1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của hai giống gà ta chọn lọc MD3 và hoàng yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả ở huyện k’bang, tỉnh gia lai

71 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đặc Điểm Sinh Trưởng, Năng Suất Và Chất Lượng Thịt Của Hai Giống Gà Ta Chọn Lọc MD3 Và Hoàng Yến Trong Điều Kiện Nuôi Bán Chăn Thả Ở Huyện K’Bang, Tỉnh Gia Lai
Tác giả Huỳnh Thị Thanh Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Trần Thanh Sơn
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Sinh học thực nghiệm
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN HUỲNH THỊ THANH NGUYỆT KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA HAI GIỐNG GÀ TA CHỌN LỌC MD3 VÀ HOÀNG YẾN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI BÁN CHĂN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

HUỲNH THỊ THANH NGUYỆT

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA HAI GIỐNG GÀ TA CHỌN LỌC

MD3 VÀ HOÀNG YẾN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI

BÁN CHĂN THẢ Ở HUYỆN K’BANG,

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Định, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Huỳnh Thị Thanh Nguyệt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Những đóng góp của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu 4

1.1.1 Phân loại động vật và nguồn gốc của đối tượng nghiên cứu 4

1.1.2 Cơ sở di truyền căn bản các tính trạng ở gà 5

1.1.3 Nguồn gốc hai giống gà ta chọn lọc MD3 và Hoàng Yến 8

1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên, dân số vùng nghiên cứu 9

1.2.1 Vị trí địa lý 9

1.2.2 Đặc điểm địa hình 10

1.2.3 Đặc điểm khí hậu 10

1.3 Cơ sở khoa học 11

1.3.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng 11

1.3.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt 15

1.3.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu mức độ tiêu tốn thức ăn 18

1.3.4 Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật 18

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen vật nuôi trên thế giới 19

Trang 4

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 25

2.1 Nội dung nghiên cứu 25

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 25

2.2.3 Phạm vi nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26

2.3.2 Chế độ dinh dưỡng 28

2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi trong nghiên cứu 28

2.3.4 Xử lý số liệu 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Nhiệt độ và độ ẩm của chuồng nuôi 34

3.1.1 Nhiệt độ 34

3.1.2 Độ ẩm 34

3.2 Tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến 34

3.2.1 Tỷ lệ sống của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến từ một ngày tuổi tới 16 tuần tuổi 34

3.2.2 Sinh trưởng của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến giai đoạn một ngày tuổi đến 16 tuần tuổi 35

3.3 Năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng thịt của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 43

Trang 5

bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 43

3.3.2 Một số chỉ tiêu chất lượng thịt của gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 44

3.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 46

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

1 Kết luận 47

1.1 Điều kiện sinh thái môi trường nuôi 47

1.2 Sức sống, sinh trưởng của gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 47

1.3 Năng suất, chất lượng thịt gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 48

2 Đề nghị 48

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 6

Bảng 2.1: Mô tả thí nghiệm nuôi gà giai đoạn từ 01 ngày tuổi tới 16 tuần

tuổi 26 Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn công nghiệp sử dụng trong

nghiên cứu 28 Bảng 3.1: Tỉ lệ sống của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến từ

một ngày tuổi tới 16 tuần tuổi 35 Bảng 3.2: Kích thước các chiều đo cơ thể gà ta chọn lọc MD3 và gà

Hoàng Yến tại thời điểm 16 tuần tuổi 36 Bảng 3.3: Khối lượng (g) của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến

nuôi tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai từ 1-6 tuần tuổi 37 Bảng 3.4: Khối lượng (g) của giống gà ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến

nuôi tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai từ 8 -16 tuần tuổi 37 Bảng 3.5: Sinh trưởng tuyệt đối A (g/con/ngày) của giống gà ta chọn lọc

MD3 và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai qua các tuần tuổi 41 Bảng 3.6: Sinh trưởng tương đối A (g/con/ngày) của giống gà ta chọn lọc

MD3 và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai qua các tuần tuổi 42 Bảng 3.7: Kết quả một số chỉ tiêu năng suất thịt của gà ta chọn lọc MD3

và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thời điểm 16 tuần tuổi 44

Trang 7

và gà Hoàng Yến nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thời điểm 16 tuần tuổi 44 Bảng 3.9: Hiệu quả sử dụng thức ăn của ta chọn lọc MD3 và gà Hoàng Yến

nuôi bán chăn thả tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giai đoạn từ một ngày tuổi đến 16 tuần tuổi 46

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Khối lượng trung bình của gà lúc 16 tuần tuổi 39

Biểu đồ 3.2: Trọng lượng bình quân của gà qua các tuần tuổi 40

Biểu đồ 3.3: Đồ thị tăng trưởng trọng lượng của gà qua các tuần tuổi 40

Biểu đồ 3.4: Tăng trọng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) 42

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp của Việt Nam, nó đang là ngành mang lại lợi nhuận cao trong lĩnh vực nông nghiệp và có tiềm năng phát triển Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế phải chịu sự tác động nghiêm trọng của cơn đại dịch toàn cầu Covid-19 thì vấn đề

an ninh lương thực đang là một vấn đề cấp bách Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước đòi hỏi các nông trại chăn nuôi; nông hộ chăn nuôi phải cung ứng ra thị trường kịp thời, đồng thời sản phẩm phải có số lượng, chất lượng tốt Theo chiến lược phát triển đến năm 2020 của Bộ NN&PTNT [2] đưa ra, đến năm 2020 sản lượng thịt đạt khoảng 5.500 ngàn tấn, trong đó thịt lợn 63%, thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%; trứng đạt khoảng 14 tỷ quả và trên 1000 tấn sữa Chăn nuôi gà vốn có truyền thống lâu đời tại Việt Nam, đang phát triển mạnh cả về quy mô lẫn năng suất và chất lượng Mục tiêu từ 2010 đến năm 2020 phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp và chăn nuôi chăn thả có kiểm soát (nuôi bán chăn thả); tổng đàn gà tăng bình quân 5% năm, đến năm 2020 đạt khoảng 300 triệu con [2] Theo số liệu thống kê tại thời điểm 12/2019 của Tổng cục Thống kê, tổng đàn gia cầm của Việt Nam đạt 467 triệu con; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng cả năm ước đạt 1.278,6 nghìn tấn; sản lượng trứng cả năm ước đạt 13,2 tỷ quả

Hiện nay đất nước đang đẩy mạnh quá trình hội nhập, nhất là Việt Nam đang trong tiến trình gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Tiếng Anh: Trans-Pacific Partnership Agreement - viết tắt TPP), phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường, giảm thuế các mặt hàng nông sản, trong

đó có thịt gà Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gà nói riêng là lĩnh vực có nguy cơ bị tổn thương nặng

Trang 10

nề nhất vì bị cạnh tranh trực tiếp bởi hàng nhập khẩu giá rẻ, chất lượng cao từ các nước chăn nuôi gà phát triển hàng đầu như Mỹ, Brasil, Trung Quốc và một số nước Tây Âu Vì vậy, quan tâm đến các giống gà trong nước là vấn đề cấp bách để từng bước nâng cao năng suất chăn nuôi, tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân và góp phần cạnh tranh với các sản phẩm thịt gia cầm giá

rẻ đang có nguy cơ chiếm lĩnh thị trường trong nước

Theo Vũ Chí Cương (2015), “TPP đưa ra nhiều thách thức nhưng ở mặt nào đó đem lại cho chăn nuôi những cơ hội lớn” Một trong những hướng giúp ngành chăn nuôi tồn tại và phát triển mà tác giả đề cập là, “Về lâu dài công tác quản lý giống cần quan tâm để tạo ra các giống đặc hữu của Việt Nam giúp người nông dân và người sản xuất tồn tại và trụ vững trong môi trường TPP Chúng ta có nguồn gen gia súc gia cầm rất phong phú, dù năng suất thấp nhưng chất lượng cao, phù hợp với thói quen và văn hóa ẩm thực của người Việt Nguồn gen này chính là nguồn nguyên liệu quý để tạo các giống có năng suất không cao nhưng chất lượng cao” [4]

Khu vực Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng chăn nuôi gà theo hình thức bán chăn thả đang phát triển mạnh cả về số cơ sở chăn nuôi lẫn quy

mô Do thói quen của người tiêu dùng vẫn thích ăn thịt gà dai, thơm ngon của các giống gà Ri (còn gọi là “gà ta”) nên nhu cầu thịt của các giống gà theo hướng này đang được ưa chuộng, giá thành cao

Hiện nay, tại Gia Lai nhập khá nhiều con giống gà ta chọn lọc, giống gà lông màu lai của các công ty giống gia cầm tại Bình Định như công ty TNHH giống gia cầm Minh Dư, cơ sở giống gia cầm Hoàng Yến, công ty TNHH giống gia cầm Cao Khanh, đây là các giống gà có khả năng sinh trưởng tốt, thịt thơm ngon phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện chăn nuôi bán chăn thả ở Gia Lai Trong điều kiện giống gà cung cấp phong phú, cần có những nghiên cứu so sánh giữa các giống để có những

Trang 11

khuyến cáo cho người dân lựa chọn giống gà nuôi phù hợp, đạt hiệu quả kinh

tế cao chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát đặc điểm sinh trưởng, năng suất

và chất lượng thịt của hai giống gà ta chọn lọc MD3 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại huyện K’bang, tỉnh Gia Lai” Trong khuôn

khổ của đề tài này, do thời gian và kinh phí còn hạn chế nên những đánh giá của chúng tôi chỉ là bước đầu, làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn

về đặc điểm của các giống để nhân rộng nuôi thâm canh các giống gà này ở tỉnh Gia Lai

2 Mục tiêu nghiên cứu

So sánh đặc điểm sinh trưởng và chất lượng thịt của hai giống gà ta chọn lọc MD3 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Đánh giá tỉ lệ nuôi sống, một số chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của hai giống gà ta chọn lọc MD1 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

3 Những đóng góp của đề tài

- Cung cấp dẫn liệu về tỉ lệ nuôi sống, một số chỉ tiêu sinh trưởng, năng

suất và chất lượng thịt của gà ta chọn lọc MD1 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

- Làm cơ sở khoa học để bổ sung kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng các giống gà ta chọn lọc phổ biến của Bình Định trong điều kiện khí hậu Tây

Nguyên

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu

1.1.1 Phân loại động vật và nguồn gốc của đối tượng nghiên cứu

1.1.1.1 Phân loại động vật

Theo tác giả Nguyễn Văn Thiện (1995) [59] thì gà thuộc:

Giới (kinhdom): Animal Động vật Ngành (phylum): Chordata Có xương sống

Họ (family) : Phasianidae Trĩ Giống (genus): Banquiva Gallus Loài (species): Gallus gallus Gà nhà

1.1.1.2 Nguồn gốc của gà

Hiện nay có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của loài gà nhà nhưng thuyết phục hơn cả là giả thuyết cho rằng tổ tiên của các giống gà nhà hiện

nay có nguồn gốc từ gà rừng Gallus Banquiva, hiện đang tồn tại ở miền bắc

Ấn Độ và bán đảo Đông Dương

Theo Đacuyn, gà nhà có nguồn gốc từ gà rừng Gallus gallus bao gồm 4

chủng khác nhau:

- Gallus sonnerati, có lông màu xám bạc, có nhiều ở miền tây và nam

Ấn Độ

- Gallus lafeyetti sống ở Srilanca

- Gallus varius sống ở đảo Gia-Va

- Gallus banquiva có màu lông đỏ, có nhiều ở Ấn Độ, bán đảo Đông

Dương, Philippine

Trang 13

1.1.1.3 Sự thuần hoá gà nhà

Theo tác giả Neumeister (1978), sự thuần hoá gà đầu tiên diễn ra vào thời kỳ Đồ Đồng ở các thung lũng thuộc sông Ấn Trong các tượng đài kỷ niệm nền văn hoá cổ Ấn Độ (3000 năm trước Công Nguyên), người ta thấy có nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình mô tả về gà ở vùng Harappa, thuộc miền bắc Ấn Độ Có nhiều giả thuyết cho rằng gà nhà được thuần hoá đầu tiên từ

Ấn Độ cách đây hơn 5000 năm; ở Trung Quốc cách đây hơn 3000 năm Sau

đó xuất hiện ở Ba Tư rồi đến Mesopotami, ở Tây Âu gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm

Ở nước ta, Gà được nuôi sớm nhất ở vùng Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây…cách đây hơn 3000 năm (Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994) [27] Nước ta là một trong những trung tâm thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông

Nam Á Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus banquiva

Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho

phép khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên của các giống gà nhà hiện nay

Đến nay các tài liệu đều chứng minh rằng gà được thuần hoá đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân bố đi khắp thế giới Trải qua hàng nghìn năm thuần hoá và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với đặc điểm riêng biệt của nhiều nước khác nhau, đồng thời hình thành nên các giống gà theo các hướng sản xuất khác nhau như hiện nay

1.1.2 Cơ sở di truyền căn bản các tính trạng ở gà

Ở gà, bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n) là 78, bao gồm 39 cặp nhiễm sắc thể, trong đó có 8 cặp nhiễm sắc thể lớn (macro chromosomes), 30 cặp nhiễm sắc thể nhỏ (micro chromosomes) và một cặp nhiễm sắc thể giới tính Gà trống có 78 NST với cặp NST giới tính là ZZ, gà mái có 77 NST với cặp NST giới tính là ZO Bằng các tiến bộ trong kỹ thuật di truyền tế bào, người ta đã xác định được con mái dị giao tử với cặp NST giới tính là ZW Gà là đối

Trang 14

tượng đầu tiên trong chăn nuôi được thiết lập bản đồ gen Người ta đã xác định được ở gà có 5 nhóm gen liên kết gồm 18 locus, kích thước genom là

1200 cặp megabase (Phan Cự Nhân, 2000) [44]

Lịch sử tiến hoá ở gia cầm đã hình thành hàng loạt các tính trạng, có thể phân chia các tính trạng thành 2 loại là tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng (tính trạng năng suất) Tính trạng chất lượng là tính trạng di truyền biểu hiện không liên tục hoặc ở trạng thái này hoặc ở trạng thái khác và bị chi phối bởi ít gen Các tính trạng chất lượng không hoặc ít bị tác động của môi trường

và sự khác nhau trong biểu hiện của chúng là rất rõ rệt (Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [61], Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [1], Nguyễn Văn Thiện (1995) [59]) Ở gia cầm, một số tính trạng như màu lông, hình dáng cơ thể, hình dạng mào thuộc nhóm các tính trạng chất lượng

Hutt (1978) cho rằng, các tính trạng chất lượng được di truyền theo các định luật cơ bản của Mendel: quy luật di truyền trội - lặn, mỗi gen quy định một tính trạng và tác động riêng rẽ lên sự hình thành tính trạng hoặc do sự tương tác đơn giản giữa 2 cặp gen; quy luật di truyền liên kết và di truyền liên kết với giới tính [28]

Tính trạng số lượng là những tính trạng di truyền biểu hiện liên tục, do nhiều gen chi phối Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi là các tính trạng số lượng, đó là các tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể

là những sai khác về mặt số lượng trong mức độ biểu hiện của tính trạng trong từng cá thể và chỉ có thể phát hiện được sai khác bằng các tính toán và cân đo

Ở gia cầm có khá nhiều các tính trạng số lượng mà người ta có thể theo dõi được quy luật di truyền của chúng như tốc độ lớn, tuổi đẻ trứng lần đầu, sản lượng trứng, khối lượng trứng, độ dày vỏ, màu sắc vỏ trứng, sức chống bệnh, thể trọng [28]

Bản chất di truyền các tính trạng số lượng là do nhiều gen điều khiển và

Trang 15

sự di truyền của chúng cũng phù hợp với các quy luật của Mendel Các tính trạng số lượng do nhiều gen kiểm soát và mỗi alen của chúng có một hiệu ứng nhỏ, riêng biệt và biểu hiện kiểu hình là kết quả cộng gộp của các hiệu ứng của các alen, hay nói cách khác kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Lê Đình Trung và Đặng Hữu Lanh, 2000) [65]

P = G + E Trong đó:

P là giá trị kiểu hình (phenotype value )

G là giá trị kiểu gen (genotype vanlue)

E là sai lệch môi trường (envirmental eviation)

Giá trị kiểu gen bao gồm:

Giá trị cộng gộp A (additive value) đây là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó cố định và di truyền được

Sai lệch trội D (dominance deviation): là sự sai khác giữa giá trị kiểu gen (G) và giá trị giống (A) của một kiểu gen nào đó khi xem xét một locus duy nhất Sai lệch tương tác I (interaction deviation): là sai lệch có được do sự tương tác giữa các gen thuộc các locus khác nhau khi kiểu gen gồm từ hai locus trở lên

G = A + D + I Sai lệch môi trường gồm: sai lệch môi trường chung Eg (general environmental deviation) và sai lệch môi trường riêng Es (special environmental deviation)

E = Eg + Es Trong di truyền số lượng kiểu gen của các cá thể thường được cấu tạo từ nhiều locus, vì vậy có thể biểu thị giá trị kiểu hình như sau:

P = A + D + I + Eg + Es Kiểu di truyền và môi trường đều có tác động đến sự phát triển của tính

Trang 16

trạng Tuy nhiên, sự biểu hiện của tính trạng qua nhiều kiểu hình, kiểu di truyền quyết định các biến động là chính còn lại do di truyền và ngoại cảnh phối hợp tác động Đối với tính trạng số lượng, giá trị kiểu gen được tạo thành

do hiệu ứng nhỏ của các gen tập hợp lại cùng với các gen có hiệu ứng lớn Như vậy, năng suất của các giống vật nuôi là kết quả của mối tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường ngoại cảnh Có thể nói rằng gia súc, gia cầm nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ (kiểu gen), tuy nhiên, sự thể hiện khả năng đó thành kiểu hình lại phụ thuộc vào môi trường sống (điều kiện địa

lý, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng )

Luận điểm này là cơ sở để tạo lập điều kiện môi trường ngoại cảnh thích hợp, nhằm củng cố và phát huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là trong chăn nuôi gia cầm

1.1.3 Nguồn gốc hai giống gà ta chọn lọc MD3 và Hoàng Yến

*Vài nét về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giống gia cầm Minh Dư và các giống gia cầm đang cung cấp trên thị trường của Công ty

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giống gia cầm Minh Dư (huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) được thành lập năm 2006 Trải qua 15 năm hình thành và phát triển, đến nay Công ty TNHH Giống gia cầm Minh Dư đã sở hữu 02 trang trại nuôi gà và 02 nhà máy ấp nở gia cầm với trang thiết bị hiện

đại theo công nghệ mới nhất

Sản phẩm gà ta chọn lọc Minh Dư bao gồm: giống MD1, MD2, MD3 có năng suất và chất lượng cao Các đàn gà giống được tiêm chủng đầy đủ các loại vaccine theo tiêu chuẩn gà giống, công tác phòng ngừa dịch bệnh và an toàn sinh học được thực hiện nghiêm túc đảm bảo đàn gà bố mẹ sạch bệnh giúp con giống thương phẩm có đầy đủ kháng thể và không bị mầm bệnh truyền từ gà bố mẹ

Đặc điểm giống gà MD3: có tầm vóc lớn nhất trong 3 dòng, có đặc tính

Trang 17

tăng trọng nhanh tiêu tốn thức ăn thấp nhất Thân hình vững chắc, hướng cho thịt, chân, da vàng, lườn ức dày, thịt săn thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Độ đồng đều và sức đề kháng cao Thích nghi khí hậu mọi vùng miền Gà trống: Màu lông tía đen, mình dài, chân cao Mào cờ và mào nụ Gà mái: Màu lông nâu đậm hoặc nâu nhạt, điểm đen Tai tích màu đỏ Khối lượng bình quân: 2,0 - 2,2 kg/con, hiệu quả sử dụng thức ăn từ 2,2 - 2,4 Khối lượng bình quân: 2,1 - 2,4 kg/con, hiệu quả sử dụng thức ăn từ 2,5 - 2,55 Đây cũng là giống gà được ưa chuộng lựa chọn nuôi theo mô hình bán chăn thả tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong đó có huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

*Vài nét về Cơ sở Giống gia cầm Hoàng Yến và giống gà ta chọn lọc Hoàng Yến

Cơ sở giống Giống gia cầm Hoàng Yến (huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định) cung cấp giống gà ta Hoàng Yến có đặc điểm giống được công bố: Gà

có hình cao ráo, chân nhỏ, thân thon, cổ cao, ức tròn Gà trống: Màu lông tía, vàng, đỏ chiếm tỉ lệ 70% Gà mái: Màu lông chủ yếu là màu lá chuối khô và vàng chiếm tới 70% Khối lượng bình quân: 1,7 – 2,1 kg/con Hiệu quả sử

km2, chiếm 11,9% diện tích toàn tỉnh; phía Đông giáp huyện Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi) và huyện An Lão, Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định); phía Nam giáp Thị xã An Khê, huyện Đăk Pơ (tỉnh Gia Lai); phía Tây giáp huyện Mang

Trang 18

Yang, Chư Păh (tỉnh Gia Lai) và phía Bắc giáp huyện Kon Plong, Kon Rẫy (tỉnh Kon Tum); Kbang cách thành phố Plêiku khoảng 120 km về phía Đông; cách Thị xã An Khê gần 30 km về phía Bắc và cách thành phố Quy Nhơn (Bình Định) khoảng 110 km về phía Tây

1.2.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình huyện Kbang nói chung và tỉnh Gia Lai nói chung tương đối

đa dạng, vừa có núi cao, cao nguyên, vừa có thung lũng ở giữa núi Độ cao đa dạng khác nhau giữa các vùng trong địa bàn huyện, điểm thấp nhất có độ cao 653m so với mực nước biển và điểm cao nhất là hơn 1000m so với mực nước biển Hệ thống sông suối trên địa bàn dày đặc, phân bố khá đều, có nguồn sinh thuỷ dồi dào quanh năm, có nhiều ghềnh thác, đủ điều kiện xây dựng các công trình thuỷ điện, các đập dâng và hồ chứa loại vừa và nhỏ cung cấp điện

và nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt Sông Ba đi qua địa phận huyện Kbang, quanh năm cung cấp lượng nước cho nhân dân ven hai bờ sông của địa phương, có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kbang

1.2.3 Đặc điểm khí hậu

Với vị trí địa lý là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng duyên hải Miền Trung, cao nguyên Kon Hà Nừng với Tây Nguyên và với vùng trũng An Khê nên khí hậu của Kbang mang sắc thái riêng, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm, mát

mẻ với nền nhiệt độ trung bình từ 20-230C, lượng mưa lớn từ 1500– 2800mm, phân bố tương đối đều trong năm, mùa khô ngắn (3 - 4 tháng) và không gay gắt, nên thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi; tạo thành 03 tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậu núi cao Kông Ka Kinh và Bắc cao nguyên Kon Hà

Nừng (gồm các xã: Đăkrong, Sơn Lang, Krong, Kon Pne) có nhiệt độ trung

bình từ 19 - 200C, lượng mưa trên 2000mm; tiểu vùng khí hậu núi thấp và Nam cao nguyên Kon Hà Nừng (gồm các xã Lơ Ku, Đăk Smar, Sơ Pai, xã

Trang 19

Đông, Thị trấn Kbang) có nhiệt độ trung bình từ 21 - 230C, lượng mưa trung

bình từ 1500 – 2000mm; tiểu vùng khí hậu trũng thấp phía Nam (gồm các xã

Nghĩa An, Đăkhlơ, Kông Bờ La, Kông Lơng Khơng, Tơ Tung) có nhiệt độ trung bình từ 23 - 240C, lượng mưa trung bình từ 1200 – 1500mm

1.3 Cơ sở khoa học

1.3.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng

1.3.1.1 Khả năng sinh trưởng

* Khái niệm

Sinh trưởng là sự tăng kích thước, khối lượng của cơ thể đang ở giai đoạn lớn lên Trong hai chỉ tiêu tăng kích thước và tăng khối lượng thì chỉ tiêu tăng kích thước đáng tin cậy hơn vì khối lượng sinh vật có thể tạm thời biến động tuỳ theo chế độ dinh dưỡng

Phát triển là sự biến đổi không những về đặc điểm hình thái mà cả chức năng sinh lý theo từng giai đoạn của sinh vật Sinh trưởng và phát triển luôn gắn liền với nhau, bổ sung cho nhau để sinh vật lớn lên và trưởng thành Sinh trưởng là điều kiện để phát triển và phát triển làm thay đổi sự sinh trưởng Tính giai đoạn của sinh trưởng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau Giai đoạn này tiếp nối giai đoạn khác, không đi ngược trở lại, không bỏ qua thời kỳ nào, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ đều có đặc điểm riêng [1]

Ở gà, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể ta có thể phân biệt các giai đoạn phát triển như giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ, giai đoạn phát triển của phôi trong trứng sau khi đẻ, giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục, giai đoạn sinh sản Mỗi giai đoạn phát triển của gà đều có đặc điểm hình thái, sinh lý đặc trưng

Đối với gia cầm, sinh trưởng là sự biến đổi, tổng hợp của sự tăng lên về

Trang 20

số lượng, kích thước của tế bào và thể dịch trong mô bào ở giai đoạn phát triển của phôi Trong giai đoạn sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn lên của các mô Trong một số mô, sinh trưởng là do sự tăng lên về kích thước của các

tế bào Giai đoạn này sinh trưởng được chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ gà con và thời kỳ gà trưởng thành

Thời kỳ gà con: thời kỳ này lượng tế bào tăng nhanh, nên quá trình sinh trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hoá chưa đầy đủ, khả năng điều tiết thân nhiệt kém gà con

dễ bị ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng Vì vậy, thức ăn và nuôi dưỡng trong thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm Thời

kỳ này còn diễn ra quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó làm tăng trao đổi chất Cho nên cần chú ý vấn đề nuôi dưỡng đặc biệt là các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, trong đó quan trọng nhất là các axit amin hạn chế như lizin, methionine, triptophan

Thời kỳ gà trưởng thành: thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần như đã phát triển hoàn thiện Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích luỹ chất dinh dưỡng của gia cầm một phần là để duy trì sự sống, một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ

gà con Vì vậy giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích hợp để cho hiệu quả kinh tế cao

Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng đầu tiên là phải xác định khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự sinh trưởng

*Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng

- Kích thước cơ thể:

Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưng cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc

Trang 21

phân biệt giống Giới hạn kích thước của loài, cá thể… do tính di truyền quy định Tính di truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo các quy luật của Mendel [29]

Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan thuận chặt chẽ với khối lượng

cơ thể Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản như tuổi thành thục về thể trọng, chế độ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trong chăn nuôi gà

- Khối lượng cơ thể:

Khối lượng cơ thể là một tính trạng số lượng và được quy định bởi yếu

tố di truyền Khối lượng gà con khi nở phụ thuộc vào khối lượng quả trứng và khối lượng của gà mẹ vào thời điểm đẻ trứng Tuy nhiên, khối lượng gà khi

nở ít ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tiếp theo (Jonhanson, 1972) [29]

Đối với gà hướng thịt, điều quan trọng nhất là khối lượng gà khi giết mổ Khối lượng cơ thể không những liên quan tới hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn cần thiết để quyết định thời gian nuôi thích hợp Khối lượng cơ thể được minh hoạ bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ Đồ thị này thay đổi theo dòng, giống, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc

- Tốc độ sinh trưởng

Trong chăn nuôi người ta thường sử dụng hai chỉ số để mô tả tốc độ sinh trưởng ở vật nuôi là tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối

Độ sinh trưởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung bình một ngày đêm Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN

Trang 22

2.1997) [64] Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol Gà còn non độ sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi

Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, đặc điểm cơ thể và điều kiện môi trường [31] Chambers (1990) [75] cho biết, đường cong sinh trưởng của gà thịt gồm 3 pha và mỗi pha có đặc điểm như sau:

Pha sinh trưởng tích luỹ: tăng tốc độ nhanh sau khi nở

Điểm uốn của đường cong tại thời điểm sinh trưởng có tốc độ cao nhất Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần theo điểm uốn

Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành

Thông thường, người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi để thể hiện đồ thị sinh trưởng tích luỹ và cho biết một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng

Đường cong sinh trưởng không chỉ sử dụng để chỉ rõ về số lượng mà còn làm rõ về chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, các giống, giới tính, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, môi trường

Ngô Giản Luyện (1994) cho biết, khi nghiên cứu đường cong sinh trưởng của 3 dòng gà thuần chủng V1, V3, V5 cho thấy tất cả các dòng đều phát triển theo đúng quy luật sinh học Gà trống có khả năng sinh trưởng cao nhất lúc 7 - 8 tuần tuổi, gà mái lúc 6 - 7 tuần tuổi [37]

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà với những mức độ khác nhau như di truyền, giới tính, tốc độ mọc lông, các điều kiện môi trường, nuôi dưỡng, chăm sóc

Ảnh hưởng của dòng, giống tới khả năng sinh trưởng: các dòng trong một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Các giống gia cầm chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống chuyên

Trang 23

trứng và kiêm dụng Phạm Thị Hoà (2004) cho biết, gà Đông Tảo ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1297,58g [21] Trong khi đó gà H’Mông ở 12 tuần tuổi đạt 805,59g (Đào Lễ Hằng, 2001) [18]; gà Mía 12 tuần tuổi khối lượng

cơ thể đạt 1503g (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1999) [62]

Ảnh hưởng của giới tính: gia cầm trống thường có khả năng sinh trưởng cao hơn gia cầm mái trong cùng một điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Jull (1923) cho biết, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24-32% và

sự sai khác này là do gen liên kết với giới tính, những gen này ở gà trống (2 NST giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 NST giới tính) [82]

Ảnh hưởng của dinh dưỡng: dinh dưỡng không những ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các bộ phận cơ thể như thịt, trứng, xương, da mà còn ảnh hưởng đến sự biến động di truyền về sinh trưởng (Box và cộng sự, 1954) [73] Muốn phát huy tốt khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức

ăn tối ưu về dinh dưỡng giữa protein, axit amin và năng lượng, ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần bổ sung thêm các chế phẩm hoá sinh không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng có tác dụng kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt (Bùi Đức Lũng, 1992) [35]

1.3.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt

1.3.2.1 Khả năng cho thịt

* Đặc điểm khả năng cho thịt của gà

Tỷ lệ thân thịt chính là tỷ lệ % của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ % của các phần so với thân thịt và năng suất của cơ là tỷ lệ % cơ so với thân thịt Chambers (1990) [75], Peter (1959), Ristic và Shon (1977) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004) [48] đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịt như sau: khối lượng sống của gia cầm 100%, trong đó khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong đó 52% là thịt và 12% là

Trang 24

xương), phủ tạng chiếm khoảng 6%; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17% và tỷ lệ hao hụt khi giết mổ chiếm khoảng 13%

* Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất thịt

- Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ

cơ, kích thước và khối lượng khung xương Hệ số di truyền của rộng ngực là 0,2 - 0,3 và góc ngực là 0,3 - 0,45 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [59]

- Ảnh hưởng của di truyền: giữa các giống, dòng khác nhau tồn tại sự sai khác di truyền về năng suất thịt xẻ, các phần của thân thịt (Chambers 1990) [75], kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Singh (1992) [85];

Lê Thanh Hải và cộng sự (1999) [7] Khi so sánh giữa các giống gà đẻ dòng nặng cân với gà nhẹ cân với gà thịt lai Cornish x White Rock ở 8 tuần tuổi Peter (1958) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004) [48] cho biết, năng suất thịt của các giống gà đẻ thấp hơn 2,6 - 3,4 % so với các giống gà thịt, tỷ lệ đùi, lườn, thịt đùi, thịt lườn cũng thấp hơn khoảng 2%

Trần Công Xuân và cộng sự (1999) cho biết, ở gà Tam Hoàng dòng 882 lúc 15 tuần tuổi gà trống có tỷ lệ thân thịt 65,32%, thịt ngực 21,37% và thịt đùi là 33,55%; gà mái có các chỉ tiêu tương ứng là 67,25%; 25,96% và 31,81% [69]

- Ảnh hưởng của giới tính và tuổi gia cầm đến năng suất thịt: ở tất cả các giống gia cầm tuổi giết mổ và giới tính có ảnh hướng rất lớn đến năng suất thịt gia cầm Nhìn chung, tỷ lệ thân thịt chỉ tăng đến một độ tuổi nhất định nào đó Tỷ lệ thân thịt ở gia cầm trống và mái cũng khác nhau Ricard (1988) cho biết, tuy con trống lớn nhanh, nạc hơn nhưng năng suất thịt ngực lại ít hơn con mái [84] Rất nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thân thịt của gia cầm tăng lên theo tuổi, tuổi gia cầm càng cao, tỷ lệ này càng cao

Ngô Giản Luyện (1994) [37] cho biết, trong cùng một dòng gà tỷ lệ thân thịt của gà trống lớn hơn gà mái là 1- 2%, trong khi đó tỷ lệ thịt lườn của gà

Trang 25

mái lại cao hơn gà trống

Hiệu quả kinh tế liên quan đến mức độ tiêu tốn thức ăn để sản xuất một

kg thịt và giá trị kinh tế của sản phẩm Nên thời điểm giết mổ của gà Broiler tốt nhất vào giai đoạn khi tốc độ tăng khối lượng cơ thể bắt đầu giảm

Ngoài ra, năng suất thịt còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thời tiết, khí hậu, chế độ chiếu sáng, chăm sóc, nuôi dưỡng

1.3.2.1 Phẩm chất thịt gà

Phẩm chất thịt được quyết định bởi nhiều yếu tố Các tác giả Neumeister (1978) [41], Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [23], Lê Thanh Hải và cộng sự (1999) [13], đều thống nhất cho rằng thành phần hoá học, chất lượng thịt xẻ có sự khác nhau giữa các loài, các dòng, các giống và các tổ hợp lai khác nhau Chambers (1990) cho biết, tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (r =- 0,39) và tương quan dương với tỷ lệ protein (r = 0,53) [75]

Gà ác nuôi đến 8 tuần tuổi, gà trống có tỷ lệ protein thịt ngực 24,5%; mỡ 0,6% và khoáng tổng số 1,2%; tỷ lệ protein thịt đùi 22%; mỡ 1,7% và khoáng tổng số 1,1% và gà mái thịt ngực có các giá trị tương ứng là 24,8; 0,6 và 1,1%; thịt đùi có các giá trị tương ứng là 21,9; 2,3 và 1,2% [48]

Nguyễn Văn Hải và cộng sự (1999) cho biết, thịt gà Ri có tỷ lệ protein 21,45%; mỡ thô 1,5%; khoáng tổng số 1,37%; sắt 3,9 mg/100g và hàm lượng các axit amin như alanin 1,334%; arginin 1,261%; axit aspartic 1,857%; axit glutamic 2,784%; glyxin 0,819%; histidin 0,853%; izolơxin 0,949%; lơxin 1,557%; lizin 1,903%, metionin 0,452%; phenylalanin 0,842%; prolin 0,984%; serin 0,871%; treonin 1,006%; tirozin 0,664% và valin 1,007% [15] Chất lượng thịt còn được đánh giá dựa vào sự nuôi dưỡng và ảnh hưởng của chế biến đến cảm quan (màu sắc, mùi vị, tính chất mềm) Newbold (1996) cho biết, khi con vật chết do hao tổn về máu và thiếu oxi, mô cơ tiếp tục sản sinh ATP từ kho chứa glycogen bằng con đường phân huỷ yếm khí glycogen

Trang 26

Axit lactic được tạo ra tích tụ lại gây giảm pH của thịt cho đến khi hết glycogen, lúc đó pH thường giảm thấp nhất (pH =5,4) [83]

Chất lượng thịt còn được đánh giá qua độ tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Các tác giả Sonaiya (1990) [87] Yamashita và cộng sự (1976) [92], Touraille và công sự (1981) [88] cho biết, giảm tuổi giết mổ đã làm thay đổi đặc điểm cảm quan của thịt

1.3.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu mức độ tiêu tốn thức ăn

Thức ăn cho gia cầm thường chiếm 70% giá thành sản phẩm, do vậy tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao

và ngược lại

Chambers và cộng sự (1984) cho biết, hệ số tương quan giữa khối lượng

cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5 - 0,9) Giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là tương quan âm (r = - 0,2 đến - 0,8) [74] Box và Bohren (1954) [73] và Willson (1969) [91] đã xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1- 4 tuần tuổi r = 0,5

Đối với gia cầm nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn thường được tính cho 1 kg tăng trọng, tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, độ tuổi Các giống

có tốc độ tăng trọng nhanh sẽ tiêu tốn ít thức ăn hơn các giống có tốc độ tăng trọng thấp Những giai đoạn tuổi đầu tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với giai đoạn sau Trần Công Xuân và cộng sự (1999) cho biết, khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi

gà Tam Hoàng dòng 882 tiêu tốn 3,609 kg thức ăn/ kg tăng trọng [69]

Tiêu tốn thức ăn của gia cầm còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, tình trạng sức khoẻ

1.3.4 Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật

Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ

Trang 27

thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh (dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch

tễ, chuồng trại ) Lê Viết Ly (1995) cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện

sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp [38]

Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh (Johanson (1972) [29]

Trần Long và cộng sự (1994) cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 6 tuần tuổi đạt 93,3% [34] Trần Thị Mai Phương (2004) cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9% [48] Tỷ lệ nuôi sống của gà

Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cộng sự, 1999) [68]

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen vật nuôi trên thế giới

Theo tổ chức Nông-Lương thế giới (FAO), bảo vệ nguồn gen động vật,

kể cả vật nuôi là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người Năm 1980, một chiến lược bảo tồn vật nuôi áp dụng trên phạm vi toàn cầu, cho từng khu vực và từng quốc gia đã được FAO và cơ quan Bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) hợp tác xây dựng Theo FAO (1984), chương trình đề ra các nội dung cơ bản gồm: (1) Bảo tồn bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý, (2) Xây dựng ngân hàng dữ liệu nguồn gen của động vật, (3) Đào tạo nâng cao năng lực cho nguồn lực con người tham gia chương trình bảo tồn, (4) Lưu giữ vật liệu di truyền

Theo Primack (1995) [49], có hai phương pháp bảo tồn đa dạng các quần

thể sinh vật gồm:

Bảo tồn nguyên vị (in situ conservation) là bảo tồn một quần thể nào đó

ngay tại môi trường sống tự nhiên của nó

Bảo tồn chuyển vị (ex situ conservation) là bảo tồn nguồn gen bên ngoài

Trang 28

môi trường sống tự nhiên của loài nào đó, tức là chuyển một phần quần thể từ nơi cư trú quen thuộc đến chỗ ở mới để nuôi dưỡng

Bảo tồn chuyển vị (ex situ conservation) đối với động vật có thể [49] là

chuyển các quần thể đến nuôi trong các vườn thú, trong các trang trại, thủy cung và kết hợp các chương trình nhân giống động vật Bảo tồn chuyển vị là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp nhằm bảo vệ các quần thể

đang có nguy cơ bị tuyệt diệt (Falk, 1991)

Cũng theo Primack (1995) [20], những cố gắng để bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, các giống vật nuôi có nguồn gen bản địa quý hiếm nói riêng, đôi khi lại mâu thuẫn với nhu cầu trước mắt của con người Nhiều nhà sinh học bảo tồn nhận ra sự cần thiết của phát triển bền vững – phát triển kinh tế thỏa mãn nhu cầu hiện tại, tương lai và đồng thời hạn chế tối thiểu tác động của nó đến đa dạng sinh học

Theo Toledo [49], mỗi loài thực vật, mỗi nhóm động vật bao giờ cũng

có riêng một cách sử dụng thực tế, một ý nghĩa tôn giáo, một vai trò trong nghi lễ Sự đa dạng văn hóa được gắn bó chặt chẽ với đa dạng gen của nhiều loại cây trồng, vật nuôi; đặc biệt ở khu vực miền núi, những nền văn hóa bị cách biệt bởi nhân tố địa lý đã cho phép phát triển nhiều giống cây trồng, vật nuôi bản địa; những giống này thích ứng với điều kiện địa phương và rất phù hợp với khẩu vị của dân cư ở đây Vì vậy, việc bảo vệ những nền văn hóa truyền thống trong môi trường tự nhiên của nó sẽ tạo cơ hội để đạt được cả hai mục đích: bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì đa dạng văn hóa

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về di truyền của các giống gia cầm trong bảo tồn và sản xuất Piatigorsky và cộng sự (1987) [59] nghiên cứu bảo tồn cấu trúc gen α-crystallin ở vịt và gà Năm 2003, T.Swackowski [54] nghiên cứu áp dụng phương pháp mô hình hỗn hợp trong chiến lược chăn nuôi lấy thịt các loại chim E Delany (2003) [48] đã nghiên cứu về sự đa

Trang 29

dạng di truyền và bảo tồn giống gia cầm Nghiên cứu của E Decuypere và cộng sự (2003) [50] cho rằng: tăng trưởng và sinh sản là các vấn đề quan trọng làm cơ sở để lựa chọn giống nhằm nâng cao năng suất sản xuất thịt

trong chăn nuôi gà thịt J.Plachy et al ( 2003)[55] đã nghiên cứu về sự di

truyền miễn dịch ở gia cầm Cùng năm, Maschhoff (2003) [53] đã công bố

nghiên cứu bảo tồn cấu trúc gen sox4 và biểu hiện trong phôi gà

Riêng về bảo tồn các giống gà đặc hữu ở các nước Châu Á cũng có nhiều thành tựu Nhiều giống gà quý hiếm được bảo tồn, nhân nuôi có hiệu quả kinh

tế cao trong khu vực như: Gà Tre Thái Lan, Gà Ayam Cemani của Indonexia,

Gà Serama của Malaixia,… Những nghiên cứu về các giống gà địa phương và

tình hình nuôi gà lấy thịt ở Châu Á cũng được quan tâm Một số nghiên cứu như: Mekchay và cộng sự (2014) về cơ cấu số lượng bốn giống gà địa phương

của Thái Lan là các giống Pradhuhangdum, Luenghangkhao, Dang và Chee

cho thấy những năm gần đây các giống địa phương được nhân nuôi rộng rãi

và chiếm lĩnh thị trường do có nhu cầu lớn Todsadee et al (2012) về hiệu

quả sản xuất gà thịt tại Thái Lan kết quả cho thấy thức ăn, nguồn giống, chi phí chăm sóc và các chi phí khác là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sản lượng gà thịt và có thể nâng cao sản lượng thịt bằng cách áp dụng phương

pháp chăm sóc thích hợp N Alrwi et al (2007) [76] xác định hiệu quả kỹ

thuật chăn nuôi gà thịt trang trại ở khu vực miền Trung của Saudi Arabia, cho thấy hiệu quả bình quân đạt 89% và các trang trại quy mô nhỏ đạt hiệu quả kỹ thuật ở mức 83%, các trang trại lớn đạt mức hiệu quả kỹ thuật khoảng 82%

Ali et al (2014) ước lượng hiệu quả kỹ thuật nuôi gà thịt theo hình thức chăn

thả của nông hộ ở Punjab, Pakistan cho thấy hiệu quả bình quân đạt 88%, tăng khoảng 10,5% lợi nhuận so với mức hiệu quả trung bình các hình thức nuôi khác nhau Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chất lượng của giống, thức ăn

và kỹ thuật người chăm sóc ảnh hưởng đáng kể đến năng suất nuôi

Trang 30

1.4.2 Tình hình nghiên cứu bảo tồn và khai thác nguồn gen các giống gà địa phương Việt Nam

1.4.2.1 Tình hình nghiên cứu bảo tồn và khai thác nguồn gen các giống gà địa phương ở Việt Nam

Theo thống kê của Viện chăn nuôi năm 2015, ở Việt Nam có 93 giống vật nuôi bản địa, trong đó có đến 48 giống gia cầm (gồm có 32 giống gà, 9 giống vịt, 4 giống ngan và 3 giống ngỗng) Mặc dù có nhiều giống gà ngoại

có năng suất cao liên tục được nhập nội và lai tạo đưa vào sản xuất nhưng hiện nay ở nước ta chăn nuôi gà với các giống địa phương vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, các giống này chăn nuôi theo phương thức thả vườn cũng không ngừng phát triển và hiệu quả cũng ngày càng tăng với các giống địa phương như: Gà

Ri, gà nòi, gà Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Ác…

Với chương trình Quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật nuôi Việt Nam, chúng ta đã tiến hành nhiều nghiên cứu về giống vật nuôi truyền thống và việc lai tạo chúng nhằm đưa vào sản xuất thịt có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị hiếu Trong đó có nhiều nghiên cứu về các giống gà địa phương hoặc giống lai như: Trần Long và cộng sự (2007) [33] xác định hệ số di truyền và tương quan di truyền một số tính trạng sản xuất gà mía; Nguyễn Viết Thái và cộng sự (2011) [56] về khả năng sản xuất thịt của một số tổ hợp lai giữa gà H’mông với gà Ai cập; Nguyễn Viết Thái và cộng sự (2011) [57]

về khả năng sinh sản của gà mái lai F1 (H’mông - Ai cập) và F1 (Ai cập –H'mông); Nguyễn Viết Thái (2012) [58] nghiên cứu xác định tổ hợp lai có hiệu quả kinh tế giữa gà H’mông và gà Ai Cập để sản xuất gà xương, da, thịt đen; Bùi Hữu Đoàn và cộng sự (2011) [13] về khả năng sản xuất của gà F1 (Hồ x Lương Phượng) và gà lai Lương Phượng x F1 (Hồ x Lương Phượng); Ngô Thị Kim Cúc và cộng sự (2014) [3] nghiên cứu chọn lọc dòng gà Ri hoa

mơ; Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự (2014) [20] về đặc điểm sinh trưởng

Trang 31

của gà Tre trong điều kiện nuôi thả vườn tại huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương; Đặng Vũ Hòa và cộng sự (2015) [22] đánh giá khả năng sinh trưởng, cho thịt

và chất lượng thịt gà Tè thương phẩm; Vũ Thị Đức và cộng sự (2015) [9] về

thực trạng chăn nuôi gà H'Mông tại Sơn La; Nguyễn Thị Hồng Hạnh và cộng

sự (2015) [16] về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng của tổ hợp lai giữa gà Rừng với gà Ai Cập và gà H'Mông nuôi tại Viện Chăn nuôi; Nguyễn Thị Hồng Hạnh và cộng sự (2015) [17] về khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng trứng, thịt của tổ hợp lai giữa gà Rừng với gà Ai Cập và gà H'Mông nuôi tại

Viện Chăn; Mai Thị Xoan và cộng sự (2015) [70] về năng suất, chất lượng

thịt và hiệu quả kinh tế ở các thời điểm giết mổ của gà ta vàng nuôi thả vườn; Nguyễn Thị Tường Vy (2015)[71] nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí máu của

2 tổ hợp lai (Gà Đá x Gà Tam Hoàng) và (Gà Kiến x Gà Tam Hoàng) ở huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế; Hoàng Thanh Hải (2012)[11] về một số

đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ đỏ khoang cổ (Phasianus

colchicus) trong điều kiện nuôi nhốt

1.4.2.2 Tình hình nghiên cứu về điều kiện môi trường chăn nuôi, điều kiện dinh dưỡng và các chỉ tiêu sinh trưởng của gà tại Việt Nam

Nhiều nghiên cứu về điều kiện môi trường nuôi, chế độ dinh dưỡng đối với gà đã được thực hiện tạo cơ sở để xác định điều kiện nuôi phù hợp nhất cho từng giống gà ở từng vùng miền Nguyễn Đức Hưng và cộng sự (2002) [24] nghiên cứu lựa chọn bộ giống gà thích hợp chăn nuôi nông hộ tại Thừa Thiên Huế; Nguyễn Đức Hưng (2002) [25] nghiên cứu một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình chăn nuôi gà ga đình ở Thừa Thiên Huế; Nguyễn Đức Hưng

và cộng sự (2002) [26] nghiên cứu mức Protein khác nhau trong khẩu phần ăn cho gà Lương Phượng nuôi thịt; Hồ Trung Thông và cộng sự (2011) [67] về đào thải Nitơ và Photpho ở Gà Lương Phượng khi nuôi bằng các khẩu phần

ăn khác nhau; Nguyễn Đông Hải và cộng sự (2014) [10] về ảnh hưởng của

Trang 32

các mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần đến tăng khối lượng, tiêu thụ dưỡng chất và chất lượng quầy thịt ở gà Sao tăng trưởng; Phạm Tấn Nhã (2014) [42] nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn trong chăn nuôi gà Sao giai đoạn sinh trưởng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Bên cạnh đó nhiều nghiên cứu khác nhau về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thịt của nhiều giống gà đã được tiến hành Mai Thị Bích Loan (2007) [32] nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai TP1 và khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà trống SASSO X44 với gà mái TP1; Nguyễn Thị Tường

Vy và cộng sự (2016) [72] nghiên cứu đặc điểm hình thái và khả năng sản

xuất thịt cùa gà Sao Numida meleagris (Linnaeus, 1758) tại nông hộ thị xã

Hương Trà tỉnh Thừa Thiên - Huế

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Xác định tỉ lệ nuôi sống, một số chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt tại thời điểm gà 16 tuần tuổi của hai giống gà ta chọn lọc MD1 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Nội dung 2: Xác định hiệu quả sử dụng thức ăn công nghiệp đối với hai giống gà MD3 và Hoàng Yến trong điều kiện nuôi bán chăn thả

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Giống gà MD3 cung cấp bởi Công ty TNHH Giống gia cầm Minh Dư (huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) và giống gà Hoàng Yến cung cấp bởi Cơ

sở Giống gia cầm Hoàng Yến (huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định)

2.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Theo dõi độ đồng đều của giống ở 1 tuần tuổi (cân nặng, màu sắc lông)

+ Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm của chuồng nuôi định kỳ hàng ngày

+ Số gà nuôi sống trong từng lô thí nghiệm qua từng tuần

+ Khối lượng gà trong từng lô thí nghiệm theo định kỳ 2 tuần

Trang 34

+ Số lượng thức ăn tiêu tốn/ngày trong từng lô qua các tuần

+ Năng suất và chất lượng thịt gà giết mổ ở tuần thứ 16

- Xử lý số liệu và sử dụng số liệu để thảo luận

2.2.3 Phạm vi nghiên cứu

2.2.3.1 Thời gian nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020

- Thời gian theo dõi mỗi lứa thí nghiệm từ 01 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi (thời điểm có thể bán thịt thương phẩm)

2.2.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Thực nghiệm được tiến hành tại vườn nhà ở Thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Tiến hành nuôi thí nghiệm giống gà MD3 và Hoàng Yến tương tự nhau về chế độ dinh dưỡng, thức ăn và phương thức chăm sóc; mỗi lô 40 con giống Mỗi lô thí nghiệm gồm: Chuồng hở 12m2, tường gạch, che lưới B40, mái tôn và có lót đệm bằng trấu khô; Sân chăn thả rộng 80m2

(Giống gà Hoàng Yến)

(18 mái, 22 trống)

40 (19 mái, 21 trống)

Trang 35

Diễn giải Lô thí nghiệm: 01

Thức ăn Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh thương hiệu Vina

Feed theo từng lứa tuổi phù hợp

2.3.1.1 Đối với gà con từ 01 ngày tuổi đến 2 tuần tuổi

Gà con 01 ngày tuổi được nuôi úm trong chuồng, có quây tấm cót và che bạt, thắp bóng đèn dây tóc để điều chỉnh nhiệt từ 30oC đến 32o

C [26], bố trí đầy đủ máng ăn và máng uống; chế độ chăm sóc, quy trình thú y phòng bệnh và chế độ chiếu sáng,… theo tài liệu kỹ thuật úm gà con Dùng đồng nhất thức ăn hỗn hợp loại dành cho gà con từ 1 đến 21 ngày tuổi, ăn tự do

cung cấp thức ăn liên tục trong 24 giờ/ngày

2.3.1.2 Đối với gà con từ 2 tuần tuổi 4 tuần tuổi

Nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng hở, đệm chuồng bằng trấu khô, đảm bảo chăm sóc, quy trình thú y phòng bệnh và chế độ chiếu sáng, theo tài liệu

kỹ thuật chăn nuôi gà con Gà ăn tự do, cho thức ăn liên tục từ 6 giờ sáng đến

19 giờ Chế độ thức ăn giống nhau ở 2 lô thí nghiệm

Cho ăn thức ăn hỗn hợp (TAHH) loại dành cho gà con từ 1 đến 42 ngày tuổi

2.3.1.3 Đối với gà sau 4 tuần tuổi đến 16 tuần tuổi

Đàn gà thí nghiệm nuôi theo hình thức nuôi bán chăn thả đảm bảo chế độ chăm sóc, quy trình thú y phòng bệnh và chế độ chiếu sáng theo kỹ thuật nuôi gà thả vườn Gà nhốt trong chuồng hở từ 17 giờ 30 phút tối đến

6 giờ sáng hôm sau; thời gian còn lại thả kiếm ăn trong sân vườn Thức ăn được cho ăn 4 lần 1 ngày vào 6 giờ, 9 giờ 30 phút, 13 giờ và 16 giờ; gà ăn uống tự do

Ngày đăng: 11/08/2021, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ (1983), Di truyền học động vật, NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1983
[2] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Chiến lược Phát triển Chăn nuôi đến năm 2020, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển Chăn nuôi đến năm 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
[3] Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Định, Vũ Chí Thiện, Phạm Thị Bích Hường, Nguyễn Thị Minh Tâm, Trần Trung Thông và Hồ Xuân Tùng (2014), Chọn lọc dòng gà Ri hoa mơ, Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam; (số 51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Định, Vũ Chí Thiện, Phạm Thị Bích Hường, Nguyễn Thị Minh Tâm, Trần Trung Thông và Hồ Xuân Tùng
Năm: 2014
[4] Vũ Chí Cương (2015), “Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập TPP và vài suy nghĩ về chăn nuôi trong bối cảnh mới”, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi,(số 53), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập TPP và vài suy nghĩ về chăn nuôi trong bối cảnh mới”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi
Tác giả: Vũ Chí Cương
Năm: 2015
[5] Đỗ Thị Kim Dung (2014), Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy – Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy – Hòa Bình
Tác giả: Đỗ Thị Kim Dung
Năm: 2014
[6] Nguyễn Huy Dũng, Vũ Văn Dũng (2007), Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam- mối liên hệ với Phát triển bền vững (SD) và biến đổi khí hậu (CC) Viện Điều tra quy hoạch rừng (FIPI), Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam- mối liên hệ với Phát triển bền vững (SD) và biến đổi khí hậu (CC)
Tác giả: Nguyễn Huy Dũng, Vũ Văn Dũng
Năm: 2007
[9] Vũ Thị Đức, Nguyễn Thị Hoa, Dương Thị Anh Đào, Nguyễn Thị Thanh Băng, Nguyễn Thị Quyên, Vũ Thị Thảo, Trần Thế Mạnh , Trần Hồng Sơn và Vũ Ngọc Sơn (2015), Thực trạng chăn nuôi gà H'Mông tại Sơn La, Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam; (số 53) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăn nuôi gà H'Mông tại Sơn La
Tác giả: Vũ Thị Đức, Nguyễn Thị Hoa, Dương Thị Anh Đào, Nguyễn Thị Thanh Băng, Nguyễn Thị Quyên, Vũ Thị Thảo, Trần Thế Mạnh , Trần Hồng Sơn và Vũ Ngọc Sơn
Năm: 2015
[10] Nguyễn Đông Hải và Nguyễn Thị Kim Đông (2014), Ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần đến tăng khối lượng, tiêu thụ dưỡng chất và chất lượng quầy thịt ở gà Sao tăng trưởng, Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam, (số 49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đông Hải và Nguyễn Thị Kim Đông
Năm: 2014
[11] Hoàng Thanh Hải (2012), Một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ đỏ khoang cổ (Phasianus colchicus) trong điều kiện nuôi nhốt, Luận án tiến sĩ, Viện chăn nuôi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ đỏ khoang cổ (Phasianus colchicus) trong điều kiện nuôi nhốt
Tác giả: Hoàng Thanh Hải
Năm: 2012
[12] Hoàng Thanh Hải (2015), “Giống gà quý hơn gà Đông Tảo ở Việt Nam”, website: vcn.vnn.vn, truy cập ngày 06/04/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống gà quý hơn gà Đông Tảo ở Việt Nam”, website: "vcn.vnn.vn
Tác giả: Hoàng Thanh Hải
Năm: 2015
[13] Lê Thanh Hải, Lê Hồng Dung, Đỗ Sĩ Hùng (1999), “So sánh một số tổ hợp lai giữa gà địa phương và gà thả vườn cải tiến và nhập nội tại Ttrung tâm Bình Thắng”, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1998- 1999, Phần chăn nuôi gia cầm, Bộ NN & PTNT, tr. 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh một số tổ hợp lai giữa gà địa phương và gà thả vườn cải tiến và nhập nội tại Ttrung tâm Bình Thắng”, "Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1998-1999, Phần chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Lê Thanh Hải, Lê Hồng Dung, Đỗ Sĩ Hùng
Năm: 1999
[14] Nguyễn Thị Hải (1994), Nghiên cứu một số đặc điểm và tính năng sản xuất của gà thịt lông màu Kabir, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm và tính năng sản xuất của gà thịt lông màu Kabir
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Năm: 1994
[15] Nguyễn Văn Hải, Lê Thị Hoa, Nguyễn Xuân Khoái, Nguyễn Văn Tuấn (1999), “Chế biến một số sản phẩm mới từ thịt gà công nghiệp và thịt gà ác nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1998-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế biến một số sản phẩm mới từ thịt gà công nghiệp và thịt gà ác nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm”
Tác giả: Nguyễn Văn Hải, Lê Thị Hoa, Nguyễn Xuân Khoái, Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 1999
[17] Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Thị Thúy, Trần Thị Thùy Nhiên, Đỗ Hoàng Văn Minh và M.N.M. Ibrahim (2015), Khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng trứng, thịt của tổ hợp lai giữa gà Rừng với gà Ai Cập và gà H'Mông nuôi tại Viện Chăn nuôi, Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam;(số 53) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí KHCN chăn nuôi Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Thị Thúy, Trần Thị Thùy Nhiên, Đỗ Hoàng Văn Minh và M.N.M. Ibrahim
Năm: 2015
[18] Đào Lệ Hằng (2001), Bước đầu nghiên cứu một số tính trạng của giống gà H’Mông nuôi bán công nghiệp tại đồng bằng miền bắc Việt Nam, Luận án thạc sĩ khoa học Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu một số tính trạng của giống gà H’Mông nuôi bán công nghiệp tại đồng bằng miền bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Lệ Hằng
Năm: 2001
[26] Nguyễn Đức Hưng (2002) Nghiên cứu mức Protein khác nhau trong khẩu phần ăn cho gà Lương Phượng nuôi thịt, Phần thứ III: Gia Cầm, Tuyển tập các bài báo khoa học 2002 – 2012, NXB Đại học Huế, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mức Protein khác nhau trong khẩu phần ăn cho gà Lương Phượng nuôi thịt
Nhà XB: NXB Đại học Huế
[27] Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994), Chăn nuôi gia cầm, NXB NN, Hà Nội, tr, 104-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1994
[28] Hutt F. B. (1978), Di truyền học động vật (Phan Cự Nhân dịch), NXB KH&KT, Hà Nội., tr. 224-225, 134-136, 280-281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Hutt F. B
Nhà XB: NXB KH&KT
Năm: 1978
[29] Jonhanson I. (1972), Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật, Tập 1 (Phan Cự Nhân dịch), Nhà xuất bản KH&KT, Hà Nội., tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật
Tác giả: Jonhanson I
Nhà XB: Nhà xuất bản KH&KT
Năm: 1972
[31] Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng (1999), Cơ sở di truyền chọn giống động vật. NXB GD, Hà Nội, tr.85-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w