1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngôn ngữ truyện ngắn của huỳnh thạch thảo

87 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 884,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dĩ nhiên, ngoài chất liệu ngôn ngữ, đặc sắc của phong cách nghệ thuật còn biểu lộ ở việc nhà văn chọn lựa đối tượng trong sáng tác, lựa chọn các hình ảnh có sức gợi tả, gợi tình trong vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

HUỲNH NGỌC TOÀN

NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN CỦA HUỲNH THẠCH THẢO

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 822 9020

Người hướng dẫn: PGS TS Võ Xuân Hào

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Võ Xuân Hào Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Học viên

Huỳnh Ngọc Toàn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục của luận văn 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Khái quát về phong cách văn bản 7

1.1.1 Khái niệm phong cách văn bản 7

1.1.2 Phong cách văn bản và phong cách khẩu ngữ 9

1.2 Khái quát về biện pháp tu từ 12

1.2.1 Khái niệm tu từ 12

1.2.2 Phân loại biện pháp tu từ 12

1.3 Tác giả và tác phẩm 21

1.3.1.Vài nét về tác giả Huỳnh Thạch Thảo 21

1.3.2 Vài nét về truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo 21

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG TRUYỆN NGẮN HUỲNH THẠCH THẢO 26

2.1 Ẩn dụ và hoán dụ 26

2.1.1 Ẩn dụ 26

2.1.2 Hoán dụ 30

Trang 4

2.2 So sánh và nhân hóa 34

2.2.1 So sánh 34

2.2.2 Nhân hóa 44

2.3 Điệp từ ngữ, liệt kê và tăng cấp 47

2.3.1 Điệp từ ngữ 47

2.3.2 Liệt kê và tăng cấp 50

Tiểu kết chương 2 52

Chương 3 MỘT SỐ LỚP TỪ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TRUYỆN NGẮN HUỲNH THẠCH THẢO 54

3.1 Một số lớp từ trong truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo 55

3.1.1 Lớp từ địa phương 55

3.1.2 Lớp từ khẩu ngữ 57

3.1.3 Lớp từ mang đậm phong cách Huỳnh Thạch Thảo 61

3.2 Biện pháp tu từ cú pháp trong truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo 67

3.2.1 Điệp cú pháp và phép đối 67

3.2.2 Đảo ngữ 71

3.2.3 Câu hỏi tu từ 72

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 5

1.1 Với văn học nghệ thuật, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng bậc

nhất trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng, chủ đề của một tác phẩm Mỗi nhà văn thể hiện ở sự tinh tế về kiến thức và sáng tạo độc đáo của họ trong việc sử dụng ngôn ngữ văn chương Dĩ nhiên, ngoài chất liệu ngôn ngữ, đặc sắc của phong cách nghệ thuật còn biểu lộ ở việc nhà văn chọn lựa đối tượng trong sáng tác, lựa chọn các hình ảnh có sức gợi tả, gợi tình trong việc xây dựng hình tượng,… tạo cho tác phẩm của mình có một sức hấp dẫn đặc biệt, thu hút mạnh người đọc Song, chính vì ngôn ngữ là chất liệu để sáng tác, nên phong cách của mỗi nhà văn trong cách mô tả cảnh vật, trình bày sự kiện, trong việc phô diễn và khêu gợi tình ý,… đều ít nhiều biểu hiện ở việc sử dụng ngôn từ của họ Do đó ngôn ngữ văn chương cũng là một căn cứ quan trọng để ta khảo sát, khám phá phong cách của nhà văn Nói đến ngôn ngữ văn chương là nói đến chức năng thẩm mỹ, giá trị tạo hình, giá trị biểu trưng, biểu cảm to lớn Để có thể khắc hoạ chân thực, sinh động bức tranh cuộc đời, người nghệ sĩ, ngoài sự trải nghiệm sâu sắc, còn đòi hỏi khả năng huy động, khai thác tốt giá trị tiềm tàng của các phương tiện ngôn ngữ Một trong những nhà văn đã tận dụng vai trò của các phương tiện ấy trong mảng đề tài viết về truyện ngắn của mình là Huỳnh Thạch Thảo

1.2 Nhắc tới Huỳnh Thạch Thảo là nhắc tới một nhà văn của mảnh đất Phú Yên đầy nắng và gió, nằm ở vùng duyên hải Nam Trung bộ, tuy cách xa

Trang 6

2

các trung tâm văn hóa lớn của cả nước nhưng từ lâu vẫn là một vùng đất kiên cường và nhân hậu, từng đi vào thơ văn và làm rung động bao thế hệ người đọc Mảnh đất này cũng là nơi sản sinh những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng khắp

cả nước như Nguyễn Mỹ, Võ Hồng, Đội ngũ những người viết văn ở Phú Yên có thể không đông như các địa phương khác, khả năng liên kết với các trung tâm văn hóa lớn, các nhóm bút lớn, có thể không mạnh và đều, nhưng

bù lại là sự bền bỉ, chuyên cần trong sáng tác

Với sức sáng tạo của khối óc, sự chân thực của cảm xúc và bầu nhiệt huyết của con tim, qua hệ thống các tác phẩm của mình, Huỳnh Thạch Thảo

đã góp một tiếng nói chân thành, sâu sắc vào văn học viết Phú Yên đa thanh, muôn giọng Các tác phẩm của ông được lấy chất liệu từ cuộc sống, thế sự, đời thường của con người Phú Yên, nơi nhà văn sinh ra, yêu mến và vô cùng

am hiểu Có thể nói Huỳnh Thạch Thảo đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành diện mạo chung cho nền văn học nước nhà

1.3 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Huỳnh Thạch Thảo cùng sự nghiệp văn học của ông Tuy nhiên, các công trình này mới dừng lại ở việc đánh giá chung hay đi vào một số khía cạnh của một số tác phẩm cụ thể Vấn

đề ngôn ngữ trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Đặc biệt, việc tìm hiểu ngôn ngữ để từ đó thấy được nét riêng trong các tác phẩm của Huỳnh Thạch Thảo thì rất hiếm nhà khoa học đề cập tới Đây là nội dung tương đối mới mẻ

Đi sâu vào các sáng tác của Huỳnh Thạch Thảo, ta sẽ thấy ngôn ngữ được ông sử dụng rất đa dạng, phong phú, thể hiện được tư tưởng, tình cảm một cách hiệu quả Mỗi phương tiện ngôn ngữ đều được sử dụng với một mục đích nhất định và đem lại các giá trị khác nhau Vì vậy, tìm hiểu ngôn ngữ trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo là việc làm có ý nghĩa khoa học và

Trang 7

3

ý nghĩa thực tiễn rất lớn Nó không chỉ giúp chúng ta hiểu được phong cách nghệ thuật của nhà văn Huỳnh Thạch Thảo mà qua đó, sẽ thấy được nét riêng của những con người Phú Yên Với ý nghĩa thiết thực ấy, tôi mạnh dạn chọn

đề tài “Ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo” từ góc nhìn phong

cách học làm công trình nghiên cứu khoa học với mong muốn tìm hiểu thêm một khía cạnh nữa trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Khó có thể kể hết những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn Đây là hướng nghiên cứu đã được rất nhiều tác giả triển khai trên nhiều phương diện khác nhau như: từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ dụng học…,và với nhiều truyện khác nhau từ văn học dân gian đến văn học viết Có thể kể ra

đây một số công trình tiêu biểu như: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn

Việt Nam đương đại (Thái Phan Vàng Anh); Đặc trưng ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Trọng Bình); Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Thạch Lam (Hà Văn Đức); Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Hoàng Dĩ Đình);… Những công trình này

cung cấp cho chúng tôi những phương cách tiếp cận đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn với những luận điểm, những nhận xét và đường hướng tiếp cận

đa dạng, phong phú

Có thể nói, cho đến nay, gần như vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo từ góc nhìn phong cách học Chính vì thế, ở mảng này, tài liệu chúng tôi thu thập được chỉ dừng lại ở một số bài viết, một số luận văn về

Huỳnh Thạch Thảo Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như: Thế giới dị

thường trong "Người không giăng câu Kiều" (Tạp chí Văn Nghệ Phú Yên,

2004) [11]; Không gian và tâm hồn khoáng đạt trong văn Huỳnh Thạch Thảo (Tạp chí Văn Nghệ Phú Yên, 2007) [13]; Cuốn luận văn thạc sĩ Lê Kim Tám

Trang 8

4

đề cập đến diện mạo và đặc điểm văn xuôi Phú Yên từ năm 2000 đến nay (2016) [28]; Những khúc nhạc tình yêu dìu dặt (Đọc Mặt trời và những cơn mưa của nhà văn Huỳnh Thạch Thảo, NXB Hội nhà văn, 2019) của Thảo Nguyên [20] là một tập sách chủ yếu viết về tình yêu, những rung động của một nhà văn “ngũ thập tri thiên mệnh” mang đến cho người đọc những cảm xúc, sắc thái lạ “Mặt trời và những cơn mưa” với những cung bậc tình yêu nhẹ nhàng sâu lắng, dễ dàng cho ta hình dung một không gian yêu, một trái tim yêu da diết của một người đàn ông “sống như độc thân trong cái tổ có hai ngăn, che mắt cả thế gian, chiến thắng nỗi cô đơn trĩu nặng bằng nhiều cách” (Biển thì mênh mông); Những cuộc tình nơi truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo của Nguyễn Tường Văn…

Nhìn chung các công trình nêu trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chưa đề cập đến ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo từ góc nhìn ngôn ngữ học, đặc biệt là phong cách học Vì vậy, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi cũng xem đây là những gợi ý quý báu và cần thiết cho những luận điểm và sự diễn giải của riêng bản thân mình

bộ môn Ngữ văn ở trường THPT

Trang 9

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Ngôn ngữ truyện ngắn của

Huỳnh Thạch Thảo

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu một số phong cách và phương thức thể hiện ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo trên ngữ liệu khảo sát là 7 tập truyện ngắn tiêu biểu sau đây:

+ Gió trên đồi hoang

+ Bạn cùng thời

+ Vực con gái

+ Gửi nắng cho sông

+ Sông xuôi về biển

+ Mưa đang trôi qua sông

+ Mặt trời và những cơn mưa

Đây là những tập truyện đã khẳng định vị trí của Huỳnh Thạch Thảo trong nền văn học nghệ thuật Phú Yên nói riêng và văn học nước nhà nói chung

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Tài liệu thành văn:

Các tập truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo, các công trình chuyên khảo, các báo cáo, những bài báo, tạp chí của nhiều tác giả, các trang web có

đề cập đến các nội dung có liên quan đến đề tài

- Tài liệu điền dã và nhân chứng:

Được thực hiện thông qua trao đổi, phỏng vấn tác giả và bạn đọc truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp

Trang 10

6

nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê: phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê phân loại các lớp từ ngữ và các biện pháp tu từ sử dụng trong câu văn trong các tập truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo

- Phương pháp so sánh: Muốn chỉ ra được những ngôn ngữ trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo phải đặt nó trong thế so sánh Phương pháp này

có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những nét đặc trưng riêng của ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân

tích các tín hiệu ngôn ngữ và dùng để tổng hợp các kết quả nghiên cứu

6 Những đóng góp của đề tài

Luận văn tập hợp nguồn tư liệu để khái quát về ngôn ngữ truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo, góp phần xác định vị trí của ngôn ngữ văn học Phú Yên trong ngôn ngữ văn học nước nhà; đồng thời làm tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn tỉnh Phú Yên và tài liệu tham khảo cho việc dạy ngữ văn ở các trường phổ thông trong chủ trương đưa văn học địa phương vào nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 11

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát về phong cách văn bản

1.1.1 Khái niệm phong cách văn bản

Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách hiểu theo đúng nghĩa của từ này Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong cách riêng độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện

ở tác phẩm và được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn làm ta có thể nhận ra sự khác nhau Chẳng hạn, giữa Ngô Tất Tố và Nam Cao, Thế Lữ

và Lưu Trọng Lư, giọng thơ Tố Hữu không giống với giọng thơ Chế Lan Viên, giọng thơ Xuân Diệu không giống giọng thơ Huy Cận, Sự khác nhau

về ngôn ngữ là ở cách dùng từ, đặt câu và ở cách sử dụng hình ảnh, bắt nguồn

từ cá tính sáng tạo của người viết Trong chỉnh thể “nhà văn” (hiểu theo nghĩa

là các sáng tác của một nhà văn), cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy

Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần khác như tâm lí, khí chất, cá tính đều có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và của thời đại

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo Cho nên để đánh giá một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo hay không chúng ta không thể xem xét khả năng và hiệu lực qua việc sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

Sự khác nhau giữa ngôn ngữ văn chương với ngôn ngữ thuộc các phong cách khác không chỉ ở chức năng thẩm mĩ, không chỉ ở việc sử dụng tổng hợp toàn bộ các phương tiện biểu hiện của ngôn ngữ mà còn ở chỗ ngôn ngữ văn chương ấy phải mang dấu ấn phong cách tác giả

Trang 12

8

Ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người Có giống mọi người, có thuận theo chuẩn mực thì mọi người mới hiểu, có khác mọi người tức có lối nói riêng thì mới thành ra văn để người ta thích đọc Sự giống ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện bắt buộc Sự khác ngôn ngữ mọi người là dấu hiệu để xác định phong cách tác giả Sự khác biệt này phải như thế nào, nói khác đi là cái dấu hiệu này phải như thế nào thì lúc đó mới tạo thành phong cách tác giả Trong ngôn ngữ văn chương ta vẫn thấy có hiện tượng chỉ có tác giả mà không có phong cách tác giả Nhà văn Nga T.Sêkhov nói rất có lí rằng nếu tác giả nào không

có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả Cái mà

T.Sêkhov gọi là “lối nói riêng” chính là phong cách tác giả

Vậy để xác định phong cách tác giả chúng ta phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản sau đây:

- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện

ngôn ngữ nào đó của tác giả

- Sự đi chệch chuẩn mực của tác giả

Tóm lại, phong cách tác giả thể hiện trước hết ở khuynh hướng ưa thích

và sở trường sử dụng phương tiện ngôn ngữ

Dấu hiệu thứ hai để xác định phong cách tác giả là sự chệch chuẩn mực Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ có nghĩa là tạo ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực - chứ không phải

chống chuẩn mực - cũng là một cái “lỗi”, nhưng cái “lỗi muốn có” hoặc cái

“lỗi nên có” ở các nhà văn có thể tạo nên phong cách tác giả Đã là nhà văn

đích thực, không ai không ít nhiều nuôi dưỡng ý định chệch chuẩn mực

Đọc truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo, chúng ta bị hấp dẫn bởi nhiều lí

do Trong đó, điều thật sự làm ta ấn tượng nhiều nhất chính là cách sử dụng ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc, giản dị Chính điều này đã góp phần quan trọng

Trang 13

9

trong việc thể hiện một số nét phong cách của nhà văn này

1.1.2 Phong cách văn bản và phong cách khẩu ngữ

Lớp từ ngữ thuộc phong cách văn bản bao gồm chủ yếu những từ ngữ thường xuyên được dùng gắn liền với nội dung của một số phong cách chức năng cụ thể như:

Phong cách khoa học: gắn bó với các thuật ngữ khoa học, các từ ngữ

chuyên môn như: phương trình, hàm số, ẩn số, quỹ tích,… trong chuyên

ngành Toán học; âm vị, hình vị, từ pháp, ngữ pháp, trong chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Phong cách hành chính công vụ: chủ yếu gồm các từ ngữ thường dùng

trong những văn bản pháp lí, ngoại giao, hành chính: công văn, công hàm,

công ước, hoà ước, tạm ước, hiệu lực, biên bản, sao lục, tố tụng, chiểu theo, đơn phương,

Phong cách chính luận báo chí: gồm những từ ngữ thường dùng trong

các văn bản chính luận, bày tỏ thái độ, quan điểm: cộng sản, vô sản, tư sản,

đế quốc, thực dân, suy thoái, vũ trang, xâm lược, chiến tranh, cánh tả, cánh hữu, cấp trên,

Phong cách văn học (nghệ thuật): có thể tổng hoà các phong cách khác

bằng những thủ pháp riêng của từng thể loại và từng truyền thống văn học của mỗi dân tộc, mỗi giai đoạn

Trang 14

tư cách là một kiểu giao tiếp mang tính phổ thông nhất Nó được hình thành

từ tập quán nói, thói quen ngôn ngữ của cộng đồng chủ yếu qua con đường tiếp xúc tự nhiên giữa mọi người trong mối quan hệ với gia đình, với cộng đồng chứ không thông qua sách vở

Có thể hiểu một cách đơn giản, “Phong cách khẩu ngữ tự nhiên là phong

cách giao tiếp phổ thông nhất, quan trọng nhất đối với đời sống con người, được dùng cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng xã hội” [7, 74]

Phong cách khẩu ngữ tự nhiên tồn tại trong mỗi ngôn ngữ không giống nhau là do văn hoá của mỗi dân tộc có sự khác biệt Thậm chí, trong cùng một ngôn ngữ, cùng một quốc gia dân tộc mỗi vùng địa phương khác nhau thì khẩu ngữ cũng không hoàn toàn như nhau Bên cạnh đó, khẩu ngữ còn giàu sắc thái biểu cảm Nghĩa là, trong khẩu ngữ luôn có yếu tố tình cảm, cảm xúc chen vào Trong giao tiếp, người nói luôn chú ý lựa chọn các phương tiện biểu cảm bởi họ muốn bày tỏ đầy đủ và trung thực cảm xúc, đánh giá của mình về hiện tượng đang được đề cập Vì thế, trong phong cách khẩu ngữ, các phương tiện tình thái biểu cảm được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là các ngữ

khí từ và cảm thán từ như: à, ư, nhé, ơi

Trang 15

11

Để tìm hiểu sâu hơn về khẩu ngữ, ta cũng nên nhắc tới lời nói với một

khái niệm liên quan là ngôn điệu “Có thể hình dung lời nói liên tục như là kết

quả của hai quá trình ngược nhau: quá trình làm nổi bật (prominence) và quá trình hoà kết (mergence) Nếu nhìn một cách biệt lập, cực đoan của quá trình làm nổi bật sẽ dẫn đến sự biểu hiện của các nét khu biệt ở từng thời điểm của các ngữ lưu ” [4, 65]

Đó là bản chất sâu hơn của lời nói trong sinh hoạt hàng ngày (khẩu ngữ) Nếu căn cứ vào đó thì lời nói là sự kết hợp những âm thanh có sẵn để tạo ra phát ngôn Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng mỗi người lại có lời nói khác nhau, thể hiện những đặc trưng khác nhau Ngữ âm học gọi đó là các biến thể của một cái chung là bất biến thể Mỗi người sử dụng những từ ngữ khác nhau để thể hiện mục đích nói năng của mình là do họ có điều kiện sinh tồn,

học vấn, văn hoá, giới tính khác nhau “Về bản chất hệ thống âm thanh của

từng người có những khác biệt nhất định tạo nên những biến thể cá nhân trong lời nói Ngoài ra, mỗi âm vị xuất hiện trong lời nói cụ thể chúng có những chu cảnh khác nhau Những đặc điểm về chu cảnh của những yếu tố lân cận tác động vào thể chất âm vị làm chúng bị biến dạng, sai lệch so với hình dung “ban đầu” của chúng ta về hệ thống này” [5, 7] Tất cả những

điều này để khẳng định rằng: Lời nói trong sinh hoạt hàng ngày (khẩu ngữ)

mang nặng bản chất cá nhân Nó được xử lí bởi chủ quan cá nhân và bị chi phối rất mạnh của tình cảm, cảm xúc Khẩu ngữ tự nhiên trong thực tế sử dụng rất đa dạng, phong phú Nó có khả năng tiềm tàng cho phong cách nghệ thuật vì bản thân nó là một chất liệu sinh động giúp cho các nghệ sĩ xây dựng tác phẩm Khẩu ngữ tự nhiên là hiện thực trực tiếp, là đối tượng phản ánh của văn học nghệ thuật Đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên thường được chuyển sang phong cách văn học nghệ thuật một cách dễ dàng Tuy nhiên, khi vào tác phẩm văn học, các đối thoại của khẩu ngữ tự nhiên phải được sáng tạo lại,

Trang 16

12

trau chuốt lại cho phù hợp với phong cách nghệ thuật

1.2 Khái quát về biện pháp tu từ

1.2.1 Khái niệm tu từ

Biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn Các đơn vị từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt tuy phong phú nhưng vẫn có giới hạn, trong khi đó, nhu cầu diễn tả tư tưởng tình cảm của xã hội ngày càng tăng, nếu không muốn nói là

vô hạn Các cách tu từ của tiếng Việt đã mang lại cho chúng ta một số lượng

vô hạn những sự biểu đạt cùng nghĩa Như vậy trong thực tế, các cách tu từ tiếng Việt sẽ góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa số lượng có hạn của những đơn vị từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt với nhu cầu diễn đạt càng ngày càng tăng lên của xã hội Chúng không chỉ làm cho sự diễn đạt của xã hội phong phú về

số lượng, mà còn cả về chất lượng Chẳng hạn, ta có thể đếm được những đơn

vị từ ngữ biểu thị nỗi nhớ trong từ điển tiếng Việt bởi vì chúng hữu hạn Nhưng dựa vào cấu tạo các cách tu từ tiếng Việt, chúng ta có thể tạo ra rất nhiều cách nói với nhiều sắc thái tinh tế khác nhau để biểu thị nội dung này, điều mà từ ngữ trong từ điển tiếng Việt không sao có được Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp Ví dụ: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, hài âm, là những biện pháp tu từ ngữ âm; tương phản, so sánh, ẩn dụ, nói lái, phản ngữ, là những biện pháp

tu từ từ vựng - ngữ nghĩa; sóng đôi, câu hỏi tu từ, là những biện pháp tu từ

Trang 17

13

Phép so sánh được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội:

Trong thơ ca, trong các ngành khoa học, trong sinh hoạt xã hội, Từ điển

tiếng Việt giải thích “so sánh” theo cách hiểu phổ thông là “ nhìn vào cái này

mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém”

Chức năng chủ yếu của so sánh logic là nhận thức Kiểu so sánh này là dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, giúp người nghe hiểu rõ nét, sâu sắc những phương diện nào đó của sự vật

Ví dụ:

- Sương cũng cao như Lan

- Chân Thanh Hà dài hơn chân Minh Thư

- Cân nặng của Thành bằng cân nặng của Thuần

Mục đích của so sánh luận lý là xác lập giá trị một đại lượng, một tính chất, một đặc trưng bằng cách đối chiếu với một giá trị khác, mà chúng có thể lớn hơn, bằng hoặc kém hơn

- So sánh tu từ :

So sánh tu từ là phương thức so sánh phổ biến ở mọi ngôn ngữ Trong

cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, tác giả Cù Đình Tú nêu khái niệm: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối

tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [45, 175]

Trang 18

14

Trong so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng

Về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng ở chỗ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế:

- Vế được so sánh

- Vế so sánh

Mỗi vế có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng Các đối tượng có thể là sự vật, tính chất, hành động

1.2.2.2 Biện pháp nhân hoá

Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa người và đối tượng không phải là người

Ví dụ:

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

“Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm) Những chị lúa phất phơ bím tóc

Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học

Đàn cò trắng Khiêng nắng qua sông

(Trần Ðăng Khoa)

Trang 19

Ðây những tháp gầy mòn vì mong đợi

(Trên đường về - Chế Lan Viên) + Xem đối tượng không phải là người như con người để tâm tình trò chuyện

- Nội dung: Dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau

giữa đối tượng không phải là người và người

Chức năng: Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách: khẩu ngữ, chính luận, văn chương Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm

Trang 20

16

Ví dụ:

Gái chính chuyên lấy được chín chồng

Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,

sự vật hiện tượng có tên là B, trong đó A với B tương đồng với nhau

b Các hình thức ẩn dụ

- Ẩn dụ hình thức: Với phép ẩn dụ này, hai sự vật, sự việc, hiện tượng trong phép ẩn dụ có nét tương đồng về hình thức

Ví dụ (minh họa):

“Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Khuôn trăng” là chỉ mặt trăng, mặt trăng tròn trịa đầy đặn, ở đây tác giả lấy đặc điểm đó của mặt trăng để ẩn dụ cho khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn của Thúy Vân

- Ẩn dụ cách thức: là phép ẩn dụ các sự vật, hiện tượng có tương đồng về

cách thức

Ví dụ (minh họa):

Trang 21

17

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

(Ca dao)

Quả, cây, khoai là thành quả của lao động, còn hành động trồng cây là hành động lao động, các sự vật hiện tượng này có tương đồng về cách thức đều thuộc về hành động lao động

- Ẩn dụ phẩm chất: Các sự vật, hiện tượng có nét tương đồng về phẩm

chất

Ví dụ (minh hoạ):

“Người cha mái tóc bạc, Đốt lửa cho anh nằm.”

(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)

Hình ảnh ẩn dụ “Người cha” trong câu thơ chính là chỉ Bác Hồ, ý nói Bác Hồ chăm sóc cho các chiến sĩ tận tình, chu đáo như đang chăm lo cho chính con cái của mình

- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Hình thức ẩn dụ này là việc cảm nhận

bằng một giác quan khác, chuyển đổi từ cảm giác này sang cảm giác khác

Ví dụ minh họa:

“Tiếng hát của cô ấy thật ngọt ngào”

Từ việc nghe bằng tai nhưng lại thể hiện cảm giác bằng miệng “ngọt ngào”, chuyển từ thính giác sang vị giác

Trang 22

Hình ảnh “áo nâu, áo xanh” chỉ người nông dân và người công nhân, đây

là bộ phận nhỏ của nông thôn và thành thị

- Phép hoán dụ: “Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng”:

Ví dụ minh hoạ:

“Bóng hồng nhác thấy nẻo xa Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai”

(Nguyễn Du)

Bóng hồng là chỉ về vẻ đẹp của mỗi người con gái, đây được coi là vật chứa đựng Xuân lan, thu cúc là chỉ về vẻ đẹp riêng của từng người con gái, đây là cái bị chứa đựng

- Phép hoán dụ: “Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật”

“Vì lợi ích mười năm trồng cây,

Vì lợi ích trăm năm trồng người.”

(Hồ Chí Minh)

Cái cụ thể là 10 năm, trồng cây hoán dụ cho cái trừu tượng đó là trăm năm trồng người

Trang 23

19

1.2.2.5 Biện pháp điệp từ, điệp ngữ

Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản

Ví dụ minh họa:

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du) + Điệp nối tiếp:

“Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy) + Điệp vòng tròn:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Trang 24

20

Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

1.2.2.6 Biện pháp liệt kê

Liệt kê là cách sắp xếp nhiều từ, cụm từ khác nhau, có thể là từ đồng âm hoặc không nhưng phải có chung một nghĩa Hay nói cách khác thì liệt kê là cách dùng nhiều từ khác nhau để diễn tả một hành động, sự vật, sự việc, Mục đích nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, chi tiết hơn đến với người đọc, người nghe

1.2.2.7 Phép đối

Là cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói

Có 2 kiểu: đối tương phản (ý trái ngược nhau); đối tương hỗ (bổ sung ý cho nhau)

“Ta/ dại /ta/ tìm/ nơi/ vắng vẻ

Người/ khôn/ người/ đến/ chốn/ lao xao”

(Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm) “Gần mực thì đen/ gần đèn thì sáng”

“Son phấn/ có/ thần/ chôn vẫn hận

Văn chương/ không/ mệnh/ đốt còn vương”

(Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du)

1.2.2.8 Đảo ngữ

Đảo ngữ là biện phap tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng và làm câu thơ, câu văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,…

Trang 25

21

Ví dụ:

“Lom khom dưới núi: tiều vài chú

Lác đác bên sông: chợ mấy nhà”

(Qua Đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan)

Tô đậm cảm giác hoang vắng, cô liêu,

1.2.2.9 Câu hỏi tu từ

Là đặt câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mà nhằm nhấn mạnh một

ý nghĩa khác

“Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm) Nhấn mạnh cảnh ngộ mất mát, chia lìa, hoang tàn của quê hương trong chiến tranh

1.3 Tác giả và tác phẩm

1.3.1.Vài nét về tác giả Huỳnh Thạch Thảo

Huỳnh Thạch Thảo sinh năm 1963 tại Hòa Trị - Phú Hòa - Phú Yên Lúc đầu, anh học y "theo ý nguyện của nội", sau đó chuyển sang học Đại học Bách Khoa theo "mong muốn của cha" Mãi đến những năm cuối thế kỷ XX, Huỳnh Thạch Thảo mới đặt chân vào nghề văn Năm 1994, Huỳnh Thạch Thảo được cử đi tham dự Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc Bốn năm sau, anh lại được tham dự Hội nghị Viết văn lần hai Bằng sự lao động chăm chỉ và những tác phẩm có giá trị của mình, nhà văn chính thức trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001

1.3.2 Vài nét về truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo

Huỳnh Thạch Thảo là một trong những cây bút viết khá đều tay Tác

Trang 26

22

phẩm của anh được đăng trên báo chí trung ương và địa phương, các tác phẩm cũng đều đặn ra đời Trong hơn một phần tư thế kỉ cầm bút, nhà văn đã xuất

bản 14 tác phẩm bao gồm: Mắt phượng (NXB Đà Nẵng, 1998), Gió trên đồi

hoang (NXB Hội Nhà văn, 1999), Đất còn phù sa (NXB Hội Nhà văn, 2001), Tiếng vọng đồng rừng (NXB Quân đội Nhân dân, 2003), Bên dòng sông Ba Hạ

(Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Phú Yên, 2004), Những mùa hoa cỏ (NXB Lao động, 2004), Chuyện trăm năm (NXB Thanh Niên, 2005), Vực con gái (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2006), Bạn cùng thời (NXB Phụ Nữ, 2006), Người

mang tên dòng sông (NXB Công an Nhân dân, 2007), Thuyền hoa (NXB Văn

Nghệ, 2008), Gửi nắng cho sông (NXB Quân đội Nhân dân, 2011), Người con

bên một dòng sông (NXB Trẻ, 2014), Sông xuôi về biển (NXB Phương Đông,

2014), Mặt trời và những cơn mưa (NXB Hội nhà văn, 2019) Ngoài ra, anh cũng có mặt trên 30 tuyển tập in chung, tiêu biểu như: Truyện ngắn hay và đoạt

giải Tạp chí Văn nghệ quân đội (tập 3) (1998), Viết cho giao thừa thiên niên kỉ

(tập 1 và 2) (2000), Những gương mặt văn xuôi trẻ cuối thế kỉ XX (2000),

Truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới (tập 3) (2001), Truyện ngắn xuất sắc về chiến tranh (2002), Tuyển tập truyện ngắn hay cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ (2004), Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam (1945-2005) (quyển 4)

(2005),… Trên con đường văn nghiệp, anh đạt được một số thành tích đáng kể như: giải thưởng văn học của tổ chức Raddo Bamen và Bộ Giáo dục - Đào tạo

(1991), giải thưởng "Tác phẩm Tuổi xanh" của báo Tiền phong (1997), giải Nhì

(không có giải Nhất) cuộc thi sáng tác Văn học "Tầm nhìn thế kỷ" (1999 -

2001) của báo Tiền phong, giải thưởng Văn học tỉnh Phú Yên lần thứ nhất

(1975 - 2000), lần thứ hai (2000-2005), lần thứ ba (2005 - 2010) Nhà văn sáng tác cả truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, mạn đàm, tản văn, ở thể loại nào anh cũng để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bạn đọc

Đề tài quen thuộc và là sở trường của Huỳnh Thạch Thảo là chiến tranh

Trang 27

23

và thế sự Huỳnh Thạch Thảo tái hiện chiến tranh từ cách tiếp cận gián tiếp qua việc tiếp xúc với các nhân chứng, những người lính từng tham chiến và trực tiếp từ những dấu ấn của miền ký ức tuổi thơ trong cuộc chiến nên trong trang viết của mình, sự khốc liệt của chiến tranh được Huỳnh Thạch Thảo

“ẩn” vào trong các ký ức, những kỷ niệm, những câu chuyện hồi tưởng về quá khứ, qua thân phận các nhân vật

Ở đề tài thế sự, Huỳnh Thạch Thảo không đi sâu vào phản ánh những khuất tất, những ngang trái, hay sự đổi thay của đời sống xã hội đã tác động vào con người, khiến con người thay đổi trong thời hiện tại như các nhà văn khác Anh hay nhìn cuộc sống hiện tại bằng cái nhìn soi chiếu từ quá khứ, để

từ đó bật lên "tấc lòng" của nhà văn "Huỳnh Thạch Thảo thường viết về những "vết thương đã lành da" trong tình cảm con người; vì thế anh cố gắng chắt chiu tất cả những gì có thể giúp con người trở nên mạnh mẽ và trong sáng hơn" [40]

Hegel nói: "Trở về với quá khứ là tiến lên phía trước" Điều này có lẽ đúng với những trang viết của Huỳnh Thạch Thảo Hiếm thấy có nhà văn nào bị ám ảnh bởi thời gian quá khứ nhiều như ở Huỳnh Thạch Thảo Truyện của anh có đến "90% tác phẩm dùng loại thời gian hoài niệm để kể chuyện quê nhà" [14, tr.97] Các lớp từ chỉ thời gian lặp lại với tần suất rất

cao trong các sáng tác của anh, như: “thuở trước”, “tôi nhớ lúc ấy”, “dần đi

vào năm tháng lãng quên”, “nhiều năm tháng trôi qua”, “hơn mười lăm năm”, “nơi mà gần ba mươi năm trước”,… Tác giả nuối tiếc tất cả nhừng gì

tươi đẹp của quá khứ, nên thường đặt quá khứ và hiện tại để so sánh những

gì còn - mất Có lẽ nhận định của nhà văn Bùi Việt Thắng khái quát được phần nào sự ám ảnh về thời gian của Huỳnh Thạch Thảo trong từng trang viết: "Một lối văn như thế là phải được chắt lọc kỹ càng từ sự trải nghiệm đời sống, không đơn thuần là quan sát mà là chuyên nghiệp, không phải là

Trang 28

24

nhờ vào lý tính mà nhờ vào trực giác nhạy bén" [40] Đọc truyện ngắn của Huỳnh Thach Thảo, ta thấy hồn cốt văn chương ông thật gần gũi, thân thuộc, bình dị Hội thoại giữa các nhân vật trong truyện Huỳnh Thạch Thảo cũng mang đậm nét lối nói của người Phú Yên Ngôn ngữ trong truyện của ông gây được hiệu quả thẩm mỹ đối với người đọc

Nhìn lại sự nghiệp văn chương của Huỳnh Thạch Thảo, chúng ta càng trân trọng khát vọng sáng tạo luôn cháy bỏng, cũng như sự công phu lao động chữ nghĩa của ông Đúng như những người quý trọng Huỳnh Thạch Thảo đã

nhận xét: “ Huỳnh Thạch Thảo vẫn luôn tha thiết, đắm đuối với nghề cầm

bút lắm nhọc nhằn”

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi trình bày một cách khái quát những vấn đề lý thuyết cơ bản làm cơ sở lý luận cho luận văn Qua những nội dung vừa trình bày, chúng tôi tóm lại một số điểm như sau:

- Bất kể một ngành khoa học nào muốn tồn tại với tư cách là một ngành

khoa học riêng biệt thì trước hết phải xác định cho được đối tượng nghiên cứu của mình, rồi tiếp đến là xác định những nội dung, những khái niệm cơ bản và phương pháp tiếp cận Phong cách học tuy mới được phát triển cả bề rộng lẫn

bề sâu trong vài ba thập kỷ gần đây, song nó đã có một lịch sử từ lâu đời Tuy nhiên việc xác định một cách đúng đắn đối tượng và những vấn đề cơ bản của lĩnh vực khoa học này thì không phải đã được hoàn chỉnh ngay từ đầu Ngay

cả cho đến bây giờ, một số vấn đề cơ bản của phong cách học cũng chưa phải

đã được thống nhất trong quan niệm của các nhà phong cách học, chẳng hạn như tên gọi, một số khái niệm cơ bản,…

- Chương này trình bày lý thuyết về phong cách học là tập trung nghiên

cứu những vấn đề lí luận về phong cách, lí luận về vận dụng ngôn ngữ Nó xác định các khái niệm và phạm trù của phong cách học Nó tạo tiền đề cho phong

Trang 29

25

cách học thực hành và lý thuyết về phương tiện tu từ và biện pháp tu từ

- Bên cạnh đó luận văn cũng trình bày một vài nét về tác giả Huỳnh

Thạch Thảo cũng như sự nghiệp sáng tác của ông Chúng tôi thấy đây là cây bút cứng cỏi và có cá tính Tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề đời sống xã hội của quá khứ và hiện tại được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, mới mẻ Trong đó, truyện ngắn được xem là một hướng đi thành công, một đóng góp của tác giả đối với sự phát triển của văn học Phú Yên Với óc hài hước, thâm thúy, vốn hiểu biết sâu rộng, khả năng làm chủ ngôn ngữ, Huỳnh Thạch Thảo đang có một vị trí khá vững chắc ở thể loại này Vì thế, việc phân tích phong cách sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo hứa hẹn sẽ có nhiều điều thú vị Vấn đề này chúng tôi sẽ triển khai ở những chương tiếp theo trên các bình diện: ẩn dụ và hoán dụ, so sánh

và nhân hóa, điệp từ ngữ, liệt kê và tăng tiến

Trang 30

26

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG

TRUYỆN NGẮN HUỲNH THẠCH THẢO

2.1 Ẩn dụ và hoán dụ

2.1.1 Ẩn dụ

Ẩn dụ là biện pháp dùng tên gọi của đối tượng này làm tên gọi của đối tượng khác dựa trên sự liên tưởng về mối tương đồng giữa hai đối tượng về

mặt nào đó (như màu sắc, tính chất, trạng thái, )

Ẩn dụ tu từ là một thủ pháp nghệ thuật phổ biến, được các nhà văn vận dụng để thể hiện thế giới tinh thần, tình cảm phong phú của cái tôi Huỳnh Thạch Thảo cũng không ngoại lệ Ông đã sáng tạo ra một nghệ thuật ẩn dụ hết sức riêng biệt trong trong truyện ngắn của mình

Huỳnh Thạch Thảo đã có những tìm tòi những ẩn dụ cũ đã sáo mòn bằng cách tạo cho nó những hình ảnh mới, ý nghĩa mới

Hoàng Tất Thắng trong cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại cho rằng: “Về thực chất ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng là so sánh ngầm, đối chiếu

ngầm, ẩn dụ là cách lấy tên gọi của đối tượng này (lấy cái so sánh) để lâm thời gọi tên đối tượng khác (cái được so sánh) dựa trên cơ sở so sánh ngầm, hiểu ngầm, thừa nhận ngầm một thuộc tinh chung nào đó giống nhau giữa hai đối tượng.” [29,124]

Chẳng hạn: “Đi chệch tính Đảng sẽ sa vào vũng bùn của chủ nghĩa cá

nhân tư sản” (Trường Chinh)

Hình ảnh “vũng bùn” được dùng để lâm thời gọi tên nội dung “hệ tư tưởng, quan điểm phản động” Nét cá biệt giống nhau giữa hai đối tượng này đều là thứ “cặn bã”, theo cách nhìn và quan niệm của người miêu tả Sự khác nhau của hai đối tượng khác loại là ở chỗ một bên là thứ “cặn bã” của vật

Trang 31

27

chất, còn một bên là “cặn bã” của tinh thần Đó là chức năng nhận thức của ẩn

dụ Bên cạnh giá trị nhận thức sâu sắc về bản chất của đối tượng, thông qua hình tượng, ẩn dụ tỏ ra là phương tiện biểu cảm đắc lực Bởi vì cùng một đối tượng là “hệ tư tưởng, quan điểm tư tưởng phản động” nhưng có thể có nhiều tên gọi, có nhiều đối tượng lâm thời thay thế khác nhau Việc lấy tên gọi

“vũng bùn” để lâm thời gọi tên còn thể hiện thái độ phủ định của người nói, nhắc nhở mọi người hãy cảnh giác và tránh xa thứ cặn bã tinh thần ấy

Chức năng biểu cảm của ẩn dụ thể hiện ở tác dụng và làm cho lời văn có tính chất hình tượng, sinh động và gợi cảm, súc tích Nó bộc lộ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với đối tượng

Với sự đa dạng về chức năng như trên, ẩn dụ được sử dụng trong nhiều

phong cách ngôn ngữ, nhất là trong phong cách ngôn ngữ tác phẩm văn học

Truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo phần lớn viết về dòng hoài niệm đã qua, nhân vật thường mang những tâm trạng vui, buồn ở hiện tại khi nhắc về quá khứ Huỳnh Thạch Thảo thường xoay quanh hai đề tài chính, chiến tranh

và thế sự Dù viết về chiến tranh hay thế sự, Huỳnh Thạch Thảo bao giờ cũng lồng vào đó câu chuyện tình yêu đôi lứa với nhiều kỉ niệm một thời khó quên Bởi lẽ trái tim của nhà văn thường đa cảm hơn người bình thường cộng với năng khiếu văn chương nên cảm xúc thăng hoa là điều dễ hiểu Truyện của Huỳnh Thạch Thảo là những dòng cảm xúc miên man chảy, đẹp và buồn Người đọc bị tác giả cuốn theo mạch văn buồn nhớ vời vợi, không ồn ào nhưng thấm thía, đủ lay thức những trái tim biết đồng cảm Bằng những ngôn

từ lấp lánh, cùng với văn phong mượt mà, với lối tự sự từ đáy lòng Ngôn ngữ

là lời độc thoại, đối thoại với chính mình Vì thế truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo như những bản nhạc tình yêu không lời du dương, dìu dặt Theo tìm hiểu của chúng tôi, biện pháp ẩn dụ được sử dụng trong các tập truyện ngắn không nhiều, 20 trường hợp Nhưng qua cách sử dụng đó ta cũng hiểu được

Trang 32

28

cách dùng từ của ông Dưới đây là một số kiểu ẩn dụ trong truyện

2.1.1.1 Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về hình thức

Đây là hình thức chuyển đổi tên gọi dựa trên cơ sở hai sự vật có sự giống nhau về hình thức hoặc một đặc điểm hình thức Việc vận dụng phương thức này đã tạo ra từ ngữ mới một cách độc đáo, thú vị

Ví dụ (1): Ngày mai là nghiệm thu, tối nay Toàn mời nhóm phục chế

phần đỉnh, phần khó nhất kể cả nguy hiểm bởi độ cao thẳng đứng, gió thông thống thổi, nắng miền Trung hừng hực, sơ sẩy là “lá phải xa cành” như lời tay Chất, trưởng tốp thợ… [50, 126-127]

Hình ảnh “lá phải xa cành” chúng ta thường dùng hàng ngày để nói về

thiên nhiên nhưng ở đây Huỳnh Thạch Thảo vận dụng hình ảnh đó để nói đến cái chết của con người Người đọc hiểu được là dựa vào sự giống nhau về hình thức lá xa cành nó cũng như sự giã từ cõi đời của con người

Ví dụ (2): Hết rồi Xong rồi Cả tiểu đoàn đóng rải rác các cứ điểm phía

Tây nam Ban Mê Thuột bị nướng sạch [48,36]

Nướng là động từ dùng để chỉ làm khô một vật gì đó Như nướng bánh,

nướng cá,… Huỳnh Thạch Thảo dùng từ “nướng sạch” là nói lên sự hi sinh

của những người lính thời chiến tranh chống Mỹ Hình ảnh đó gợi lên cảnh đau thương, mất mát đồng thời cũng tố cáo tội ác của kẻ thù gieo lên mảnh đất quê hương

Ví dụ (3): Sống sao không biết nhịn nhau để tan đàn sẻ nghé rứa? Rồi

con mi nó có tội tình gì? Cả một đời, người ta mong tìm một mái ấm còn không được! [53,50]

“Tan đàn sẻ nghé” có sự liên tưởng tương đồng về hình thức với nghĩa

sự đổ vỡ của tình cảm vợ chồng

2.1.1.2 Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về đặc điểm, tính chất

Ví dụ (4): Sáu cà lết là đứa nhỏ nhất nhưng là đứa lanh lợi dù có đôi

Trang 33

29

chân chấm phảy [51, 21-22]

Huỳnh Thạch Thảo dùng từ “chấm phảy” để nói về đôi chân, là đôi

chân tật nguyền, đi đứng không bình thường như những người khác Đó là nét riêng trong truyện ngắn của ông

2.1.1.3 Ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về cách thức

Đây là phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai sự việc

Ví dụ (5): Hai mươi năm qua rồi, nhưng hình ảnh cũ luôn để lại trong

tâm trí tôi Đau đớn, dằn vặt, khổ tâm dù tôi đã sang phía bên kia bờ đại dương để sống [52, 156]

“Bên kia bờ đại dương” chỉ nơi ở mới với khoảng cách quá xa

Truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo là cả một nỗi niềm của con người trong quãng đời đã qua, vui có, buồn có Chính vì thế nhân vật trong truyện cũng có những tính khí thất thường cũng như thiên nhiên, trời đất lúc nắng, lúc mưa thất thường như “ấm lạnh bất thường thời tiết thất thường, tan vào sương khói, ngon…” Tất cả những tính khí này được thể hiện trong tập truyện “Mặt trời và những cơn mưa” Là một tập sách chủ yếu viết về đề tài tình yêu, về những cuộc tình có đủ nụ cười và nước mắt, hy vọng và thất vọng, ngọt bùi và đắng cay nhưng kết thúc đều có hậu Mỗi truyện ngắn khép lại chính là mở ra lối mới cho bạn đọc tự viết tiếp

Ví dụ (6): Ngang qua đường hoa ngọc lan, gã chào Nga rồi khuất vào

các đường nhỏ quanh co đầy sương mù Nga chưng hửng, tủi thân ghê gớm:

“Không đi thì thôi Người đâu ấm lạnh bất thường vậy chứ?” [54, 12]

Ví dụ (7): Bàn tay dần nới lỏng khi dìu nàng, điệu nhảy trật nhịp mấy

lần khiến Nga thích thú Cho đáng đời! Đồ thời tiết thất thường [54, 13]

Ví dụ (8): Minh ngước nhìn lên bầu trời xanh trong, vài cụm mây trắng

dồn tụ phía Gò Vấp Thiệt kỳ, nắng ngon vậy nhưng mưa vẫn liền liền, rào

Trang 34

30

một cái là ào ạt, ào ạt rồi tạnh ráo [54, 122]

Ví dụ (9): Vuốt ve từng đường nét trên gương mặt anh, H khe khẽ hỏi:

- Anh sẽ không tan vào sương khói chứ?

Anh hôn nhẹ môi cô và gật, từ nay chắc chắn anh sẽ luôn kề cận bên cô Chỉ mong chính cô cũng không tan vào sương khói, vì anh rất muốn cùng cô làm những việc ý nghĩa trong quãng đời sắp tới của họ [54, 68]

Nhìn chung, Huỳnh Thạch Thảo coi đây là một trong những thủ pháp chủ yếu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của mình Đôi khi ông còn cố ý vi phạm các chuẩn mực logic của ngôn từ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật Bằng phép ẩn dụ, Huỳnh Thạch Thảo đã xây dựng lại các hình ảnh đến từ thực tại khách quan để tạo ra một thế giới mới, khác biệt Điều đó đã góp phần tạo nên phong cách riêng trong truyện của ông

Trang 35

31

Cũng như ẩn dụ truyện Huỳnh Thạch Thảo sử dụng một số kiểu hoán

dụ sau

2.1.2.1 Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa dấu hiệu và sự vật

Đây là kiểu hoán dụ gặp nhiều nhất trong văn học Ở đây Huỳnh Thạch Thảo đã sử dụng trong truyện ngắn của mình để tạo nên những cách chuyển nghĩa độc đáo, thú vị cho từ, ngữ chính là dựa vào dấu hiệu của sự vật để gọi tên sự vật ấy

Ví dụ (10): Cái năm hội nghị các cây bút trẻ, lâu rồi, từ cuối thế kỷ hai

mươi lận Gặp nhau lần đầu nhằm vào mùa thu Hà Nội ở Láng Trung ngõ Đội Cấn, cũng ậm à ậm ừ nhìn nhau so sánh tài sức vì chỉ thấy trên báo chứ đâu thấy mặt, lúc ấy còn ngố ra phếch [ 50, 8]

Các cây bút trẻ là chỉ những người cầm bút, những người viết thơ, văn,

những người đem lại đời sống tinh thần cho cuộc đời Huỳnh Thạch Thảo nói các cây bút trẻ là để khẳng định thế hệ nhà văn mới, thế hệ tiếp nối cha anh đi

trước để đem đến cung bậc mới cho đời Từ “cây bút”, ta thường gặp trong giao tiếp đời sống, nhưng ở đây Huỳnh Thạch Thảo dùng từ cái năm đi với

các cây bút trẻ cho thấy được nghề cầm bút vẫn còn đó những khó khăn trong

cơm áo đời thường, dù thế hệ già hay trẻ Đó là cái riêng trong việc sử dụng phép hoán dụ của Huỳnh Thạch Thảo

2.1.2.2 Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa chức năng và sự vật là lấy chức năng của sự vật để gọi tên sự vật

Ví dụ (11): Một thân hình rũ rượi vật vã giữa đám áo blu trắng, mũ

trắng kề hai thùng nước to đùng Kiểu này không chết vì ngộ độc cũng bị sặc nước trụy tim đến chết [54, 29]

“Áo blu trắng, mũ trắng”, cách hoán dụ này Huỳnh Thạch Thảo dựa vào

sự liên tưởng giữa hai đối tượng, đối tượng được mượn tên và đối tượng được nói đến Ẩn dụ mang nặng tính chủ quan, đậm sắc thái biểu cảm, vẻ đẹp thẩm

Trang 36

32

mỹ trong việc lựa chọn hình ảnh thay thế lâm thời Trái lại hoán dụ mang tính chân thực khách quan, có khả năng khắc họa, nhấn mạnh một đặc điểm có thực nào đó của đối tượng nói trên Bởi vậy hoán dụ thiên về chức năng nhận thức, khám phá, phát hiện đặc điểm khách quan của đối tượng, mặc dù không coi nhẹ giá trị biểu cảm của hình tượng Qua cách sử dụng tu từ hoán dụ, Huỳnh Thach Thảo cho độc giả cảm nhận được công việc vất vả mà những người mặc áo blu trắng làm hàng ngày mỗi khi có bệnh nhân

2.2.2.3 Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể

Mối liên hệ giữa bộ phận và toàn thể là kiểu hoán dụ từ vựng thường gặp trong ngôn ngữ toàn dân và cũng được vận dụng khá linh hoạt trong truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo

Ví dụ (12): Tôi vội bật lửa thì nghe mơ hồ trong tiếng lá xào xạc ngoài

vườn có nhiều tiếng chân vội vã đi dần về phia căn nhà [51, 13]

“Tiếng chân vội vã” gợi âm thanh tấp nập của kẻ thù trong cuộc kháng

chiến, nhà văn lấy một bộ phận của con người để chỉ cái toàn thể Cũng như các nhà văn khác, Huỳnh Thạch Thảo sử dụng hoán dụ trong truyện ngắn, để diễn tả trạng thái tâm hồn của các nhân vật Dưới đây là một số ví dụ chỉ trạng thái tâm hồn nhân vật

Ví dụ (13): Ông lại kinh hoàng bật dậy khi thấy mình bị nhốt vào lồng

sắt lúc từng đoàn thuyền gầm rú, xả bọt, cắt sóng lao đến và trên bầu trời, đôi mắt đen thẳm dõi theo nhìn ông đầy khắc khoải [53, 34-35]

Ví dụ (14): Những đôi chân trần cuộn cơ bắp và các đôi vai săn chắc

bóng nhẫy rịn đẫm mồ hôi hòa trong tiếng thở khào khào, tiếng va đập trượt trên cát dài theo âm thanh biển sớm của vòng cung bán đảo nghe nằng nặng,

im lìm chuyển động như rừng cây phía sau đợi bình minh khi còn lộng gió

[50,110]

Ví dụ (15): Đôi mắt ấy vẫn nhìn anh không rời, vẫn chuẩn xác dụng cụ

Trang 37

33

chỉ có hơi thở nhẹ gần hơn “OK, cảm ơn”, anh ngước nhìn bình dung dịch, điện tâm đồ và cả đôi mắt đối diện để cười nhẹ trong khẩu trang như không

hề có cảm xúc [54, 27]

Ví dụ (16): Tay vừa giở nón, tay đặt thúng gạo có thêm sấp bánh tráng

đường rắc mè ra thềm liền vội ôm tôi mà than trời trách đất “Đất và cát khác nhau lắm, sẽ khổ mãi cháu ơi!” [54, 82]

Các ví dụ ở trên ta thấy Huỳnh Thạch Thảo sử dụng những từ “đôi

chân”, “đôi mắt”,” tay” để thay thế con người, chính cách hoán dụ như thế

gợi ra những cảm xúc khác nhau của từng nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn Huỳnh Thạch Thảo thường là anh lính trong thời chiến, người nông dân

ở đồng ruộng hay là làng biển như: Già Năm, dì Tư, chú Sáu,… Mỗi nhân vật đều có những nỗi niềm riêng, tâm sự riêng

2.1.2.4 Hoán dụ lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng

Đọc các tập truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo chúng ta thường thấy anh sử dụng nhiều cụm từ “cả thôn, cả xóm” để nói đến con người như ví dụ dưới đây

Ví dụ (17): Cả thôn Thượng ồ lên khi thấy chiếc xe thổ mộ chở tên đào

kép mang râu đội mũ, khoác áo long bào xênh xang múa máy theo nhịp trống hành binh [50, 86]

Ví dụ (18): Cả xóm nháo nhác khi từ con đường độc nhất thông với quận

lỵ, đoàn xe nhà binh tuôn bụi mù mịt chạy lên [51, 11-12]

Bởi vậy, hoán dụ tu từ có khả năng nhấn mạnh, khắc họa các đặc điểm nổi bậc của đối tượng định nói đến là tùy thuộc vào ý định chủ quan của người nói Hoán dụ tu từ còn có công dụng để bộc lộ tài năng quan sát hiện thực riêng của người nói Huỳnh Thạch Thảo đã sử dụng độc đáo nét riêng này trong truyện ngắn của mình

Trang 38

2.2.1.1 Nhận xét chung

So sánh ví von (nói gọn là so sánh) là thủ pháp hết sức quen thuộc, được

sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong sáng tác văn chương Đây là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc sắc Có thể thấy, trong các tác phẩm văn học nói chung, trong truyện ngắn nói riêng, chúng ta thường xuyên bắt gặp biện pháp tu từ so sánh Nhờ phép so sánh, người viết

có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp

đẽ cho người đọc

So sánh là hình thức đem hai sự vật khác nhau nhưng ngẫu nhiên có đặc điểm giống nhau, nhằm lấy sự vật này để làm nổi bật sự vật kia Để có được những hình ảnh so sánh thực sự đặc sắc thì người sáng tác phải có óc liên tưởng sáng tạo độc đáo

Tư liệu điều tra của chúng tôi cho thấy, biện pháp so sánh xuất hiện dày đặc trong các tác phẩm của Huỳnh Thạch Thảo

Chúng tôi đã thống kê được 100 trường hợp sử dụng biện pháp so sánh trong 7 tập truyện chọn làm nguồn trích dẫn

Tất cả những trường hợp so sánh được Huỳnh Thạch Thảo sử dụng đều

là phép (biện pháp) so sánh tu từ

Xét về mặt cấu trúc và ý nghĩa, phép so sánh trong sáng tác của Huỳnh Thạch Thảo không có gì đặc biệt Điều làm nên nét riêng của phép so sánh mà ông dùng là việc chọn và miêu tả, thể hiện đối tượng so sánh Vì vậy, ở đây chúng tôi cũng chỉ quan tâm đến phương diện này mà không miêu tả cấu trúc hay ý nghĩa của phép so sánh như thường thấy trong một số công trình nghiên cứu khác

Trang 39

35

2.2.1.2 Nét riêng của phép so sánh trong truyện ngắn của Huỳnh Thạch Thảo

Cần phải nói ngay rằng, nét riêng dễ nhận thấy nhất của phép so sánh

trong sáng tác của Huỳnh Thạch Thảo thể hiện ở việc lựa chọn đối tượng

được so sánh và đối tượng so sánh (vế A và vế B trong cấu trúc so sánh)

Nếu nhìn một cách khái quát, đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh trong tác phẩm của Huỳnh Thạch Thảo không có gì đặc biệt, bởi chúng

có thể là người, sự vật, hiện tượng hay những hình ảnh quen thuộc như các tác

giả khác thường dùng Nhưng đó là sự vật gì, hiện tượng cụ thể gì mới là điều

chúng ta cần quan tâm

Các ví dụ dưới đây sẽ cho ta hiểu về những đối tượng so sánh trong sáng tác của Huỳnh Thạch Thảo

Ví dụ (19): Cả ngày lầm lũi bụi đường, mà khi ngủ bọn nó nằm tăm tắp

như lớp chuối trên vỉ thấy ứa nước mắt, càng ứa nước mắt hơn khi giở hộp thiếc, trong đó là những tờ bạc cuộn dây thun đủ màu của mỗi đứa, tờ rách,

tờ lành, tờ mới, tờ cũ vương vất mồ hôi [53, 99]

Trong ví dụ này, đối tượng được so sánh là bọn nó nằm tăm tắp, đối tượng so sánh là lớp chuối trên vỉ

Việc chọn “bọn nó nằm tăm tắp” (để thấy được dù còn rất trẻ nhưng đã

ý thức được hoàn cảnh sống) làm đối tượng so sánh của “lớp chuối trên vỉ”

quả là một sự lựa chọn bất ngờ Người đọc dễ dàng hình dung được hình dạng, trạng thái của đối tượng được so sánh – bọn nó nằm tăm tắp

Tương tự, ví dụ (20): Đôi mắt ông ấy hừng hực đỏ như đầu nòng súng

thép, môi cắn chặt đến bật máu mà xả từng tràng vào những chiếc bóng loang lổ trong đám cỏ tranh và tốc M.79 khi chúng dạt ra để rồi dồn cục [51, 14]

Đôi mắt (đối tượng được so sánh) ở đây như đầu nóng súng (đối tượng

so sánh) Đầu nòng súng (sự ác liệt của chiến tranh) đã làm cho bao nhiêu

cuộc đời phải sống cảnh đau thương, chia lìa

Trang 40

36

Ta thường nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, biểu lộ những trạng thái, cung bậc của đời sống Tác giả so sánh đôi mắt đỏ hừng hực như đầu nòng súng, người đọc cảm nhận được lòng căm thù tột độ của nhân vật đối với đế quốc

Mỹ, một sự quan sát tinh tế Cách ví von, so sánh này khiến người đọc vừa phải có vốn hiểu biết nhất định vừa phải có khả năng liên tưởng mới cảm nhận được

Trong ví dụ (21) dưới đây, đối tượng được so sánh là gã đàn ông, một

con người lao động chân chất ở làng biển; còn đối tượng so sánh là hình ảnh

được Huỳnh Thạch Thảo lựa chọn lại khá đặc biệt, ít ai dùng như vậy vì chúng gợi một cảm giác ghê rợn cho người đọc:

Ví dụ (21): Trông gã như con sâu đo lúc co lúc duỗi và khi Vinh chụm

tay làm loa gọi lại thấy cong cong Đến khi đối diện nhìn gã cười với khuôn mặt đầm đìa mồ hôi cùng nước da như tôm hùm… luộc mới biết là thằng Hòa [53, 103]

Gã được so sánh với con sâu đo, nước da như tôm hùm đúng là một sự

so sánh khác thường và phần nào nói lên cách viết hóm hỉnh của nhà văn Các ví dụ (22), (23), (24), (25), (26) dưới đây một lần nữa khẳng định thêm về cái lạ, cái độc đáo trong việc chọn đối tượng so sánh của Huỳnh Thạch Thảo

Ví dụ (22): Cả hai đi theo đường mòn ngược lên dốc núi, mà phía đó

buổi chiều Viễn chỉ cho tôi những mái nhà ẩn hiện quanh những sườn đá dựng đứng, cheo leo bên bờ vực và bên dưới, dòng suối như con rắn bạc cuộn mình chảy dài - Viễn đã quay lại, anh ngồi trầm ngâm nhìn đống lửa, đôi mắt như buồn hơn và như chen vào đám mây vừa trôi qua che khuất cả góc núi

[48, 112]

Ví dụ (23): Tôi thấy em như miếng bánh cháy, thương quá liền dọt qua

rào ngồi thụp trên chiếc đòn kê, bảo em vô dầu lại rồi cứ thế biểu diễn kiểu

ăn như hồi còn đi học [53, 95]

Ngày đăng: 11/08/2021, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
[2]. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[3]. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[6]. Hải Đông (2002), "Huỳnh Thạch Thảo có sao viết vậy", Báo Thể thao & Văn hóa, số 90, nhà 15/09/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Thạch Thảo có sao viết vậy
Tác giả: Hải Đông
Năm: 2002
[7]. G.Brown &G.Yule (2002) Phân tích diễn ngôn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
[8]. Nguyễn Thiện Giáp, Vấn đề "Từ trong tiếng Việt", NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trong tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[9]. Quỳnh Hân (2007), "Đôi nét văn chương Phú Yên 2006", Tạp chí Văn nghệ Phú Yên, số 121 - 122 -2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét văn chương Phú Yên 2006
Tác giả: Quỳnh Hân
Năm: 2007
[10]. Phạm Ngọc Hiền (2001), "Hoài niệm tuổi thơ, sức hấp dẫn của Tiếng vọng ngày xanh", Báo Phú Yên, số 1/12/2001 . Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoài niệm tuổi thơ, sức hấp dẫn của Tiếng vọng ngày xanh
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2001
[11]. Phạm Ngọc Hiền (2004), "Thế giới dị thường trong Người không giăng câu Kiều", Tạp chí Văn nghệ Phú Yên, số 100/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới dị thường trong Người không giăng câu Kiều
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2004
[12]. Phạm Ngọc Hiền (2005), "Những thành tựu của văn chương Phú Yên thế kỉ XX", Báo Phú Yên, số 21/01/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của văn chương Phú Yên thế kỉ XX
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2005
[13]. Phạm Ngọc Hiền (2006), "Không gian và tâm hồn khoáng đạt trong văn Huỳnh Thạch Thảo", Tạp chí Văn nghệ Phú Yên, số 7/2007 . Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian và tâm hồn khoáng đạt trong văn Huỳnh Thạch Thảo
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2006
[14]. Phạm Ngọc Hiền (2007), "Trần Quốc Cưỡng - Người lực điền cần mẫn trên cánh đồng tản văn", Tạp chí Văn nghệ Phú Yên, số 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Cưỡng - Người lực điền cần mẫn trên cánh đồng tản văn
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2007
[15]. Nguyễn Văn Hiệp, Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Nhà XB: NXB Giáo dục
[16]. Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[17]. Đinh Trọng Lạc; Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
[18]. N.V.Xtankêvich (1982), Loại hình các ngôn ngữ, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình các ngôn ngữ
Tác giả: N.V.Xtankêvich
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1982
[19]. Thảo Nguyên, Những khúc nhạc tình yêu dìu dặt, (Đọc mặt trời và những cơn mưa của nhà văn Huỳnh Thạch Thảo, NXB Hội nhà văn, 2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khúc nhạc tình yêu dìu dặt
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
[20]. Nhiều tác giả (1997), Mấy vấn đề ngôn ngữ và văn học, NXB Khoa học và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều tác giả (1997), Mấy vấn đề ngôn ngữ và văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học và Xã hội
Năm: 1997
[21]. Nhiều tác giả (2007), Mùa gió nam - tập truyện ngắn dự thi, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa gió nam - tập truyện ngắn dự thi
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2007
[22]. Nhiều tác giả(2009), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w