(Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam (Bài thảo luận) Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỞI CẢM ƠN 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH PHƯƠNG THỨC GIA CÔNG QUỐC TẾ 3
1.1 Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Đặc điểm 3
1.2 Ưu và nhược điểm của gia công quốc tế 3
1.2.1 Ưu điểm 3
1.2.2 Nhược điểm 3
1.3 Các loại hình gia công quốc tế 3
1.4 Vai trò của gia công quốc tế 4
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIA CÔNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 5
2.1 Thực trạng chung 5
2.1.1 Thực trạng chung 5
2.1.2 Thực trạng các ngành tiêu biểu thực hiện gia công quốc tế ở Việt Nam 7
2.1.2.1 Thực trạng gia công quốc tế của ngành dệt may Việt Nam 7
2.1.2.2 Thực trạng gia công quốc tế của ngành da - giày Việt Nam 10
2.2 Những thuận lợi hạn chế trong việc gia công quốc tế ở Việt Nam 12
2.2.1 Thuận lợi 12
2.2.2 Khó khăn 13
2.3 Nhận xét 15
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 16
3.1 Giải pháp đối với các công ty thực hiện gia công 16
3.2 Giải pháp đối với nhà nước 17
KẾT LUẬN 18
Trang 2LỞI CẢM ƠN
“Không ai đơn độc đứng trên đỉnh thành công” Quả đúng như vậy, trong bất kể vấn đề gì trong cuộc sống, sẽ chẳng thể làm tốt nhất nếu như không có sự đồng hành, giúp đỡ của mọi người dù nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp Vì vậy qua bài thảo luận này nhóm 14 chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ của cô Nguyễn Vi Lê cũng các bạn trong nhóm đã cùng nhau làm việc với nhau một cách hiệu quả nhất Chúng em cũng cảm ơn tác giả các bài viết, bài báo cáo đã chia sẻ các thông tin lên mạng xã hội để chúng em có cái nhìn rộng hơn về đề tài được giao cũng như hiểu biết hơn về thực tế gia công quốc tế ở Việt Nam
Tuy nhóm chúng em đã có nhiều có gắng nhưng vì kiến thức còn hạn chế về học phần nên trong quá trình làm bài thảo luận không tránh khỏi những thiếu sót Chúng
em mong rằng cô và các bạn quan tâm và có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Gia công quốc tế ngày nay là phương thức giao dịch khá phổ biến trong buôn bán quốc tế của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong nước và có thể nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, giúp họ phần nào trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng hình thức này để đạt được một nền công nghiệp hiện đại
Tại Việt Nam, gia công quốc tế hiện nay đang ngày càng có vai trò lớn hơn trong nền kinh tế bởi những lợi ích nó đem lại Đứng trên vị trí là nước nhận gia công, hoạt động này đã giải quyết được rất nhiều công ăn việc làm cho người dân Việt Nam và mang lại nguồn thu không nhỏ cho nước nhà Bên cạnh đó, gia công quốc tế còn giúp Việt Nam học hỏi được kinh nghiệm, có cơ hội tiếp xúc với những công nghệ máy móc hiện đại, tạo tiền đề cho việc phát triển trong tương lai của đất nước Lợi ích mà gia công quốc tế đem lại là không thể phủ nhận Vì thế, với đề tài “Thực trạng gia công quốc tế tại Việt Nam”, chúng tôi sẽ làm rõ những kiến thức cơ bản nhất cũng như thực trạng của gia công quốc tế tại Việt Nam hiện nay, từ đó góp phần tìm ra cách giải quyết cho những bất cập còn lại
Trang 4CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH PHƯƠNG THỨC GIA CÔNG QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công
sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài
1.1.2 Đặc điểm
- Gia công quốc tế luôn gắn liền với hoạt động xuất nhập khẩu Bên đặt gia công quốc tế chuyển giao nguyên vật liệu để bên nhận gia công chế tạo thành thành phẩm
và xuất trả lại cho bên đặt gia công Chuỗi hoạt động đó liên quan đến các nghiệp vụ xuất khẩu và nhập khẩu nên có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất gia công và ngoại thương
- Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ thông qua hàng hóa
- Gia công quốc tế là phương thức buôn bán hai đầu ở ngoài (nhìn dưới góc độ bên nhận gia công)
1.2 Ưu và nhược điểm của gia công quốc tế
1.2.1 Ưu điểm
- Không phải bỏ nhiều chi phí, vốn đầu tư, ít chịu rủi ro
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
- Có điều kiện học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp cận với công nghệ kỹ thuật của nước khác
1.2.2 Nhược điểm
- Tính bị động cao
- Nguy cơ biến thành bãi rác công nghệ
- Quản lý định mức gia công và thanh lý hợp đồng không tốt sẽ tạo lỗ hổng đưa hàng trốn thuế vào Việt Nam
- Giá trị gia tăng thấp
1.3 Các loại hình gia công quốc tế
Căn cứ theo quyền sở hữu nguyên liệu
Trang 5-Nhận nguyên liệu trả thành phẩm
-Mua nguyên liệu, bán lại thành phâm
-Hình thức kết hợp
Căn cứ theo giá gia công
-Thanh toán theo dạng thực chi thực thanh
-Thanh toán theo hình thức khoán
Căn cứ theo số bên tham gia gia công
-Gia công hai bên
-Gia công nhiều bên( gia công chuyển tiếp)
1.4 Vai trò của gia công quốc tế
Đối với bên đặt gia công
Gia công quốc tế có vai trò góp phần giảm chi phí sản xuất khi đa số các bên đặt gia công thường là các doanh nghiệp, tập đoàn các nước có nền kinh tế phát triển mà nguồn nhân lực lao động đắt đỏ Vì vậy họ đặt gia công với các đối tác nước ngoài nhằm khai thác được nguồn nhân lực rẻ mặt ở các quốc gia thuộc bên nhận gia công Không những thế gia công quốc tế còn giúp họ kiếm được nhiều lợi nhuận từ việc chuyển giao công nghệ cho đối tác
Đối với bên nhận gia công
- Giải quyết việc làm cho nhân dân lao động trong nước
- Tiếp xúc được các máy móc công nghệ mới, tiên tiến phụ vụ cho sản phẩm nhằm mục đích tiếp cận xây dựng cho nước mình có nền công nghiệp tiên tiến hơn
- Giúp bên nhận gia công nâng cao được trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho nhân viên Dần tiến lên tạo dựng mối quan hệ, quảng bá thương hiệu của mình để chuyển dần sang sản phẩm xuất khẩu trực tiếp không còn bị phụ thuộc vào bên đặt gia công
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIA CÔNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng chung
2.1.1 Thực trạng chung
Ngày nay gia công quốc tế khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công.Đối với bên nhận gia công,phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về cho nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc,Thái Lan, Singapo…
Đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì chiến lược phát triển đất nước dựa vào các nguồn lực có sẵn của đất nước là rất cần thiết Với dân số gần 97 triệu dân, đây là một nguồn lực dồi dào cho nên nếu được khai thác tốt sẽ là nguồn lực giúp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, số lượng lao động tuy nhiều nhưng chất lượng lao động lại chưa cao,cho tới nay chỉ khoảng 11% lực lượng lao động được đào tạo chuyên môn Do đó vấn đề đặt ra là phải đầu tư vào các ngành sử dụng lao động nhiều nhưng không đòi hỏi chất lượng lao động quá cao Phát triển gia công xuất khẩu và sử dụng các trung gian là một bước để các doanh nghiệp Việt Nam tích lũy kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường quốc tế giúp nâng cao tay nghề và kiến thức cho người lao động, tiếp cận và học hỏi các kiểu quản lý mới, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước, góp phần thúc đẩy nhanh công việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ở Việt Nam, hầu hết đang áp dụng phương thức gia công nhận nguyên vật liệu, giao thành phẩm Do trình độ kỹ thuật, máy móc trang thiết bị của nước ta còn khá đơn giản, chưa đủ điều kiện để cung cấp nguyên vật liệu, mẫu mã đáp ứng được nhu cầu quốc tế, nên việc phải phụ thuộc vào của nước ngoài là điều không thể tránh khỏi Phương thức này có kiểu dạng một vài điểm trong thực tế, đó là bên đặt gia công có thể chỉ giao một phần nguyên vật liệu, còn lại họ giao cho bên nhận gia công tự đặt mua tại các nhà cung cấp mà họ đã chỉ định sẵn trong hợp đồng
Kinh tế gia công là lựa chọn tốt hơn của Việt Nam so với kinh tế công xưởng
Trang 7Trong kinh tế học có 2 khái niệm gần giống nhau: “Economies of scale” và
“Economies of scope” Hai khái niệm này không có gì mới mẻ, chúng đã được K Marx phân tích kỹ lưỡng trong tác phẩm “Tư bản” từ lâu Nguyên tắc “Economies of scale” (sản xuất số lượng càng lớn thì giá thành càng giảm) là nguyên nhân chính dẫn đến hình thức phân công lao động quốc tế, trong đó mỗi nước chỉ tham gia vào một công đoạn nào đó, sản xuất với số lượng lớn, cung cấp cho các nước khác – tức là nền kinh tế gia công quy mô toàn cầu Chính vì thế tham vọng tự mình bao trọn gói mọi công đoạn sản xuất của Việt Nam trong thời điểm hiện tại là hoàn toàn phi kinh tế Nó may ra chỉ có thể áp dụng ở một vài nước cá biệt như Trung Quốc, Mỹ, Nga,… các nước phát triển lớn cần sản xuất những mặt hàng cần nguồn lao động trình độ cao Điều này cũng lý giải vì sao công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất khó phát triển Nguyên tắc economies of scope có nghĩa là quy mô nhà máy càng lớn thì chi phí trên mỗi sản phẩm càng giảm Đối với Việt Nam- một đất nước có nguồn tài nguyên đất đai phát triển ở các tỉnh thành phố thì việc triển khai các nhà máy quy mô lớn sẽ dễ dàng hơn với chi phí hợp lý Chính hai nguyên tắc này đã quyết định xu hướng phân công lao động theo hình thức gia công ở tầm toàn cầu và Việt Nam không nằm trong ngoại lệ với những ưu điểm lớn khi thành quốc gia gia công được nhiều quốc gia phát triển lựa chọn
Gia công có ảnh hưởng đến nhập siêu của Việt Nam không?
Nếu tự mình làm lấy hết mọi việc thì có thể giảm nhập khẩu Tuy nhiên việc giảm này không ảnh hưởng gì tới cán cân thương mại; tức là không phải vì thế mà giảm nhập siêu
Việt Nam nhập siêu không phải vì gia công, còn Trung Quốc có thặng dư thương mại không phải vì họ có nền kinh tế công xưởng
Việt Nam bị nhập siêu vì là nước nghèo, mới bắt đầu công nghiệp hóa Để công nghiệp hóa thì phải xây dựng hệ thống hạ tầng Muốn thế thì cần có tiền Việt Nam không có tiền nên phải vay nước ngoài, sau đó dùng tiền này nhập khẩu máy móc, vật
tư để xây dựng hạ tầng cơ sở Mà hạ tầng cơ sở lại là những thứ không trực tiếp làm ra hàng hóa xuất khẩu để cân bằng lại cán cân thương mại, do đó mà có nhập siêu
Trang 82.1.2 Thực trạng các ngành tiêu biểu thực hiện gia công quốc tế ở Việt Nam 2.1.2.1 Thực trạng gia công quốc tế của ngành dệt may Việt Nam
Hiện nay, hoạt động gia công quốc tế đang là hoạt động chính trong ngành Dệt may của Việt Nam trong nhiều năm qua Từ nhiều năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình thức gia công cho nước ngoài (xuất gia công) và xuất hàng sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu (xuất sản xuất xuất khẩu) Gia công quốc
tế đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, giúp ngành dệt may trở thành ngành xuất khẩu dẫn đầu nước Có thể thấy được rằng tỷ trọng xuất gia công các sản phẩm trong ngành dệt may Việt Nam rất cao
Năm
Kim ngạch xuất
Tỷ trọng hàng gia
Kim ngạch và tỷ trọng xuất gia công qua một số năm
Nguồn: Tập đoàn dệt may Việt Nam
Năm 2018, ngành Dệt may Việt Nam đánh dấu mốc quan trọng khi kim ngạch xuất khẩu đạt trên 36 tỷ USD, tăng trưởng hơn 16% so với năm 2017 (năm 2015 tăng 12,1%, năm 2016 tăng 4,07%, năm 2017 tăng 10,8%) Ngành Dệt may Việt Nam nằm trong tốp 3 nước xuất khẩu cao nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Cụ thể, năm 2018, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,78 tỷ USD, tăng 14,45%; xuất khẩu vải đạt 1,66 tỷ USD, tăng 25,5%; xuất khẩu xơ sợi đạt 3,95 tỷ USD, tăng 9,9%; xuất khẩu vải không dệt đạt 528 triệu USD, tăng 15,54%; xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 1,23 tỷ USD, tăng 14,59%, đáng chú ý, giá trị thặng dư ngành Dệt may năm 2018 ước đạt 17,86 tỷ USD, tăng 14,39% Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, ngành Dệt may đã nắm bắt xu hướng muốn phát triển bền vững thì tiên quyết phải thoát cảnh thuần túy gia công - mua nguyên liệu, bán thành phẩm (CMT sang FOB), tự thiết kế bán hàng (ODM) hay sở hữu nhãn hàng riêng (OBM)
Trang 9Theo Báo cáo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế thế giới có xu hướng tăng chậm lại do những biến động và xung đột chính trị, thương mại, đặc biệt chính sách bảo hộ, chiến tranh thương mại gia tăng ngày càng phức tạp, khó lường, nhưng ngành dệt may đạt tổng kim ngạch xuất khẩu gần 18 tỷ USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm 2018
Một số DN trong Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã đạt được kết quả khả quan Tuy vậy, con số này rất khiêm tốn, chỉ những công ty có nguồn vốn, quy mô lớn,
còn trên 80% DN nhỏ và vừa vẫn thuần gia công Nguyên nhân là do còn tồn tại một
số hạn chế như: Nguồn nguyên phụ liệu hầu hết phụ thuộc vào nước ngoài, phương thức gia công xuất khẩu là chủ yếu (chiếm 65%), hàng FOB 25%, ODM và OBM chỉ chiến tỷ trọng 10%
Hơn nữa, tăng trưởng xuất khẩu dệt may vẫn dựa vào sản xuất gia công và nhân công giá rẻ, trong khi đó, 2 yếu tố này không bền vững Bởi theo quy luật chung, sản xuất gia công sẽ chuyển dịch về các quốc gia có nguồn nhân công giá rẻ hơn, trong khi
đó chi phí cho lao động của Việt Nam ngày càng tăng
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng là việc áp dụng khoa học công nghệ trong ngành Dệt may còn hạn chế Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách công thương (Bộ Công Thương) năm 2018, tỷ lệ sử dụng thiết bị công nghệ có trình độ cao, nhất là sử dụng phần mềm trong thiết kế sản phẩm, quản lý sản xuất chiếm khoảng 20%; 70% thiết bị có công nghệ trung bình; 10% công nghệ thấp
Thị trường gia công:
Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác gia công hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm
2014, kim ngạch xuất gia công hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ đạt hơn 4,57 tỷ USD, tăng 15,8%, chiếm 48,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; thị trường EU đạt gần 1,49 tỷ USD, tăng 27,7% và chiếm 15,9% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước; Nhật Bản đạt gần 1,17 tỷ USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2013
Trong thời điểm cả thế giới đối mặt với dịch bệnh Covid-19, ngành dệt may đã nhanh chóng thích nghi với các điều kiện thị trường, đảm bảo duy trì sản xuất, kịp thời chuyển đổi cơ cấu mặt hàng, bảo đảm việc làm, thu nhập ổn định cho hàng triệu người lao động Năm 2020, dưới tác động tiêu cực của dịch Covid-19 từ cả phía cung và phía
Trang 10cầu, dệt may là một trong những ngành chịu thiệt hại trực tiếp lớn nhất cùng với ngành
du lịch, hàng không, da giày Với sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ của thị trường Mỹ và châu Âu trong bối cảnh thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cũng đã tác động rất lớn đến tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam (thị trường Mỹ và hâu Âu lần lượt chiếm khoảng 45% và 18% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may) Kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt may năm 2020 ước đạt 35,27 tỷ USD, giảm 9,29%
so với năm 2019 Tuy nhiên, đây vẫn là mức rất tích cực trong bối cảnh tổng cầu dệt may thế giới giảm 25%
Trong giai đoạn vừa qua, ngành dệt may Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, tận dụng tốt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết như: FTA Việt Nam
- Hàn Quốc, Việt Nam - EAEU, CPTPP, EVFTA… Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 28,1 tỷ USD, nhưng đến năm 2019 đã đạt 38,9 tỷ USD, tăng trưởng bình quân đạt 9,55% Đặc biệt, giá trị xuất siêu có sự tăng nhanh: năm 2016 đạt 11,1 tỷ USD, năm 2019 đạt 16,9 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam
từ chỗ năm 2016 đứng thứ 4 thế giới, sau Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ thì đến năm
2019 đã vượt lên trên Ấn Độ, đứng thứ 3 thế giới
(Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và 5 năm 2016-2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 ngành công thương của Bộ Công Thương)
Cơ cấu mặt hàng gia công:
Hàng gia công ngành dệt may Việt Nam ngày càng có nhiều chủng Với thị trường xuất gia công rộng, rõ ràng Việt Nam đang trở thành nhà cung cấp hàng may mặc cạnh tranh trên thế giới Nhưng Việt Nam vẫn chỉ cạnh tranh xuất gia công ở những mặt hàng tương đối hẹp, những sản phẩm may mặc mà đang xuất gia công chủ yếu là các sản phẩm từ bông và sợi tổng hợp cho phân khúc thị trường cấp trung và cấp thấp Theo số liệu về chủng loại các mặt hàng xuất khẩu năm 2013 cho thấy, hơn 60% giá trị xuất gia công của ngành may mặc là từ áo sơ mi, áo khoác, quần dài và quần áo thể thao Các sản phẩm từ dệt kim như quần áo lót, áo thun được sản xuất với khối lượng và giá trị xuất khẩu vẫn còn tương đối nhỏ Các sản phẩm cao cấp như váy,
đồ vest được xuất gia công với số lượng rất hạn chế