sản phẩm

Trang 39

Việc phân bồ chi phí nguồn lực theo chi phí thực tế được sử dụng đề đánh giá tính hiệu quá và khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Thông tin về chi phí từ hệ thống dự toán ngân sách được

sử dụng để phân bổ chi phí nguồn lực đến trung tâm hoạt động nhằm xây dựng những định mức chi phí Những định mức chi phí này sau đó sẽ được sử dụng để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, ví dụ như quyết định

về giá, quyết định về tiếp tục sản xuất hay mua ngoài Tuy nhiên, việc thiết

kế và cấu trúc của hệ thống chi phí là không thay đổi cho dù chi phí nguồn lực

dự toán hay chi phí nguồn lực thực tế được phân bổ

Trong giai đoạn thứ nhất, chi phí bộ phận phục vụ được phân bổ đến các

bộ phận hoạt động Bên cạnh đó, chi phí trực tiếp phát sinh ở các bộ phận hoạt động cũng phải được tập hợp cho những bộ phận này Vì vậy, sau giai đoạn thứ nhất, tất cả chi phí phát sinh đã được phân bổ và tập hợp Trong giai đoạn thứ hai, chi phí bộ phận hoạt động được tính cho từng loại sản phẩm Giai đoạn phân bổ đầu tiên của hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC) cũng có cấu trúc tương tự như hệ thống chi phí truyền thống, tuy nhiên thay vì phân bổ chi phí nguồn lực từ bộ phận phục vụ đến bộ phận hoạt động, ABC phân bô chi phí nguồn lực của cả bộ phận hoạt động và bộ phận phục vụ đến các hoạt động sử dụng các nguồn lực đó

1.2.2 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh

Dự toán ngân sách là kế hoạch cho tương lai Do đó dự toán ngân sách là các công cụ để lập kế hoạch, và nó thường được lập trước khi bắt đầu một giai đoạn hay một kỳ ngân sách Tuy nhiên, so sánh giữa dự toán ngân sách với các kết quả thực tế sẽ cung cấp được nhiều thông tin có giá trị về các hoạt động Do đó dự toán ngân sách là cả hai công cụ lập kế hoạch và công cụ đánh giá thực hiện kế hoạch

Mục đích của dự toán ngân sách:

Trang 40

- Dự toán ngân sách cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch của doanh nghiệp bằng những con số cụ thể Cụ thể hoá các nguồn lực, các biện pháp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bằng những bảng số liệu những bản tính toán chi tiết và cụ thể

- Dự toán ngân sách cung câp cho nhà quản trị doanh nghiệp toàn bộ thông tin về kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong từng thời gian cụ thể và cả quá trình sản xuất kinh doanh Dự toán ngân sách chỉ rõ nhiệm vụ của từng bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp

Vai trò của dự toán ngân sách

Dự toán ngân sách có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của nhà quán trị, cụ thể như sau:

Chức năng lập kế hoạch: Dự toán ngân sách xác định mục tiêu mà

doanh nghiệp đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời dự kiến nguồn lực đổ thực hiện mục tiêu đó

Chức năng kiểm soát: Dự toán ngân sách được xem là cơ sở, là thước

đo chuẩn để so sánh, đối chiếu với số liệu thực tế đạt được của doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán quán trị Thông tin trên dự toán ngân sách là cơ

sở để kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch

Chức năng tố chức và điều hành: Vai trò này của dự toán ngân sách

thề hiện ở việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, thể hiện ở dự toán ngân sách là văn bản cụ thể, súc tích truyền đạt các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến các nhà quản lý các bộ phận, phòng ban

1.2.3 Hệ thống đánh giá thành quả trong doanh nghiệp

Trước năm 1900, các công ty kinh doanh đều sử dụng chi tiêu lợi nhuận hoạt động để đánh giá thành quả của các bộ phận Vào năm 1903, khi công ty

Ngày đăng: 11/08/2021, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w