1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện quế võ, tỉnh bắc ninh

122 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 867,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với Nghị quyết này hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ góp phần quan trọng vào sự phát triển của nông nghiệp nước ta trong những năm qua.. Bên cạnh những thành tựu quan trọng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THỊ PHẤN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN

HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THỊ PHẤN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN

HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ : 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS CHU THỊ KIM LOAN

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh; cảm ơn các thầy, cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS.Chu Thị Kim Loan - người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn

về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, cơ quan, bạn bè đồng nghiệp và các anh chị em học viên lớp Quản trị kinh doanh E - K21 đã chia

sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Phấn

Trang 5

2.1.5 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong điều kiện hiện nay 16

2.2.2 Thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam 21

2.2.4 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của hộ nông dân ở một số nước

Trang 6

2.2.5 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông hộ một số địa

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

3.1.6 Kết quả sản xuất nông nghiệp những năm qua của huyện Quế Võ 42

4.1 Kháí quát về tình hình thu nhập của người dân huyện Quế Võ 50

4.1.2 Các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế hộ nông dân 52 4.2 Thực trạng thu nhập của các hộ nông dân điều tra tại huyện Quế Võ 55

4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân tại

Trang 7

4.3.2 Các yếu tố bên ngoài nông hộ 84 4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông

Trang 8

3.5 Số hộ điều tra được chọn đại diện từ các xã đại diện huyện Quế Võ 46

4.4 Tình hình đất đai bình quân/hộ của nhóm hộ điều tra năm 2013 62 4.5 Tình hình vốn bình quân của các nhóm hộ điều tra năm 2013 63 4.6 Tổng hợp thu của nhóm hộ điều tra cho hoạt động trồng trọt 65

4.8 Chi phí cho hoạt động trồng trọt của hộ điều tra trong năm 69

4.10 Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp của các hộ điều tra tại huyện

4.13 Mức thu nhập của hộ phân loại theo trình độ văn hóa và nhân khẩu

4.14 Mức thu nhập của hộ theo quy mô đất đai của nhóm hộ điều tra 81 4.15 Mức thu nhập của nông hộ theo quy mô vốn của nhóm nông hộ

Trang 11

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, đạt được những thành tựu đáng khích lệ với năng suất và sản lượng ngày càng tăng Có sự chuyển biến tích cực đó là nhờ vào sự đổi mới chính sách kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước đó là quyết định tiến hành công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Nhất là từ khi

có Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng (1981) về “cải cách công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp”, đặc biệt Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng (1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Với Nghị quyết này hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ góp phần quan trọng vào sự phát triển của nông nghiệp nước ta trong những năm qua

Tuy nhiên bên cạnh mặt đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn Đây

là tất yếu khách quan Đó là nền kinh tế hàng hoá đã tạo ra sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư, giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn ngày một rõ Hiện nay, hơn 70% dân số nước ta ở nông thôn Đây là nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được sử dụng hợp lý, tuy nhiên nó cũng là một thách thức về vấn đề giải quyết việc làm tạo thu nhập cho người lao động Bởi vì hiện nay ruộng đất có hạn mà dân số ngày càng tăng lên Do vậy việc duy trì thu nhập đã khó nâng cao, thu nhập cho hộ nông dân lại càng khó hơn bởi nông thôn thì sản suất nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu

Quế Võ là một huyện của tỉnh Bắc Ninh, có lợi thế trong giao lưu phát triển kinh tế Nhìn chung, so với nhiều địa phương khác, mặt bằng kinh tế hộ

Trang 12

của huyện không phải là quá thấp Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được hiện nay, mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong kinh tế hộ qua nhiều năm cũng đã bộc lộ gay gắt thể hiện thông qua: thất nghiệp gia tăng, năng suất lao động thấp, khoảng cách giàu nghèo một cách xa, thu nhập của nông hộ không

ổn đinh…

Chính vì vậy, giải quyết vấn đề thu nhập cho hộ nông dân nói chung và

cư dân huyện Quế Võ nói riêng là yêu cầu cần thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, các đoàn thể

Với lý do nêu trên, để góp phần thúc đẩy kinh tế hộ của huyện Quế Võ

phát triển, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp

nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng thu nhập của hộ nông dân ở huyện Quế Võ, tìm

ra những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thu nhập của nông hộ

từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Quế

Trang 13

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Đối tượng khảo sát của đề tài là các hộ nông dân thông qua điều tra, phỏng vấn để thấy được thực trạng về thu nhập của các hộ nông dân trong huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các nông hộ trong điều kiện hiện nay

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Khái niệm về hộ, hộ nông dân?

- Phương pháp tính thu nhập của hộ nông dân?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân?

- Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của hộ nông dân của 1 số quốc gia là gì?

Trang 14

Tình trạng thu nhập của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu?

- Đặc điểm nhân khẩu, lao động, tiền vốn, đất đai của hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu như thế nào?

- Tổng thu, chi phí sản xuất và thu nhập của nhóm hộ điều tra trên địa bàn nghiên cứu như thế nào?

- Những nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân điều tra là gì?

- Các giải pháp nào để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Quế

Võ, tỉnh Bắc Ninh?

Trang 15

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về hộ

Xoay quanh vấn đề về hộ vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như:

- Tại hội thảo về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, trên quan điểm sản xuất các đại biểu thống nhất cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan tới sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

- Về phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng: “Hộ là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ” Khi nghiên cứu quá trình đô thị hoá Châu Á, GS.MC.GEE (1989) nguyên giám đốc học viện Châu Á thuộc đại học Colombia - Hoa Kỳ có quan điểm thiên về thu nhập Theo ông, thành viên của hộ không nhất thiết phải là sống chung dưới một mái nhà miễn là họ có đóng góp vào ngân quỹ chung Dưới góc độ nhân chủng học, RAUL (1989) khẳng định: “Hộ là tập hợp những người chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính mình”

Một số học giả khác như: MEGE (1989); Nguyễn Văn Huân; Mai Văn

Vũ (1990) qua nghiên cứu thực tế đã khẳng định các thành viên của hộ không nhất thiết có chung huyết tộc

Trên thực tế, cũng có sự thống nhất về khái niệm hộ, song với các ý kiến nêu trên, khái niệm hộ được khái quát như sau: “Hộ là nhóm người chung huyết tộc hoặc không chung huyết tộc, họ không nhất thiết cùng sống chung dưới một mái nhà nhưng có chung nguồn thu nhập và ăn chung Các thành viên của hộ cũng tiến hành các hoạt động sản xuất và có cùng chung ngân quỹ”

Trang 16

“Ăn chung” được hiểu theo nghĩa là các thành viên trong hộ được phân phối bởi nguồn thu nhập chung, cái mà họ đã cùng sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định

Theo GS Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà Ăn chung và có chung ngân quỹ, có phân phối chung nguồn thu nhập mà các thành viên của họ sáng tạo ra”

2.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân

Theo GS.Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ nông dân là những người có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”

Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng

có những biến đổi sâu sắc Xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ vì lý

do nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập Cũng có

hộ chuyển sang nghề khác và cho thuê đất sản xuất của mình theo kiểu “Phát canh thu tô” Tất cả những hộ này đều được coi là hộ nông dân Ngược lại, những hộ không kinh doanh kiếm lợi từ ruộng đất mà hoạt động kinh tế trong lĩnh vực ngành nghề phi nông nghiệp tuy sống ở nông thôn nhưng không được coi là hộ nông dân

2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân là tổ chức cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó các nguồn lực như: đất đai, lao động, nguồn vốn và các tư liệu sản xuất khác của nông hộ là nguồn lực chung để tiến hành sản xuất

Trang 17

Theo quan điểm của Macxit: “Kinh tế nông dân là một đơn vị kinh tế luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, tham gia từng phần vào đơn

vị sản xuất của nông hộ tự nó chưa bao giờ là một phương thức sản xuất Hộ không thuê lao động hoặc thuê lao động với tỷ lệ thấp để đảm bảo với thời

vụ nên không tính tiền lương và không tính được lợi nhuận Nông hộ chỉ có thu nhập chung của các hoạt động kinh tế, đó là sản lượng thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà đã bỏ ra phục vụ sản xuất Hộ là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, được nhà nước thừa nhận hỗ trợ

và tạo điều kiện phát triển

Như vậy, kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức cơ sở của nền sản xuất

xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung dưới một nhà, ăn chung Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển

2.1.2 Thu nhập của hộ nông dân

2.1.2.1 Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống Chính vì vậy, khi nghiên cứu về hộ nông dân, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm đến thu nhập của hộ nông dân Song do được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập

hộ nông dân cũng được nhìn nhận và khái niệm khác nhau

Quan điểm của Traianop về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện không tồn tại thị trường sức lao động Theo ông, thu nhập hộ nông dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong nông hộ không chỉ có tiền lãi kinh doanh mà bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy, thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất

Trang 18

Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện tồn tại thị trường sức lao động Theo các ông, trong điều kiện tồn tại thị trường sức lao động thì thời gian lao động được phân chia thành: LĐ nghỉ ngơi, thời gian lao động làm việc nhà, thời gian làm SXNN và thời gian làm việc có tiền công (bao gồm lao động làm thuê ngoài và LĐ đi làm thuê) Từ

đó, các ông khái niệm thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của hộ nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi đã trừ đi các phần: Phần sản phẩm hộ tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng giá trị tiền lao động đi làm thuê Song ở đây, các ông lại tính số tiền giống nhau, điều này không đúng Sau đó, khái niệm này được Allanlow nghiên cứu và bổ sung thêm với điều kiện tiền công khác nhau cho các loại lao động, giá cả các sản phẩm cũng khác nhau

Để đi sâu vào nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về hộ nông dân, nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu hỗn hợp để đánh giá thu nhập của nông dân Thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định ) Như vậy trong phần thu nhập của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lãi kinh doanh

Xuất phát từ các quan điểm trên và đặc trưng về hộ nông dân ở Việt Nam chúng tôi tổng quát về thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của một

hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng

để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện Có thể phân thu nhập của hộ thành 3 loại: Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu khác

Trang 19

- Thu nhập nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp (gồm cả nghề rừng và nghề cá theo nghĩa rộng) như: Trồng trọt (lúa, màu, rau, quả ); từ chăn nuôi (gia cầm, gia súc ), nuôi trồng thủy sản (tôm, cua, cá )

Thu nhập phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí Ngoài ra thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ (TMDV) như buôn bán, thu gom

Thu nhập khác: Đó là các nguồn thu nhập từ các hoạt động làm thuê từ các nguồn trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu nhập bất thường khác

2.1.2.2 Nội dung và phương pháp tính tổng thu nhập của hộ nông dân

a Nội dung

Tổng thu của hộ nông dân được tạo nên từ sự đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật của các bộ phận riêng lẻ nhưng được kết hợp ăn ý với nhau từ các thành viên trong nông hộ Có nghĩa rằng tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt đông sản xuất khác nhau trong nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác tạo ra Một số khác cho rằng việc kiếm được từ các công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương hưu, trợ cấp cũng làm tăng nguồn thu nhập cho hộ Như vậy, tổng thu nhập của hộ có được từ ba nguồn chính là thu

từ hoạt động SXNN, thu từ hoạt động phi nông nghiệp và thu từ các khoản thu nhập khác

Sản xuất nông nghiệp trong nông hộ là các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp là các hoạt động như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, kinh doanh thương mại và dịch vụ Thu nhập của hai hoạt động này

Trang 20

bao gồm số tiền bán được của các sản phẩm và giá trị của những sản phẩm mà nông hộ tự sản xuất tự tiêu dùng

Phần bán được: Đó là khoản tiền thu được hay sẽ thu được từ việc bán sản phẩm Sản phẩm đó gồm sản phẩm chính và sản phẩm phụ của các ngành sản xuất trong nông hộ

Sản phẩm chính là toàn bộ sản xuất ra để phục vụ trực tiếp đến đời sống của con người, nó là toàn bộ sản phẩm thu được thuộc sản xuất chính của quá trình sản xuất kinh doanh như thóc Còn sản phẩm phụ là toàn bộ sản phẩm thu được thuộc mục đích phụ của quá trình sản xuất như rơm, rạ

Thu ngoài hoạt động SXNN là các khoản thu thực tế của nông hộ có thể bằng tiền có thể bằng hiện vật Phần thu này có được từ các thành viên trong

hộ tham gia vào các hoạt động sản xuất khác ngoài nông hộ như làm trong các nhà máy, xí nghiệp, đi xuất khẩu lao động hay làm cho các hộ nông dân khác

có tiền đóng góp vào ngân quỹ chung của hộ nông dân Nguồn thu này còn có được từ các tổ chức hay cá nhân như quà biếu, cho tặng, lương hưu, trợ cấp, lãi suất cho vay,

b Phương pháp tính tổng thu nhập cho hộ nông dân

* Tính tổng thu

Thu từ hoạt động sản xuất nông hộ bằng tổng thu ngành nông nghiệp và ngành phi nông nghiệp, song mỗi hoạt động khác nhau có cách tính khác nhau Đối với hoạt động NN, trước hết là sản xuất trồng trọt, do sản xuất trồng trọt mang tính thời vụ nên tổng thu được tính theo thời vụ Tổng thu từ sản xuất mùa vụ bao gồm thóc, ngô, khoai, sắn Đó là toàn bộ giá trị sản phẩm được bán, giá trị sản phẩm mà hộ tiêu dùng trong gia đình, làm thức ăn chăn nuôi giống, cây trồng, vật nuôi, phân bón cụ thể được tính như sau:

Thu từ SXNN = Số lượng sản phẩm chính (phụ) x Giá bán

Thu từ chăn nuôi = Số lượng sản phẩm chính (phụ) x Giá bán

Trang 21

Thu từ hoạt động phi nông nghiệp = Số lượng hàng hóa x Giá bán

Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm

* Tính tổng chi phí sản xuất

Chi phí (CP) sản xuất thể hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật các yếu tố sản xuất được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất Thực chất, chi phí sản xuất bao gồm phần chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần phải chi khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với một thời kỳ một năm

Tổng chi phí SX = CP biến đổi + CP cố định

* Tính thu nhập

Thu nhập (TN) của hộ nông dân là phần còn lại sau khi đã trừ đi hết chi phí sản xuất Như vậy, thu nhập của hộ nông dân bao gồm lợi nhuận kinh doanh, tiền công của chủ hộ và các thành viên trong hộ, phần chi phí tự sản xuất không trao đổi trên thị trường và các khoản thu từ hoạt động ngoài nông

hộ Một phần thu nhập sẽ được hộ sử dụng vào chi tiêu đời sống, sinh hoạt, một phần dùng để đầu tư cho quá trình SX tiếp theo hay gửi tiết kiệm

Phương pháp tính thu nhập

TN của hộ = Tổng thu của hộ - Tổng chi phí

Tổng TN của hộ = TN từ hoạt động SXNN + TN từ phi NN + TN khác

2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân

Trong SXNN, kinh tế hộ nông dân chịu sự tác động bởi các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan Các nhân tố này tác động đến thu nhập của hộ nông thông qua hai bộ phận chính của thu nhập là tổng thu và chi phí Do đó, các yếu tố ảnh hưởng đến hai thành phần này sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân Có nghĩa là một yếu tố nào đó làm thay đổi một trong hai thành phần này cũng làm thay đổi thu nhập của hộ

Trang 22

Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu và tổng chi phí trên còn có quan hệ với nhau, có những yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu vừa ảnh hưởng đến tổng chi phí, vì vậy chúng tôi chia các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân như sau:

2.1.3.1 Các yếu tố khách quan

a Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến thu nhập

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác như: Thời tiết, khí hậu Do đối tượng của SXNN là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh

b Ảnh hưởng của quy mô, chất lượng đất đai đến thu nhập

Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp Để phát triển kinh tế hộ nông dân, trước hết phải dựa vào đất, nhất là những nơi có tiềm năng về đất đai có thể lập trang trại, chuyển sang sản xuất hàng hóa (SXHH) thì mới có cơ hội để phát triển kinh tế nông hộ Đối với tài nguyên đất đai, cần chú ý đến hai yếu tố đó là diện tích và độ màu mỡ làm giảm chi phí sản xuất và tăng năng suất

Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản xuất mà hộ khai thác được Nếu hộ nào có điều kiện sản xuất trên quy mô rộng thì việc tăng quy mô diện tích sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, trang trại Ngược lại nếu hộ nào không đủ điều kiện, không có khả năng sản xuất kinh doanh thì quy mô diện tích rộng sẽ không những không làm tăng thu nhập mà còn làm tăng chi phí sản xuất, lãng phí đất đai, lãng phí sức lao động

Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ mầu mỡ của đất Độ phì, độ mầu

mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển Chất lượng của đất còn quy định lợi thế của từng vùng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm

Trang 23

chất lượng đất không những làm tăng khối lượng sản phẩm mà còn làm giảm được chi phí sản xuất

c Ảnh hưởng của yếu tố thị trường

Nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của xã hội đối với nông sản phẩm

và giá cả của các yếu tố đầu vào Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự lựa chọn sản xuất những sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí

cơ hội thấp Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng nhu cầu của thị trường nông sản, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau Thị trường là nơi mà giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất được hình thành, nên thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ người dân

d Ảnh hưởng của nhân tố về phong tục tập quán

Ở mỗi vùng điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác nhau, đặc biệt yêu cầu thích nghi của các cây trồng, vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái, đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện từng vùng Ngoài ra mỗi vùng mỗi địa phương còn có những ngành nghề truyền thống khác nhau quan niệm về kinh doanh TMDV khác nhau

e Ảnh hưởng của chính sách Nhà nước

Chính sách nhà nước bao gồm các chính sách thuế, chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách khuyến nông, chính sách bảo hộ sản phẩm, chính sách trợ giá, chính sách giải quyết việc làm, chính sách trợ cấp, mỗi chính sách ban hành đều có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

hộ dù lớn hay nhỏ Nếu chính sách đúng sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư mà đặc biệt là chính sách về kinh tế nông nghiệp nông thôn, là môi trường thuận lợi để nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa với quy mô lớn

Trang 24

2.1.3.2 Các yếu tố chủ quan

a Ảnh hưởng của lao động và nhân khẩu đến thu nhập

Quy mô lao động thể hiện ở mức độ đầu tư lao động vào một công việc

cụ thể Nếu đầu tư sức lao động cao sẽ cho sản lượng cao hơn và thu nhập hơn và ngược lại Khi đánh giá vấn đề nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỷ

số giữa số lượng lao động và số lượng nhân khẩu Khi tỷ số giữa số lượng lao động trên số nhân khẩu thấp nghĩa là tỷ lệ phụ thuộc cao, điều này gây bất lợi cho hộ nó làm cho những hộ nghèo ngày càng nghèo thêm

Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất Đặc biệt đối với chủ hộ vì họ là người cuối cùng ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết định của chủ hộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hộ trong sản xuất kinh doanh

b Ảnh hưởng của quy mô vốn đến thu nhập

Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được đến tiến hành tổ chức sản xuất kinh doanh, nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất

Có vốn, có thể mở rộng quy mô chuyển dần sang SXNN, có vốn thì có thể mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất làm giảm chi phí góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân

c Ảnh hưởng của yếu tố khoa học kỹ thuật

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm năng suất cao và chất lượng tốt Cải tiến kỹ thuật là tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa và giảm được chi phí, cải tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và tăng thu nhập cho hộ nông dân

Trang 25

d Ảnh hưởng của trình độ tổ chức, quản lý đến thu nhập

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân, việc lựa chọn phương án sản xuất và cách bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực hiện

có vai trò quyết định đến thu nhập của hộ nông dân Yếu tố này phụ thuộc vào trình độ văn hóa, kinh nghiệm sản xuất và nhạy bén với thị trường của chủ hộ

e Ảnh hưởng của các khoản thu khác đến thu nhập

Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như

số người được hưởng trợ cấp, số người hưởng hưu, số người đi làm việc ở công ty, xí nghiệp số người đi xuất khẩu lao động, trong đó trình độ của số người đi làm ở nước ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong một đơn vị thời gian Thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở số tiền đóng góp vào ngân sách của hộ, khoản thu này tuy không lớn so với thành thị nhưng có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn

2.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân có 6 đặc trưng cơ bản là:

Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình

quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ

Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ

với nhau và được chi phối bởi quan hệ huyết thống Thông thường chủ hộ thường là người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất Với đặc điểm này, việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản

Thứ ba: Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy

động hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khả năng thích nghi

và tự điều chỉnh tốt Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa

Trang 26

nguồn lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất giản đơn

Thứ tư: Quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hoá và đặc biệt là lợi ích kinh

tế chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hết sức đa dạng và phức tạp, song chúng cùng tác động tạo nên sự đồng tâm, hiệp lực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế mà không cần đến thưởng phạt Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác

Thứ năm: Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị

trường Chính vì thế, trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực của mình như: đất đai, sức lao động với thị trường đầu ra, nông hộ chỉ mua những gì mà họ không có khả năng tự túc như: quần áo, thuốc men hay các đồ gia dụng khác

Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của

mình là chủ yếu Chỉ khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt động mua bán hay đi thuê mới diễn ra

Với các đặc trưng trên, có thể khẳng định rằng kinh tế nông hộ luôn là hình thức tổ chức kinh tế rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp Bởi vì, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các sinh vật sống rất cần sự chăm sóc trực tiếp và thường xuyên của con người Người lao động trong nông hộ với ý thức trách nhiệm cao, có sự gắn bó mật thiết với cây trồng vật nuôi nên hoàn toàn

có thể đảm nhận công việc đó

2.1.5 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong điều kiện hiện nay

Trong nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế, các phương thức sản xuất là hoàn toàn khách quan Kinh tế nông hộ là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế Từ trước đến nay kinh tế hộ dù phát triển dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều là nhân tố quan trọng giúp cho nền kinh tế quốc dân phát triển Kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân

Trang 27

văn và xã hội Ở các nước trên thế giới, nông hộ góp phần cung cấp một khối lượng không nhỏ các nông sản phẩm cho đời sống xã hội

Ở Việt Nam, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Mặt khác đối với nông nghiệp sản xuất hàng hoá chưa cao nên kinh tế nông hộ càng có vai trò hết sức to lớn, nó thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển Theo ước tính thì kinh tế hộ nông dân đã cung cấp cho

xã hội khoảng 90% sản lượng thịt và cá, 90% sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả Đẩy mạnh xuất khẩu và góp phần sử dụng tốt hơn tài nguyên đất, lao động, vốn, rừng, biển nâng cao thu nhập cho người nông dân Từng bước phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn theo tinh thần mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới là CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn

Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá bỏ thế độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn theo điều kiện từng vùng, từng bước xoá bỏ cơ chế sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo hình thức trang trại gia đình

để tăng khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập cho người nông dân, từng bước “thành thị hoá” trong lòng nông thôn để phát triển một nền nông nghiệp mạnh và bền vững

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam

2.2.1.1 Thời kỳ Pháp thuộc

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 do thực dân và phong kiến chiếm đa

số ruộng đất, vì vậy mà đại bộ phận nông dân phải đi làm thuê cho địa chủ phong kiến, chỉ có một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hoá theo kiểu

cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ

Trang 28

2.2.1.2 Giai đoạn từ 1955 đến 1959

Sau khi giành được chính quyền, Đảng ta đa thực hiện cải cách ruộng đất với khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” Chính nhờ chính sách cải cách ruộng đất này cộng với công tác khuyến nông đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông hộ phát triển Trong giai đoạn này các nông hộ đã biết hợp tác với nhau

để trao đổi kinh nghiệm, kĩ thuật và đã trở thành các tổ đổi công, mầm mống của hợp tác xã ra đời

2.2.1.3 Giai đoạn từ năm 1960 đến 1980

Cuối năm 1958 nước ta đã tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và chỉ đến cuối năm 1960 đã có hơn 84% nông dân tham gia vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Và bắt đầu từ đây môi trường sản xuất kinh doanh của hộ đã thay đổi hoàn toàn Hiến pháp năm 1959 đã xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mọi quan hệ trao đổi, buôn bán đều bị cấm nghiêm ngặt

Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp được tổ chức chủ yếu theo các hợp tác xã và các nông lâm trường quốc doanh.Trong hợp tác xã nông nghiệp được tập thể dành cho 5% đất canh tác để làm “kinh tế phụ gia đình” hay

“kinh tế phụ xã viên” Với 5% đất canh tác nhưng đã sản xuất ra 48 % tổng giá trị sản lượng nông nghiệp, 95% sản lượng chăn nuôi, 93% sản lượng rau quả và chiếm 50 - 60% thu nhập của hộ Tuy không công khai nhưng kinh tế nông hộ đã thực sự là cơ sở để đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại Và chỉ trong vòng hai năm, miền Bắc đã cơ bản thực hiện song phong trào hợp tác hoá Kết quả là 2,4 triệu hộ nông dân chiếm 85% tổng số hộ và 76% ruộng đất cùng với 4400 HTX được thành lập Số nông hộ còn lại thì luôn bị HTX chèn

ép Và cũng chính từ thời điểm này kinh tế nông hộ phụ thuộc vào HTX và nó phát triển theo một xu hướng bất lợi Kết quả là chỉ ngay sau khi thống nhất đất nước thì sản xuất đã đi vào con đường trì trệ, tổng sản lượng lương thực

Trang 29

đã liên tục giảm gần 2 tạ/ha, bình quân lương thực đầu người giảm từ 334 kg xuống còn 261kg

2.2.1.4 Giai đoạn từ 1981 đến 1987

Trước thực trạng của sản xuất nông nghiệp đã đẩy nền kinh tế nước ta đến nguy cơ khủng hoảng toàn diện, Hội nghị TW 6 tháng 9 năm 1979 xác định: “Những vấn đề kinh tế cấp bách” nhằm tìm giải pháp cho nông nghiệp phát triển Và chính trong thời gian này đã có nhiều địa phương tiến hành

“khoán chui”, “khoán gọn” đến từng nhóm người và đến từng người lao động

Ví dụ như: ở Hải Phòng, Vĩnh Phú, Thái Bình và hình thức này tỏ ra có hiệu quả hơn HTX rõ rệt

Cũng chính trên cơ sở này mà qua một thời gian đấu tranh và phân tích

kĩ lưỡng và ngày 13 tháng 1 năm 1981 Ban bí thư TW Đảng đã ban hành Chỉ thị 100CT/ TW nêu rõ mục đích của việc thực hiện cơ chế khoán mới nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế, lôi kéo mọi người hăng hái tham gia sản xuất, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực và cơ bản nâng cao thu nhập cho xã viên, tích luỹ cho HTX và tăng thu cho nhà nước Cũng chính do được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng đạt được khoán và hưởng trọn phần vượt khoán nên kinh tế nông hộ được khôi phục và phát triển nhanh chóng Kết quả là từ năm 1981 đến năm 1985 sản lượng lương thực tăng 20,7%, năng suất tăng 232%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, thu nhập quốc dân trong nông nghiệp tăng 5,6% và lương thực bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm: từ 273kg năm 1981 lên 304kg năm 1985 Kinh tế nông hộ trong giai đoạn này tuy được tự chủ chút ít nhưng vẫn còn phụ thuộc vào tập thể và vẫn bị mô hình này chi phối

Và chỉ sau một thời gian ngắn Khoán 100 bắt đầu bộc lộ những hạn chế Bởi vì, tuy là khoán nhưng HTX vẫn đảm nhiệm đến 5 khâu, còn xã viên chỉ đảm nhận 3 khâu, HTX vẫn dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất, sản xuất

Trang 30

tập trung và phân phối theo công điểm Mức độ khoán lại do HTX quy định nên đã xảy ra tình trạng quan liêu như: mức khoán thì quá cao không xuất phát từ thực tế làm cho xã viên không có lợi trong việc đầu tư thâm canh vì vậy mà xã viên trong giai đoạn cuối này mong muốn mất mùa hơn là được mùa, cho nên sản xuất nông nghiệp lại đi vào khủng hoảng

2.2.1.5 Giai đoạn từ 1988 đến nay

Trước những hạn chế khó khăn của Chỉ thị 100CT/TW các địa phương tiên phong như: Hải Phòng, Vĩnh Phú lại làm thử hình thức giao hẳn ruộng đất cho hộ nông dân sử dụng, đảm bảo cho họ có quyền tự quyết trên mảnh đất của mình, kết quả đã khả quan hơn rất nhiều

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm nhiều địa phương ngày 5/4/1988 Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông thôn trong từng hộ gia đình Theo tinh thần Nghị quyết thì HTX, các tập đoàn sản xuất thực hiện chế độ tự quản,

tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Thừa nhận kinh tế nông hộ là thành phần kinh tế cơ bản của nông nghiệp và nông thôn

Hộ gia đình nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài khẳng định quyền tự chủ của hộ gia đình nông dân, hộ nông dân có quyền tự chủ trong việc đầu tư thâm canh Chính từ đây kinh tế nông hộ mới trở thành tự chủ, nông dân mới dồn hết tâm huyết và trí lực của mình vào sản xuất làm giàu cho gia đình, cho xã hội trên mảnh đất của mình Trong giai đoạn này HTX cũng được thay đổi HTX được thành lập trên cơ sở tự nguyện góp sức, góp vốn của người nông dân và được quản lý dân chủ Kết quả là chỉ sau một năm thực hiện Nghị Quyết bộ mặt nông nghiệp nông thôn nước ta đã thay đổi rõ rệt Từ một nước thiếu đói thường xuyên phải nhập lương thực thì năm 1989

Trang 31

lần đầu tiên chúng ta đã có 1,4 tấn gạo xuất khẩu Và đến nay chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới

2.2.2 Thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam

2.2.2.1 Thực trạng

Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế nông hộ nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, khẳng định rõ mình là một đơn vị kinh tế tự chủ, một trong những thành phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Kết thúc năm 2001 về cơ bản kinh tế nông hộ đã góp phần giải quyết vấn đề “An ninh lương thực ” trên phạm vi toàn quốc, khẳng định vị trí thứ hai của nước xuất khẩu gạo

Ở hầu hết các vùng, các miền đều xuất hiện những nông hộ làm ăn giỏi vươn lên giàu có, đời sống văn hoá xã hội nông thôn đã từng bước được nâng cao, kinh tế nông hộ ngày càng đa dạng hơn về thành phần Nhiều hộ đã chuyển sang đa ngành chứ không còn tình trạng nông nghiệp thuần tuý nữa

Cơ cấu thu nhập trong nông hộ cũng thay đổi, xã hội nông thôn ngày càng ổn định và phát triển

Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được kinh tế nông hộ còn bộc lộ những yếu điểm sau:

- Nguồn lực trong nông hộ có quy mô nhỏ: ruộng đất bình quân đầu người thấp Đặc biệt là ở vùng đồng bằng Sông Hồng cộng với việc manh mún dẫn đến kinh tế nông hộ bị hạn chế rất nhiều trong việc phát triển

- Lao động thì thiếu việc làm, trong khi đó số người ăn theo thì cao, điều này làm hạn chế sự tích luỹ của nông hộ trong quá trình tái sản xuất

- Mất cân đối và thiếu vốn trong sản xuất: hầu hết các nông hộ trong nông thôn đều thiếu vốn trong sản xuất, có một số nông hộ không dám vay vốn để phát triển sản xuất vì sợ thất bại, còn có những hộ muốn vay nhưng không được vay vì nhiều lý do

Trang 32

- Phân bổ sản xuất không đều có sự chênh lệch lớn giữa đồng bằng và miền núi, điều này dẫn đến sự mất cân đối trong phát triển sản xuất Vùng thì thiếu, vùng thì thừa

- Vấn đề ra quyết định sản xuất của nông hộ nhìn chung còn bị động và chưa thể hạch toán được quá trình sản xuất Do vậy mà cơ hội làm giầu của nông hộ bị giảm

- Thị trường nông thôn kém phát triển và không thường xuyên dẫn đến

sự mất thông tin thị trường của các nông hộ Điều này đã hạn chế quá trình sản xuất của nông hộ

Những vấn đề tồn tại trong nông thôn Việt Nam mà khi phát triển kinh tế nông hộ cần quan tâm giải quyết

- Sản xuất nông hộ vẫn còn mang tính tự cung tự cấp chưa thoát hẳn những tư tưởng cũ, năng suất sản phẩm thấp và chưa ổn định

Thất nghiệp: thực tế cho thấy chúng ta dư thừa khoảng 20 - 30% lao động

- Thất học: hiện nay trình độ văn hoá của nông hộ còn rất thấp, nhiều nơi

bà con nông dân còn chưa được đi học

- Suy dinh dưỡng, bệnh tật, thiếu nước sạch

Đây là những vấn đề cần giải quyết khi phát triển kinh tế nông hộ

2.2.2.2 Xu hướng phát triển

Cũng như tất cả các nước, kinh tế nông hộ nước ta không nằm ngoài quy luật vận động tất yếu Trong những năm tới, kinh tế nông hộ nói riêng và nông thôn nói chung có thể phát triển theo những xu hướng sau:

- Xu hướng thứ nhất: Một bộ phận nông hộ sẽ trở thành các chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập hay nói cách khác một bộ phận kinh tế mang tính tự cung tự cấp sẽ chuyển sang kinh tế hàng hoá, các nông trại sản xuất hàng hoá được hình thành và phát triển

Trang 33

- Xu hướng thứ hai: Sự hình thành các dịch vụ kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho ngành nông thương phẩm và đời sống của cư dân nông thôn Quá trình này làm nảy sinh các quan hệ hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật ngoài ruộng đất, có nghĩa là kinh doanh tách khỏi ruộng đất

- Xu hướng thứ ba: Quá trình làm giảm tỷ lệ các hộ nghèo, hiệu quả kinh

tế thấp cùng với quá trình gia tăng phát triển công nghiệp và dịch vụ Đây là quá trình phi nông nghiệp giải phóng dân cư ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Đây là nội dung quan trọng của quá trình phân công lao động xã hội và chuyển xã hội nông thôn truyền thống sang xã hội nông thôn hiện đại

Ba xu hướng này đều có cùng một ý tưởng là chuyển nền kinh tế tiểu nông tự cung, tự cấp mang nặng tính hiện vật sang sản xuất hàng hoá Đây là quá trình phát triển tất yếu của bất kỳ quốc gia nào chứ không phải của riêng của các nước TBCN hay các nước đang phát triển

Tuy nhiên phát triển theo hướng nào, con đường nào là tuỳ thuộc và điều kiện cũng như đặc điểm và sự hỗ trợ của Chính Phủ của mỗi nước cùng với sự

nỗ lực của bản thân nông hộ

2.2.3 Một số loại hình nông hộ chủ yếu hiện nay

Hiện nay kinh tế nông hộ nước ta đóng một vai trò không nhỏ đối với nền kinh tế quốc dân Vì vậy sự phát triển phong phú các loại hình kinh tế hộ dẫn đến sự hài hoà trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nó có tác dụng làm tăng tính chuyên sâu cũng như tính đa dạng hoá trong quá trình sản xuất kinh doanh là điều kiện có thể cạnh tranh và tương hỗ lẫn nhau trong chu trình sản xuất kinh doanh của mình Vì thế hiện nay với sự vận động của cơ chế thị trường mà kinh tế hộ nông dân có rất nhiều loại hình sản xuất khác nhau đó là một số loại hình chủ yếu sau

Trang 34

- Loại hình kinh tế hộ thuần nông:

Đây là loại hình mà các hộ nông dân chỉ sản xuất kinh doanh chủ yếu trong các ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) Loại hình này vẫn còn mang nặng tính tự cung tự cấp, đời sống thành viên trong hộ không cao và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Tuy nhiên, cũng có một số hộ sản xuất hàng hoá theo kiểu nông trại nên có sản phẩm là hàng hoá Song loại hình này ở nước ta hiện còn chưa nhiều Để các hộ này phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập thì ngoài việc đầu tư thâm canh phát triển kinh tế, phát triển những cây con có giá trị kinh tế, phá thế độc canh còn phải có kỹ thuật canh tác tốt

- Loại hình kinh tế hộ kiêm:

Đây là loại hình kinh tế hộ đa dạng trong sản xuất kinh doanh, họ vừa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp (nơi có rừng), thuỷ sản (nơi có biển, ao hồ ) vừa làm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp hoặc kết hợp với buôn bán Trong thực tế, loại hộ này thường có vốn lại biết kinh doanh, phát huy thế mạnh của mình để phát triển ngành nghề, buôn bán nhằm tăng thu nhập cho

hộ gia đình Các loại hộ này thường có thu nhập cao hơn các hộ thần nông thuần tuý

- Loại hộ chuyên và hộ buôn bán:

Đây là loại hình của hình thức mới hoặc là hộ có vốn hoặc đi vay để phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (thường là hộ có tay nghề hoặc nghề truyền thống) hoặc là những hộ chuyên buôn bán các mặt hàng ở nông thôn Hình thức loại hộ này có thu nhập cao vì họ biết cách tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra là sản phẩm hàng hoá

Đối với loại hộ chuyên kinh doanh ở nông thôn ra đời là sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên một số hộ có vốn lại có đầu óc kinh doanh đi theo hướng này và thấy được hiệu quả của nó mang lại nên họ tách hoặc nhượng lại ruộng đất của mình cho người khác để tham gia vào thị trường

Trang 35

Trong sự vận động của nền kinh tế, quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế diễn

ra rất khác nhau Có vùng sản xuất hàng hoá thuần nông, có vùng sản xuất hàng hoá tuỳ theo điều kiện địa lý và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng Tuy nhiên xu hướng chung vẫn là phá dần sự thuần nông để tạo ra đa ngành trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng được các sản phẩm phụ, ngày nông nhàn để sản xuất nâng cao thu nhập cho hộ nông dân

2.2.4 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của hộ nông dân ở một số nước trên thế giới

2.2.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là nước có nền nông nghiệp rất phát triển và ổn định Đồng thời cũng là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Kinh tế nông hộ của Thái Lan phát triển mạnh và hầu hết đã trở thành nông trại sản xuất hàng hóa Để thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển Chính phủ Thái Lan đã có những chính sách như sau:

- Chính sách về thị trường: Do giá nông sản trên thị trường rất rẻ nên Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chính sách bình ổn giá bằng cách đặt mức giá mua lúa gạo tối thiểu để nông dân không phải bán thóc rẻ hơn chi phí sản xuất tạo nhu cầu dự trữ và điều tiết hạn ngạch xuất khẩu gạo Đặc biệt là hạn chế

sự bóc lột của khâu trung gian, thương nhân Hạ thấp giá bán vật tư nâng giá bán nông sản và tăng cường khả năng cạnh tranh của nông hộ Chính phủ đã không ngừng nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc biệt là thông tin liên lạc Phát triển hệ thống các đại lý tạo ra các kênh phân phối liên tục từ nông thôn đến các thành phố lớn, tăng cường thông tin thị trường, liên kết thị trường, quảng cáo và tổ chức các khoá đào tạo để không ngừng nâng cao kiến thức về thị trường cho người sản xuất giúp họ đưa ra những quyết định kinh doanh có hiệu quả hơn

Trang 36

- Chính sách đầu tư cho nông nghiệp: đầu tư cho nông nghiệp chiếm một tỷ trọng đáng kể trong đầu tư của Chính Phủ Bao gồm 3 loại đầu tư lớn nhất là: Đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, nối nông thôn với các trung tâm kinh tế lớn để mở rộng thị trường, nhất là thị trường tiêu thụ sản phẩm tươi sống

Khoản đầu tư thứ hai là cho xây dựng hệ thống thuỷ lợi: Năm 1988 Thái Lan có 604 dự án thuỷ lợi quy mô vừa và lớn, 4988 dự án quy mô vừa và nhỏ, tạo điều kiện cung cấp đủ nước tưới cho các nông trại Bên cạnh đó Chính Phủ còn đầu tư vào việc cung cấp phân bón cho các nông trại Trong thời kỳ “cách mạng xanh” Thái Lan đã cho phép nhập khẩu phân bón không tính thuế

- Chính sách tín dụng nông nghiệp: Thái Lan là một trong những nước rất thành công trong việc cung cấp tín dụng nông nghiệp.Tín dụng nông nghiệp của Thái Lan thông qua Ngân hàng quốc gia, Ngân hàng thương mại, Ngân hàng nông nghiệp và các HTX nông nghiệp Ngoài ra còn có các tổ chức phi Chính Phủ khác cũng cung cấp tín dụng cho nông dân Các tổ chức này có rất nhiều cách cho vay như: tín chấp hoặc thế chấp bằng mọi tài sản cố định thậm chí cả bằng thóc Song phần lớn các khoản cho vay của HTX là dành cho vốn lưu động ngắn hạn, các khoản cho vay cũng gắn liền với từng loại cây trồng và định hướng phát triển cây trồng theo ý đồ của Chính Phủ Các tổ chức này rất có uy tín đối với nông dân và đã lôi kéo thu hút được hơn một nửa số hộ nông dân tham gia

2.2.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một nước rât coi trọng phát triển kinh tế hộ, coi việc phát triển kinh tế hộ là việc hàng đầu của đất nước Nhờ có chủ trương đúng và bước đi thích hợp nên trong vòng 15 năm trở lại đây kinh tế nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc đã thu được những thành tựu hết sức to lớn Để đưa

Trang 37

kinh tế hộ phát triển, Trung Quốc đã hướng vào 3 mũi nhọn sau: đưa ra các chính sách, đầu tư, và tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật Trung Quốc đã xác định 8 quan điểm phát triển kinh tế nông thôn nói chung và kinh tế nông

hộ nói riêng như sau:

+ Cải cách nông thôn phải ổn định cơ chế khoán hộ, không ngừng hoàn thiện cơ chế kinh doanh hai tầng kết hợp giữa thống nhất và phân tán, tích cực phát triển hệ thống dịch vụ xã hội, hướng nông dân đi theo con đường giàu có chung xây dựng kinh tế phải thực sự đặt nông nghiệp lên vị trí hàng đầu + Xây dựng và chấp hành chính sách nông thôn phải đảm bảo lợi ích vật chất và quyền lợi dân chủ về chính trị nông hộ

+ Đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn phải kiên trì chiến lược khoa học kỹ thuật và giáo dục cũng như chấn hưng nông nghiệp

+ Phát triển kinh tế nông hộ hàng hoá phải tôn trọng quy luật giá trị + Khống chế sự tăng cường nhân khẩu, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên + Chỉ đạo kinh tế nông hộ phải tuân thủ đường lối quân chủng và xuất phát từ sự chỉ đạo thực tế một cách hợp lý không dập khuôn máy móc

+ Phải tăng cường tổ chức cơ sở Đảng làm hạt nhân lãnh đạo, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng kiên trì xây dựng đời sống văn minh về vật chất và tinh thần

Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhờ có

sự thành công của chính sách đổi mới, bộ mặt nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, từ một nước thiếu đói thành một nước phát triển

2.2.4.3 Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan cũng là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh Đặc biệt là sau cải cách ruộng đất nền nông nghiệp của Đài Loan thực sự đổi sắc Để phát triển kinh tế nông hộ Đài Loan có rất nhiều chủ trương, chính sách Song cách

Trang 38

hợp lý và có hiệu quả hơn cả là cách lập ra các tổ chức có tên gọi là “Nông phục hội”

Tổ chức này đứng ra lập kế hoạch chỉ đạo sản xuất, cố vấn phát triển và quan trọng hơn cả là làm khâu trung gian chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân Kinh nghiệm của tổ chức này cho hay, để thành công trong việc phát triển kinh tế nông hộ, họ đã tiến hành một loạt các biện pháp cơ bản sau: + Tiến hành cải cách ruộng đất mà thực chất là giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân Thực hiện “người làm có ruộng” Sau cải cách ruộng đất, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong sản xuất nông nghiệp đạt tới mức 5,3% một năm và liên tục trong suốt 15 năm

+ Tiến hành cuộc “cách mạng xanh” Đây là cuộc cách mạng về giống và

đã tạo được nhiều giống mới có năng suất cao trên mảnh đất của nông hộ

“Cách mạng xanh” đã đem lại cho hộ những lợi ích thiết thực Trong khi đó, Chính phủ lại cố định thuế nông nghiệp vì vậy mà nông dân có lợi ích cao hơn, họ rất phấn khởi và ngày càng hăng hái trong sản xuất

+ Không ngừng phát triển kinh tế HTX và các hiệp hội ở nông thôn Các

tổ chức này có vai trò chuyển giao công nghệ cho bà con nông dân, tương trợ sản xuất ở nhiều mặt như: Tạo giống, nhân giống, thuỷ lợi, phân bón, thâm canh, tín dụng bao tiêu sản phẩm

+ Tiến hành CNH nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập Mặt khác tiến hành điện khí hoá và phát triển cơ sở hạ tầng ở các làng xã nông thôn, tạo điều kiện cho nông nghiệp được thiết lập từ đó thu hút lao động dư thừa và rẻ ở nông thôn, tạo ra khả năng mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá trong các nông trại Đồng thời cũng làm giảm việc di cư ra đô thị của người dân nông thôn

Trang 39

+ Tiến hành cơ khí hoá và chuyên môn hoá trong sản xuất Dùng máy móc thiết bị thay thế sức người, thoạt đầu một số người chung nhau mua máy móc để canh tác cho hộ mình sau đó làm thuê cho các hộ khác

Việc cung cấp nước, giống cũng được phát triển theo hình thức ấy, từ đó

đã tạo nên chuyên môn hoá trong sản xuất Việc cơ khí hoá và chuyên môn hoá đã góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất trong các hộ

2.2.5 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông hộ một số địa phương trong nước

* Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở Bắc Giang

Những năm gần đây Bắc Giang đã thực hiện một số biện pháp cụ thể

để nâng cao thu nhập cho nông hộ như:

- Xây dựng cánh đồng mẫu: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

ban hành hướng dẫn tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2014 - 2016.Theo đó, có 7 tiêu chí được thiết lập để xây dựng cánh đồng mẫu Cụ thể: Hướng dẫn về quy hoạch và lựa chọn địa điểm: Cánh đồng mẫu sản xuất các cây trồng phải phù hợp với các quy hoạch

sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp và quy hoạch xây dựng nông thôn mới; có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi; địa điểm lựa chọn là ưu tiên những địa điểm đã được dồn điền, đổi thửa hoặc những nơi có ruộng đất không manh mún; có kế hoạch sản xuất được UBND xã, thị trấn phê duyệt Đối với tiêu chí về liên kết sản xuất: Cánh đồng mẫu phải có sự liên kết giữa các hộ nông dân do đại diện hộ dân hoặc thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác ký kết hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp về: cung ứng vật tư phân bón; thuốc bảo vệ thực vật; giống; chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn tiêu chí

về quy mô diện tích; áp dụng cơ giới và quy trình kỹ thuật; đối tượng cây trồng; phương án sản xuất và quy định về hiệu quả kinh tế

Trang 40

-Sản phẩm thế mạnh: Thực hiện chương trình hỗ trợ xây dựng các mô

hình sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, mỗi xã chọn 1-2 sản phẩm có thế mạnh của địa phương để tập trung sản xuất Qua đó hình thành các vùng chuyên canh như: Cánh đồng Ráu trồng rau sạch ở xã Đa Mai;

cà rốt, hành lá ở xã Tân Tiến; cây cảnh Kênh Vối Ngoài ở xã Đồng Sơn; hoa lyly tại xã Song Mai; ớt siêu cay tại xã Tân Mỹ Để khuyến khích nông dân, ngoài hỗ trợ kỹ thuật, cơ quan chức năng TP còn hỗ trợ các đơn vị, bà con tham quan mô hình sản xuất - tiêu thụ hiệu quả tại các địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho DN tiêu thụ sản phẩm và quảng bá nông sản tại các hội chợ, hội thảo

*Kinh nghiệm mới ở xã điểm Xuân Giang, huyện Quang Bình, tỉnh

Hà Giang

Xuân Giang là một trong 3 xã điểm, nằm trong vùng quy hoạch phát triển cây lương thực của huyện, vì vậy những năm qua xã đã nhận được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền trong việc đầu tư để phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống, thu nhập của người dân

-Cách thức tổ chức thực hiện đều được đưa ra để nhân dân thảo luận, bàn bạc công khai dân chủ, thống nhất dựa vào điều kiện thực tế của địa phương và mỗi gia đình với phương châm “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”

Theo đó, nhiều hộ gia đình hiến đất, cây cối hoa màu, góp công sức, tiền của, vật liệu để xây dựng các công trình dân sinh, chủ động xây dựng tường rào, chỉnh trang nhà cửa khang trang Các phong trào bê- tông hóa đường liên thôn, xây dựng nhà họp thôn, tu sửa kênh mương nội đồng, xây dựng cổng làng được đông đảo bà con hưởng ứng đóng góp với hàng trăm ngày công lao động và nhiều nguyên, vật liệu tại chỗ Chỉ trong một thời gian ngắn nhiều tuyến đường liên thôn được mở mới, khang trang, sạch sẽ, các nhà

Ngày đăng: 11/08/2021, 09:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w