Đối với các tỉnh ở khu vực miền Trung nói chung, tỉnh Bình Định nói riêng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng có tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
HUỲNH THỊ ANH THẢO
CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020
Người hướng dẫn: PGS.TS VÕ XUÂN HÀO
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực
Kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Anh Thảo
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến:
PGS TS Võ Xuân Hào đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài “Chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số ở Bình Định”
Quý Thầy, Cô thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức khoa học, kinh nghiệm quý báu giúp tác giả hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài của mình
Các Sở, Ban ngành tỉnh Bình Định, Ủy ban nhân dân các huyện, các văn sĩ, trí thức dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm ở huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão đã tạo điều kiện giúp đỡ cũng như đã cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã hỗ trợ, tạo điều kiện tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Anh Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ 11
1.1.1 Khái niệm về chính sách, chính sách công và chính sách ngôn ngữ 11
1.1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ 13
1.1.3 Vấn đề chính sách ngôn ngữ ở quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ 15 1.2 KẾ HOẠCH HÓA NGÔN NGỮ 17
1.2.1 Khái niệm Kế hoạch hóa ngôn ngữ 17
1.2.2 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ và kế hoạch hóa ngôn ngữ 18
1.3 KHÁI NIỆM CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ VÀ GIAO TIẾP NGÔN NGỮ 19
1.3.1 Cảnh huống ngôn ngữ 19
Trang 51.5 CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÔN
NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ 23
1.6 VÀI NÉT VỀ TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ DÂN TỘC BANA, HRÊ, CHĂM 27
1.6.1 Vài nét về tỉnh Bình Định 27
1.6.2 Vài nét về dân tộc Bana 29
1.6.3 Vài nét về dân tộc Hrê 30
1.6.4 Vài nét về dân tộc Chăm 30
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾNCHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH 33
2.1 CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TIẾNG DÂN TỘC Ở CẤP TỈNH 33
2.1.1 Tình hình tư liệu thu thập 33
2.1.2 Các văn bản liên quan đến giáo dục tiếng Bana Kriêm, Hrê, Chăm Hroi 35
2.1.3 Các văn bản liên quan đến giáo dục tiếng dân tộc ở cấp khác 46
2.2 ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TIẾNG BANA, HRÊ, CHĂM Ở BÌNH ĐỊNH 48
2.2.1 Những ưu điểm của các văn bản chỉ đạo của địa phương 48
2.2.2 Những điều cần bổ sung văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện 62
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐẾN NGƯỜI BANA, HRÊ, CHĂM Ở BÌNH ĐỊNH 68
3.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG VỀ VĂN HÓA XÃ HỘI 68
3.1.1 Tình hình thu thập tư liệu 69
Trang 63.2 TÁC ĐỘNG VỀ KINH TẾ 81
3.2.1 Tình hình thu thập tư liệu 81
3.2.2 Tác động tích cực về kinh tế 81
3.2.3 Tác động tiêu cực về kinh tế 83
3.3 THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI BANA, HRÊ, CHĂM ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ VÀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ DÂN TỘC 84
3.3.1 Sự hài lòng của người Bana, Hrê, Chăm đối với chính sách ngôn ngữ dân tộc 84
3.3.2 Những băn khoăn của người Bana, Hrê, Chăm đối với CSNN và CSNN dân tộc 86
3.4 BÀN THÊM VỀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI DTTS Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH 87
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 7TT Các chữ viết tắt Nội dung viết đầy đủ
9 NNQG Ngôn ngữ quốc gia
10 TCTV Tăng cường tiếng Việt
17 NNQG Ngôn ngữ quốc gia
18 PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú
19 GD&ĐT Giáo dục đào tạo
20 GV Giáo viên
21 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8Bảng Tiêu đề Trang
Bảng 1 Dân số dân tộc thiểu số chia theo đơn vị hành chính,
giới tính từ ngày 01/04/2019 28
Bảng 2.1 Thống kê các lớp học tiếng dân tộc thiểu số đã được
triển khai tại tỉnh Bình Định 57
Bảng 2.2 Tổng hợp khảo sát nhu cầu học tiếng dân tộc trong
cư dân dân tộc thiểu số tại tỉnh Bình Định 57
Bảng 2.3 Tổng hợp lớp bồi dưỡng tăng cường tiếng Việt cho
cán bộ quán lý, giáo viên, cha mẹ trẻ em mầm non 58
Bảng 2.4
Bổ sung thiết bị dạy học phục vụ kế hoạch “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”
59
Bảng 2.5 Đánh giá chất lượng môn tiếng Việt cho học sinh dân
tộc thiểu số trong 04 năm học 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chính sách ngôn ngữ được đề cập ở đây bao gồm cả chính sách ngôn ngữ nói chung và chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số (DTTS) nói riêng Các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước ta đối với ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng đã có từ những năm
1930 và 1945, đặc biệt từ sau hòa bình lập lại ở miền Bắc nước ta (1954) Trong đó, chính sách đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số là một trong những chính sách lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, trong điều kiện một nước đa dân tộc như nước ta
Tuy nhiên, các chủ trương và chính sách đó thực sự tác động đến cư dân miền Nam sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975) Đối với các tỉnh ở khu vực miền Trung nói chung, tỉnh Bình Định nói riêng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng có tác động đến các địa phương từ sau khi có Quyết định
53-CP ngày 22 tháng 02 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về “Chủ trương
đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số”
Đánh giá sự tác động của chính sách ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng đến các cơ quan địa phương, đặc biệt đến các đối tượng hưởng lợi từ chính sách là việc làm hết sức cần thiết để đo mức độ hài lòng của người dân đối với chính sách Tác động của chính sách này phản ánh kết quả đầu ra hay kết quả cuối cùng của chính sách Song việc đánh giá tác động của chính sách cũng là khâu khó khăn nhất bởi lẽ các tác động này đôi khi rất khó đo lường Chẳng hạn, để đánh giá mức độ thành công của chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc, người ta không thể chỉ dựa vào việc đã biên soạn được bao nhiêu bộ sách phục vụ dạy-học tiếng dân tộc thiểu số, cải tiến, chế tác và đưa vào sử dụng bao nhiêu bộ chữ dân tộc, số lượng học sinh dân tộc học
Trang 10tiếng mẹ đẻ như thế nào? số lượng trường lớp tổ chức dạy tiếng phổ thông cho học sinh dân tộc thiểu số hay số lượng các cán bộ, công chức đã hoàn thành chương trình học tiếng dân tộc thiểu số mà còn phải xem xét các khía cạnh khác, như người dân tộc thiểu số được tiếp cận như thế nào đến các dịch
vụ công thiết yếu: giáo dục ngôn ngữ dân tộc thiểu số và tiếng Việt, truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số
Đã có nhiều công trình, bài viết, việc làm thể hiện việc thực thi chính sách ngôn ngữ Song, hiện nay tại Bình Định chưa có công trình nào nghiên cứu đánh giá những tác động của chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số đến địa phương, đặc biệt đến cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm - những đối tượng trực tiếp được thụ hưởng chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Có thể nói đây là một vùng trống hoàn toàn trong nghiên cứu những tác động từ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đến các cơ quan và cư dân các dân tộc thiểu số nói chung và Bình Định nói riêng Vì vậy, chúng tôi chọn đề
tài “Chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định” làm
đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghiên cứu chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số nói chung đã
có nhiều công trình nghiên cứu và giúp cho Đảng và Nhà nước hoạch định những chính sách ngôn ngữ đối với đồng bào dân tộc thiểu số Song nghiên cứu các chính sách ngôn ngữ đối với một số dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Định (Bana, Hrê, Chăm) đã có nhiều tác giả trong nước quan tâm và có nhiều công trình có giá trị liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.1.1 Những nghiên cứu chung về chính sách ngôn ngữ và tác động của chúng đến xã hội
Sau khi Quyết định 53-CP ngày 22/02/1980 của Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết dân tộc thiểu số ra đời, nhiều địa phương vùng dân tộc
Trang 11và miền núi đã tích cực thực hiện chủ trương này Các hoạt động đó được phản ánh rõ nét nhất ở các báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học quốc gia:
Ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ dân tộc và phát triển (1993) tại Hà Nội và hội
thảo chuyên đề Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số phía Nam (11/1993) tại Nha Trang Kết quả của hai cuộc hội thảo được
phản ánh trong hai công trình Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam [33] và Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía
Nam [34] Ngoài ra, cũng phải kể đến Hội nghị Tổng kết công tác bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số do Ủy ban Dân tộc tổ chức
tháng 11/2006 [32] Ở Hội nghị, có một số các báo cáo của Ủy ban Dân tộc,
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thông tin, Viện Khoa học xã hội Việt Nam cũng đề xuất các kiến nghị nhằm thực hiện chính sách đối với ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc
Bên cạnh đó, có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan, cá nhân
về chính sách ngôn ngữ Trong số các cơ quan phải kể đến Viện Ngôn ngữ học hay Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM với nhiều đề tài khoa học các cấp, đặc biệt là ở Viện Ngôn ngữ học Đó là cụm Đề tài, chương trình do Viện Ngôn ngữ học thực hiện [35; 38; 40; 41; 42] Có thể nói, các đề tài, chương trình nghiên cứu ở các cấp về chính sách ngôn ngữ do Viện Ngôn ngữ học thực hiện đều đã thể hiện rõ các vấn đề:
- Tổng kết, đánh giá những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chính sách ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số
- Tổng kết, đánh giá việc thực thi chính sách ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số qua kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể và ngôn ngữ như: vấn đề chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vấn
đề ngôn ngữ, chữ viết và giáo dục tiếng Việt trong nhà trường, vấn đề xây dựng và sử dụng chữ viết cho các dân tộc thiểu số, sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong đời sống xã hội, nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa các dân tộc thiểu số…
Trang 12Mặt khác, các đề tài này cũng nhìn nhận, đánh giá và cho rằng: những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về ngôn ngữ dân tộc thiểu số thời gian qua mới chủ yếu dừng lại ở những tư tưởng, những quan điểm lớn chứ chưa được thể chế hoá thành luật hay chính sách của Nhà nước về ngôn ngữ Một số đề tài đặc biệt lưu ý đến công tác tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Các đề tài, báo cáo cũng đề xuất kiến nghị
để bảo tồn, phát huy vai trò của ngôn ngữ và chữ viết các dân tộc thiểu số trong tình hình mới
Bên cạnh các công trình, đề tài của tập thể Viện Ngôn ngữ học còn có hàng loạt những công trình, bài viết của nhiều cá nhân khác Có thể kể đến các công trình, bài viết của các tác giả Hoàng Tuệ [29; 30], Nguyễn Như Ý [44; 45], Hoàng Văn Hành [12; 13], Nguyễn Văn Khang [16; 17], Nguyễn Văn Lợi [18], Đoàn Văn Phúc [19; 20; 21; 22; 23; 24], Trần Trí Dõi [5; 6; 7; 8], Nguyễn Đức Tồn [29], Nguyễn Thiện Giáp [9; 10] Dưới đây là một vài cụm công trình tiêu biểu:
Trong cụm công trình của mình, tác giả Nguyễn Văn Khang chỉ ra những vấn đề mang tính nguyên tắc, lý luận, cùng với những yêu cầu về chính sách, về kế hoạch hóa ngôn ngữ đối với ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu
số nói riêng Các công trình [12; 13] và một số bài viết trên một số tạp chí chuyên ngành đã bàn tới các vấn đề lớn: Những vấn đề lý luận cơ bản về ngôn ngữ học xã hội; Chính sách ngôn ngữ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam; Cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam và sự biến đổi của cảnh huống ngôn ngữ trong giai đoạn hiện nay
Cụm công trình của Trần Trí Dõi [5; 6; 7; 8] và những bài viết khác cùng vấn đề đã bàn về tác động của chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc tới chủ thể hưởng lợi từ chính sách Có thể nói, đây là cụm công trình, bài viết phân tích khá sâu sắc về chính sách ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ dân tộc,
Trang 13đặc biệt là những tác động của chính sách đến các chủ thể được hưởng lợi từ các chủ trương chính sách cũng như kế hoạch hóa ngôn ngữ
Các công trình nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ bàn đến 05 vấn đề dưới đây:
- Cơ sở lý luận và lý luận về chính sách ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng
- Khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện và sự tác động của chính sách ngôn ngữ qua từng giai đoạn và từ các lĩnh vực khác nhau
- Khảo sát, đánh giá cảnh huống ngôn ngữ cũng như tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc, địa phương, vùng miền trong nước
- Thực hiện các công việc của kế hoạch hóa ngôn ngữ
- Đề xuất kiến nghị về chính sách ngôn ngữ trong thời gian đến, đặc biệt là trong tổ chức thực hiện nhằm tăng cường sự đúng đắn và tính pháp lý của chính sách ngôn ngữ
2.1.2 Những nghiên cứu cụ thể về tác động của chính sách ngôn ngữ đến các cơ quan và cư dân Bana, Hrê, Chăm
Hiện có khá nhiều văn bản, Chỉ thị của tỉnh Bình Định với việc thực thi để triển khai chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại địa phương, đặc biệt là đối với tiếng Bana, Hrê, Chăm - ba dân tộc thiểu số lâu đời và có dân số đông trong tỉnh Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp nghiên cứu biên soạn các bộ sách công cụ phục vụ việc dạy - học tiếng Bana, Hrê, Chăm ở địa phương Chẳng hạn, đó là nhóm công trình “Xây dựng và hoàn chỉnh chữ viết, biên soạn sách phục vụ dạy và học tiếng Bana Kriêm, Hrê, Chăm Hroi ở Bình Định” do Nguyễn Văn Lợi làm chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu văn hóa làng của người Bana Kriêm ở Bình Định, nghiên cứu văn hóa cổ truyền người Chăm ở huyện Vân Canh tỉnh Bình Định Các công trình này đã có tác động nhất định đến chính sách của địa phương trong tổ
Trang 14chức thực hiện chính sách ngôn ngữ
Nhưng phải đến các đề tài khoa học cấp Bộ [40; 41; 42] do Viện Ngôn ngữ học thực hiện hay một số bài viết của Đoàn Văn Phúc [19; 20; 21; 22; 23; 24] mới phần nào nghiên cứu tác động của chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số nói chung và người Bana, Hrê, Chăm nói riêng - những đối tượng thụ hưởng chính sách này Trong các đề tài này cho thấy thái độ của người dân tộc thiểu số trong việc sử dụng các ngôn ngữ ở các phạm vi giao tiếp quy thức và phi quy thức
Thực ra, việc nghiên cứu chính sách ngôn ngữ và tác động của nó đến các cơ quan, đến cư dân các dân tộc ở khu vực miền Trung, nhất là đến các cơ quan tỉnh Bình Định và người Bana, Hrê, Chăm chưa có nhiều Trong các công trình, đề tài, bài viết của Đoàn Văn Phúc [19; 20; 21; 22; 23; 24] và công trình [16; 17] của Nguyễn Văn Khang, các tác giả đã chỉ ra những hạn chế của công tác tổ chức dạy-học tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức tại địa phương
Nhưng cũng phải nói rằng, thực tế các công trình, bài viết trên chưa đánh giá chính sách và tác động của chính sách ngôn ngữ đến cư dân và chính quyền địa phương một cách đầy đủ trên cơ sở của phương pháp phân tích đánh giá chính sách Do vậy, các công trình, đề tài, bài viết cũng chưa bàn sâu
về những tác động của chính sách ngôn ngữ đến các cơ quan thực thi chính sách ở địa phương cũng như cư dân hưởng lợi từ chính sách này như thế nào, nhất là thái độ của họ với chính sách của nhà nước
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo hiểu biết của chúng tôi, thực tế chưa có công trình nghiên cứu hay bài báo nào ở nước ngoài nghiên cứu chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định (cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm)
Trang 153 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu
Đề tài“Chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định”
hướng đến khảo sát, phân tích và lý giải nhằm chỉ ra tác động của chính sách ngôn ngữ đến các cơ quan và một số DTTS tại tỉnh Bình Định (dân tộc Bana, Hrê, Chăm) Đây cũng là cơ sở đề xuất kiến nghị góp phần xây dựng chính sách đối với ngôn ngữ DTTS đến các cơ quan lập pháp Chính phủ nói chung cũng như tỉnh Bình Định nói riêng và với đồng bào Bana, Hrê, Chăm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có 03 nhiệm vụ:
1) Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách ngôn ngữ và tác động của chính sách ngôn ngữ đến đối tượng thụ hưởng chính sách
2) Các văn bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu
số ở tỉnh Bình Định và tác động của chính sách ngôn ngữ đến các cơ quan thực thi chính sách tỉnh Bình Định
3) Tác động của chính sách ngôn ngữ đến người Bana, Hrê, Chăm ở
Bình Định
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại văn bản của các cơ quan tỉnh Bình Định (Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các cấp, Ban Dân tộc, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ, cùng tất
cả các cấp thuộc các sở này) có liên quan đến thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở địa phương
- Đối tượng của đề tài là nghiên cứu những tác động của chính sách ngôn ngữ đối với ngôn ngữ DTTS đến cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm cũng như nhu cầu, thái độ, mục đích của họ trong việc học tập, sử dụng tiếng Việt
và tiếng mẹ đẻ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các tư liệu
Trang 16điều tra ngôn ngữ học xã hội và số liệu của các cơ quan địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu việc thực thi chính sách ngôn ngữ của các cơ quan công quyền, cũng như thái độ, mục đích sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc Bana, Hrê, Chăm là những dân tộc thiểu số
có số lượng người đông trong tỉnh Bình Định Bên cạnh đó, đề tài cũng quan tâm đến những tác động tích cực mà người Bana, Hrê, Chăm được thụ hưởng cùng với những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của những chính sách này
Tư liệu điền dã đánh giá tác động của chính sách đối với ngôn ngữ DTTS đến người Bana, Hrê, Chăm tại huyện Vĩnh Thạnh, An lão, Vân Canh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tư liệu các văn bản của các
cơ quan công quyền của tỉnh về thực thi chính sách ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ dân tộc thiểu số Đồng thời, tiếp xúc với cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm ở một số địa bàn trong tỉnh để tìm hiểu thái độ, mục đích của họ trong việc sử dụng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ trong các phạm vi giao tiếp xã hội Bộ anket điều tra xã hội này được chính chủ nhiệm đề tài thiết kế (và đã qua các tọa đàm của các thành viên đề tài) bao gồm:
a) Bảng điều tra đánh giá tác động của chính sách ngôn ngữ dân tộc đến
cư dân (đối với người Bana tại Vĩnh Thạnh)
b) Bảng điều tra đánh giá tác động của chính sách ngôn ngữ dân tộc đến
cư dân (đối với người Chăm ở Vân Canh)
c) Bảng điều tra đánh giá tác động của chính sách ngôn ngữ dân tộc đến
cư dân (đối với người Hrê ở An Lão)
Ở mỗi mẫu anket như vậy được thiết kế thường bao gồm hai phần:
Trang 17- Nhân thân tư liệu viên (TLV - người cung cấp tư liệu gồm: tên, tuổi, giới tính, quê quán, nơi ở hiện nay, trình độ văn hóa,…)
- Nội dung hỏi: Tùy vào mục đích và nội dung tìm hiểu mà phần nhân thân TLV và nội dung có các câu hỏi khác nhau đối với từng đối tượng là người dân, cán bộ, học sinh
Các tư liệu được thống kê, phân tích bằng Exell và bảng thống kê chi tiết
do các cán bộ của đề tài thiết kế (theo chỉ đạo của chủ nhiệm đề tài, chi tiết xin xem Phụ lục 4 và 5)
5.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả với thủ pháp luận giải bên trong và luận giải bên ngoài (thủ pháp ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lý - tộc người, thủ pháp thống kê…) và các thủ pháp luận giải bên ngoài (thủ pháp NNHXH, ngôn ngữ học tâm lý - tộc người, thủ pháp thống kê…) Các thủ pháp này được sử dụng để thu thập tư liệu về thái độ, mục đích của cư dân dân tộc Bana, Hrê, Chăm trong việc sử dụng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ trong các phạm vi giao tiếp xã hội thông qua ghi chép, đánh dấu vào các mẫu anket, quan sát người được phỏng vấn Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ, trí thức dân tộc về vấn đề tác động của chính sách đến cư dân Bana, Hrê, Chăm
5.3 Phương pháp đánh giá chính sách
Phương pháp này được áp dụng nhằm đánh giá tác động của chính sách ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng đến các đối tượng thụ hưởng chính sách của chuyên ngành đánh giá chính sách công Để làm được điều này cần phải xây dựng được khung phân tích tác động của chính sách đến đối tượng thụ hưởng cũng như cơ quan công quyền nhà nước
Tư liệu sử dụng chính của đề tài là tư liệu thu thập từ các cuộc nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học-xã hội về tác động của chính sách đến tỉnh Bình
Trang 18Định và cư dân Bana, Hrê, Chăm Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ sử dụng tư liệu của một số công trình về ngôn ngữ học xã hội, cũng như các tư liệu, sơ đồ, khung phân tích tác động của chính sách tới đối tượng thụ hưởng chính sách
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Về lý luận
Đề tài sẽ góp phần chỉ ra những tác động (âm tính, dương tính, ngoại biên) của chính sách ngôn ngữ đối với cư dân Bana, Hrê, Chăm, đối tượng được hưởng lợi từ chính sách công của nhà nước, góp phần vào việc xây dựng chính sách công đúng đắn hơn
6.2 Về thực tiễn
- Đề tài có thể là tư liệu tốt cho một chương trình lớn hơn liên quan đến chính sách về ngôn ngữ và ngôn ngữ DTTS nói riêng nhằm hoàn thiện chính sách đối với ngôn ngữ DTTS vì sự phát triển bền vững của đất nước
- Đề tài cũng sẽ là tư liệu tốt để cho các cơ quan các cấp tỉnh Bình Định tham khảo để có thể điều chỉnh các chủ trương, quyết định của mình trong phạm vi địa phương liên quan đến việc thực thi chính sách đối với ngôn ngữ DTTS
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Trang 19Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ
1.1.1 Khái niệm về chính sách, chính sách công và chính sách ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm chính sách
“Chính sách’’ là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu,
trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng
Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là
một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, Đảng, nhà cai trị, chính khách Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định để giải quyết một vấn đề cụ thể mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối
Trên thực tế, thuật ngữ “chính sách” được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Chính sách là sách lược và các chủ
trương biện pháp cụ thể để thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong một thời kỳ lịch sử nhất định Ví dụ: chính sách kinh tế, chính sách mở cửa’’ [39].
Tác giả Nguyễn Văn Khang trong công trình Kế hoạch hóa ngôn ngữ,
ngôn ngữ học xã hội vĩ mô đã cụ thể hóa làm rõ khái niệm về chính sách Tác
giả cho rằng: “chính sách (policy) là một thuật ngữ chính trị bao gồm các yếu
tố: (1) nội dung của chính sách (những chuẩn tắc cụ thể và các biện pháp/kế hoạch để thực hiện các chuẩn tắc đó); (2) phạm vi của chính sách (không có
Trang 20chính sách chung chung mà chỉ có chính sách cho từng lĩnh vực cụ thể); (3) cơ
sở của chính sách (thực tiễn, gắn với định hướng và trong mối quan hệ với các chính sách khác); (4) thời gian và không gian của chính sách (có tính giai đoạn, gắn với hoàn cảnh cụ thể); (5) chủ thể đưa ra chính sách [15; tr.455] Đối với Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, Đảng ta là đảng cầm quyền, vì thế, chính sách (tầm quốc gia) ở Việt Nam do Đảng và Nhà nước Việt Nam hoạch định Như vậy, có thể thấy có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất đúng về chính sách Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể Những nỗ lực đưa ra các định nghĩa khác nhau về chính sách cũng hàm ý rằng khó có thể xác định được thời điểm cụ thể mà chính sách cần được ban hành Chính sách thường được tiếp tục tiến hóa trong giai đoạn thực hiện, chứ không chỉ cố định như trong giai đoạn hoạch định chính sách
1.1.1.2 Khái niệm chính sách công
Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội Chính sách của nhà nước không chỉ tác động đến một khu vực, một bộ phận dân cư nhất định mà tác động rộng rãi đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc Tác động của nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế hay kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất Đồng thời, trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp vì thế mà quan niệm về chính sách do nhà nước ban hành (chính sách công) cũng được tiếp cận từ góc độ khác nhau
Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”: “Chính sách là những chuẩn tắc
cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một
Trang 21thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa ” Theo định nghĩa này thì mục đích của chính
sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước
Khái niệm trên vừa thể hiện đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội
Ở nước ta, các chính sách công do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (mà trước năm 1976 là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) đề ra Các chính sách công của Nhà nước là những bộ phận hợp thành, là
sự cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân
1.1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ
a) Khái niệm chính sách ngôn ngữ
Chính sách là một thuật ngữ chính trị bao gồm các yếu tố: nội dung của chính sách, phạm vi của chính sách, cơ sở của chính sách, thời gian và không gian của chính sách với chủ thể đưa ra chính sách Thuật ngữ chính sách ngôn
ngữ (language policy) lần đầu tiên xuất hiện trong công trình Ngôn ngữ học
xã hội của J.A Fishman năm 1970 bằng tiếng Anh, tiếp đó là các ngôn ngữ
như Tây Ban Nha (Politica linguistica) năm 1975, Đức (Sparach Politik) năm 1981 cho đến nay, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi và phát triển nhiều cách hiểu khác nhau
Có nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách ngôn ngữ Theo nghĩa
Trang 22rộng thì chính sách ngôn ngữ (CSNN) là các nguyên tắc mang ý thức hệ và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chính sách ngôn ngữ là hệ thống các biện pháp nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ hoặc làm biến đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ (nhằm tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ văn hóa, làm phong phú vốn từ, thuật ngữ, phong cách, cải tiến chính tả, xây dựng, cải tiến chữ viết) Theo cách hiểu này, chính sách ngôn ngữ đồng nghĩa với thuật ngữ
kế hoạch hóa ngôn ngữ - là việc tiến hành các biện pháp có tổ chức để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ ở cấp độ nhà nước (Paulston, Ch.B.)
Theo Nguyễn Văn Khang [17] CSNN bao hàm sự tác động có ý thức của xã hội đối với ngôn ngữ Sự tác động này có thể do nhà nước (hay một đảng phái hay tổ chức chính trị xã hội) nhằm định hướng sự hành chức và phát triển của ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của một quốc gia ở trong những thời điểm lịch sử nhất định của quốc gia
đó Mọi CSNN bao giờ cũng mang rõ ý thức hệ của giai cấp cầm quyền (hay một đảng phái hay tổ chức chính trị xã hội) và các biện pháp tổ chức thực hiện Đồng thời, việc hoạch định CSNN phụ thuộc trước hết vào cảnh huống ngôn ngữ (CHNN)
CSNN là chính sách thuộc phạm vi/lĩnh vực ngôn ngữ Tác giả Nguyễn
Văn Khang đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn về CSNN Theo ông: “CSNN là
chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ trương đó về ngôn ngữ của Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia’’ [17; tr.456]
Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: CSNN là các chủ trương
của một nhà nước, một đảng phái, một nhóm xã hội về vấn đề ngôn ngữ và các biện pháp tổ chức thực hiện những chủ trương đó nhằm tác động vào CHNN và sự hành chức của ngôn ngữ ở phạm vi khu vực/địa phương, quốc
Trang 23gia hay xuyên quốc gia
b) Ngôn ngữ mẹ đẻ
Ngôn ngữ mẹ đẻ (Mother Tongue) hay tiếng mẹ đẻ (TMĐ) được hiểu là ngôn ngữ mà nhờ nó hình thành nên các thói quen sớm nhất của các hoạt động nói năng Ngôn ngữ mẹ đẻ thường là ngôn ngữ của mẹ, của gia đình được hình thành ở mỗi người từ khi còn nhỏ Về cơ bản, tiếng mẹ đẻ (hay ngôn ngữ mẹ đẻ) thường là ngôn ngữ tộc người (Ethnic)
c) Ngôn ngữ tộc người
Ngôn ngữ tộc người thường là ngôn ngữ mẹ đẻ (TMĐ) của các thành viên trong cộng đồng tộc người Nó là thành tố quan trọng để thống nhất các thành viên tộc người đó Nhờ có ngôn ngữ tộc người mà các đặc điểm văn hóa tộc người mới được tồn tại dưới dạng phương ngữ, thổ ngữ và được lưu giữ trong văn học dân gian (văn học truyền khẩu)
d) Ngôn ngữ quốc gia
Ngôn ngữ quốc gia (NNQG) là ngôn ngữ do luật pháp nhà nước quy định, được sử dụng trong phạm vi cả nước, không hạn chế trong một khu vực lãnh thổ hay trong nội bộ một một dân tộc, nhóm dân tộc Với tư cách là ngôn ngữ của cả quốc gia, nó được sử dụng trong hoạt động chính trị, xã hội, văn hoá NNQG là tài sản của quốc gia và có ý nghĩa biểu trưng cho độc lập, thống nhất quốc gia
1.1.3 Vấn đề chính sách ngôn ngữ ở quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ
Việc đề ra chính sách ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự cân nhắc thận trọng, cần dựa trên thực tế đời sống ngôn ngữ của một nước, đặc biệt là đối với những quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ như Việt Nam CSNN của Nhà nước, của các tổ chức, đảng phái không phải chỉ là chính sách cụ thể đối với NNQG mà phải là chính sách chung đối với các ngôn ngữ nhằm tác động vào sự hành chức của ngôn ngữ trong CHNN ở quốc gia đó trong những
Trang 24hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Thông thường, CSNN ở các quốc gia này phải làm các công việc chủ yếu sau:
a) Xác định địa vị ngôn ngữ hay lựa chọn ngôn ngữ (Language Choice)
Sự lựa chọn sử dụng ngôn ngữ là nội dung quan trọng nhất trong cả hai phạm trù: vị thế ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ Nó thể hiện phạm vi mà ngôn ngữ đang xét được sử dụng và phản ánh thái độ của họ đối với ngôn ngữ đó
Ở mỗi bối cảnh chức năng có một giá trị khác nhau Do đó giá trị của sự lựa chọn sử dụng ngôn ngữ trong các loại bối cảnh chức năng là không giống nhau Người ta thường chia ra 04 loại bối cảnh sử dụng ngôn ngữ là:
- Giao tiếp trong hành chính - công vụ rất quan trọng đối với mỗi cộng đồng ngôn ngữ
- Giao tiếp với các dân tộc khác là loại bối cảnh trên địa bàn đa dân tộc, phương tiện được lựa chọn sử dụng để giao tiếp chung giữa dân tộc này với dân tộc khác cũng quan trọng Thông thường, ngôn ngữ của cư dân đa số trong vùng được lựa chọn cho bối cảnh chức năng này Ngôn ngữ này được
gọi là tiếng phổ thông vùng
- Giao tiếp trong gia đình là giao tiếp cơ bản trong đời sống ngôn ngữ của một cộng đồng Đây chính là môi trường quyết định sự tồn tại bền vững hay không của một ngôn ngữ Thông thường, ngôn ngữ đảm nhiệm chức năng này là TMĐ của cộng đồng đó
- Giao tiếp trong các loại hình sinh hoạt văn hóa - dân gian là loại hình giao tiếp mang một màu sắc khá đặc trưng Nó phản ánh sự hành chức của ngôn ngữ trong một bối cảnh giao tiếp văn hóa hết sức tự nhiên (đối với ca hát) và thiêng liêng (đối với thờ cúng) Nó thể hiện mức độ thâm nhập, chiều sâu của ngôn ngữ trong đời sống của một cộng đồng
b) Bảo tồn, gìn giữ ngôn ngữ (Language maintenance)
Theo quyết định của UNESCO, ngày 21 tháng 2 hàng năm được chọn là
Trang 25Ngày tiếng mẹ đẻ quốc tế, nhằm giúp cho mọi người nhận thức rõ rệt về tầm
quan trọng của sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ Ngôn ngữ của mỗi dân tộc thể hiện trình độ phát triển văn hoá và tư duy của từng dân tộc Ngôn ngữ
đã tích tụ lưu giữ quá khứ lịch sử truyền thống, phản ảnh quan niệm về vũ trụ, cái nhìn về cuộc sống và tương lai mà từng dân tộc đã đúc kết và xây dựng nên Khi một ngôn ngữ biến mất thì những kiến thức này cũng sẽ mất theo Điều đó đồng nghĩa với việc một phần lịch sử, văn hóa của nhân loại bị xóa
sổ và nền văn hoá chung của thế giới cũng bị “nghèo đi”
c) Phát triển trạng thái song ngữ (Bilingualism)
Song ngữ (bilingual) là hiện tượng một người nói có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp Người song ngữ là người
có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ Trên thực tế, người song ngữ là người ngoài TMĐ có thể biết thêm ít nhất một ngôn ngữ khác ở mức đủ để họ có thể trao đổi được về một trong những lĩnh vực nào đó
mà họ quan tâm Cũng có thể có nhiều người cho dù không thạo (không biết) TMĐ nhưng lại có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ khác để giao tiếp Đây là kiểu
“song ngữ bất bình đẳng”, gây nên hiện tượng song thể ngữ (diglossia) nhưng lại là tình trạng khá phổ biến ở nhiều quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, trong
đó có Việt Nam
1.2 KẾ HOẠCH HÓA NGÔN NGỮ
1.2.1 Khái niệm Kế hoạch hóa ngôn ngữ
Hiện nay, bên cạnh khái niệm chính sách ngôn ngữ, người ta còn nói đến
kế hoạch hóa ngôn ngữ Trong đó, CSNN cũng có thể hiểu là kế hoạch phát triển ngôn ngữ liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, chính sách phát triển văn hóa, giáo dục của một quốc gia Kế hoạch hóa ngôn ngữ thực chất chính
là sự can thiệp của con người đối với ngôn ngữ, trong đó vai trò của Nhà nước
mà trực tiếp, cụ thể là các cơ quan được Nhà nước trao quyền đóng vai trò
Trang 26chủ đạo [15] Kế hoạch hóa ngôn ngữ (còn được gọi là quy hoạch ngôn ngữ -
Language planning) được hiểu là công việc quản lý ngôn ngữ Đây là phản
ứng điều tiết có chủ động, có tổ chức, có kế hoạch đối với hoạt động ngôn ngữ Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một công việc mang tính xã hội từ những vấn
đề rất lớn của ngôn ngữ đến những nội dung rất hẹp và rất sâu của cấu trúc ngôn ngữ
1.2.2 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ và kế hoạch hóa ngôn ngữ
Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một công việc nhằm tư vấn vấn đề chính trị
xã hội của ngôn ngữ, xây dựng sự lựa chọn của ngôn ngữ quốc tế, khu vực, quốc gia Cụ thể hơn là những vấn đề thuộc cấu trúc ngôn ngữ như cải tiến hệ thống chính tả Việc kế hoạch hóa ngôn ngữ có hai loại: Xác định ngôn ngữ (lựa chọn những vấn đề lớn của các ngôn ngữ để sử dụng vào những mục đích nhất định) và phát triển ngôn ngữ (là sự lựa chọn và đề xướng những biến thể bên trong một ngôn ngữ) Kế hoạch hóa ngôn ngữ được phân chia làm ba nội dung là kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ, kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ và kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ
a)Kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ
Kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ bao gồm các công việc như lựa chọn mã ngôn ngữ mới để phục vụ cho mục đích cụ thể, phân bổ chức năng cho một hoặc nhiều ngôn ngữ trong một cộng đồng, chỉnh đốn cách sử dụng ngôn ngữ trong một cộng đồng, trong đó nổi lên vấn đề lựa chọn ngôn ngữ quốc gia /dân tộc trong một quốc gia đa ngôn ngữ Ngoài ra, kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ cũng rất quan trọng ở các nước có sự tồn tại của hai hay hơn hai ngôn ngữ Nội dung này thường do nhà nước đảm nhiệm hoặc Chính phủ trực tiếp chỉ đạo
b)Kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ
Kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ là bước tiếp theo nhằm cải cách hoặc
Trang 27làm hoàn thiện ngôn ngữ để đáp ứng chức năng mới Kế hoạch hóa bản thể tác động đến ngôn ngữ theo hai hướng: nếu kế hoạch hóa bản thể được triển khai tốt, nó sẽ bảo vệ giúp cho ngôn ngữ phát triển lành mạnh, trong sáng, tiếp thu hợp lý các yếu tố nước ngoài, còn nếu kế hoạch hóa bản thể nếu không được nghiên cứu kỹ, không có kiến thức ngôn ngữ hoặc thả nổi, ngôn ngữ sẽ phát triển lệch lạc, méo mó, biến dạng Như vậy, chính sách ngôn ngữ có tác dụng định hướng cho sự phát triển của ngôn ngữ
c)Kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ
Kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ là một loại chức năng độc lập Kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ không dựa vào hoạt động của kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ mà cũng là một lực lượng, cũng là một sức mạnh trong kế hoạch hóa ngôn ngữ Trong thực tế, sự cố gắng của kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ nhiều khi không
đạt được mục đích hay thậm chí thất bại vì thiếu kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ
1.3 KHÁI NIỆM CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ VÀ GIAO TIẾP NGÔN NGỮ
1.3.1 Cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ (Language situation) là một khái niệm được coi
là quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ học xã hội và có hiệu quả trực tiếp đối với CSNN Bởi vì, thông qua nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ người ta sẽ được các thông số cần thiết để xử lý các vấn đề chính sách ngôn ngữ quốc gia bao gồm chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ… Cảnh huống ngôn ngữ (CHNN) của một quốc gia hay một khu vực được hình thành nên trong suốt hàng chục năm chứ không phải trong một vài năm và luôn chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong việc xác định địa vị ngôn ngữ
Tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng: “Cảnh huống ngôn ngữ là tình
hình tồn tại và hành chức của các ngôn ngữ hoặc các hình thức của ngôn ngữ
Trang 28trong phạm vi cộng đồng, xã hội hay lãnh thổ CHNN có thể chỉ giới hạn trong phạm vi của một ngôn ngữ hay một biến thể của ngôn ngữ (phương ngữ địa lý hay phương ngữ xã hội), cũng có thể là của nhiều ngôn ngữ hoặc nhiều biến thể (các phương ngữ địa lý và các phương ngữ xã hội)” Ví dụ: CHNN ở
Việt Nam, cảnh huống phương ngữ tiếng Việt, cảnh huống tiếng Mường, cảnh huống tiếng Anh trong khu vực Đông Nam Á
CHNN là toàn bộ các hình thái tồn tại ngôn ngữ, tức là các ngôn ngữ và biến dạng của ngôn ngữ (phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội, các phong cách chức năng ) được một thực thể xã hội (tộc người hay cộng đồng tộc người) sử dụng, trong giới hạn khu vực, của một cộng đồng chính trị - lãnh thổ hay một quốc gia nhất định
Cảnh huống ngôn ngữ cùng với mục tiêu chính trị sẽ là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định và thực thi CSNN Chính sách ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với cảnh huống ngôn ngữ Chỉ có chính sách ngôn ngữ nào mà tính đến tất cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ thì mới có kết quả
1.3.2 Giao tiếp ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp của con người có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng phương tiện quan trọng nhất và chủ yếu nhất là ngôn ngữ Trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao tiếp không ngừng lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ cho phù hợp với phạm vi, môi trường, bối cảnh Theo phạm vi giao tiếp, chúng ta có giao tiếp mang tính quy thức (giao tiếp mang tính nghi thức)
và giao tiếp phi quy thức (giao tiếp có phần tự do trong các môi trường khác nhau và không mang tính nghi thức)
Giao tiếp quy thức là giao tiếp cần phải tuân theo những quy tắc do tập thể, cộng đồng hay xã hội đặt ra Người sử dụng ngôn ngữ thường lựa chọn ngôn ngữ (sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ chính thức hay NNQG) Người nói có sự trau chuốt về cách dùng từ, đặt câu sao cho giao tiếp đạt hiệu
Trang 29quả cao nhất Đó là giao tiếp trong các cuộc họp ở các cấp, giao tiếp tại các công sở, trong nhà trường… nên nó cần/buộc người tham gia phải tuân theo những lễ nghi, quy tắc nhất định Còn giao tiếp ở phạm vi phi quy thức là giao tiếp mà người tham gia giao tiếp không cần tuân theo những lễ nghi, quy tắc nhất định Người tham gia giao tiếp có thể thoải mái, tự do dùng lời nói theo thói quen, theo sở thích cá nhân của mình Ngôn ngữ ở đây ít có sự gọt giũa, trau chuốt theo chuẩn mực Giao tiếp phi quy thức thông thường diễn ra ở các môi trường gia đình, thôn xóm hay các nơi công cộng như ở chợ búa, bến tàu
xe, nhà hàng
Tuy nhiên, đối với các DTTS ở Việt Nam thì việc lựa chọn ngôn ngữ nào trong giao tiếp để đạt được mục đích, hiệu quả nhất cũng là một điều hết sức thú vị Bởi lẽ, đồng bào các DTTS bên cạnh việc sử dụng được TMĐ thì một bộ phận chiếm số đông có thể nói tốt cả tiếng Việt Trong giao tiếp thông thường, họ không sử dụng một ngôn ngữ mà sử dụng cả hai ngôn ngữ là TMĐ
và tiếng Việt Trong các phạm vi giao tiếp khác nhau việc sử dụng ngôn ngữ cũng có sự thay đổi nhất định tùy thuộc vào các chủ thể và các đối tượng, môi trường giao tiếp khác nhau
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ
Theo “Từ điển tiếng Việt” thì “tác động là làm cho một đối tượng nào
đó có những biến đổi nhất định” [39; tr.1130] Vậy tác động của CSNN và
ngôn ngữ DTTS đối với các cơ quan và cư dân Bana, Hrê, Chăm ở Bình Định chính là việc các cơ quan thực thi CSNN và chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc đã tổ chức thực thi chính sách này như thế nào và cư dân Bana, Hrê, Chăm - đối tượng thụ hưởng của chính sách được hưởng lợi gì về kinh tế, văn hóa, xã hội từ chính sách này và thái độ của họ khi đánh giá nó tốt/ xấu ra sao Song việc đánh giá tác động của chính sách cũng là khâu khó khăn nhất bởi lẽ các tác động này đôi khi rất khó đo lường Do đó, để đánh giá CSNN và
Trang 30chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc đã tác động đến đối tượng thụ hưởng chính sách đó như thế nào, cần xem xét việc người thụ hưởng được hưởng những lợi ích gì từ CSNN và chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc của Nhà nước, Chính phủ Và các lợi ích đó đã giúp họ sử dụng, học tập, phát triển ngôn ngữ, và bảo tồn văn hóa của dân tộc đó đến đâu Vì vậy, việc đánh giá tác động này phải được đo lường bằng mức độ hài lòng của người Bana, Hrê, Chăm về các lợi ích được hưởng Họ có nhu cầu thực sự trong việc sử dụng, bảo tồn, phát triển, sử dụng TMĐ hay thụ hưởng giáo dục ngôn ngữ quốc gia hay không Thực chất việc đánh giá tác động của CSNN và chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc là sự đánh giá lại chính sách sau khi các chính sách đã được ban hành, tức đánh giá theo kết quả đầu ra, hiệu quả và tác động của nó, phân tích dưới góc độ các rủi ro mà chính sách gặp phải trong thực tiễn Đó là: kết quả đầu ra của thực hiện chính sách; hiệu quả đạt được của chính sách; các tác động dựa trên các kết quả đạt được
Khi nói chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số Bana, Hrê, Chăm ở Bình Định tức là nói đến các tác động (âm tính, dương tính, ngoại biên) của chính sách tới cư dân Bana, Hrê, Chăm Đó là làm rõ thái độ của cư dân đối với việc học tập, sử dụng tiếng Việt, TMĐ của họ Đánh giá tác động của CSNN dân tộc là xem xét các đối tượng của chính sách sẽ chịu tác động như thế nào Khi nói tác động của chính sách người ta thường nói đến: Tác động dương tính, tác động âm tính và tác động ngoại biên
- Tác động dương tính (tích cực) là tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính của chính sách là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt đến
- Tác động âm tính (tiêu cực) của chính sách là tác động dẫn đến kết quả ngược lại với mục tiêu của CSNN và chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc
- Tác động ngoại biên của chính sách là tác động dẫn đến những kết quả
Trang 31nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định chính sách Trong tác động ngoại biên có ngoại biên dương tính và ngoại biên âm tính Những tác động của CSNN và chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc đó là tác động về kinh tế, văn hóa - xã hội đối với dân tộc Bana, Hrê, Chăm
1.5 CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tôn trọng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc đảm bảo sự phát triển tự do
và bình đẳng của tất cả các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam Cương lĩnh đầu
tiên của Đảng khi mới thành lập năm 1930 đã đề ra chính sách “đoàn kết dân
tộc trên cơ sở những nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau đề giành lại độc lập và hạnh phúc chung cho các dân tộc” Khẳng định việc dùng tiếng
mẹ đẻ là quyền của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, coi vấn đề ngôn ngữ của các dân tộc là một nội dung của chính sách dân tộc
Từ khi thành lập Đảng đến nay đã có nhiều Văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, cùng các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự quan tâm đến bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa các DTTS, trong đó có việc dạy và học tiếng và chữ các DTTS Điều đó có thể thấy rõ trong những Văn kiện Đại hội, các Chỉ thị, Nghị Quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và Chính phủ Chẳng hạn, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ nhất (1935), Nghị quyết Trung ương (1941), Nghị Quyết Trung ương 7, Khóa X (ngày 5/8/2008); Chỉ thị 117/CT-TW ngày 29/9/1981 của Ban Bí thư Trung ương; Chỉ thị 68/CT-TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương ; các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; các bộ Luật: Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học 1991; Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 Bên cạnh các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp, các bộ Luật còn có hàng loạt các văn bản dưới luật (Nghị định, Quyết định, Chỉ thị ) của Chính phủ về ngôn ngữ và
Trang 32chữ viết các DTTS, như: Nghị định 206/CP ngày 27/11/1961 của Hội đồng Chính phủ; Quyết định 153/CP ngày 20/8/1969 về xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết của các DTTS; Quyết định 53-CP ngày 22/2/1980 của Chính
phủ về “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam… tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số Việt Nam vừa là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước”
Tôn trọng tiếng nói chữ viết DTTS, tạo điều kiện để tiếng nói chữ viết DTTS phát huy tác dụng như dùng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt, trong giáo dục, sử dụng chữ viết dân tộc thiểu số trong dạy học, đặt chữ viết, Latinh hóa chữ viết (chữ Thái, chữ Mèo), xuất bản sách báo bằng chữ dân tộc (chữ Thái)
“Tôn trọng tiếng nói và chữ viết của các dân tộc”, “cải thiện đời sống cho các dân tộc thiểu số, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong việc giáo dục các địa phương thiểu số” (Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 8/1952) Đó là:
+ Dân tộc thiểu số nào có sẵn chữ viết rồi thì “dùng chữ viết ấy mà dạy trong các trường của họ ở các lớp dưới (cấp I trường phổ thông)”
+ Dân tộc nào chưa có chữ viết thì có thể sử dụng chữ quốc ngữ để viết tiếng dân tộc hoặc đặt chữ Latinh “… dùng chữ quốc ngữ phiên âm tiếng địa phương để dạy học”; “Đặt chữ viết cho dân tộc đó theo cách viết Latinh cho
dễ học “Đặt chữ Latinh cho đồng bào dân tộc thiểu số” (Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV, miền Bắc Đông Dương Tập 9)
+ Đối với những dân tộc mà có chữ riêng như người Thái… thì cần ra sách, báo, truyền đơn… bằng chữ riêng của họ để dễ tuyên truyền giác ngộ họ (Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 16 tháng 8 năm 1952, thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Q.T) Theo đó, từ 1953, Bộ Giáo dục đã lần lượt giúp đỡ đồng bào Tày - Nùng, Mèo xây dựng chữ viết, giúp đỡ đồng bào Thái cải tiến chữ viết cũ
Trang 33Trong những năm gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã có các Quyết định 253/QĐ-TTg ngày 05/3/2003, Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/ 2004 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định về việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên
Thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ về ngôn ngữ dân tộc thiểu số, các bộ ngành, địa phương đã cụ thể hóa bằng các Quyết định, Thông
tư, Chỉ thị để chỉ đạo các đơn vị có liên quan thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ Đó là các văn bản của Bộ GD và ĐT, Bộ Nội vụ… chẳng hạn:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những thông tư cụ thể để triển khai chủ trương của Đảng và quyết định của Chính phủ về ngôn ngữ các dân tộc thiểu
số Đáng chú ý là các Thông tư ngày 3 tháng 2 năm 1997 số GDĐT về hướng dẫn việc dạy tiếng nói chữ viết dân tộc thiểu số
01/1997/TT Năm 2006, Bộ GD&ĐT còn ban hành hàng loạt các Quyết định liên quan đến chương trình khung đào tạo tiếng dân tộc thiểu số cho giáo viên dạy tiếng dân tộc, chương trình học tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 02/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 24 tháng 1 năm 2006 về việc ban hành chương trình khung đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) gồm tiếng Chăm, tiếng Gia Rai, tiếng H'Mông, tiếng Khmer, Quyết định số 29/2006/QĐ-BGDĐTngày 04 tháng 7 năm 2006 về việc ban hành chương trình tiếng Chăm dùng để đào tạo giáo viên dạy tiếng Chăm cho cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi; Quyết định số 37/2016/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2006 về việc ban hành chương trình tiếng Gia Rai dùng để đào tạo giáo viên dạy tiếng Gia
Trang 34Rai cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi; Quyết định số 46/2016/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 10 năm 2006 về việc ban hành chương trình tiếng Khmer dùng để đào tạo giáo viên dạy tiếng Khmer cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình cấp tiểu học các tiếng Êđê, Chăm, H'Mông,Gia rai, Ba Na, Khơ me: Quyết định số 48/2007/ QĐ/BGDĐT ngày 29/8/2007 về việc ban hành chương trình tiếng Êđê cấp tiểu học; Quyết định số 48/2007/QĐ/BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2008 ban hành chương trình tiếng Chăm cấp tiểu học; Quyết định số 75/2008/ QĐ/BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2008 về việc ban hành chương trình học tiếng H'Mông cấp tiểu học; Quyết định số 76/2008/QĐ/BGDĐT ngày 29 tháng 8 năm 2008 về việc ban hành chương trình học tiếng Gia rai cấp tiểu học; Quyết định số 77/2008/QĐ/BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2008 về việc ban hành tạm thời chương trình tiếng Khmer ở tiểu học và trung học cơ sở; Quyết định số 981/QĐ-BNV ngày 29/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về lựa chọn tiếng DTTS và giao cho các tỉnh biên soạn tài liệu đào tạo tiếng DTTS cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi;
- Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, Đài phát thanh - truyền hình của các tỉnh đã quyết định phát sóng bằng tiếng dân tộc Chẳng hạn, ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, Đài tiếng nói Việt Nam đã có Quyết định số 215/QĐ/ĐFT ngày 28 tháng 8 năm 1980 của Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam về việc thành lập Phòng phát thanh chương trình tiếng Khmer; từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 chương trình phát thanh tiếng Chăm được phát trên đài tiếng nói Việt Nam; ngày 08 tháng 06 năm
2004 Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam đã ký quyết định số THVN về ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ban truyền hình tiếng dân tộc chương trình VTV5, đó là phát sóng tiếng dân
Trang 35622/QĐ-tộc (Thái, H'Mông, Khmer, Gia rai, Cơ ho, Ê đê, Xơ đăng ); các đài phát thanh truyền hình địa phương cùng xây dựng chương trình phát sóng bằng tiếng dân tộc
Bên cạnh đó, có các văn bản, Chỉ thị của các cấp ủy đảng, các cơ quan chính quyền địa phương cấp tỉnh, thành, huyện… liên quan đến vấn đề dạy-học ngôn ngữ và chữ viết các DTTS trong trường phổ thông cũng như các cơ
sở giáo dục thường xuyên và cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc
và miền núi ở các địa phương Một số địa phương còn chủ động xây dựng chữ viết cho một số dân tộc thuộc địa bàn của tỉnh mình và sử dụng chữ viết đó không chỉ trong dạy học mà trong phát sóng bằng tiếng dân tộc, trong biên soạn từ điển song ngữ Việt - tiếng dân tộc Ví dụ: tại Bình Định đã xây dựng chương trình phát sóng tiếng Bana, Hrê, Chăm của tỉnh Bình Định; xây dựng
bộ chữ Bana, Hrê, Chăm riêng Cho thấy, tinh thần chung của các văn bản trên thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Chính phủ và tổ chức Đảng, Chính quyền các cấp đối với vấn đề sử dụng, bảo tồn, phát huy ngôn ngữ DTTS và thực hiện giáo dục song ngữ cho các DTTS, đó là:
+ Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng và chú ý bảo tồn, phát huy vốn ngôn ngữ và văn hóa DTTS Điều này thể hiện trong các Hiến pháp, các bộ Luật về giáo dục
+ Việc giảng dạy tiếng nói, chữ viết DTTS được thực hiện song song với giáo dục tiếng Việt trong nhà trường phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên
1.6 VÀI NÉT VỀ TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ DÂN TỘC BANA, HRÊ, CHĂM
1.6.1 Vài nét về tỉnh Bình Định
Tỉnh Bình Định nằm ở Duyên Hải miền Trung Việt Nam với diện tích 6.057km2 Dân số Bình Định theo kết quả điều tra dân số ngày 01 tháng 04 năm 2019 là 1.486,918 người dân (trong đó nam 732.087 người, chiếm 49,23%; nữ 754.831 người chiếm 77%)
Trang 36Về vị trí địa lý: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai còn phía Đông giáp biển Đông Bình Định được xem là cửa ngõ của các tỉnh Tây Nguyên Bình Định có 11 đơn vị hành chính: thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ, 02 thị xã An Nhơn, Hoài Nhơn và 08 huyện gồm Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão (miền núi), Tây Sơn, Hoài Ân (Trung du), Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ (đồng bằng) Toàn tỉnh có 159 xã, phường, thị trấn (chi tiết xin xem bản đồ tỉnh Bình Định tại phụ lục 1)
Toàn tỉnh Bình Định hiện có 10.813 hộ dân tộc thiểu số, với khoảng 41.768 người, chiếm 2,8% dân số toàn tỉnh, với 40 dân tộc thiểu số, trong đó
có 3 dân tộc cư trú lâu đời là Bana có 21.650 người (chiếm 51,86%), Chăm có 6.364 người (chiếm 15,2%), Hrê có 11.112 người (chiếm 26,6%) [4]… Bên cạnh đó, có một số dân tộc có dân số ít nhất như: Kháng, Xinh Mun, Chu Ru, Chút, Bố Y, Rơ Măm… Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tập trung theo cộng đồng làng, thôn thuộc 6 huyện: An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Ân, Tây Sơn và Phù Cát Chi tiết dân số các địa phương đến dưới đây:
Bảng1: Dân số dân tộc thiểu số chia theo đơn vị hành chính, giới tính ngày 01/4/2019
Trang 371.6.2 Vài nét về dân tộc Bana
Người Bana cư trú ở các tỉnh KonTum, Gia Lai, Bình Định và Phú Yên Tại Kon Tum, người Bana cư trú tập trung tại 15 làng quanh thị xã Kon Tum như Kon Hơ ngo, Kon Rơ Bang, Kon Rơ Pắt, Kon Rơ Hai, Kon Kơ Lo
Ở Gia Lai, người Ba na tập trung tại Măng Giang, An Khê (Kơ Bang), Giang Trung, Giang Nam, Bơ Goong Tại Bình Định, người Bana cư trú tập trung tại các xã huyện Vĩnh Thạnh và một số xã thuộc huyện Vân Canh, An Lão và Hoài Ân
Người Bana thuộc nhóm Môn Khơ me Về mặt dân tộc học, người Bana phân thành các nhánh Gơ la, Tơ Lô, Giơ Lâng, Kon Kơđeh, A La Kông,
Kơ Pơng Kông, Kriêm Về mặt ngôn ngữ, tiếng Bana về cơ bản thống nhất trong cơ cấu ngữ âm, ngữ pháp Tuy nhiên, do quá trình biến đổi lịch sử, do tiêp túc với ngôn ngữ khác nhau, tiếng nói của mỗi nhóm địa phương có sự khác biệt về cách phát âm và một số về từ vựng Các phương ngữ chính tiếng Bana gồm: Bana Kon Tum, Bana An Khê và Bana Tơ lo, Bana Kon Kơđeh, Bana Kriêm; giữa các phương ngữ trên, tìm thấy sự khác biệt rõ rệt giữa Bana Kontum, Bana Gia Lai (An Khê) và Bana Bình Định (Bana Kriêm)
Ở Bình Định người Bana cư trú tại các xã thuộc huyện Vĩnh Thạnh và một số xã thuộc Vân Canh, An Lão và 3 xã ở huyện Hoài Ân, trong đó tập trung ở huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh Theo cuốn sách “Văn hóa các DTTS tỉnh Bình Định” của Ban Dân tộc và miền núi tỉnh phát hành [2] thì người Bana ở Hoài Ân mới từ Vĩnh Thạnh chuyển sang, nhóm Bana ở Vân Canh, do điều kiện cư trú đã chịu nhiều ảnh hưởng về văn hóa, ngôn ngữ của cư dân Chăm Hroi Vì vậy, người Bana Vân Canh còn được gọi là Bana Chăm Hroi, Bana Chăm Về nguồn gốc người Bana, có ý kiến cho rằng, họ vốn là cư dân
Ma Đa mà bia kí Chăm đã nói đến Người Bana ở huyện Vĩnh Thạnh còn giữ được nhiều nét văn hóa tộc người đặc thù hơn cả Người Bana ở Vĩnh Thạnh,
Trang 38An Lão, một số xã ở Hoài Ân thuộc nhóm Bana Kriêm Theo đồng bào Ba na
ở Vĩnh Thạnh, tên gọi Kriêm, ban đầu là con sông Đăc Kriêm; người Bana Kriêm - người Bana sống quanh con sông Kriêm, ở vùng thấp Người dân Bana Kriêm cũng cho rằng, về nguồn gốc, người Bana Kriêm vốn từ khu vực Gia Lai chuyển đến
1.6.3 Vài nét về dân tộc Hrê
Người Hrê cư trú tập trung ở Quãng Ngãi và huyện An Lão tỉnh Bình Định Người Hrê còn có các tên gọi khác như Chăm Hrê, Đá Vách Hrê vốn là tên gọi đoạn thượng nguồn sông Trà Khúc Dân tộc Hrê cư trú tương đối tập trung, có quá trình cố kết dân tộc mạnh mẽ Điều đó được phản ánh qua sự thống nhất về tên gọi Hrê, về phong tục, tập quán, tiếng nói Sự khác biệt về tiếng nói giữa các vùng (chẳng hạn tiếng Hrê ở An Lão tỉnh Bình Định và Hrê
ở Ba Tơ, Minh Long, Sơn Trà… tỉnh Quảng Ngãi hầu như không có sự khác biệt) Dân tộc Hrê thuộc nhóm Bana dòng Môn Khơ me, họ Nam Á
Ở Bình Định, người Hrê tập trung ở huyện An Lão, Đây là địa bàn với khu vực cư trú của người Hrê ở Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long, Trà Bồng, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành thuộc tỉnh Quảng Ngãi Địa bàn An Lão được người dân coi là khu vực cư trú lâu đời của họ Trong vốn văn học dân gian của người Hrê vẫn nhắc đến các địa danh quen thuộc như núi Mùn, Rin và xem đó là vùng đất khởi thủy của dân tộc Người Hrê ở Bình Định, Quảng Ngãi trong sinh hoạt kinh tế có một điểm khá đặc thù là bên cạnh canh tác nương rẫy,
dân tộc này từ rất sớm đã biết canh tác lúa nước theo phương pháp “dẫn thủy
nhập điền”
1.6.4 Vài nét về dân tộc Chăm
Người Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên có mối quan hệ mật thiết với nhau và có một quá trình phát triển vừa chung, vừa riêng rất đáng được chú ý trong cộng đồng Chăm (Chàm) trên phạm vi cả nước
Trang 39Ở Bình Định, người Chăm cư trú tập trung ở huyện Vân Canh Ở huyện Vân Canh, người Chăm sống xen cư với người Bana và người Kinh Người Chăm ở huyện Vân Canh tỉnh Bình Định có khá nhiều tên gọi và tên tự gọi khác nhau: Chăm Hroi, Hroi, A roi, Chăm ĐắcRây, Chăm Hơđang, Chăm Đèo… Theo đồng bào Chăm ở Vân Canh, Chăm Hroi (hay Hroi, A roi) chỉ là những người Chăm ở vùng cao, là người Chăm ở vùng núi Chăm ĐắcRây hay Chăm Hơđang là Chăm phía mặt trời mọc Đồng bào Chăm giải thích: Trước kia người Chăm sống ở vùng thấp, vùng mặt trời mọc, sau đó họ mới chuyển lên vùng cao (vùng có tên là Hroi) Hiện nay người Chăm ở Vân Canh rất tự hào khi gắn ý nghĩa Chăm với nghĩa “Chăm mặt trời mọc” Còn Chăm Đèo (không có nghĩa chỉ người Chăm ở bên kia đèo) mà tên người Chăm ở Phú Yên gọi người Chăm ở Vân Canh… Hiện nay trong giới khoa học chưa
có một kết luận chắc chắn về nguồn gốc người Chăm ở Bình Định và ở Phú Yên Giới khoa học khẳng định người Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên là một bộ phận trong cộng đồng Chăm (Chàm) ở Việt Nam Người Chăm Hroi vẫn duy trì xã hội mẫu hệ truyền thống như Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận nhưng không theo đạo Bà La Môn, Ba Ni cũng như Ix lam mà theo tín ngưỡng Đa thần Ở nhóm Chăm Hroi không có tục hỏa táng như Chăm ở Ninh Thuận Cũng như các dân tộc Tây Nguyên, người Chăm Hroi còn lưu giữ bộ nhạc cụ cồng chiêng và trong đời sống văn hóa của người Chăm Hroi, sinh hoạt cồng chiêng có vị trí quan trọng
Tiểu kết chương 1
Chương 1, giới thiệu một số vấn đề chung của đề tài, đó là:
1 Các khái niệm và cơ sở lý luận về ngôn ngữ học xã hội Đó là các khái niệm liên quan đến chính sách: chính sách, chính sách công, chính sách ngôn ngữ, ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng mẹ đẻ), ngôn ngữ tộc người, ngôn ngữ quốc gia;
Trang 40kế hoạch hóa ngôn ngữ, mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ và kế hoạch hóa ngôn ngữ (kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ, kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ,
kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ), vấn đề chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Đối với quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ thì vấn đề CSNN là một công việc hết sức quan trọng Bên cạnh đó, luận văn còn giới thiệu về vấn đề cảnh huống ngôn ngữ và giao tiếp ngôn ngữ, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với ngôn ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số Đây là những khái niệm, nội dung mang tính lý luận cơ bản và hết sức cần thiết để vận dụng trong quá trình phân tích, đánh giá các chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số, đặc biệt là cư dân Bana, Chăm và Hrê ở tỉnh Bình Định
2 Ngoài ra, luận văn còn giới thiệu và đưa ra một số vấn đề chung trên
cơ thực tiễn khi thực hiện đề tài Đó chính là một số nét cơ bản về chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với ngôn ngữ DTTS cũng như những đặc điểm về người Bana, Chăm, Hrê ở Bình Định Các cơ sở này sẽ lý giải
nguyên nhân vì sao người viết lựa chọn đề tài Chính sách ngôn ngữ đối với
dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định (Bana, Chăm, Hrê)