Để hoàn thành kế hoạch được giao hàng năm, yêu cầu đơn vị phải thật sự năng động, sáng tạo và một cơ chế quản lý tốt, đặc biệt là công tác quản lý tài chính, thực hiện tốt công tác kiểm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN VĂN TOÀN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN,
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Quy Nhơn, Tác
giả đã hoàn thành luận văn trình độ Thạc sỹ với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất nhiều của tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, Cô trong phòng Sau đại học, khoa Kinh tế - Kế toán Trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu
Có được thành quả này, cho phép tác giả được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô đã đem hết tâm huyết của mình để truyền đạt những kiến thức quý
báu trong suốt thời gian vừa qua; Và đặc biệt là PGS.TS Hà Xuân Thạch – người
Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp trong cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, gia đình, bạn bè, người thân đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Toàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn: Nguyễn Văn Toàn, học viên lớp Cao học khóa 21 (2018 2020), ngành Kế toán, Trường Đại học Quy Nhơn, xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
-Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn tại đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Xuân Thạch Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Luận văn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu về kiểm soát nội
bộ tại Việt Nam và trên thế giới Các tài liệu tham khảo để thực hiện luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng
Bình Định, ngày 26 tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
6 Dự kiến đóng góp mới của đề tài 5
7 Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 7
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển lý thuyết KSNB 7
1.1.2 Định nghĩa và mục tiêu của hệ thống KSNB 10
1.1.3 Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB 12
1.1.4 Mối quan hệ của hệ thống KSNB trong tổ chức quản trị đơn vị 13
1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 14
1.2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển hệ thống KSNB trong đơn vị sự nghiệp 14
1.2.2 Khái niệm và nội dung cơ bản của hệ thống KSNB trong đơn vị sự nghiệp 15
Trang 51.3 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 26
1.3.1 Hoạt động thu Bảo hiểm xã hội 26
1.3.2 Hoạt động chi Bảo hiểm xã hội 30
1.4 KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI CÁC HOẠT CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP HUYỆN 31
1.4.1 Môi trường kiểm soát 32
1.4.2 Đánh giá rủi ro 34
1.4.3 Hoạt động kiểm soát 35
1.4.4 Thông tin và truyền thông 36
1.4.5 Hoạt động giám sát 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 39
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 39
2.1.1.Giới thiệu khái quát quá trình hình thành và phát triển 39
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 39
2.1.3 Hệ thống và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 42
2.1.4 Mối quan hệ giữa các bộ phận: 46
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THU THẬP SỐ LIỆU TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 47
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu luận văn 47
2.2.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 47
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HIỆN NAY TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 49
2.3.1 Đánh giá thực trạng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện hệ thống KSNB tại Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 49
2.3.2 Đánh giá hệ thống KSNB thông qua phiếu khảo sát 51
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 76 3.1 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN 76
3.1.1 Quan điểm Kế thừa có chọn lọc 76
3.1.2 Quan điểm ứng dụng CNTT vào hệ thống KSNB 76
3.1.3 Quan điểm lợi ích lớn hơn chi phí 77
3.1.4 Quan điểm hội nhập 77
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH HỆ THỒNG KSNB 78
3.2.1 Cải thiện môi trường kiểm soát 78
3.2.2 Hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro 81
3.2.3 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát 82
3.2.4 Các giải pháp về thông tin và truyền thông 84
3.2.5 Hoàn thiện công tác giám sát 85
3.3 KIẾN NGHỊ VỚI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN HOÀI NHƠN 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN CHUNG 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI ( Bản sao )
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AICPA Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
COSO Uỷ ban các tổ chức tài trợ của Ủy ban Treadway (The
Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission)
CCVC Công chức viên chức
CSXH Chính sách xã hội
KSNB Kiểm soát nội bộ
INTOSAI Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mô tả chung về đối tượng khảo sát 48
Bảng 2.2 Tỷ lệ đồng ý đối với thành phần môi trường kiểm soát 52
Bảng 2.3 Tỷ lệ đồng ý đối với thành phần đánh giá rủi ro 56
Bảng 2.4 Tỷ lệ đồng ý đối với thành phần hoạt động kiểm soát 61
Bảng 2.5 Tỷ lệ đồng ý đối với thành phần thông tin và truyền thông 63
Bảng 2.6 Bảng thống kê trả lời đối với thành phần hoạt động giám sát như sau:67 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn 47
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là chính sách trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT nhằm đảm bảo an sinh xã hội góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Là đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Định, thực hiện việc quản lý thu và chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn Trong bối cảnh hiện nay, chính sách BHXH, BHYT được mở rộng nhiều đối tượng tham gia vì thế số lượng tham gia BHXH, BHYT ngày càng đông Vì vậy việc quản lý nguồn thu này một cách có hiệu quả luôn được lãnh đạo đơn vị quan tâm sát sao và kịp thời
Bên cạnh việc quản lý nguồn thu thì việc quản lý và chi trả chi trả các chế BHXH, BHYT cũng không kém phần quan trọng Việc thu đúng, thu đủ các khoản tiền của tham gia và người sử dụng lao động, chi đúng, chi đủ, chi kịp thời các chế độ BHXH, BHYT cho các đối tượng thụ hưởng, góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả và thực sự đi vào đời sống nhân dân
Để hoàn thành kế hoạch được giao hàng năm, yêu cầu đơn vị phải thật
sự năng động, sáng tạo và một cơ chế quản lý tốt, đặc biệt là công tác quản lý tài chính, thực hiện tốt công tác kiểm soát nội bộ (KSNB) để phòng ngừa rủi
ro, đảm bảo các hoạt động của đơn vị định hướng theo đúng mục tiêu, đạt hiệu quả cao nhất
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tại Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, một số bộ phận còn bộc lộ một số hạn chế trong công tác chuyên môn, cũng như không kiểm soát được hiệu quả các khoản thu và nội dung các khoản chi theo quy định… Nguyên nhân một phần là do hệ
Trang 102
thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị chưa được chú trọng, chưa đồng bộ, trong khi đó hệ thống chính sách pháp luật thường xuyên thay đổi để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của ngành
Do đó việc xây dựng hệ thống KSNB dựa trên cơ sở lý thuyết hiện đại
về KSNB, cách vận dụng hoàn thiện hệ thống KSNB trong lĩnh vực công là cần thiết
Từ những nguyên nhân trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” nhằm nghiên
cứu ứng dụng cơ sở lý luận KSNB hiện đại trong lĩnh vực công vào công tác
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Nghiên cứu của Luận văn là hệ thống KSNB trong đơn vị công
Trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
- Về lý luận:
Dựa trên khuôn khổ báo cáo KSNB của COSO (2013), hướng dẫn KSNB khu vực công của INTOSAI năm 2013 và các văn bản pháp quy liên
Trang 113
quan đến nội dung KSNB Hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến KSNB,
đặc biệt là KSNB trong lĩnh vực công
- Về thực trạng và giải pháp hoàn thiện:
Nghiên cứu các văn bản pháp quy như Luật BHXH, Luật BHYT, Nội quy, Quy chế, Báo cáo của Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Quan sát, tìm hiểu thực tế tổ chức hệ thống KSNB của Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Chủ yếu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và thống kê mô tả để nghiên cứu Tổng hợp số liệu có liên quan đến các yếu tố KSNB tại đơn vị trong giai đoạn 2017 – 2019, đặc biệt là thông qua các khoản thu – chi BHXH, BHYT Từ đó phân tích các chỉ tiêu đánh giá cần thiết theo mục tiêu của đề tài, đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB cho đơn vị
Lập bảng khảo sát, thăm dò ý kiến của các đối tượng trực tiếp quản lý đối với tài chính, kế toán tại đơn vị để hoàn thiện hệ thống KSNB tại đơn vị,
từ đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tổng hợp phân tích đánh giá dữ liệu thu thập được từ bảng câu hỏi một cách hiệu quả nhất
5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thời gian qua đã có nhiều bài viết, luận văn nghiên cứu về KSNB ở khu vực công Các tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá những điểm mạnh, điểm còn thiếu sót trong vấn đề KSNB ở các đơn vị sự nghiệp, đồng thời đề
ra một số các giải pháp nhằm đạt được hiệu quả của hệ thống KSNB, cụ thể:
- “Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực ngoài quốc doanh ở Việt Nam”, đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Quốc Túy, Ban Tuyên truyền - Bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo vệ năm 2000 Đề tài nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 1995 đến năm 2000, làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu trong khu vực này; thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình
Trang 124 quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam
- “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam”, đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Chính, bảo vệ năm
2010 Đề tài chỉ nêu chú trọng trong nghiệp vụ chi trả chế độ BHXH và công tác tổ chức thực hiện, chưa nêu lên được hệ thống KSNB trong việc kiểm soát tính hữu hiệu trong việc chi trả các chế độ BHXH
- “Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Định”, đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Năm, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Định, bảo vệ năm 2012 Đề tài đã vận dụng các cơ sở lý luận chung về KSNB hiện đại của các nước trên thế giới áp dụng là Báo cáo COSO 1992, hướng dẫn của INTOSAI 1992 để áp dụng vào đơn vị sự nghiệp công nói chung và hệ thống ngành BHXH để kiểm soát nguồn thu BHXH, BHYT, BHTN Từ đó đi sâu vào thực trạng công tác kiểm soát thu BHXH, BHYT, BHTN tại BHXH tỉnh Bình Định giai đoạn từ năm 2008 đến năm
2011 và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thu BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Định
-“Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai”, đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Ngọc Tuấn, bảo vệ năm 2013 Đề tài nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân từ năm 2013 đến năm 2020, làm rõ thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn về quả thu trong khu vực này; thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai
-“Hệ thống kiểm soát nội bộ Bảo hiểm xã hội TP Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”, đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Thị Bích Ngọc, bảo vệ năm 2013 Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo Báo cáo COSO 1992 và hướng dẫn của INTOSAI 1992 và được cập nhật năm
Trang 135
2001, tác giả đã thực hiện việc khảo thực tế công tác quản lý thu, chi chế độ BHXH tại BHXH TP Hồ Chí Minh và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB cho BHXH TP Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Qua tham khảo, tổng quan nghiên cứu các đề tài trên có một số điểm tương đồng trong nội dung và thống nhất trong lý luận, đó là:
+ Các nghiên cứu đều tập trung làm rõ khái niệm về KSNB, các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB, những hạn chế vốn có của hệ thống KSNB, xác định mục tiêu của KSNB, những nhân tố ảnh hưởng đến việc thiết kế, vận hành hệ thống KSNB
+ Nêu ra được những bất cập, thiếu sót của hệ thống văn bản pháp quy
Mỗi Luận văn đi vào những lĩnh vực, loại hình đơn vị sự nghiệp khác nhau, việc tham khảo các Luận văn trên là rất hữu ích để tác giả tích lũy thêm được kinh nghiệm, học được những cơ sở lý luận hay và rút ra được những điểm thiếu sót liên quan đến nội dung KSNB mà tác giả mong muốn tìm hiểu trong quá trình thực hiện luận văn của mình
6 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá thực trạng hệ thống KSNB Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn trong giai đoạn năm 2017 – 2019 một cách trung thực
- Các giải pháp để hoàn thiện hệ thống KSNB tại Bảo hiểm xã hội huyện Hoài Nhơn trên cơ sở lý luận một cách khoa học, giúp đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn
Trang 14Chương 2 Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội
huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã
hội huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 157
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển lý thuyết KSNB
Trong một quy trình quản trị thì kiểm soát là khâu vô cùng quan trọng,
do đó các nhà quản trị thường quan tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lý trong thời gian qua, khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần để trở thành hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, quản lý, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên
mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức
Để thực hiện tốt chức năng của mình, các nhà quản trị đã sử dụng công cụ chủ yếu là KSNB
Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 khái niệm KSNB được sử dụng trong các tài liệu về kiểm toán Trên thế giới các công ty kiểm toán xuất hiện đầu tiên đều có nguồn gốc từ Anh quốc, rồi lan rộng sang các quốc gia khác trong những năm cuối thế kỷ 19
Tại Việt Nam Kiểm toán chính thức xuất hiện từ giữa năm 1991 dưới hình thức các công ty kiểm toán độc lập, đến năm 1994 với Kiểm toán Nhà nước và đến cuối năm 1997 với sự hiện diện của Kiểm toán nội bộ
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu bằng cuộc cách mạng công nghiệp Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ
đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ bắt đầu từ giai đoạn này
Trang 168 Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA - American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
Tuy nhiên trên thực tế, vào năm 1949, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức
để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”
Đến năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán SAP 29 (SAP - Statement on Auditing Procedure) về “Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập” trong đó lần đầu tiên phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán
Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán 33 (SAP 33) nhằm làm rõ khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý
Vào những thập niên 1970 - 1980, nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, số lượng các công ty tăng nhanh, công tác KSNB được quan tâm Vào năm 1977, Luật về chống hối lộ nước ngoài ( Foreign Corrrupt Practices act ) ra đời, các báo cáo của Cohen Commission và Financial Executive Institute (FEI ) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống
kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ ( SEC ) cũng đưa ra các điều
Trang 179
luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ ( AICPA ) đã thành lập một ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn
về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (thuờng gọi là Ủy ban Treadway) được thành lập năm 1985 Báo cáo về các quan sát và khuyến nghị của Ủy ban Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau liên quan đến KSNB, do vậy cần có một tổ chức để nghiên cứu về KSNB, nhằm thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu, và đưa ra hướng dẫn nhằm giảm
đi sự khác biệt về quan điểm Vì thế Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organizations) được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp là: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA - Amercican Accouting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI - Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA - Institute of Internal Auditors) nhằm nghiên cứu về KSNB
Báo cáo của COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB và dùng từ KSNB thay vì kiểm soát nội bộ kế toán Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho tất cả các phương diện hoạt động và tuân thủ Báo cáo của COSO 1992 tuy chưa thật sự hoàn chỉnh
Trang 1810 nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB Sau đó, hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời COSO phát triển về phía quản trị, phát triển cho doanh nghiệp nhỏ, phát triển theo hướng công nghệ thông tin, phát triển theo hướng kiểm toán độc lập, phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ, phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB
1.1.2 Định nghĩa và mục tiêu của hệ thống KSNB
Theo Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (thành lập năm 1985 theo đề xuất, thống nhất của năm tổ chức: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, Hội Kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội các nhà quản trị tài chính, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ và Hiệp hội kế toán viên quản trị) “KSNB là hoạt động có hiệu lực theo quyết định của các nhà lãnh đạo, quản lý và các cá nhân trong tổ chức, nhằm cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu liên quan tới tính hiệu quả
và hiệu lực trong vận hành của tổ chức, độ tin cậy của việc báo cáo tài chính,
sự phù hợp với các quy tắc và quy định pháp luật”
Tại Việt Nam, theo Kiểm toán Nhà nước “KSNB là một chức năng của quản lý, trong phạm vi đơn vị cơ sở, KSNB là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu của quá trình quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động đúng luật pháp và đạt được các kế hoạch, mục tiêu đề ra với hiệu quả kinh tế cao nhất và đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính” Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 đưa ra khái niệm “KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, và các thủ tục
Trang 1911 kiểm soát”
Theo Báo cáo của COSO năm 1992 được công bố dưới tiêu đề KSNB
đã định nghĩa về KSNB như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định
Theo định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: KSNB là một quá trình; con người; đảm bảo hợp lý và các mục tiêu
Về KSNB là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua lập kế hoạch, thực hiện và giám sát Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này
Về con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên trong đơn vị, nó là công cụ phục vụ cho nhà quản lý
Về tính đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối
Các mục tiêu: Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm sau:
Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn nhân lực
Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp
Trang 2012 Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định
- Hệ thống kiểm soát nội bộ thường bị xem xét trong mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra với lợi ích đem lại
- Các thủ tục kiểm soát này thường tác động đến những nghiệp vụ xảy
ra thường xuyên mà ít có tác động với những nghiệp vụ bất thường
- Hệ thống kiểm soát nội bộ thường chỉ đặt ra các thủ tục kiểm soát bên
Trang 2113 trong đơn vị mà ít có tác động đối với các nghiệp vụ bên ngoài đơn vị
- Các thủ tục kiểm soát thường dễ bị lạc hậu theo thời gian vì có sự đối phó của người bị kiểm soát
1.1.4 Mối quan hệ của hệ thống KSNB trong tổ chức quản trị đơn vị
Hệ thống KSNB và tổ chức quản trị rủi ro trong đơn vị có mối quan hệ
hỗ trợ lẫn nhau, điều đó được thể hiện:
Một là, hệ thống KSNB được xây dựng và áp dụng nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra gây nên những ảnh hưởng bất lợi tới các
mục tiêu kiểm soát Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách và thủ tục
kiểm soát do nhà quản lý xây dựng và áp dụng nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của đơn vị: đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và các quy định; đảm bảo sự tin cậy của BCTC; bảo vệ tài sản và đảm bảo hiệu quả của hoạt động Trong quá trình hoạt động của đơn vị luôn tiềm ẩn các rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu của đơn vị Vì vậy, để đạt được các mục tiêu kiểm soát đã đặt ra, hệ thống KSNB trước hết phải được thiết lập nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi
ro có thể xảy ra Hay nói một cách khác, xây dựng hệ thống KSNB phải hướng đến kiểm soát rủi ro trong đơn vị Đây cũng chính là mục tiêu của quản trị rủi ro hiện đại Bất kỳ hệ thống xử lý rủi ro nào cũng cần phải xây dựng hệ thống KSNB hiệu quả Tuy nhiên, dù hệ thống KSNB được thiết lập và vận hành hiệu quả thì cũng không thể tránh được mọi rủi ro, vì vậy các phương thức quản trị rủi ro cần thiết khác vẫn có thể phải được sử dụng
Hai là, hệ thống KSNB được xây dựng trên cơ sở nhận diện và phân tích rủi ro phát sinh trong hoạt động của đơn vị Với mỗi mục tiêu kiểm soát
có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi do một hoặc nhiều rủi ro gây ra và một rủi ro có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến một hoặc nhiều mục tiêu kiểm soát Mỗi đơn vị khác nhau do có sự khác biệt về hình thức pháp lý, ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh, quy mô các nguồn lực, trình độ ứng dụng
Trang 2214 khoa học kỹ thuật, trình độ, năng lực của cán bộ quản lý, cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý, dẫn đến các loại rủi ro có thể xảy ra khác nhau Để ngăn ngừa
và giảm thiểu đối với mỗi loại rủi ro nhà quản lý tại mỗi đơn vị sẽ phải thiết lập những chính sách và thủ tục kiểm soát phù hợp Tuy nhiên, nếu nhà quản
lý tại mỗi đơn vị không có hiểu biết đầy đủ, chính xác, kịp thời về các loại rủi ro có thể ảnh hưởng đến từng mục tiêu kiểm soát thì các chính sách và thủ tục kiểm soát được xây dựng sẽ không phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý Quản trị rủi ro trong đơn vị tốt sẽ giúp nhận diện đầy đủ các loại rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng bất lợi đến mục tiêu kiểm soát, các nhân tố phát sinh rủi ro, các yếu tố có thể sai sót và gian lận, các loại tổn thất, cũng như tần xuất và mức độ nghiêm trọng mà rủi ro gây ra cho đơn vị Đây là cơ sở quan trọng để các cấp quản lý đơn vị xây dựng, áp dụng một hệ thống KSNB hiệu quả Trong quá trình hoạt động của mỗi đơn vị do môi trường bên trong và môi trường bên ngoài luôn thay đổi nên các nguồn phát sinh rủi ro cũng thay đổi theo Vì vậy, các chính sách và thủ tục kiểm soát phải thường xuyên được
rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung kịp thời, tránh bị lạc hậu so với sự biến động của các nhân tố gây nên rủi ro
1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1.2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển hệ thống KSNB trong đơn vị
sự nghiệp
Theo chuẩn mực kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ ( United States General Accounting Office – GAO ) năm 1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp, và cũng đưa ra 5
bộ phận của hệ thống KSNB như báo cáo COSO 1992
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao ( International Organization of Supreme Audit Institutions – INTOSAI ) ban hành bao gồm quy tắt đạo đức nghề nghiệp và
Trang 2315 chuẩn mực kiểm toán
Năm 1996, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI ( trang Website: www.kiemtoanvn.gov.vn ) và đến năm 1997, Việt Nam tham gia Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao châu Á ( Asian Organization of Supreme Audit Institutions – ASOSAI ), tổ chức này thành lập năm 1979 với 11 thành viên ban đầu, hiện nay có 46 thành viên, từ tháng 10/2009 Việt Nam là thành viên Ban điều hành của tổ chức này nhiệm
kỳ 2009 - 2012 (theo Tạp chí Kế toán và kiểm toán, tháng 8/2011)
Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB và nhất là tài liệu này đã trình bày những vấn
đề đặc thù về khu vực công Điều lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của Báo cáo COSO 1992
1.2.2 Khái niệm và nội dung cơ bản của hệ thống KSNB trong đơn vị sự nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Năm 2001, INTOSAI trình bày định nghĩa về KSNB như sau: “ KSNB
là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức” Sau đây là những mục tiêu cần đạt được:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp;
- Thực hiện đúng trách nhiệm;
- Tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định;
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất
Trang 2416
So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn, sự phát hiện sự gian lận và tham nhũng trong khu vực công
1.2.2.2 Nội dung cơ bản của hệ thống KSNB trong đơn vị sự nghiệp
Cũng như Báo cáo COSO 1992, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của KSNB bao gồm: môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông và giám sát Tuy nhiên giữa 2 báo cáo COSO và hướng dẫn của INTOSAI có những khác biệt về chi tiết
Năm 2013, Intosai đã cập nhật Intosai 1992, căn cứ vào cập nhật của Coso 2013, Intosai 2013 cũng đưa vào vận dụng 17 nguyên tắc để tổ chức KSNB đơn vị công hiệu quả hơn Cu thể nội dung Intosai 2013 như sau:
* Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu tổ chức Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
- Sự liêm chính và giá trị đạo đức cá nhân, chuyên môn của nhà lãnh đạo và của đội ngũ nhân viên:
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ Tinh thần tôn trọng đạo đức thể hiện qua tất cả các cá nhân, mọi cá nhân phải tuân thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của cán bộ công chức nhà nước
Trang 2517 Thái độ và cách điều hành của người quản lý, quyết định giọng điệu ( tone ) của toàn bộ tổ chức trong việc thiết lập các chính sách về kế toán, tài chính của đơn vị; ví dụ như: công khai tài sản, quy chế chi tiêu nội bộ, mang tính công bằng, khách quan, vô tư, không thiên vị,…Đồng thời, phải cho công chúng thấy được tinh thần này trong sứ mệnh và trong tiêu chuẩn đạo đức của
tổ chức thông qua các văn bản chính thức; chẳng hạn như xây dựng giá trị đạo đức trong đơn vị mang tính công bằng, dung hòa các lợi ích, giảm thiểu các yếu tố cơ hội phát sinh các gian lận, tham nhũng
- Năng lực nhân viên:
Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỷ năng làm việc cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu qủa và hữu hiệu, cũng như có một sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản than trong việc thiết lập hệ thống KSNB
Lãnh đạo và nhân viên phải duy trì một trình độ đủ để hiểu được việc xây dựng thực hiện, duy trì của KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của
họ trong việc thực hiện sứ mệnh chung của tổ chức Mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ một vai trò trong hệ thống KSNB, bởi đó là trách nhiệm của họ
Lãnh đạo và nhân viên cũng cần có những kỹ năng cần thiết để đánh giá các rủi ro Việc đánh giá rủi ro đảm bảo hoàn thành trách nhiệm của họ trong tổ chức
Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thanh viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc
- Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo:
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của nhà lãnh đạo khi điều hành Nếu nhà lãnh đạo cấp cao cho rằng
Trang 2618 KSNB là quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ cảm nhận được điều đó và sẽ tận tâm xây dựng hệ thống KSNB Tinh thần này biểu hiện ra thành những quy định, đạo đức, ứng xử trong cơ quan Thí dụ như việc xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ trong KSNB thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo đến KSNB
Ngược lại nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan trọng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB Kết quả
là KSNB chỉ còn là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị không còn đạt được như mong muốn
- Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức bao gồm:
+ Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo Mỗi cấp quản lý ý thức được quyền hạn của mình tới đâu
+ Hệ thống báo cáo phù hợp với đơn vị, thiết lập quy trình báo cáo kịp thời, kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra
Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, được tổ chức độc lập đối với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong cơ quan
ra quyết định tuyển dụng nhân viên phải đảm bảo được về tư cách đạo đức
Trang 2719 cũng như kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao
Nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên khuyến khích bằng các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể Bên cạnh đó, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi
vi phạm phải được các nhà lãnh đạo quan tâm
* Đánh giá rủi ro
KSNB phục vụ để đạt mục tiêu tổ chức, việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng vì nó ghi nhận các sự kiện quan trọng đe dọa đến mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị
Phân tích đánh giá rủi ro này để thu hẹp những rủi ro chủ yếu mà thôi Việc nhận dạng rủi ro chủ yếu hết sức quan trọng, không chỉ vì nó liên quan đến những đe dọa của rủi ro mà còn liên quan đến sự phân chia trách nhiệm
và nguồn lực đối phó rủi ro
Đánh giá rủi ro bao gồm quá trình nhận dạng và phân tích các rủi ro một cách thích hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức và xác định biện pháp
xử lý phù hợp
+ Nhận dạng rủi ro
Nhận dạng rủi ro bao gồm rủi ro từ bên ngoài và bên trong, rủi ro ở cấp toàn đơn vị và từng hoạt động, rủi ro được xem xét liên tục trong suốt quá trình hoạt động của đơn vị
Liên quan đến khu vực công, các cơ quan Nhà nước phải quản trị rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu giao phó, bao gồm cả các chỉ tiêu được giao trong kế hoạch của đơn vị
+ Đánh giá rủi ro
Để kiểm soát được rủi ro, vấn đề quan trọng không chỉ là nhận ra các rủi ro tồn tại, mà còn là đánh giá tầm quan trọng, tác hại mà rủi ro gây ra và
Trang 2820 khả năng xảy ra rủi ro
Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống Thí dụ phải xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ phân bổ nguồn lực đối phó rủi ro
+ Phát triển các biện pháp đối phó
Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro như: Phân tán rủi ro, chấp nhận rủi
ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Trong phần lớn các trường hợp rủi
ro phải được xử lý hạn chế và đơn vị duy trì KSNB để có biện pháp thích hợp Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích
và chi phí nhưng nếu nhận dạng được và đánh giá được rủi ro thì có sự chuẩn
bị tốt hơn
Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của Nhà nước, công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên thường xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ
* Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi
ro và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị
Để đạt được hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa các thời kỳ, có hiệu quả, dễ hiểu được, đáng tin cậy và liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát
Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các chức năng Hoạt động kiểm soát bao gồm các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro
Cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thông thường
là phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các
Trang 2921 thủ tục kiểm soát
+ Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền theo trách nhiệm và phạm vi của họ Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn của người lãnh đạo Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và công bố rõ ràng, phải bao gồm những điều kiện cụ thể
Tuân thủ những quy định chi tiết của sự ủy quyền nói trên, nhân viên thực hành đúng theo hướng dẫn, trong giới hạn được quy định của người lãnh đạo và luật pháp
+ Phân chia trách nhiệm
Để giảm rủi ro về việc sai sót, lãng phí, những hành động cố ý làm sai, gian lận và rủi ro không ngăn ngừa được thì không một bộ phận hay cá nhân nào được giao một công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc Trách nhiệm phải được giao một cách có hệ thống cho từng cá nhân để đảm bảo sự kiểm tra có hiệu quả Năm trách nhiệm chủ yếu bao gồm ủy quyền, phê chuẩn, ghi chép, xử lý và đánh giá các nghiệp vụ Tuy nhiên, cần lưu ý sự thông đồng sẽ làm giảm hoặc phá hủy sự hữu hiệu của KSNB
Trong một số trường hợp đơn vị có quy mô nhỏ, có quá ít nhân viên để thực hiện việc phân chia phân nhiệm Khi đó, nhà lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và bù đắp bằng những biện pháp kiểm soát khác như sự luân chuyển nhân viên Sự luân chuyển nhân viên đảm bảo rằng một người không
xử lý mọi mặt nghiệp vụ trong một thời gian dài Cũng như, việc khuyến khích và yêu cầu nhân viên thực hiện những ngày nghỉ hàng năm cũng giúp giảm rủi ro bằng cách đem lại sự luân chuyển nhân viên tạm thời
+ Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và sổ sách
Trang 3022 Việc tiếp cận tài sản và sổ sách phải được giới hạn trong những cá nhân
mà họ được giao trách nhiệm bảo quản hoặc sử dụng tài sản Trách nhiệm của người bảo quản tài sản thể hiện qua chứng từ, hàng tồn kho, ghi chép sổ sách Hạn chế việc tiếp cận tài sản làm giảm rủi ro lạm dụng hoặc làm thất thoát tài sản của Nhà nước Mức độ giới hạn tùy thuộc vào rủi ro thất thoát tài sản Mức độ giới hạn phải được xem xét định kỳ
+ Kiểm tra
Các nghiệp vụ và sự kiện phải được kiểm tra trước và sau khi xử lý Thí dụ, khi xác định số thu của từng đối tượng tham gia BHXH, BHYT thì căn cứ vào số tiền đã nộp vào quỹ BHXH, BHYT trên cơ sở các sổ theo dõi
thu của cán bộ quản lý thu
+ Đối chiếu
Sổ sách được đối chiếu với các chứng từ thích hợp một cách định kỳ Thí dụ, sổ sách ghi chép tiền gửi ngân hàng đối chiếu với sổ phụ ngân hàng
+ Rà soát việc thực hiện các hoạt động
Việc thực hiện các hoạt động được rà soát dựa trên một loạt các chuẩn mực nguyên tắc cơ bản, đánh giá hiệu quả và tính hữu hiệu Nếu sự rà soát cho thấy rằng các hoạt động thực hiện không phù hợp với mục tiêu của tổ chức hoặc các tiêu chuẩn, thì quy trình thực hiện để đạt các mục tiêu cần phải
rà soát lại để đưa ra cải tiến cần thiết
+ Rà soát sự điều hành, xử lý và hoạt động
Việc điều hành, xử lý và hoạt động nên được rà soát định kỳ để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc, chính sách, thủ tục và những đòi hỏi hiện hành khác
+ Giám sát nhân viên (giao việc, soát xét và chấp thuận, hướng dẫn và huấn luyện)
Việc giám sát kỹ càng giúp việc đảm bảo rằng mục tiêu của việc tổ
Trang 3123 chức sẽ được thực hiện Sự giao việc, soát xét và chấp thuận công việc của nhân viên bao gồm:
- Sự thông báo rõ ràng, nghĩa vụ, trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm giao cho mỗi thành viên
- Đánh giá một cách hệ thống công việc của mỗi thành viên trong phạm
*Thông tin truyền thông
Thông tin và truyền thông là rất cần thiết phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu của KSNB
+ Thông tin
Điều kiện đầu tiên đảm bảo thông tin thích hợp và đáng tin cậy là thông tin phải được ghi chép kịp thời, phân loại đúng đắn các nghiệp vụ và sự kiện, được chuyển đi dưới những biểu mẫu và lộ trình bảo đảm nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB Do đó, hệ thống KSNB đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phải lập các chứng từ đầy đủ Khả năng ra quyết định của các nhà lãnh đạo bị ảnh hưởng bởi chất lượng của những thông tin như tính thích hợp, tính kịp thời, cập nhật, chính xác và có thể sử dụng được
Một hệ thống thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về hoạt động tài chính kế toán theo chế độ kế toán của Bộ Tài chính, những vấn đề tuân thủ
hỗ trợ cho việc điều hành và kiểm soát những hoạt động Nó không chỉ bao
Trang 32Các cá nhân nhận được thông báo rõ ràng từ nhà lãnh đạo về trách nhiệm của bản thân họ trong KSNB Họ phải hiểu được vai trò của bản thân đối với hệ thống KSNB, đối với các thành viên khác trong tổ chức Ngoài ra, cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài tổ chức
* Giám sát
Hệ thống KSNB cần được giám sát để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống qua thời gian Những khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được phát hiện kịp thời để có biện pháp khắc phục càng sớm cáng tốt
Việc giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai
+ Giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên KSNB được thiết lập cho những hoạt động thông thường và lặp lại của tổ chức Bao gồm cả những hoạt động giám sát và quản lý mang tính chất định kỳ ngay trong quá trình thực hiện của các nhân viên trong công việc hàng ngày Giám sát thường xuyên được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB và liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện tất
cả những hiện tương vi phạm luật pháp, không tiết kiệm, không hiệu quả của
hệ thống
+ Giám sát định kỳ:
Phạm vi và tầng suất giám sát định kỳ phụ thuộc vào sự đánh giá mức
độ rủi ro và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên Giám sát định kỳ
Trang 3325
bao phủ toàn bộ sự đánh giá, sự hữu hiệu của hệ thống KSNB và đảm bảo KSNB đạt kết quả như mong muốn dựa trên các phương pháp và thủ tục kiểm soát
Những yếu kém của hệ thống KSNB phải được thông báo cho lãnh đạo cấp trên Giám sát này bao gồm cả việc xem xét các phát hiện kiểm toán và các kiến nghị của kiểm toán viên để chúng thực hiện được trong thực tế một cách hữu hiệu
Ngày nay, việc thiết lập một hệ thống KSNB hợp lý và hiệu quả là một vấn đề khá phức tạp và thường chưa được chú trọng đúng mức, đặc biệt là đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp có sử dụng kinh phí NSNN Trong quá trình hoạt động quản lý sử dụng kinh phí và các nguồn lực khác, đơn vị tuân theo các quy định của pháp luật, các chính sách, chế độ, định mức và các quy định nội bộ của đơn vị , để quản lý và kiểm soát quá trình sử dụng kinh phí, tài sản Tuy nhiên, các quy định, thủ tục quản lý và kiểm soát còn mang tính phân tán, chưa được tập trung, phân loại và đánh giá có hệ thống theo các chuẩn mực và nguyên tắc hợp lý
Việc tổ chức và duy trì hệ thống KSNB hiệu lực, hiệu quả là trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị và nhằm phục vụ cho quản lý của chính thủ trưởng đơn vị, mà nội dung cơ bản nhất là người lãnh đạo phải có trách nhiệm tạo ra môi trường kiểm soát thích hợp
Sự chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải thay đổi các cơ chế chính sách về tài chính và ngân sách Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp
có thu và sau đó là Nghị định 43/2006/NĐ - CP ngày 24/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập được
Trang 3426 ban hành là một trong những bước đổi mới trong tiến trình cải cách nền kinh
tế của đất nước với mục tiêu: đổi mới cơ chế quản lý biên chế và kinh phí đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu; tăng quyền tự chủ cho các đơn vị
và nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ công Các đơn vị sự nghiệp công đều hoạt động dựa vào ngân sách cấp với các khoản chi tiêu phải tiết kiệm, phù hợp với dự toán và tình hình thực tế Điều đó có nghĩa là cần tìm các biện pháp giảm bớt chi phí hành chính, quản lý rủi ro, đổi mới hoạt động sao cho kinh tế và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, công tác kiểm tra tài chính cũng được đẩy mạnh với mục tiêu xoá bỏ mọi hành vi gian lận, lãng phí và lành mạnh hoá các quan hệ tài chính trong các đơn vị này Những đòi hỏi khách quan và bức xúc nêu trên đã làm tiền đề cho việc thiết lập hệ thống KSNB trong các tổ chức sự nghiệp công và công tác kiểm tra, kiểm soát cần được thực hiện độc lập, có tổ chức, liên tục trong mọi giai đoạn hoạt động
1.3 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trong tất cả các hoạt động của bảo hiểm xã hội thì thu, chi bảo hiểm xã hội là hai hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
1.3.1 Hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, nghĩa
là nghĩa là phải có số đông người tham gia đóng bảo hiểm xã hội để trợ giúp
số ít người không may bị rủi ro ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp đây chính là sự tương trợ cộng đồng mang tính nhân văn sâu sắc, đồng thời là sự điều tiết về tài chính bảo đảm cho an sinh xã hội
- Nguyên tắc hoạt động của BHXH, BHYT là đóng - hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro
- Mọi người dân sống và làm việc trên đất nước Việt Nam đều được quyền chăm sóc sức khỏe, được khám chữa bệnh Khoản tiền chi cho việc chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh người dân phải có trách nhiệm đóng góp
Trang 3527 theo luật định
Nhìn chung quỹ BHXH ở các nước được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau ( Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội):
- Thu từ tài trợ-viện trợ;
- Thu từ lãi đầu tư phát triển quỹ BHXH, BHYT, BHTN;
- Và các nguồn thu hợp pháp khác
Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp của các đối tượng ở mỗi nước thì lại không giống nhau, mà tùy vào hoàn cảnh, điều kiện, chính sách xã hội (CSXH) và quan điểm của mỗi nước Về phần đóng góp của người sử dụng lao động thường được tính trên cơ sở số lượng lao động thuê mướn trong doanh nghiệp Tỷ lệ trích nộp được pháp luật quy định Tỷ lệ này được tính theo một mức trên tổng quỹ lương
Bên cạnh sự đóng góp chủ yếu của người sử dụng lao động và người lao động vào Quỹ BHXH, Nhà nước ở những nước có nền kinh tế thị trường cũng luôn hỗ trợ quỹ khi các khoản đóng góp của hai đối tượng trên không đủ đáp ứng chi tiêu của quỹ hoặc khi có sự biến động khủng hoảng làm cho quỹ
bị thâm hụt Nguồn bù đắp thiếu hụt quỹ BHXH ở các nước được lấy từ thuế theo những tỷ lệ và mức khác nhau
Theo đánh giá chung, trong ba nguồn đóng góp thì nguồn chủ yếu là nguồn đóng góp từ người sử dụng lao động Tỷ lệ đóng góp ở mỗi nước rất khác nhau, các tỷ lệ đó có thể thích hợp với nước này, song cũng có thể
Trang 3628 không thể chấp nhận ở nước khác Vì vậy tỷ lệ đóng góp của mỗi bên, ở mỗi quốc gia xuất phát từ nhiều cơ sở như: kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử của chính quốc gia đó Vì thế, cơ chế hình thành quỹ BHXH ở các nước cũng khác nhau Nói chung, ở những nước có nền kinh tế phát triển như Đức, Ý, Mỹ…thì áp dụng cơ chế tự thu tự chi, thu trong năm chủ yếu chi hết trong năm Còn các nước kinh tế đang phát triển thì nói chung áp dụng cơ chế tạo quỹ tích lũy, số dư hàng năm được sử dụng đầu tư tăng trưởng Do cơ chế tạo quỹ khác nhau, nên tỷ lệ đóng góp của ba bên cũng khác nhau
*Rủi ro thu Bảo hiểm xã hội
Việc nhận dạng các rủi ro và đánh giá tầm quan trọng của các rủi ro có thể xảy ra là một bộ phận quan trọng của hệ thống KSNB Không giống như các doanh nghiệp, hoạt động BHXH có các rủi ro chủ yếu được ghi nhận ở hoạt động thu, chi BHXH, BHYT, BHTN Ngoài các rủi ro xuất phát từ năng lực và đạo đức nhân viên BHXH, rủi ro thu không đủ theo số phải thu do các đơn vị sử dụng lao động không cung cấp đầy đủ thông tin của người lao động
và tiền lương hiện hưởng của người lao động đang làm việc trong đơn vị Về rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN thường gồm những trường hợp sau:
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN phát sinh khi không thu được BHXH, BHYT, BHTN từ các đối tượng thuộc diện phải nộp BHXH, BHYT, BHTN nhất là từ người sử dụng lao động ( Không cung cấp đầy đủ thông tin lao động và lao động, chậm nộp chiếm sử dụng )
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn phát sinh trong những trường hợp không thu đủ và đúng mức phải nộp vào quỹ BHXH, BHYT
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn bao gồm từ việc thu chậm trễ
do người nộp không nộp đúng thời gian quy định
- Rủi ro nguồn thu BHXH, BHYT bị mất, do người đi thu BHXH,
Trang 3729 BHYT nộp không đủ ( đại lý thu ), biển thủ số tiền đã thu không nộp đủ và kịp thời vào quỹ theo quy định
Ngoài ra, hoạt động BHXH còn đứng trước rủi ro về mất cân đối chi các quỹ BHXH, BHYT, BHTN Điều này càng đặt ra sự cần thiết của đội ngũ cán bộ CCVC ngành BHXH để sớm có biện pháp khắc phục trong quá trình phát triển của ngành nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Số lượng người tham gia BHXH, BHYT, BHTN ngày càng tăng, vì vậy việc kiểm soát hoạt động thu - chi không thể tránh những sai sót về thông tin cá nhân và quá trình tham gia BHXH dẫn đến việc thu không đúng, không
đủ và ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
*Nguyên nhân khách quan
- Các đơn vị, doanh nghiệp không muốn nộp BHXH, BHYT, BHTN vì
tỷ lệ trích nộp mà doanh nghiệp phải nộp sẽ làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp
- Một số doanh nghiệp có số lượng lao động ít không muốn tham gia đóng BHXH, BHYT, BHTN có thể thấy rằng một số lao động hiện nay vẫn chưa hiểu được lợi ích của việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Từ nguyên nhân trên cho chúng ta thấy rằng việc thông tin và truyền thông, giải thích ý nghĩa của việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN của các cơ quan BHXH và cả hệ thống chính trị là rất quan trọng
*Nguyên nhân chủ quan
- Cơ quan BHXH thiếu hoặc chưa ban hành kịp thời và đầy đủ các nguyên tắc riêng, cơ sở luật pháp riêng thật nghiêm khắc để xử lý việc cố tình nộp không đúng thời hạn quy định, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động
Trang 3830
- Ngoài ra, chúng ta cần phải nhận thấy nguyên nhân xuất phát từ đạo đức của người chịu trách nhiệm quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN Nhân viên có thể thông đồng với các đơn vị nộp BHXH, cho phép họ chậm nộp BHXH để tư lợi
- Kỹ năng làm việc của nhân viên xét duyệt mức đóng BHXH yếu kém, không cập nhật thông tin khi có sự thay đổi về luật pháp, qui định sẽ không xác định đúng mức lương làm căn cứ nộp BHXH của từng đối tượng tham gia BHXH
- Số lượng người tham gia BHXH, BHYT, BHTN rất đông và ngày càng gia tăng, việc kiểm soát thông tin của từng cá nhân rất nhiều khó khăn Khi có sự thay đổi nếu không cập nhật kịp thời sẽ tính toán không đúng số liệu thu – chi BHXH, BHYT, BHTN
Trong thời gian tới, nước ta cũng cần thiết phải mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho người lao động và hoà nhập với quốc tế Song việc lựa chọn, mở rộng chế độ bảo hiểm xã hội phải tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước
1.3.2 Hoạt động chi Bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Như vậy
mục đích chính của BHXH chính là góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Bảo hiểm xã hội mang tính cộng đồng, nhân đạo và nhân văn sâu sắc, BHXH được phát sinh trên mối quan hệ qua lại giữa ba bên: người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan Bảo hiểm xã hội, trách nhiệm quyền hạn, quyền lợi của các bên được luật pháp quy định cụ thể rõ ràng
Trang 3931 Theo Điều 4 Luật BHXH năm 2014 quy định các chế độ BHXH bao gồm:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ: Chế độ ốm đau; chế
độ thai sản; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ
Chi trợ cấp định kỳ thường xuyên, trợ cấp một lần và trợ cấp thất nghiệp bằng tiền mặt và chuyển khoản, nguồn chi từ NSNN và quỹ BHXH đảm bảo
Phương thức chi trả hiện nay là chi trả trực tiếp và gián tiếp, tùy vào hoàn cảnh mà chúng ta lựa chọn để quy định cho phù hợp Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường xuyên trên phạm vi rộng, hiện nay BHXH cũng nghiên cứu và xem xét phương thức thanh toán gián tiếp qua
hệ thống tài khoản Ngân hàng Ưu điểm lớn nhất của phương án này là nhanh chóng và tiết kiệm chi phí
Thu hồi tiền chi sai nếu có căn cứ chính xác, việc làm giả hồ sơ để hưởng trợ cấp BHXH, khi phát hiện được cơ quan BHXH phải ngừng ngay việc thực hiện chi trả và nhanh chóng thu hồi số tiền chi sai và phải có biện pháp xử lý thích đáng
1.4 KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI CÁC HOẠT CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP HUYỆN
Với một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ góp phần giúp cho việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT được nhanh chóng, an toàn, kịp thời, đảm bảo
Trang 4032 đúng chế độ cho NLĐ, giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết gây phiền hà cho NLĐ và các đơn vị tham gia BHXH, đồng thời tiết kiệm chi phí
và tăng hiệu quả hoạt động cho tổ chức BHXH
Hơn nữa, một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ làm giảm nhiều những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT cũng như những hành vi trục lợi quỹ BHXH, BHYT góp phần bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH, BHYT, BHTN đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) cho đất nước
Để đảm bảo mục tiêu đề ra, ngành BHXH thực hiện các yếu tố sau để kiểm soát các hoạt động của mình
1.4.1 Môi trường kiểm soát
Chúng ta nhận thấy rằng, môi trường kiểm soát là nền tảng của hệ thống KSNB trong hoạt động BHXH Các yếu tố về môi trường kiểm soát tác động trực tiếp đến KSNB trong hoạt động BHXH
- Tính chính trực và giá trị đạo đức:
Nhiệm vụ cơ bản của ngành BHXH là đảm bảo an sinh xã hội, mang tính chất phục vụ không vì mục đích lợi nhuận, đem lại lợi ích hỗ trợ cho người tham gia BHXH, BHYT khi họ gặp những rủi ro dẫn đến mất hoặc tạm ngưng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hết tuổi lao động hoặc chết Do vậy toàn bộ cán bộ, viên chức ngành BHXH phải xác định được mục tiêu chính trong công tác BHXH là phục vụ, đối tượng phục vụ chủ yếu là những người đã hoặc đang tham gia BHXH, BHYT, BHTN Viên chức BHXH phải luôn trao dồi chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong các công tác thực hiện, giải quyết các nghiệp vụ BHXH, làm sao có lý có tình, đúng chính sách chế độ quy định, tránh những hạch sách, mâu thuẫn về quyền lợi của người làm công tác BHXH
- Năng lực đội ngũ viên chức:
Hoạt động của BHXH là hoạt động bao gồm sự quan hệ giữa: Đơn vị