Và nếu không có quê hương Bình Định, cũng không thể có những “con mắt thơ” Đỗ Lai Thúy nhiều bản sắc và những tổ chức thi ca đầy ấn tượng như Bàn thành tứ hữu, Trường thơ Loạn, Thái Dươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trên bất kì công trình nào
Bình Định, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Thương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 ĐỊA VĂN HÓA TRONG VĂN HỌC VÀ NHÓM THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU 10
1.1 Địa văn hoá và vấn đề tiếp nhận thơ trữ tình 10
1.1.1 Địa văn hóa và địa văn hóa trong văn học 10
1.1.2 Tiếp nhận thơ trữ tình dưới góc nhìn địa văn hóa 12
1.2 Địa văn hóa Bình Định - cội nguồn thẩm mĩ của một
“xứ văn chương” 19
1.2.1 Bình Định - một vùng đất địa linh nhân kiệt 19
1.2.2 Bình Định - một miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ 22
1.3 Bàn thành tứ hữu trong nguồn thơ Bình Định 1932 - 1945 26
1.3.1 Bàn thành tứ hữu – dòng riêng giữa nguồn thơ Bình Định 26
1.3.2 Bàn thành tứ hữu – những “con mắt thơ” 30
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG BIỂU HIỆN DẤU ẤN ĐỊA VĂN HÓA BÌNH ĐỊNH TRONG THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU 35
2.1 Vẻ đẹp của tự nhiên và con người 35
2.1.1 Vẻ đẹp tự nhiên 35
2.1.2 Vẻ đẹp con người 42
2.2 Phế tích và di tích văn hóa 47
2.2.1 Phế tích các vương triều 47
Trang 42.2.2 Di tích các tôn giáo 51
2.3 Sinh hoạt và sản vật văn hóa 56
2.3.1 Sinh hoạt văn hóa 56
2.3.2 Sản vật văn hóa 58
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN DẤU ẤN ĐỊA VĂN HÓA BÌNH ĐỊNH TRONG THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU 63
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 63
3.1.1 Ngôn ngữ địa phương 64
3.1.2 Các thủ pháp tạo nghĩa 69
3.2 Giọng điệu nghệ thuật 73
3.2.1 Giọng điệu thật thà, chất phác 74
3.2.2 Giọng điệu tiếc nuối, nhớ nhung 79
3.3 Không gian và thời gian nghệ thuật 82
3.3.1 Chiều kích không gian 82
3.3.2 Chiều kích thời gian 85
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 5“Năm dòng sông chảy - Sáu dãy non cao - Biển xanh sóng vỗ dạt dào…” (Ca dao), thần thái địa cuộc Bình Định đã chảy qua bao miền cổ tích Mảnh đất lành này còn là nơi lưu giữ biết bao chứng tích của các vương triều lừng lẫy
xa xưa, hun đúc nên những đấng bậc anh hùng quân sự kiệt xuất, ươm mầm cho những hồn thơ bất tận làm lay động hàng triệu tâm hồn…
Vẻ đẹp của dải đất Bình Định hiện diện trong văn chương từ bao đời nay như lời khẳng định cho sự thu hút tự nhiên của nó Sơn kì thủy tú Bình Định khiến người đi không nỡ mà người ở cũng dùng dằng không thể rời chân Cũng chính mảnh đất này từng vinh dự là cái nôi ươm mầm, nảy lộc và khơi nguồn thi hứng của nhiều tài danh thơ Những tên tuổi như: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan cũng đủ gợi lên biết bao
“niềm kinh dị” (Hoài Thanh), làm rạng danh quê hương Bình Định, góp phần không nhỏ vào “một thời đại trong thi ca” của thi đàn dân tộc
Cũng thật tự nhiên, như hình như bóng, con người Bình Định không thể tách rời với mảnh đất nơi mình sinh sống Đặc biệt, với văn nghệ sĩ, quê hương, xứ sở là nguồn mạch bồi đắp cho họ tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động với cuộc đời Ngược lại, bằng tài năng thiên bẫm, họ cũng làm rạng rỡ, vinh danh quê hương bằng những hình tượng nghệ thuật vô cùng sáng tạo, độc đáo Thiên nhiên, con người, lịch sử… của Bình Định trở thành nguồn mỹ cảm để các nhà thơ phát tiết tinh hoa, cống hiến cho văn đàn Việt Nam biết bao thi phẩm
Lần giở các trang thơ của thi nhân Bình Định, nhất là trong các sáng tác
Trang 62 giai đoạn 1932 – 1945, tầm nguyên nguồn gốc, mảnh đất Bình Định hiện diện rất sinh động với đầy đủ đặc điểm văn hóa bản địa Nếu không có quê hương Bình Định, có lẽ khó có được những vần thơ xuất thần như thế của các nhà thơ Và nếu không có quê hương Bình Định, cũng không thể có những “con mắt thơ” (Đỗ Lai Thúy) nhiều bản sắc và những tổ chức thi ca đầy ấn tượng như Bàn thành tứ hữu, Trường thơ Loạn, Thái Dương văn đoàn… Với mong muốn khám phá đặc sắc văn hóa của Bình Định do chính những người con
của mảnh đất này miêu tả, chúng tôi chọn Dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành tứ hữu làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề địa văn hóa trong sáng tác của các tác giả Bình Định chưa thực
sự trở thành mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu từ trước đến nay Thông thường, trong các công trình nghiên cứu, địa văn hóa được sử dụng như một nguyên nhân lí giải quá trình hình thành tài năng thơ ca của các tác giả: như quê hương, bản quán, nơi chốn các tác giả từng đi qua Khía cạnh văn hóa này chưa được xem như yếu tố quan trọng trong nội dung thơ ca của các tác giả thuộc Bàn thành tứ hữu và cũng chưa được nghiên cứu với tư cách một đề tài độc lập
Nhà nghiên cứu Thái Văn Kiểm trong Một thi hào Việt Nam: Hàn Mặc Tử cho rằng, tài năng thơ của Hàn Mặc Tử có nguyên nhân từ những
“hương hỏa văn hóa Việt Nam”, từ “những hương thơ kín đáo, tản mạn trong các thi phẩm của chàng sau này ở bên bờ biển mặn mà, sớm và chiều, những làn sóng dịu dàng mơn trớn những bức thành xưa” [21; tr.33]
Cũng nói về thiên tài thơ ca của Hàn Mặc Tử, Hoàng Diệp xem địa văn hóa như yếu tố gợi cảm hứng, là nguyên mẫu trong những bài thơ trác tuyệt của Hàn: “… Thành phố Quy Nhơn về mùa mưa, mùa thu có nhiều gió, gió mạnh từ biển thổi vào… một nàng tiên đẹp lại hiện ra Đó là một đêm thanh
Trang 73 tịnh, trong mát đầy trăng… Trăng đẹp lạ lùng… Sự hung bạo tàn nhẫn của bể
cả, sự rộng rãi dịu hiền của trăng đêm có thể là những liều thuốc thần dịu nhất cho một tâm hồn bệnh hoạn” [7; tr.97] Sức ám ảnh của ánh trăng Quy Nhơn,
sự lãng mạn bay bổng của biển đã kết tinh nên nhiều bài thơ đầy mê hoặc của Hàn Mặc Tử Dù nêu tên hay không, hẳn những người yêu thơ vẫn biết rằng, chỉ có biển và trăng Quy Nhơn mới có được vẻ đẹp huyền nhiệm như thế
Quy Nhơn không chỉ xuất hiện với cái đẹp của những đêm trăng nhiệm màu Trong sáng tác của các nhà thơ, những ngọn tháp Chàm nơi đây cũng trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi Nguyễn Viết Lãm đã từng nói về điều này trong sáng tác của mình: “Quy Nhơn có biển đặc biệt xanh, có vọng Hải Đài của Tây Sơn… Quy Nhơn có nhiều tháp Chàm Những tháp Chàm lở lói rêu phong đứng trầm tư hàng thế kỉ trên các ngọn đồi, sao mà có sức khêu gợi tâm hồn chúng tôi đến vậy” [23; tr.285]
Nguyễn Toàn Thắng trong Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định 1932 – 1945 đề cập đến vai trò của địa phương Bình Định trong việc hình thành
nên nhóm thơ độc đáo, có một không hai này Theo tác giả: “Nam Trung Bộ
và Bình Định có vẻ đẹp của một không gian thiên nhiên, không gian văn hóa, lịch sử truyền thống kết hợp với các yếu tố phương Tây hiện đại trong các trường học ở Huế và Quy Nhơn Tất cả đã tạo ra một vùng khí hậu độc đáo cho văn học nghệ thuật… Hình ảnh những ngôi tháp Chàm rêu phong, cổ kính với vẻ đẹp bí ẩn, trầm mặc đã đi vào tâm hồn các thi sĩ Bình Định từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành” [43; tr.35]
Thời gian gần đây, vấn đề địa văn hóa trong sáng tác của các nhà thơ Bình Định được lưu tâm nghiên cứu nhiều hơn Các hội thảo khoa học ở địa phương là nơi thúc đẩy cho hoạt động nghiên cứu văn hóa bản địa trong văn
chương được phát triển mạnh mẽ Năm 2018, Hội thảo khoa học Phật Giáo
và văn học Bình Định quy tụ nhiều bài viết về địa danh Bình Định trong sáng
Trang 84 tác của các nhà thơ mới Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Thanh Sơn, Võ Như Ngọc, Nguyễn Công Thanh Dung, Nguyễn Thị Tính, Thích Phước An…
Nguyễn Thanh Sơn và Võ Như Ngọc là những người có những phát hiện mới mẻ về địa văn hóa trong sáng tác của các nhà thơ Bình Định như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quỳnh Dao, Hoàng Diệp… với những bài viết trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này được đăng trên các Kỷ yếu hội thảo, các tạp chí khoa học Trong bài viết “Địa văn hóa trong sáng tác của
các nhà thơ Bình Định giai đoạn 1932 - 1945” in trong Phật Giáo và văn học Bình Định, các tác giả đã nêu lên vẻ đẹp đầy mộng ảo của Bình Định kết tinh
trong hình ảnh ánh trăng đầy ám gợi, sự hưng thịnh và tiêu vong của một vương triều còn in đậm trong bóng tháp Chàm bàng bạc trên đất kinh xưa, cùng hồn thiêng sông núi ngàn đời tích tụ, sự lan tỏa và thôi thúc của một vùng khí hậu văn chương… Theo các tác giả, Bình Định là nơi khơi nguồn tài năng kiệt xuất của nhiều thi sĩ thuộc phong trào Thơ mới, như: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan và cả Bích Khê: “Trong phong trào Thơ mới, tuy không là điểm xuất phát, nhưng Bình Định được
đánh giá là nơi bùng phát một trào lưu Chính vì vậy, bên cạnh từ đất võ, nhắc đến Bình Định, người ta còn kèm theo chữ trời văn… Cách nói này hoàn toàn
khả dĩ, bởi nơi đây hội tụ, nuôi dưỡng và hun đúc nhiều nhóm thơ, nhiều thi sĩ tầm cỡ với những phong cách thơ đầy bản sắc… Một Hàn Mặc Tử tài hoa, cao khiết với bao vật vã đau thương Một Xuân Diệu thiết tha đến cháy bỏng, nồng nàn cùng biển tình lai láng Một Quách Tấn đài cát và trang nghiêm trong sự giao thoa giữa ý tình mới – cũ Một Chế Lan Viên với bóng dáng tháp Chàm u hoài và bi thống Một Yến Lan mơ màng cùng tiếng gọi đò chơi
vơi bên Bến My Lăng trong đên trăng lạnh Đó là chưa kể đến Bích Khê, từ
Thu Xà Quảng Ngãi cũng về đây hội tụ Mỗi thi sĩ đều định hình cho mình một dấu ấn phong cách riêng Nhưng tựu trung lại, họ có sự gặp gỡ, kết tinh
Trang 95 giữa truyền thống và hiện đại, lãng mạn và tượng trưng, khuôn thước và bùng nổ…, cùng nỗi niềm nhân thế” [36; tr.75]
Cũng trong Hội thảo khoa học này, Nguyễn Công Thanh Dung với bài viết “Quách Tấn với cảm hứng về quê hương đất nước” nhắc đến mảnh đất Bình Định với tên núi, tên sông, tên đất quen thuộc như: Phú Phong, Bình Khê, Núi Chúa, Sông Côn, Cây Cốc, Đồng Hưu, Cổ Bàn (Thành Đồ Bàn), Hầm Hô… Các địa danh quen thuộc ấy hiện diện trong thơ ông như phần không thể thiếu của tâm hồn thơ luôn gắn bó với quê hương xứ sở: “Đây là
một miền quê với đất đai màu mỡ tươi tốt nên cây sum trái, nước khỏa dòng
và là một miền đất ghi dấu anh hùng” [36; tr.95]
Nhà thơ Quách Tấn là người gắn bó máu thịt với mảnh đất Bình Định
vì đây là nơi chôn nhau cắt rốn của ông Ông nặng nợ với Bình Định và phải trả bằng cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của mình Nét đẹp văn hóa của Bình Định trong sáng tác của Quách Tấn đã được Nguyễn Thị Thùy Dương phác họa trong bài viết “Bình Định qua trang văn của Quách Tấn”: “Nhà văn Quách Tấn đã nhìn Bình Định trong cái nhìn toàn cảnh, quê hương được nhà văn miêu tả trong chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian bằng cảm hứng từ lịch sử, truyền thuyết, cổ tích Ông đã vẽ lại một cách đầy đủ, trọn vẹn vùng đất miền Trung bằng những hình ảnh ngọn núi, con sông, những ao, đầm, chùa, tháp… ” [36; tr.90]
Trên các báo in, báo mạng của Bình Định cũng đăng tải một số bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu địa phương về địa danh Bình Định trong trang thơ của các thi sĩ Có thể kể đến bài viết của các nhà nghiên cứu, như: Lâm Bích Thủy với “Bình Định trong thơ Yến Lan”, Mang Viên Long với
“Khái quát văn học Bình Định 43 năm (1975 – 2018) - Diện mạo và thành tựu”, Mai Thìn với “Bình Định trong sáng tác của các nhà Thơ mới”, Trần Thị Huyền Trang với “Yến Lan, Ngui ngút sông trăng”… Các bài viết nêu lên nét đẹp của Bình Định hiện diện trong sáng tác của các nhà thơ như mối
Trang 106 tương tri sâu nặng Trần Huyền Trang nhận xét về sông Trường Thi đối với tuổi thơ Yến Lan: “Với Yến Lan, sông Trường Thi là sông Mẹ, gắn với tuổi thơ ông, từ lúc cất tiếng khóc chào đời, những giấc ngủ thần tiên trong ngọn gió dịu lành hơi nước, cho đến nỗi tủi cực đằng đẵng của cậu bé đơn côi nhờ sông lặng lẽ sẻ chia” [43; tr.86] Nhờ nguồn cội ấy mà Yến Lan đã kết tinh nghệ thuật với tác phẩm “Bến My Lăng” vang danh bất hủ Qua các bài viết với dung lượng ngắn, các nhà nghiên cứu góp phần khẳng định địa văn hóa là một phần hình thành nên sáng tác của Bàn thành tứ hữu Những hình ảnh thơ,
tứ thơ được hình thành một phần nhờ vào sự trải nghiệm của các tác giả với mảnh đất đã nuôi dưỡng một phần đời của họ
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu đề tài, có thể thấy, vấn đề địa văn hóa Bình Định đã được ít nhiều đề cập dưới các góc nhìn khác nhau, như: giải mã tài năng các nhà thơ, nêu lên cái đẹp riêng trong thơ họ qua các hình ảnh thơ, nét độc đáo trong vốn liếng văn hóa bản địa… Tuy nhiên, hầu hết những điều này được phân tích, chứng minh rải rác trong các bài viết nhỏ lẻ mà chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt và hệ thống Đề tài của chúng tôi là một đóng góp mới trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành quả của người đi trước để tiếp
tục tìm hiểu, khai thác sâu hơn Dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành tứ hữu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những thi phẩm trong sáng tác của các nhà thơ Bàn thành tứ hữu: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan Ngoài ra, những tác phẩm văn xuôi, tiểu luận, phê bình, tạp văn của các thi sĩ này cũng được xem là tài liệu tham khảo quan trọng, soi sáng nhiều vấn
đề trong quá trình nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành
tứ hữu một cách hệ thống, luận văn sẽ đi sâu phân tích những điểm đặc sắc về
Trang 117 phương diện nội dung và phương thức biểu hiện của chúng qua các giá trị nổi bật trong sáng tác của các nhà thơ Bàn thành tứ hữu như: vẻ đẹp về tự nhiên
và con người, phế tích và di tích các vương triều, sinh hoạt và sản vật văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật…
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp liên ngành: luận văn đặt sáng tác của các nhà thơ Bàn
thành tứ hữu vào nhiều điểm nhìn khác nhau, với những ngành khoa học khác nhau để có sự khai phá cụ thể, toàn vẹn hơn về địa văn hóa trong sáng tác của
họ Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
- Phương pháp hệ thống: Luận văn nghiên cứu địa văn hóa trong các
sáng tác của các nhà thơ Bàn thành tứ hữu trên các phương diện nội dung, nghệ thuật trong tính chỉnh thể đặc trưng thể loại; đồng thời hướng đến khái quát quy luật hình thành, phát triển của dấu ấn địa văn hóa trong tiến trình vận động, phát triển chung của phong trào Thơ mới 1932 – 1945
- Phương pháp tiếp cận lý thuyết thi pháp học: Luận văn sẽ khảo sát
tần số xuất hiện hệ thống hình tượng mang dấu ấn địa văn hóa Bình Định trở
đi trở lại như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ Bàn thành tứ hữu, và hệ thống các phương thức, phương tiện cấu thành chỉnh thể nghệ thuật đó
Ngoài ra, trong công trình, chúng tôi còn vận dụng sự hỗ trợ từ các thao tác nghiên cứu văn học, như: khảo sát văn bản, thống kê – phân loại, phân tích – tổng hợp, phê bình văn học, ngôn ngữ học… để khám phá địa văn hóa trong các thi phẩm, từ đó góp phần khẳng định vai trò đổi mới, sự cách tân của các nhà thơ Bàn thành tứ hữu trong phong trào Thơ mới
Trên đây là những hướng nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong toàn bộ
Trang 128 luận văn Tuy vậy, chúng tôi quan niệm rằng, mỗi phương pháp nghiên cứu nói trên không thể rạch ròi, dễ tách biệt với nhau Vì thế, trong quá trình thực hiện, chúng tôi cố gắng cùng lúc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và các thao tác khoa học để giải quyết vấn đề một cách tối ưu và hiệu quả nhất
5 Đóng góp của luận văn
- Thơ Bàn thành tứ hữu là hiện tượng thơ ca độc đáo của phong trào Thơ mới nói chung và phong trào thơ ca Bình Định nói riêng Đã có nhiều công trình nghiên cứu thơ Bàn thành tứ hữu trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau Tuy nhiên, đây là những bài viết ngắn, đề cập đến từng yếu tố cụ thể của từng tác phẩm, tác giả, chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về sự ảnh hưởng của địa văn hóa Bình Định trong sáng tác của các nhà thơ Bàn thành tứ hữu Luận văn của chúng tôi là công trình chuyên biệt đầu tiên đi vào tìm hiểu, nghiên cứu dấu
ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành tứ hữu
- Luận văn nhằm chỉ ra các khía cạnh văn hóa đặc sắc của địa phương Bình Định được phản ánh trong trang thơ của các tác giả Bàn thành tứ hữu Những đặc điểm văn hóa mang tính địa phương sẽ được tổng hợp, chắt lọc một cách hệ thống Dưới ngòi bút tài hoa của các bậc tài danh này, quê hương Bình Định với những yếu tố về hình thế núi sông, con người, sự ứng xử văn hóa của vùng miền sẽ được tái hiện đầy đủ, từ đó làm cơ sở lí giải sự hình thành tài năng của các nhà thơ
- Từ việc tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên, con người, di sản vật thể và phi vật thể của địa phương Bình Định trong sáng tác của các tác giả nổi danh trong Thơ mới, luận văn góp phần khẳng định giá trị và sức sống của phong trào thơ ca đỉnh cao này trên thi đàn Việt Nam
- Luận văn góp phần chứng minh sự đa dạng trong bản sắc văn hóa địa phương Bình Định được thể hiện qua thi ca Từ đó góp thêm sắc thái riêng của văn hóa vùng miền trong tổng hòa bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 139
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai theo 3 chương:
Chương 1 Địa văn hóa trong văn học và nhóm thơ Bàn thành tứ hữu Chương 2 Nội dung biểu hiện dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành tứ hữu
Chương 3 Phương thức biểu hiện dấu ấn địa văn hóa Bình Định trong thơ Bàn thành tứ hữu
Trang 1410
Chương 1 ĐỊA VĂN HÓA TRONG VĂN HỌC
VÀ NHÓM THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU
1.1 Địa văn hoá và vấn đề tiếp nhận thơ trữ tình
1.1.1 Địa văn hóa và địa văn hóa trong văn học
Những năm gần đây, khái niệm địa văn hóa không mấy xa lạ đối với giới nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn Đặc biệt, khi những bài viết mang tính hệ thống về văn hóa vùng miền được Trần Quốc Vượng công bố đồng loạt thì khái niệm này được khẳng định một cách chắc chắn với nội hàm
ổn định, xác thực
Trong thực tế, những nghiên cứu về văn hóa địa phương, vùng miền đã được thực hiện từ rất xa xưa Thời trung đại, các di chỉ, di ngôn, di bút bàn về phong thổ, địa vật của mỗi vùng miền đã được lưu lại bằng văn bản và trở thành những áng văn ra đời sớm nhất của lịch sử văn học dân tộc Lý Thái Tổ,
trong Chiếu dời đô đã nêu lên những đặc điểm về phong vật của đất Thăng
Long nhằm làm minh chứng xác thực, khẳng định mạnh mẽ cho quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Nguyễn Trãi được xem là nhà nghiên cứu
địa lý lỗi lạc và đầu tiên của Việt Nam với công trình nghiên cứu Dư địa chí
còn lưu danh muôn thuở… Đặc biệt, đến thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, những công trình khảo cứu về các vùng văn hóa của đất nước đã được các nhà nghiên cứu như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ… thực hiện một cách công phu, nghiêm túc đã cho thấy vai trò quan trọng của văn hóa bản địa trong sự phát triển chung của nền văn hóa dân tộc Tuy nhiên,
ở thời trung đại, khái niệm địa văn hóa chưa được giới nghiên cứu nêu ra
Đến thời hiện đại, lý thuyết địa văn hóa, địa kinh tế được quan tâm nghiên cứu với tư cách là ngành khoa học đặc thù Lý thuyết này coi trọng vai trò của
Trang 1511 điều kiện địa lý, khí hậu trong việc hình thành nền kinh tế - văn hóa của mỗi vùng, mỗi dân tộc Các nhà khoa học đều xuất phát từ điều kiện địa lý, khí hậu khi nghiên cứu về sắc thái văn hóa và sự phát triển kinh tế của mỗi vùng, xứ, tỉnh, hoặc một tộc người
Cũng đề cập đến yếu tố bản địa trong nghiên cứu văn hóa vùng miền nhưng nhóm các nhà nghiên cứu Bùi Quang Thắng, Đoàn Văn Chúc, Nguyễn
Thị Thu Hà trong 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa gọi với một thuật ngữ có
ý nghĩa phổ quát toàn thế giới là “tri thức bản địa” “Tri thức bản địa” theo Nguyễn Thị Thu Hà “là một hệ thống tri thức các đặc trưng của các cộng đồng địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh” [42, tr.67] Tri thức bản địa có 8 đặc điểm cơ bản được các nhà nghiên cứu trên thế giới thừa nhận: tính địa phương, tính truyền miệng, hoặc được chuyển giao thông qua các hình thức mô phỏng hoặc
mô tả, tính gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày, xu hướng thực tiễn, kinh nghiệm, tính liên tục thay đổi, được tạo ra và tái tạo, được chia sẻ ở một mức
độ lớn hơn rất nhiều so với các loại tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học… Như vậy, tri thức bản địa là chỉnh thể hợp nhất trong khuôn khổ của các truyền thống văn hoá rộng lớn của vùng miền
Khái niệm địa văn hóa được xác lập với những công trình nghiên cứu của Trần Quốc Vượng Ông là người đưa ra quan điểm rất rõ ràng về địa văn hóa Thông qua các bài nghiên cứu về văn hóa địa phương, Trần Quốc Vượng đã dẫn giải khái niệm về địa văn hóa: “Văn hóa là một thực thể có sự vận động trong không gian và thời gian Nhìn theo chiều thời gian, văn hóa Việt Nam là một diễn trình lịch sử có quy luật phát triển riêng của nó Nhìn trong không gian, văn hóa Việt Nam có sự vận động qua các vùng/xứ/miền khác nhau”, “Cắt nghĩa bản sắc văn hóa Việt Nam, tôi nghĩ rằng cần vẽ được đường nét văn hóa ở các vùng miền khác nhau Nói khác đi tí chút là chỉ ra được sự vận động của văn hóa trong
Trang 1612 không gian” [49; tr.87] Cắt nghĩa như thế cũng có nghĩa địa văn hóa được ông quan niệm là không gian văn hóa của địa phương, vùng miền Trong quá trình thực hiện công trình với những bài viết về văn hóa từng địa phương, dùng trực tiếp khái niệm địa văn hóa như “Vị thế địa văn hóa vùng đất Tổ”, “Vĩnh Phú vị thế địa - chính trị và bản sắc địa - văn hóa”, “Xứ Bắc - Kinh Bắc một cái nhìn địa văn hóa”, “Vị thế địa - văn hóa của Hà Nội nghìn xưa trong bối cảnh môi sinh lưu vực sông Hồng và cả nước Việt Nam” cho thấy quan niệm nhất quán của ông về khái niệm này
Cùng với khái niệm địa văn hóa, ta thường thấy các khái niệm địa chính trị, địa kinh tế, địa sử Như Trần Quốc Vượng có nêu trong phần viết về “Vị thế địa văn hóa vùng đất Tổ”: “Nếu chỉ nói một câu về vị thế địa chính trị, địa chiến lược, địa văn hóa của kinh đô cổ đại Văn Lang thì tôi xin nói rằng: Đó là vùng
ngã ba sông (Hợp lưu Thao – Lô – Đà) Như bên trên đã nói, tổ tiên ta có câu: Tụ nhân như tụ thủy ” Ông dẫn cả 3 khái niệm có từ “địa”: địa chính trị, địa chiến
lược, địa văn hóa Trần Quốc Vương cho rằng, “địa” là một tiếp đầu ngữ chỉ vùng đất, nơi chốn với những đặc điểm riêng về địa lý, hình thế sông núi, cấu tạo địa chất “Địa” đi cùng từ ngữ nào phía sau cũng nhằm giới hạn lĩnh vực được nghiên cứu của một nơi chốn cụ thể Theo cách nhìn nhận của Trần Quốc Vượng
và vấn đề ông bàn bạc trong công trình của mình, “địa” phải là nơi chốn, địa danh, địa phương chứ không phải chỉ là địa lý
Như vậy, địa văn hóa là văn hóa địa phương với những đặc điểm riêng biệt về địa lý nên cũng có đặc điểm riêng về văn hóa Mỗi địa phương có điểm khác biệt về văn hóa trong mối quan hệ với tổng thể văn hóa các vùng miền và văn hóa quốc gia
1.2.2 Tiếp nhận thơ trữ tình dưới góc nhìn địa văn hóa
Văn hóa bao hàm nhiều thành tố, trong đó có văn học Ta không thể hiểu văn học nếu tách nó ra ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa
Trang 1713 một thời nó tồn tại, không thể tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa Học hay đọc văn học chính là học và đọc để ta có thể tìm hiểu được bản sắc văn hóa của một dân tộc được đúc kết trong tác phẩm đó
Có thể nói, giữa văn hóa và văn học có một mối quan hệ khăng khít với nhau, không thể tách rời Về nội dung, giá trị văn hóa của văn học thể hiện ở việc phản ánh các hệ thống giá trị về con người, giá trị tổ chức đời sống xã hội
và cá nhân, các chuẩn mực hành vi con người Về nghệ thuật, giá trị văn hóa thể hiện ở hình thức biểu hiện như ngôn ngữ, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ
Khái niệm giá trị văn hóa tuy thống nhất với giá trị văn học, song xét
về ngoại diên, giá trị văn hóa rộng hơn giá trị văn học Một tác phẩm mà giá trị văn học không cao vẫn có giá trị văn hóa về mặt này mặt khác Chính vì vậy, tác phẩm văn học luôn có giá trị văn hóa cần thiết để người nghiên cứu phát hiện những yếu tố liên quan đến văn hóa của từng quốc gia, dân tộc
Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa là hướng nghiên cứu khá sôi nổi ở Việt Nam trong những thập niên gần đây Xét từ tính hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nếu tiếp cận tác phẩm văn học mà chỉ dừng lại ở các cấp độ hình ảnh, hình tượng, thi pháp thì vẫn chưa hiện lên hết vẻ đẹp toàn diện của tác phẩm đó Ta cần phải lý giải tên gọi của nó, đặt nó vào hoàn cảnh ra đời, vào thời điểm lịch sử và cả những biến động xã hội xung quanh mới thấy được hết những thành công độc đáo, thấy được vị trí của nó trong tiến trình phát triển của văn học Do vậy, nghiên cứu một tác phẩm văn học trong quan hệ với văn hóa sẽ giúp ta thấy được vai trò sáng tạo văn hóa, thấy được cấu trúc, chức năng văn hóa của văn học
Tiếp nhận văn học nói chung hay tiếp nhận thơ trữ tình nói riêng dưới góc nhìn địa văn hóa sẽ giúp người đọc nhận ra được giá trị muôn thuở của văn hóa đất nước được thấm nhuần qua từng con chữ, hình tượng, quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn học của các tác giả Bởi mỗi tác giả, chủ thể sáng
Trang 1814 tạo đều được sinh ra, “tắm gội” trong một môi trường văn hóa nhất định Đối với một số tác giả có điều kiện sinh ra, làm việc, trưởng thành ở nhiều vùng miền khác nhau thì sự đan xen văn hóa trong sáng tạo của họ là điều tất yếu
Sự đan xen văn hóa đó làm nên giá trị của tác phẩm văn học và làm nên sự khác biệt trong sáng tác của họ
Yếu tố địa văn hóa trong thơ trữ tình là hình thế núi sông, di chỉ kiến trúc, danh lam thắng tích, quan hệ đối xử giữa người với người trong vùng miền, phương ngôn… được đúc kết qua hình tượng thơ, ngôn ngữ, các biện pháp tu từ, thể loại, thi pháp… Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc sẽ khám phá tất cả những giá trị này thông qua việc phân tích, lí giải, cắt nghĩa tác phẩm trong mối quan hệ với môi trường sinh thành tác phẩm và nguồn gốc tác giả…
Trong thơ trữ tình, dấu ấn địa văn hóa là vô cùng đậm nét Các nhà thơ
sẽ bị chi phối ảnh hưởng sâu sắc từ những quan niệm thẩm mỹ chung của cộng đồng Từ đó các nhà thơ vừa thể hiện được những sáng tạo của cá nhân nhưng cũng thể hiện nhiều nét tương đồng với những sáng tác truyền thống Đây chính là cơ sở để người đọc nhận thấy được những ảnh hưởng chung của lịch sử, thời đại, dấu ấn bản sắc riêng của cộng đồng, dân tộc
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, văn học và địa văn hóa rất sâu sắc và bền vững Văn học vừa kết tinh, vừa biểu hiện tâm thức của văn hóa dân tộc, địa phương Bởi thế, những tác phẩm văn học ưu tú sẽ ẩn chứa giá trị văn hóa bền vững Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ nghi, hội hè nhưng cũng có khi nó được khai thác ở chiều sâu, là những giá trị ẩn sâu trong tâm
thức văn hóa cộng đồng Chúng ta coi Truyện Kiều của Nguyễn Du như một
tác phẩm có giá trị văn hóa đầu tiên của Việt Nam được giới thiệu đến bè bạn
phương Tây Bởi vì Nguyễn Du giúp cho thế giới phương Tây ấy hiểu được cái nhìn sâu sắc về bộ mặt tinh thần của dân tộc ta Cho họ thấy rõ hơn về con
Trang 19Một xứ Huế Thần kinh với đền đài thành quách cổ xưa, sông Hương núi Ngự nghiêng mình qua bao năm tháng:
Chiều chiều trước Bến Văn Lâu
Ai ngồi? Ai câu? Ai sầu? Ai thảm?
Ai thương? Ai cảm? Ai nhớ? Ai mong?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông?
Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non!
(Chiều chiều trước Bến Văn Lâu - Ưng Bình Thúc Giạ Thị)
- Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim Long yểu điệu chèo
(Cô gái Kim Luông - Nam Trân)
Ta biết Tố Hữu là một người con xứ Huế, hình ảnh xứ Huế hiện diện trong thơ ông thật đẹp, đượm buồn như vốn có của mảnh đất này:
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi,
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên
(Nước non ngàn dặm – Tố Hữu)
Huế không chỉ nổi tiếng với đền đài, lăng tẩm, với “Núi Ngự Bình trước tròn sau méo – Sông An Cựu nắng đục mưa trong”, mà Huế còn nổi tiếng với mưa Mưa là đặc sản của xứ sở này, mưa Huế trong thơ Tố Hữu đã làm nên vẻ đẹp văn hóa đất thần kinh: dịu dàng, sâu lắng, trầm tư… Điệp phụ
Trang 20(Gửi Huế yêu – Tố Hữu)
Địa văn hóa xứ Huế đã được diễn tả sinh động trong thơ trữ tình, giúp người đọc nhận diện đặc điểm văn hóa của nơi này một cách đầy đủ và nghệ thuật hơn Qua thơ trữ tình, văn hóa vùng miền được diễn tả đẹp hơn, hay hơn, giàu giá trị biểu cảm hơn và vì thế cũng dễ đi vào lòng người đọc hơn rất nhiều Đọc những vần thơ về Huế của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nam Trân…, người đọc không thể nào quên được cái đẹp đã được định hình về xứ Huế qua con chữ quá đỗi đẹp đẽ
Với nhà thơ Hoàng Cầm, văn hóa quê hương Kinh Bắc hiện lên đậm đặc với những cảnh vật, những di tích lịch sử, đền đài, miếu mạo, với bao truyền thuyết, huyền thoại Những hội Gióng, hội Lim, hội chùa Dâu, những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tranh dân gian Đông Hồ… Cuộc gặp gỡ của linh hồn ông với quê hương đã tạo ra những đứa con tinh thần mang vẻ đẹp của địa Kinh
Bắc Đó là Mưa Thuận Thành, Men đá vàng, Bên kia sông Đuống… Một Kinh
Bắc ngọt ngào, hài hòa thấm đẫm trong hồn thơ Hoàng Cầm:
Tiếng hát quan họ nâng gót chân lầm lỗi, qua cầu về với mẹ cha
Nước mắt thương làm từng giọng gõ phù sa
đã thành ngọc trai giữa lòng sông Đuống
(Tìm đến chân trời – Hoàng Cầm)
Thơ trữ tình góp phần quan trọng làm cho vẻ đẹp của một vùng miền
Trang 2117 khắc sâu hơn trong tâm thức của người đọc Những phát hiện mới mẻ, thi vị của các nhà thơ đã khiến địa danh trở nên có hồn, nổi bật với những dáng nét riêng không thể lẫn được
Vẻ đẹp của Tây Bắc với những đặc điểm văn hóa độc đáo đã được nhiều nhà thơ cảm nhận và cảm tác bằng những tác phẩm gây xúc động lòng người Tây Bắc đẹp hoang sơ, thơ mộng vào mùa xuân được nhà thơ Trần
Đức Phổ miêu tả trong bài Tây Bắc hành:
Về Tây Bắc khi mùa xuân vừa tới Ngắm hoa ban nở trắng cả lưng đồi Lửa bập bùng giữa rừng đêm mở hội Điệu múa xòe ai uốn lượn, lả lơi…
(Tây Bắc hành – Trần Đức Phổ)
Tây Bắc đẹp với những mùa hoa ban nở rộ khắp khung trời, những dải lúa vàng ươm trải dọc khắp lưng đồi Tây Bắc hoang dại những đêm lửa trại đắm say lòng người với men rượu ngô ấm lòng… Tây Bắc như viên ngọc quý hiếm nằm ở biên cương đất Việt mà người Việt hết sức trân quý, giữ gìn:
Núi cao rừng rộng bàn tay vẫy Đỉnh dốc cũng đang đợi ai lên Ngày ngược sông Đà anh đã khác Tây Bắc xòe hoa thầm gọi tên
(Tây Bắc gọi tên – Trương Thiếu Huyền)
Trên miền Tây Bắc xa xôi, núi cao, dốc thẳm không làm ngại bước chân lữ khách mà càng làm lòng người rạo rực lên cảm giác bồi hồi, xao xuyến bởi những gam màu mộng mơ, trong trẻo cứ thế nối tiếp nhau từ triền núi này đến đỉnh dốc kia Tây Bắc vẫy gọi khiến trái tim người lữ khách khát khao được đặt chân lên mảnh đất cao nguyên, chạm tay vào khung trời mơ mộng và ngọt ngào đến mê mẩn
Trang 2218 Viết về một mảnh đất, người viết phải trải lòng và đắm hồn mình vào những gì mảnh đất có được Cảm xúc của nhà thơ Nguyên Sa về Sài Gòn khiến người đọc xúc động bởi tấm chân tình của tác giả, bởi đặc điểm mưa nắng của mảnh đất này:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung Bày vội vã vào trong hồn mở cửa…
(Áo lụa Hà Đông – Nguyên Sa)
Lời thơ như mở ra một chân trời lãng mạn, kỉ niệm ghi sâu trong lòng Cũng là nắng, cũng là mưa của một miền nhiệt đới nhưng những hạt mưa, sợi nắng kia gợi lên biết bao hồi tưởng về kỉ niệm chẳng thể nào quên của một đời người gắn liền với một vùng đất
Cũng viết về Sài Gòn, có một bài thơ, chữ nghĩa như xôn xao những xúc cảm thơ mộng Sài Gòn hiện lên với những dáng nét thơ mộng tuyệt vời trong thơ Nguyên Sa:
Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo
(Tám phố Sài Gòn – Nguyên Sa)
Sài Gòn sôi động, náo nhiệt nhưng không kém phần thơ mộng qua cái
Trang 2319 nhìn của một tâm hồn thơ yêu tha thiết mảnh đất này Sài Gòn êm đềm, lãng mạn đã để lại biết bao ấn tượng cho tâm hồn người đến và ra đi từ nơi này Cái đẹp không chỉ có ở những địa danh, thiên nhiên ưu thắng mà còn đến từ
cử chỉ, hành vi, sinh hoạt của con người Sài Gòn
Như vậy, tiếp nhận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa sẽ mở ra những giá trị mới, chiều kích mới cho tác phẩm thơ ca Nét đặc sắc của văn hóa vùng miền được biểu hiện qua từng hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu… Người đọc không chỉ nhận diện ra một vùng đất quen thuộc mà còn cảm nhận được những tình cảm thiết tha, trìu mến mà thi nhân đã dành cho mảnh đất ấy
1.2 Địa văn hóa Bình Định - cội nguồn thẩm mĩ của một “xứ văn chương”
1.2.1 Bình Định - một vùng đất địa linh nhân kiệt
Bình Định, mảnh đất phóng khoáng, khoan hòa, đã sản sinh ra biết bao người con ưu tú và nồng nhiệt đón nhận những luồng văn hóa mới Nằm ở vị trí trung tâm miền Trung, Bình Định là nơi giao hòa của nhiều nền văn hóa phát triển rực rỡ: nền văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc, nền văn hóa Óc Eo ở phía Nam Đồng thời, Bình Định nằm giữa khu vực miền Trung với nền văn hóa Sa Huỳnh – Truông Xe có niên đại hàng vạn năm
Gần hơn, sự xuất hiện của người Chăm và văn hóa Chăm Pa ở Bình Định góp phần làm giàu đẹp cho nền văn hóa nơi đây Người Chăm từng đóng đô và sinh sống lâu đời ở vùng đất này Dấu ấn văn hóa của họ còn để lại rất nhiều từ những sinh hoạt văn hóa, các di tích lịch sử, phế tích các vương triều đến các trung tâm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng Những đóng góp của người Chăm, văn hóa Chăm đã tạo nên dáng vẻ riêng, tính chất bản địa khó lẫn của Bình Định Bình Định tự hào từng là đế đô của các triều đại Chăm Pa từ thế kỉ X đến thế kỉ XV mà các tháp Chăm, thành Đồ Bàn ngày nay chính là dấu tích còn lại của nền văn hóa này Hiện nay, Bình Định vẫn còn 8 cụm tháp Chăm với 14 tháp lẻ đã và đang trở thành những điểm du lịch
Trang 2420 của nhiều du khách thích tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp của văn hóa Chăm Đồng thời, đó là nguồn cảm hứng dạt dào cho các nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật Các tháp Chăm còn là biểu tượng của tỉnh Bình Định mà những ai đã đến và đi từ vùng đất này cũng không thể quên được Tháp Cánh Tiên mềm mại, trữ tình như nàng tiên nữ kiêu sa, kiều diễm Tháp Dương Long mạnh mẽ, kiêu hùng xứng danh là ngọn tháp gạch cao nhất Châu Á Tháp Đôi biểu tượng cho sự kết đôi, vẹn tròn của tình yêu nam nữ Tất cả hiện diện rất đẹp trong tâm thức của tất cả những người con Bình Định
Vùng đất và con người Bình Định với tinh thần khai phóng đã vượt qua những tư tưởng hẹp hòi, bất công, vượt qua sự đói nghèo để hun đúc, nuôi dưỡng những bậc kì tài cho nền văn hóa, quân sự, chính trị ở mọi thời đại, để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử
Nhân vật lịch sử đầu tiên được đón nhận và phát huy tài năng của mình
để phục vụ cho các chúa Nguyễn ở đất Bình Định đó chính là Đào Duy Từ Ở thế kỉ XVII, vì xuất thân con nhà hát xướng mà Đào Duy Từ bị ruồng bỏ Chàng Năm đã khăn gói vượt ngàn dặm đường để đến đất Bình Định và được con người Bình Định tiếp nhận, tiến cử cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên Từ
đó ông phát huy tất cả tài năng của mình để đóng góp xây dựng cho giang sơn của chúa Nguyễn Sự nghiệp rạng rỡ của Đào Duy Từ cũng một phần nhờ mảnh đất và con người Bình Định bảo bọc, nuôi dưỡng để phát tiết tinh hoa
Ngoài Đào Duy Từ, còn có một số người bị ruồng bỏ, hắt hủi nhưng khi đến với Bình Định, họ đã có nhiều đóng góp cho lịch sử văn hóa nước nhà Đó chính là các giáo sĩ thừa sai dòng Tên người Ý như Francesco Buzomi, Cristoforo Borri, người Bồ Đào Nha gồm Francisco de Pina, Antonio Dias Ở đầu thế kỉ XVII, các giáo sĩ đã được quan Khám lý Trần Đức Hòa đón từ Hội An về cảng thị Nước Mặn - một trung tâm giao thương quốc
tế thời bấy giờ của xứ đàng Trong tại Bình Định, để trú ngụ và truyền giáo
Trang 2521 Tại đây, Francisco de Pina đã bắt đầu nghiên cứu và phiên âm tiếng Việt bằng
bộ chữ cái Latinh, sáng tạo ra hệ thống ký âm cho tiếng Việt mà sau này được gọi là chữ Quốc ngữ Nước Mặn được xem là nơi phôi thai, bắt nguồn của hệ thống chữ cái La Tinh phiên âm tiếng nói của người Việt Dù lúc này ở Đàng Trong có đến ba cơ sở truyền giáo của đạo Kitô là Cửa Hàn (Đà Nẵng), Hội
An - Thành Chiêm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Bình Định), nhưng những giáo sĩ đi tiên phong trong việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ, suốt thời gian đầu đến sống, hoạt động truyền giáo, học tập, nghiên cứu và phiên âm chữ Quốc ngữ đều ở Nước Mặn Do đó, có thể coi Nước Mặn là vùng đất có duyên trở thành nơi sơ khởi, phôi thai của chữ Quốc ngữ và quan Khám lý Trần Đức Hòa là người có công làm nên mối duyên định mệnh ấy
Bình Định là vùng đất vang danh với phong trào Tây Sơn lừng lẫy Nơi
ba anh em họ Nguyễn đã tạo nên bao chiến công kinh thiên động địa Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, những con người áo vải cờ đào đã làm nên thành công rực rỡ cho giai cấp nông dân Đặc biệt, Quang Trung - Nguyễn Huệ, người con đất Bình Định đã thống nhất giang sơn, thu về một mối, là nhà quân sự tài ba bậc nhất trong lịch sử Việt Nam Quang Trung - Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự, mà còn là một nhà chính trị có tầm nhìn sáng suốt, bao trùm cả thời đại ông Bên cạnh ông còn là bao văn thần, võ tướng tài năng cũng là những người con của Bình Định này: Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, Võ Văn Dũng… Cùng với Hoàng đế Quang Trung, họ góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của phong trào Tây Sơn và cũng là niềm tự hào của con người Bình Định
Bình Định là vùng đất tích hợp của nhiều tôn giáo khác nhau: Nho Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa giáo, Đạo giáo bắt rễ cùng tôn giáo bản địa để tạo nên dáng nét riêng không thể lẫn Âm vang của Nho giáo, Phật giáo theo chân người đi khai phá vùng đất này từ Đàng Ngoài vào, sự mở rộng ảnh
Trang 2622 hưởng của Thiên Chúa giáo trong quá trình các cố đạo người Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi truyền giáo vào xứ Đàng Trong, và bản thân văn hóa Chăm, có nguồn gốc từ Ấn Độ giáo, vốn là nền văn hóa bản địa Văn hóa Bình Định, do vậy, là
sự tích hợp nhiều tôn giáo khác nhau dựa trên cơ sở tự nhiên, lịch sử đặc thù Dấu ấn của sự tích hợp ấy thể hiện rất rõ trong tư tưởng, tính cách của con người Bình Định và cả trong sáng tạo nghệ thuật
Vùng đất Bình Định vẫn còn ẩn chứa vô vàn câu chuyện huyền thoại và những điều kỳ bí Lớp cháu con vẫn luôn tự hào về mảnh đất quê hương, để phát huy và tiếp tục kiến tạo những kỳ tích mới cho quê hương Bình Định
1.2.2 Bình Định - một miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ
Từ lâu, mảnh đất Bình Định đã trở thành nơi ươm mầm cho biết bao hồn thơ nảy nở và kết thành hoa thơm trái ngọt Từ những tên tuổi lừng danh của nghệ thuật hát tuồng như Đào Duy Từ, Nguyễn Diêu, Đào Tấn… của thời trung đại đến những cái tên sáng chói trên thi đàn Thơ mới như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan… Tất cả làm nên cả một
“trời văn” mà cả nước ngưỡng phục Cũng thật tự nhiên, Bình Định trở thành một khoảng trời nghệ thuật không thể thiếu trong văn chương của họ Từ ngọn núi, con sông, ánh trăng, bãi biển, ngọn tháp Chàm sừng sững… đều trở thành những hình tượng lấp lánh trong trang thơ của các thi sĩ được lưu truyền từ bao đời
Rất tự nhiên, các thi sĩ bình dân hay bác học đều tìm thấy ở mảnh đất này những chất liệu đẹp cho sáng tác Có lẽ tình cảm sắt son, gắn bó máu thịt với mảnh đất quê hương đã kết sâu trong tiềm thức, chỉ cần cảm xúc tuôn trào thì hình ảnh ấy cũng hiện lên thật tự nhiên
Những câu nói đẩy đưa, tán tỉnh của chàng trai Bình Định mời gọi một
cô gái cũng không thể thiếu hình ảnh của mảnh đất quê hương mình:
Trang 2723
Bình Định có đá vọng phu,
Có đầm Thị Nại, có Cù Lao Xanh
Em về Bình Định cùng anh, Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa
(Ca dao)
Bình Định nổi tiếng với hòn vọng phu đậm chất truyền thuyết, với đầm Thị Nại trong xanh, với Cù Lao xanh duyên dáng bên bờ biển Đông, hơn thế nữa là những đặc sản dân dã của vùng quê rợp bóng dừa Bình Định qua lời
ca của chàng trai vừa thơ mộng vừa chân thực, hấp dẫn nhưng cũng rất đơn
sơ Những lời thề non hẹn biển của đôi lứa yêu nhau trong ca dao cũng có núi sông, sự vật tự nhiên của đất Bình Định chứng giám:
- Anh nguyền cùng em Chợ Giã cho chí Cầu Đôi Nguyền lên Cây Cốc, vạn Gò Bồi ngược xuôi…
- Bao giờ Trường Úc hết vôi Đôi ta hết đứng hết ngồi với nhau
- Cầu Đôi mà tháp cũng Đôi
Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau
Những tên tuổi con người Bình Định, những địa danh gắn liền với Bình Định được chuyển hóa vào thơ với bao dáng nét, hình hài rất riêng theo cảm nhận của mỗi nghệ sĩ Hòa vào thơ, từng hình ảnh của mảnh đất Bình Định này bỗng hiện lên sống động, khơi gợi bao cảm xúc cho người đọc Chợ Giã, Cầu Đôi, Cây Cốc, Gò Bồi, Trường Úc, Tháp Đôi… đều là những địa danh gắn bó quen thuộc với tình cảm, tâm hồn con người Bình Định Vì vậy, khi nhắc đến những địa danh này, người đọc cảm nhận một cảm giác thân thương như máu thịt ruột rà trỗi dậy trong tâm khảm Từ đó, những địa danh này như vật chứng linh thiêng chứng giám cho tình cảm lứa đôi, để tình cảm của họ sống mãi với thời gian, với sự trường tồn của ngoại vật
Trang 2824
Ở thời trung đại, mặc dù quan niệm văn học là “thuật nhi bất tác”, sáng tác của các tác gia mang đậm tính chất ước lệ, tượng trưng, phi ngã…, nhưng
ta vẫn tìm thấy những đặc điểm mang tính chất hữu ngã Một trong những yếu
tố hữu ngã trong sáng tác của họ chính là không gian nghệ thuật Trong sáng tác của các tác gia Bình Định thời trung đại như Nguyễn Diêu, Đào Tấn, Tăng Bạt Hổ, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì… hay những tác gia là thiền sư Bình Định như Quốc sư Phước Huệ, Hòa thượng Mật Hoằng, Hòa thượng Liên Tôn…, ta vẫn thấy các chi tiết về không gian văn hóa Bình Định trong tác phẩm của họ
Đào Tấn (1845 – 1907), một người con đất Bình Định, người làng Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, Tuy Phước Sáng tác của Đào Tấn gồm cả tuồng, thơ trữ tình chữ Hán, câu đối… Khi đến thăm chùa Linh Phong, ông có đề hai câu đối:
Khói hoa một mớ trời dành sẵn
Ao biển mười năm mộng trở về
Sau khi chùa được đặt tên Linh Phong Thiền Tự, chùa còn được vua ban câu đối:
Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật; Núi Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời
Chùa Linh Phong, còn gọi là chùa Ông Núi, được xây dựng từ đời nhà
Lê, cách nay khoảng ngót 700 năm Chùa tọa lạc ở lưng chừng núi phía nam trong dãy núi Bà thuộc thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát Chùa Linh Phong đã mấy lần đón Đào Tấn từ quan về tu ở đấy
Mảnh đất Bình Định không chỉ có mặt trong sáng tác của những người con Bình Định mà cả những người ở vùng miền khác cũng đã từng ghi lại những kí ức về nơi này Nguyễn Du khi đi nhắc đến anh trai mình là Nguyễn
Trang 2925
Nễ (1761 – 1805) đã đề cập đến địa danh thành Hoàng đế:
Lục Tháp thành nam hệ nhất quan Hải Vân hạ độ thạch toàn ngoan Cùng tưu lam chướng tam niên thú
Cố quốc yên hoa độ nhật hàn…
(Ức gia huynh – Nguyễn Du)
Dịch nghĩa
Chức quan buộc chân anh ở phía nam thành Lục Tháp,
Đi vào đó ban đêm phải vượt đèo Hải Vân, đá lởm chởm Anh ở nơi hẻo lánh đầy khí độc ấy ròng rã đã ba năm trời, Tiết tháng hai lạnh lẽo chắc nhớ hoa khói ở quê nhà lắm
Thành Lục Tháp chỉ hiện diện trong nỗi nhớ của Nguyễn Du về anh của mình với Lam Sơn chướng khí, rừng thiêng nước độc và là nơi đã giữ chân anh trai Nguyễn Du những năm cống hiến cho vương triều Tây Sơn Những ghi chép này là cơ sở để người đọc có thể nhớ về một dấu tích huy hoàng của thời đại Tây Sơn oanh liệt - Thành Hoàng đế
Đến thời hiện đại, Bình Định đã xuất hiện trong thơ văn với muôn hình vạn trạng Từ những kí ức ngọt ngào, êm đềm với mảnh đất này, hay tuổi thơ đầy “dữ dội” phong ba bão táp gắn bó với từng ngõ xóm, thôn quê của Bình Định đều được các tác giả ghi chép lại trong thơ ca Chính những tác giả thành danh hay không thành danh cũng nhiều lần nhắc nhở vì đâu họ có thể sáng tạo nên nhiều tác phẩm bất hủ đến thế Ánh trăng, bãi cát Quy Nhơn đã gợi nên thi hứng dạt dào cho những hồn thơ bất tử như Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…
Không chỉ trăng, sao mà còn rất nhiều những sự vật, hiện tượng, con người… thuộc mảnh đất Bình Định này đã làm cho bao cây bút “xúc động
Trang 3026 hồn thơ” và trở nên “có thần” hơn bao giờ hết Bình Định từ một mảnh đất địa phương nơi biên viễn của các chúa Nguyễn ở thế kỉ XVIII đã trở thành điểm đến hấp dẫn của thơ ca, thành cội nguồn cảm xúc cho văn chương, thành cái nôi của nghệ thuật tuồng, đài danh vọng của Trường thơ Loạn… “Nếu không
có mảnh đất này có lẽ sẽ không có một Xuân Diệu thiết tha, rạo rực; Hàn Mặc
Tử đau thương, thanh khiết; Chế Lan Viên u hoài, bi thống; Quách Tấn sang trọng, tinh tế; Yến Lan sương khói mơ màng ” [35; tr.25]
Tiếp nối truyền thống thi ca vẻ vang của các thế hệ cha anh, các nhà thơ đương đại cũng góp phần làm rạng rỡ quê hương bằng những sáng tác đặc sắc về mảnh đất này Những trang thơ của Lệ Thu, Văn Trọng Hùng, Xuân Mai, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Thanh Mừng, Mai Thìn… đã khiến mảnh đất này trở nên đẹp đẽ hơn, tươi mới hơn trong tình yêu sâu nặng của những người con vùng đất võ Khoảng trời thơ Bình Định trong suốt hành trình giành độc lập tự do của dân tộc, vẫn luôn luôn có những thế hệ tiếp nối Con người Bình Định, nước non Bình Định và truyền thống rực rỡ của thi ca Bình Định nhất định sẽ đóng góp một khoảng trời riêng trong bầu trời thơ dân tộc
1.3 Bàn thành tứ hữu trong nguồn thơ Bình Định 1932 - 1945
1.3.1 Bàn thành tứ hữu – dòng riêng giữa nguồn thơ Bình Định
Đầu thế kỉ XX, đời sống văn hóa văn học Việt Nam bắt đầu đổi khác Những xu hướng văn học cũ dần dần mất đi để nhường chỗ cho hình thái văn học mới ra đời Một nền văn hóa, văn học thoát ly sự ảnh hưởng của Trung Hoa để hướng đến chịu sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây rộng mở, khai phóng Nhiệm vụ phát triển nền văn hóa, văn học được trao vào tay của các trí thức Tây học Họ là những người đọc thông viết thạo tiếng Pháp, chữ quốc ngữ, được đào tạo bài bản trong các trường Tây học Họ cũng chính là chủ nhân của nền văn học mới Một cuộc cách mạng trong văn học diễn ra mạnh
mẽ Ban đầu ở các thể loại như truyện, kịch; sau đó là các cuộc tranh luận
Trang 3127 giữa thơ cũ và thơ mới diễn ra sôi động trên văn đàn Sự thắng thế của phong trào Thơ mới đã báo hiệu cho sự cáo chung của một hình thái văn học cổ điển tồn tại hàng ngàn năm trên đất nước ta
Phong trào Thơ mới với nhiều gương mặt tiêu biểu, nhiều tổ chức thơ nổi danh đã xây dựng được chỗ đứng vững chắc nền văn học dân tộc Sự say
mê, thích thú của bao độc giả dành cho những nhóm thơ, những trường phái thi ca này đã cho thấy sự thay đổi cảm xúc của thời đại Chính sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn con người thời đại đã thôi thúc họ hành động để làm một cuộc cách mạng vĩ đại trong thi ca
Trên cả nước đầu thế kỉ XX xuất hiện rất nhiều những nhóm thơ, trường phái thi ca có tôn chỉ, cách thức, nguyên tắc hoạt động rất rõ ràng, như: nhóm Xuân Huy, Trường thơ Bạch Nga, nhóm Dạ Đài, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Áo bào gốc liễu Ở Bình Định những năm đầu thế kỉ XX cũng ghi nhận sự xuất hiện các tổ chức thơ ca, như: Thái Dương văn đoàn, Trường thơ Loạn, Bàn thành tứ hữu…
Thái Dương văn đoàn bao gồm phần đông trí thức học sinh ở trường
Quốc học Quy Nhơn và các nhà thơ đang sinh sống và làm việc tại Quy Nhơn Nhóm này tập hợp những người cùng chí hướng sáng tác phục vụ cho quần chúng nhân dân nghèo với phương châm: viết văn, làm báo, làm thơ hay
gì đi nữa cũng phải phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân Thái Dương văn đoàn tự xác định quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh và chi phối sáng tác của nhiều người trong nhóm văn chương này Nguyễn Minh Vỹ là người được Đảng bộ tỉnh phân công vận động thanh niên, học sinh trí thức Quy Nhơn để thành lập nhóm Trong nhóm lúc này có một số nhà thơ như Nguyễn Viết Lãm và Chế Lan Viên đang học năm thứ hai ở trường Quốc học Yến Lan dù ở thành Bình Định vẫn có lúc xuống Quy Nhơn tham gia nhóm Hàn Mặc Tử dù có những tranh cãi về quan điểm nghệ thuật với Nguyễn
Trang 3228 Minh Vỹ nhưng cũng là thành viên có ảnh hưởng tới nhiều người trong nhóm Những sáng tác chung của nhóm và riêng từng cá nhân trong nhóm lần lượt ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong hoạt động nghệ thuật của tỉnh Bình Định
Nhóm xuất bản tập Nắng xuân, gồm các sáng tác của Hàn Mặc Tử, Yến Lan,
Phú Sơn, Hoàng Diệp… Sau này các thành viên tự tập hợp các nhóm văn chương riêng, Thái Dương văn đoàn vì thế dần tan rã Xuất hiện trong một thời gian ngắn, nhưng nhóm văn chương này đã tạo được dấu mốc riêng trong lịch sử văn học nước nhà
Dù thành lập muộn hơn, nhưng Bàn thành tứ hữu (còn gọi nhóm thơ
Bình Định hay Tứ linh) tạo dựng tiếng vang hơn nhiều so với Thái Dương văn đoàn Nhóm thơ này được tách ra từ Thái Dương văn đoàn với thành phần ổn định gồm 4 nhà thơ trứ danh thời bấy giờ đồng thời cũng là những đôi bạn thân thiết Hàn Mặc Tử - Quách Tấn, Chế Lan Viên – Yến Lan Khi Xuân Diệu ra Bắc cùng Huy Cận lập nên nhóm thơ Huy - Xuân thì Hàn Mặc
Tử cũng tách riêng nhóm thành nhóm thơ Bình Định Còn tên gọi Bàn thành
tứ hữu là danh xưng trang trọng, đầy ngưỡng mộ của những người bạn yêu văn chương ở Bình Định lúc bấy giờ đặt cho 4 người trong nhóm Tiêu biểu là
có Trần Thống là một trong những người đặt tên này đầu tiên Còn tên Tứ linh, ứng với bốn linh vật: Long, Lân, Quy, Phụng cũng là danh xưng do bạn yêu thơ đặt cho từng người trong nhóm Long là Hàn Mặc Tử, Lân là Yến Lan, Quy là Quách Tấn và Phụng là Chế Lan Viên Như vậy, nhóm thơ Bình Định với thủ lĩnh là Hàn Mặc Tử đã được hình thành và phát triển trên đất Bình Định từ năm 1936 đến năm 1945 với mục đích là cùng học hỏi và thúc đẩy nhau trên con đường sáng tạo Trong suốt những năm tháng tồn tại, mỗi thành viên trong nhóm thơ đã cho ra đời những kiệt tác thi ca của mình Mỗi người mỗi vẻ, thơ ca của họ thực sự đã làm rạng rỡ cho nền văn học mới của nước nhà nói chung, của Bình Định nói riêng
Trang 3329
Từ Bàn thành tứ hữu, ba thành viên cùng khuynh hướng lãng mạn dần chuyển sang địa hạt tượng trưng là Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và Yến Lan
thành lập nên Trường thơ Loạn Riêng Quách Tấn lại trung thành với lối thơ
cổ điển và ông nguyện cày xới trên cánh đồng muôn năm cũ của tiền nhân để lại Do đó, ông không thuộc thành phần của Trường thơ Loạn Trường thơ
Loạn ban đầu có tên là Trường thơ Giếng loạn, xuất phát từ tên tập thơ Giếng Loạn của Yến Lan Cái tên của tập thơ đã gợi ý cho Hàn về việc thành lập
một trường phái thơ ca đã ấp ủ từ lâu Ít lâu sau, tại căn nhà số 20 Khải Định (nay là đường Lê Lợi – thành phố Quy Nhơn), Hàn Mặc Tử đã tuyên bố thành lập trường phái thi ca này: “Lâu nay chúng ta làm toàn những loại thơ điên loạn, xem ra có đủ nhân tố để dựng một trường thơ, trường thơ Điên loạn Ừ,
mà nó đã có mầm mống từ lâu rồi (giơ tập thơ của Chế Lan Viên lên), cái tựa
tập Điêu tàn này là tuyên ngôn thứ nhất của chúng ta Rồi chúng ta sẽ tiếp tục
có tuyên ngôn bổ sung khi in tập thơ chung của Trường thơ Loạn" [34; tr.46]
Từ đó, cái tin ở Quy Nhơn có Trường thơ Loạn loan truyền ra khắp nơi
Các tổ chức thi ca trên được thành lập vào những năm phong trào Thơ mới đạt tới đỉnh cao Nhìn rộng ra, đây là thời kì văn học dân tộc đang trên đà chuyển biến mang tính chất cách tân so với lịch sử hàng nghìn năm phát triển Quá trình hiện đại hóa văn học này diễn ra từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến thời kì 1932 – 1945 mới được đẩy lên một bước phát triển mới với sự ra đời của hàng loạt các tổ chức thơ trên khắp miền của đất nước Xuất phát từ tình yêu sâu sắc dành cho thi ca, các nhà thơ từ tứ phương đã hợp lại thành tổ chức thi ca nhằm dìu dắt, động viên nhau tạo nên tiếng vang trên thi đàn Các tổ chức thi ca với vai trò lịch sử của mình đã giúp các thi sĩ cho ra đời nhiều tập thơ có giá trị, khai mở nhiều khuynh hướng thi ca độc đáo, góp phần đưa thơ hiện đại tiến nhanh vào quỹ đạo thơ ca thế giới Trong dòng chảy Thơ mới, tuy không phải là điểm xuất phát, nhưng Bình Định được đánh giá là nơi bùng
Trang 3430 phát một trào lưu sáng tác Sự hình thành nhóm thơ Bình Định đã lôi kéo, thúc đẩy sự cách tân của các tài năng thơ ca Bình Định Từ Thái Dương văn đoàn đến Bàn thành tứ hữu, đến Trường thơ Loạn, thi ca Bình Định đã trở nên vững vàng trên thi đàn Việt trong tương quan so sánh với các nhóm thơ ở hai miền Nam, Bắc
1.3.2 Bàn thành tứ hữu - những “con mắt thơ”
Bàn thành tứ hữu hay còn gọi là nhóm Tứ linh do bốn nhà thơ cùng
sáng lập, trong đó Hàn Mặc Tử được xưng tôn là con rồng trong nhóm Tứ
linh này Hàn Mặc Tử là nhà thơ xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông quê ở Đồng Hới, Quảng Bình nhưng cuộc đời và sự nghiệp văn học lại
có nhiều duyên nợ với Quy Nhơn Cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn từng nhiệm sở ở Quy Nhơn nên thời thơ ấu Nguyễn Trọng Trí (tức Hàn Mặc Tử) từng có thời gian sống và học tập tại đây Tháng 6/1926, sau khi cha mất, gia đình về Quy Nhơn sống với người anh cả, Hàn Mặc Tử và người em trai là Nguyễn Bá Tín vào trung học ở Quy Nhơn Năm 1932, Hàn Mặc Tử làm việc ở sở đạc điền Quy Nhơn, quen với Quách Tấn Ở thành phố biển Quy Nhơn, ông cùng với những người bạn lập ra nhóm Bàn thành tứ hữu và sau này là Trường thơ Loạn Các tổ chức thi ca này gây được tiếng vang khắp trong Nam ngoài Bắc, vang danh cả “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh)
Cũng chính Quy Nhơn là nơi gắn với những năm cuối đời của nhà thơ tài hoa bạc mệnh này Sau khi phát hiện bệnh phong đã nặng, ngày 20-9-
1940, với số hiệu bệnh nhân 1134, Hàn Mặc Tử về Quy Nhơn để chữa bệnh tại nhà thương Quy Hòa, cũng là bệnh viện điều trị bệnh phong tốt nhất thời bấy giờ Chưa đầy hai tháng sau, vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11-11-1940, ông trút hơi thở cuối cùng tại đây, kết thúc một cuộc đời đau thương ngắn ngủi Lúc đầu, Hàn Mặc Tử được an táng tại làng phong Quy Hòa Ngày 13-2-1959, Nguyễn Bá Tín cùng Quách Tấn đã dời mộ ông về Ghềnh Ráng, đặt
Trang 3531 tại đồi Thi Nhân, cách Quy Hòa khoảng 5 km về phía Đông Nam
Như vậy, thời thơ ấu của Hàn Mặc Tử trôi dạt theo hành trình tha phương của cả gia đình, đi qua Thừa Thiên, Quảng Ngãi rồi đến Quy Nhơn - Bình Định Ngoài thời gian làm báo, viết văn, làm thơ sôi nổi ở Sài Gòn, theo đuổi một mối tình yêu đương mơ mộng ở Phan Thiết nhưng cuối cùng lại kết thúc bi kịch, cuộc sống của thi sĩ chủ yếu quanh quẩn ở Quy Nhơn Có thể nói, vì gắn bó sâu nặng với đất trời, con người Bình Định như vậy nên từ trong tiềm thức, bối cảnh, sự vật, hiện tượng được chắt lọc vào thơ ông cũng không đâu khác ngoài địa danh này Dù viết về cõi thực hay cõi hư vô, dù lúc tỉnh hay mê, dù với ngòi bút lãng mạn hay tượng trưng, siêu thực, tâm hồn ấy vẫn bám chặt mình vào nơi đã cưu mang, nuôi dưỡng, và đón nhận mình những năm tháng cuối đời
Đứng sau vai trò của Hàn Mặc Tử là Chế Lan Viên Chế Lan Viên tên
thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Ông lớn lên
và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi Năm 17 tuổi,
với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn,
có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của Trường thơ Loạn Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam Tuổi trẻ của Chế Lan Viên gắn liền với Quy Nhơn, Bình Ðịnh, nơi hàng ngày trên con đường đi về, nhà thơ đã cảm nhận được những dấu tích điêu tàn của Chiêm quốc Cũng chính nơi đây, tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ đã rung động mạnh
mẽ khi nghe kể về những câu chuyện linh thiêng, những truyền thuyết về một đất nước xa xưa, để rồi suy tưởng, hay buồn thương nuối tiếc giống dân Hời
Trang 3632
Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp, Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi
Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập, Nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời
(Trên đường về)
Nhà thơ trong Bàn thành tứ hữu ứng với linh vật Quy – Rùa, vì chậm
trong chuyển biến phong cách thơ là Quách Tấn Ông sinh ngày 4 tháng 1
năm 1910 tại thôn Trường Định, huyện Bình Khê tức huyện Tây Sơn, tỉnh
Bình Định Thơ ông được Hoài Thanh vinh danh trong Thi nhân Việt Nam
(1941) Từ khi bắt đầu sáng tác đến lúc rời xa cõi tạm, Quách Tấn vẫn trung
thành với lối viết theo Mùa cổ điển Ông cần mẫn cày xới với thể thơ luật
Đường cổ kính của muôn đời trước Thế nhưng ông lại được công chúng vô cùng mến mộ và thi đàn Việt Nam rộng cửa đón ông vào làng thơ
Trong hành trình cuộc đời của ông, dù đi đâu về đâu, ông vẫn một lòng hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn Bình Định Ông chào đời ở quê mẹ, vùng đất võ Tây Sơn Lớn lên đi học thầy đồ trong làng Năm 12 tuổi ông bỏ chữ Hán học chữ Pháp tại trường Pháp – Việt Quy Nhơn, nay là trường Quốc học Quy Nhơn Năm 19 tuổi ông thi đậu bằng Cao đẳng Tiểu học Sau đó là quãng đời trôi dạt khắp nơi để mưu sinh Ông làm ở Tòa Khâm sứ Pháp ở Huế, rồi Tòa Khâm sứ Pháp ở Đà Lạt, rồi tiếp đến ở Nha Trang Kháng chiến
nổ ra, ông và gia đình lại quay về chốn cũ, Bình Định Năm 1949 đến 1951, ông mở trường Trung học tư thục Mai Xuân Thưởng tại thôn An Chánh, huyện Tây Sơn, Bình Định Mong muốn gắn bó cả đời với mảnh đất này, nhưng cuộc sống lại tiếp tục đưa chân ông đến với nhiều nơi khác đó là Huế (1957-1958), và dừng chân ở Nha Trang (1963 – 1992)
Phần lớn thời niên thiếu và thanh niên, Quách Tấn sống và làm việc tại Quy Nhơn Quãng đời sau lại gắn bó với Nha Trang Vì vậy, tình cảm ông
Trang 37Trong Bàn thành tứ hữu, Yến Lan (1916 – 1998) được xem là nhà thơ
hiền hòa nhất Ông sinh ra và lớn lên tại An Nhơn, Bình Định Ngoài thời gian tập kết ra Bắc từ năm 1954 – 1975 công tác tại Nhà xuất bản Văn học ra, phần lớn cuộc đời của Yến Lan gắn chặt với đất và người Bình Định Mẹ mất sớm năm ông 6 tuổi, Yến Lan phải làm nhiều việc vất vả để kiếm sống như dạy học, viết văn, làm chân ông Từ ở chùa…
Các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan đều là những tên tuổi chói lọi trên thi đàn Thơ mới Bình Định vinh dự là cái nôi nuôi dưỡng hồn thơ cho tất cả những tài năng văn chương này tỏa sáng Họ
dù đi đâu về đâu, lưu lạc chân trời góc bể vẫn không thôi đau đáu về nơi chôn nhau cắt rốn này Để đền ơn chở che, cúc dưỡng của quê hương, các nhà thơ
đã dành những tình cảm xứng đáng cho mảnh đất này Bằng chứng cho những tình cảm ấy là những vần thơ đầy xúc cảm viết về quê hương được ra đời, ghi lại tất cả mọi mặt văn hóa của Bình Định Đọc thơ của họ, người đọc hôm nay
có thể hình dung chiều sâu tiềm ẩn của văn hóa Bình Định qua bao thời gian
Tiểu kết
Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề cơ sở để triển khai các chương tiếp theo Vấn đề khái niệm địa văn hóa, địa văn hóa trong văn học, tiếp nhận văn học dưới góc nhìn địa văn hóa là những vấn đề lý luận cần thiết, làm nền tảng để chúng tôi tiếp tục phân tích chương 2 và chương 3 Để tiến hành nhận diện và phân tích các giá trị văn hóa trong thơ Bàn thành tứ hữu, chúng tôi tìm hiểu đất và người Bình Định trong sáng tác của các nhà thơ Từ
Trang 3834
đó thấy được giá trị văn hóa của mảnh đất này trong bức tranh văn hóa chung của cả nước Việc tìm hiểu các tổ chức thơ ở Bình Định trước năm 1945 cũng cần thiết để làm rõ vai trò, vị trí của nhóm Bàn thành tứ hữu và các thành viên của nhóm này trong phong trào Thơ mới
Trang 3935
Chương 2 NỘI DUNG BIỂU HIỆN DẤU ẤN ĐỊA VĂN HÓA BÌNH ĐỊNH
TRONG THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU 2.1 Vẻ đẹp của tự nhiên và con người
2.1.1 Vẻ đẹp tự nhiên
Bình Định có địa hình đa dạng: miền núi, đồng bằng, cồn cát ven biển và hải đảo Nắng nóng gió Tây trong mùa khô, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn kéo dài và thêm vào đó là địa hình dốc, ngắn các lưu vực sông nên các sông không trữ được nước gây nên tình trạng hạn hán rất nghiêm trọng Gió ở Bình Định là căn nguyên của tình trạng thời tiết khắc nghiệt của nơi đây Thế nhưng, khi đi vào thơ, gió biến thiên với muôn hình vạn trạng, lúc hung dữ, lúc hiền hòa, êm dịu, mang cái đẹp nhiều vẻ trong thơ Bàn thành tứ hữu
Những cơn gió mùa xuân nhẹ nhàng, tươi mát:
Cành gió hương xao hoa tỉ muội, Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn
(Chiều xuân – Quách Tấn) Gió dồn mặt sóng thu hơi quạnh,
Buồm cuốn theo mây ánh nắng vàng
(Bên sông – Quách Tấn) Gió rủ canh đi cành liễu khóc,
Sông đùa lạnh với bóng trăng run
(Bên sông 2 – Quách Tấn) Gió vàng lay động bức rèm thưa,
Nắng rọi sương tan mát mẻ chưa?
Tỉnh giấc Vu Sơn cười chúm chím, Tóc mây tha thiết chạnh lòng ưa
(Phong hoa tuyết nguyệt – Hàn Mặc Tử)
Trang 40Nếu như những cơn gió Nam, gió Nồm là bạn tâm giao của các nhà thơ Bình Định thì ánh trăng Quy Nhơn cũng là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong thơ của họ Nổi bật hơn hết là hình ảnh ánh trăng trong thơ của Hàn Mặc Tử Cuộc đời thi sĩ của ông đã ôm trọn vầng trăng Quy Nhơn làm vật quý riêng mình Cả cuộc đời Hàn Mặc Tử không thể thoát ra khỏi sự ám ảnh ghê gớm của vầng trăng Có lúc nó tối tăm, lúc lại chói lòa như hai mặt đối lập của Thiên đàng và Địa ngục Trăng bao phủ trang thơ Hàn:
Không gian đắm đuối toàn trăng cả Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng