1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án: Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.Tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-PHAN TẤN LỰC

TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH CÁCH, GIÁO DỤC VÀ KINH NGHIỆM ĐẾN

Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 9340101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2021

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học:

1.PGS TS Phạm Xuân Lan

2.PGS TS Bùi Thanh Tráng

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại:

Vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm …

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: ………

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1. Phan Tan Luc, Pham Xuan Lan & Angelina Nhat Hanh Le (2019) A Systematic Literature Review

on Social Entrepreneurial Intention Journal of Social Entrepreneurship, 1-16 DOI:

10.1080/19420676.2019.1640770 (Scopus Q2)

2. Phan Tan Luc, Pham Xuan Lan, Angelina Nhat Hanh Le & Bui Thanh Trang (2020) A Co-Citation

and Co-Word Analysis of Social Entrepreneurship Research, Journal of Social Entrepreneurship,DOI: 10.1080/19420676.2020.1782971 (Scopus Q2)

3. Phan Tan Luc, Pham Xuan Lan & Bui Thanh Trang (2020) Personality Traits and Social

Entrepreneurial Intention: The Mediating Effect of Perceived Desirability and Perceived Feasibility

The Journal of Entrepreneurship DOI: 10.1177/0971355720974811 (Scopus Q2).

Trang 4

sử, mở ra một chương mới cho cộng đồng doanh nghiệp Việt khi lần đầu tiên khai sinh khái niệm DNXHchính thức trong hệ thống pháp lý Những doanh nghiệp này giúp cải thiện cuộc sống cho hơn 600,000người, đa số là người dân ở vùng sâu, những lao động khuyết tật, dân tộc thiểu số và tạo việc làm cho hơn100,000 người ở nhiều lĩnh vực khác nhau (CSIP, 2018) Ngoài ra, tinh thần KSKDXH cũng bắt đầu đượclan rộng trong cộng đồng Các khái niệm về DNXH, KSKDXH cũng bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâmcủa giới trẻ, các doanh nhân thương mại, các nhà tài trợ…

Về mặt học thuật, tác giả thực hiện tìm kiếm cụm từ social entrepreneurship trong trường chủ đề (tiêu đề/tóm tắt/ từ khóa) trên các cơ sở dữ liệu uy tín Kết quả tìm kiếm ban đầu có 1,670 ấn phẩm Trong số này, có

392 ấn phẩm bị loại trùng lắp nội dung hoặc chúng không liên quan đến KSKDXH Kết quả là, còn lại 1,278

ấn phẩm được chọn để phân tích các chủ đề trong KSKDXH bằng phương pháp đồng trích dẫn Đồng tríchdẫn (co-citation) được định nghĩa là tần suất hai ấn phẩm được trích dẫn cùng nhau bởi các ấn phẩm khác(Small, 1973) Tác giả sử dụng phần mềm VOSViewer (van Eck và Waltman, 2009; Waltman, 2017) đểphân tích đồng trích dẫn 1,278 ấn phẩm này Kết quả phân tích đồng trích dẫn cho thấy các ấn phẩm vềKSKDXH hình thành năm nhóm chủ đề (Hình 1.1)

(Nguồn: kết quả phân tích đồng trích dẫn của tác giả)

Hình 1.1 Các nhóm nghiên cứu trong chủ đề KSKDXH

Sự phát triển khái niệm KSKDXH và DNXH

KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI

Trang 5

Nhóm nghiên cứu đầu tiên là sự phát triển khái niệm KSKDXH và DNXH, tập trung vào xây dựng cáckhái niệm và các cách tiếp cận khác nhau về KSKDXH và DNXH Nhóm nghiên cứu thứ hai đề cập đếnbricolage và các vấn đề liên quan đến quản lý trong KSKDXH Bricolage trong KSKDXH bao gồm các hoạtđộng được thúc đẩy bởi việc theo đuổi các nguồn lực khan hiếm để tạo ra các giải pháp sáng tạo và có giá trị,tạo ra các giá trị xã hội (Bacq và cộng sự, 2015) Các khía cạnh khác nhau của bricolage được xem xét trongnhóm nghiên cứu này Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến quản trị trong DNXH cũng được xem xét nhưchiến lược, sự hợp tác, huy động nguồn lực, công nghệ, quản lý tài chính, định hướng thị trường Nhómnghiên cứu thứ ba bao gồm các nghiên cứu về nhận thức cơ hội và YĐKSKDXH, giải thích quá trình xácđịnh cơ hội và hình thành YĐKSKDXH Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến YĐKSKDXH cũng là hướngnghiên cứu chính trong nhóm nghiên cứu này Nhóm nghiên cứu thứ tư giải thích cách thức DNXH tác độngđến xã hội để tạo ra đổi mới xã hội, thay đổi xã hội và giá trị xã hội Nhóm nghiên cứu cuối cùng đề cập đếnvai trò của các yếu tố thuộc về bối cảnh, thể chế, thảo luận về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đếnKSKDXH.

Từ lược khảo về KSKDXH đã thực hiện ở trên, có thể thấy nhóm nghiên cứu về sự nhận thức cơ hội,động lực và ý định KSKDXH (nhóm 3) là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật minh chứngthông qua số lượng lớn các nghiên cứu trong nhóm này Tuy nhiên, hiện nay có một vấn đề đang được báođộng là mức độ KDXH vẫn rất thấp ở các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển như ViệtNam mặc dù tiềm năng của hình thức kinh doanh này tại Việt Nam vẫn là rất lớn Krueger (2003) giải thíchrằng kinh doanh chỉ có thể phát triển nếu chất lượng và số lượng doanh nhân tăng lên Chính vì vậy tăng sốlượng DNXH là mong muốn cấp bách để phát triển KDXH tại Việt Nam

Ý định kinh doanh là một trong những chỉ báo tốt nhất cho hành vi kinh doanh (Ajzen và Fishbein, 1980)

Do đó, để có thể có chiến lược phát triển KDXH, thì việc nghiên cứu YĐKSKDXH là vô cùng cần thiết.Hiện nay, tại Việt Nam đang có sự gia tăng về số lượng của các tổ chức hỗ trợ phát triển DNXH với nhiềuloại hình hỗ trợ khác nhau như cung cấp miễn phí các khóa học, đào tạo và dịch vụ tư vấn, gọi vốn Các tổchức có nhiều kinh nghiệm trong KSKDXH tại Việt Nam như Cộng đồng DNXH Việt Nam (SSEC), SeedPlanters, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP), HATCH! và Evergreen Labs Ngoài ra,một số cơ sở ươm tạo DNXH cũng được chính phủ thành lập như trung tâm đổi mới Sài Gòn (SiHUB),Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên (sYs), BKHUP và Chương trình Quốc gia khởi nghiệp cũnggóp phần phát triển KSKDXH tại Việt Nam Những đặc điểm này đã khiến Việt Nam trở thành một khu vựcphù hợp để thực hiện nghiên cứu về YĐKSKDXH

Về mặt học thuật, tác giả cũng thực hiện tìm kiếm những ấn phẩm bằng tiếng Anh trên các cơ sở dữ liệu

uy tín với cụm từ social, entrep* and intent* để lược khảo các nghiên cứu về YĐKSKDXH Tác giả đọc kỹcác tiêu đề, tóm tắt và từ để loại bỏ các bài báo trùng lặp và nghiên cứu không liên quan đến chủ đề nghiêncứu Kết quả cuối cùng, có tổng cộng 36 nghiên cứu nghiên cứu về YĐKSKDXH Kỹ thuật phân tích nộidung được sử dụng để phân tích 36 bài báo, vì kỹ thuật này có khả năng xác định các lĩnh vực chính của chủ

đề nghiên cứu (Elo và Kyngäs, 2008; Krippendorff, 2004) Trong phân tích nội dung theo chủ đề, các bài viếtđược tác giả phân loại và mã hóa các đặc điểm của các bài viết này Sau khi phân tích 36 bài, các đặc điểmcủa những bài viết được liên kết với nhau để hình thành các nhóm danh mục và các nhóm chủ đề trong từngdanh mục Kết quả phân tích lược khảo về YĐKSKDXH dẫn đến hình thành bốn danh mục nghiên cứuchính: Mô hình nghiên cứu, các vấn đề liên quan đến phương pháp luận và cách tiếp cận (gồm 12 nghiêncứu); Các yếu tố thuộc về cá nhân (gồm 19 nghiên cứu); Bối cảnh và thể chế (gồm 4 nghiên cứu); Quá trình

từ ý định đến quyết định (gồm 1 nghiên cứu) (bảng 1.2)

Trang 6

Bảng 1.2 Danh mục và các chủ đề trong YĐKSKDXH

Danh mục 1 Mô hình nghiên cứu, các vấn đề liên quan

đến phương pháp luận và cách tiếp cận (12)

-Kiểm tra/mở rộng mô hình cổ điển (7)

*số lượng nghiên cứu được thể hiện trong ngoặc đơn

Về chủ đề đầu tiên - kiểm tra/mở rộng mô hình cổ điển - bảy nghiên cứu được phân loại vào chủ đề này

Cụ thể, dựa trên mô hình doanh nhân tiềm năng của Kruger and Brazeal (1994), Noorseha (2013) nghiên cứuYĐKSKDXH với hai biến bổ sung là sự đồng cảm và sự tiếp xúc với hoạt động KDXH Hockerts (2017) vàForster và Grichnik (2013) kiểm tra mô hình YĐKSKDXH của Mair and Noboa (2006) Trong khi Hockerts(2017) bổ sung biến kinh nghiệm với các vấn đề xã hội, Forster và Grichnik (2013) đề xuất một mô hình mớikết hợp các biến như sự đồng cảm, nhận thức của xã hội, khả năng của bản thân và nhận thức khả năng thànhcông khi KSKDXH Hai nghiên cứu tiếp theo kế thừa mô hình của Hockerts (2017) và kiểm tra tại HồngKong (Ip và cộng sự, 2017) và Philippines (Aure, 2018) Tiwari và cộng sự (2017a) khám phá vai trò củaphong cách nhận thức và niềm tin vào năng lực tác động như thế nào đến YĐKSKDXH thông qua ba yếu tốthái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Gần đây nhất, để kiểm tra khả năng áp dụngcủa thuyết hành vi có kế hoạch (theory of planned behavior), Zaremohzzabieh và cộng sự (2019) thực hiệnmột phân tích tổng hợp (meta-analysis) để đề xuất hai mô hình mở rộng thay thế mô hình truyền thống.Trong chủ đề nghiên cứu thứ hai cách tiếp cận mới với ba bài nghiên cứu Tran và Von Korflesch (2016)đóng góp vào sự hiểu biết về YĐKSKDXH bằng cách giới thiệu lý thuyết nhận thức xã hội nghề nghiệp(SCCT

-Social cognitive career theory) Trong khi Beugré (2014) tiếp cận dựa trên lý thuyết về sự gắn kết đạo đức

để giải thích động lực thúc đẩy việc thành lập DNXH, Rivera và cộng sự (2018) thực hiện nghiên cứu bằngcách sử dụng cách tiếp cận lãnh đạo phục tùng (servant leadership approach) và lý thuyết về phong cách sống(lifestyles theory) để đo lường YĐKSKDXH Tóm lại, những cách tiếp cận này cho thấy sự tiềm năng trong

đo lường YĐKSKDXH, mặc dù vậy, những cách tiếp cận này cần phải được kiểm tra, so sánh và đối chiếu

để hoàn thiện hơn về khả năng áp dụng trong tương lai

Chủ đề nghiên cứu cuối cùng trong danh mục 1 là phương pháp nghiên cứu Baierl và cộng sự (2014) sửdụng một thiết kế thử nghiệm dựa trên bảng câu hỏi để cho thấy ảnh hưởng tích cực của đánh giá xã hội đến

Trang 7

YĐKSKDXH Để phác họa về một doanh nhân xã hội, Bacq và cộng sự (2016) đã thực hiện bốn bộ hồi quynhị phân để tìm sự khác nhau giữa các doanh nhân xã hội và doanh nhân thương mại dựa bộ dữ liệu khảo sátcủa GEM (Global Entrepreneurship Monitor) năm 2009.

Danh mục 2 Các yếu tố thuộc về cá nhân (19 nghiên cứu)

Đa số ấn phẩm về YĐKSKDXH thuộc danh mục này Trong danh mục này, chín bài báo tập trung vào vaitrò của tính cách tạo thành nhóm chủ đề về tính cách Chủ đề thứ hai với tám bài báo liên quan đến nhiều yếu

tố nền tảng khác nhau như giáo dục, địa vị và động lực Danh mục cuối cùng bao gồm hai nghiên cứu về vaitrò của giới tính

Trong nhóm yếu tố tính cách, có chín nghiên cứu thảo luận về những tính cách đặc biệt của doanh nhân

xã hội tiềm năng Để khám phá tính cách chung của một doanh nhân xã hội tiềm năng, Nga vàShamuganathan (2010) và Preethi và Priyadarshini (2018) sử dụng mô hình Năm tính cách lớn (Big Fivemodel) bao gồm sự tận tâm (conscientiousness), sẵn sàng trải nghiệm (openness), sự ổn định trong tâm lý(emotional stability or neuroticism in reverse), hướng ngoại (extraversion) và sự dễ chịu (agreeableness) để

đo lường năm khía cạnh của YĐKSKDXH bao gồm tầm nhìn xã hội, lợi nhuận tài chính, sự đổi mới, tínhbền vững và mạng xã hội, trong khi đó Ip và cộng sự (2018a) chỉ kiểm tra tác động của năm tính cách nàyđến YĐKSKDXH Sau đó, những tính cách cụ thể đã được nghiên cứu, chẳng hạn như xu hướng chấp nhậnrủi ro, tính sáng tạo và tính chủ động (Chipeta và Surujlal, 2017; Politis và cộng sự, 2016; Kedmenec vàcộng sự, 2015; Prieto, 2011), trí tuệ cảm xúc và năng lực bản thân (Tiwari và cộng sự, 2017c), và sự khókhăn trong cuộc sống và trách nhiệm đạo đức (Kedmenec và cộng sự, 2015; Bacq và Alt, 2018)

Liên quan đến các yếu tố thuộc về lý lịch cá nhân, tám nghiên cứu trong chủ đề này tập trung vào vai tròcác yếu tố nền tảng khác nhau ảnh hưởng đến YĐKSKDXH Có hai nghiên cứu xem xét vai trò của giáo dụcđối với YĐKSKDXH Shahverdi và cộng sự (2018) xác định các rào cản trong việc hình thành YĐKSKDXHbằng cách kiểm duyệt vai trò của giáo dục trong các trường đại học tại Malaysia Hockerts (2018) tập trungvào mối quan hệ giữa quá trình học tập, kinh nghiệm và xu hướng thành lập DNXH Ngoài ra, một số yếu tốnền tảng cũng được nghiên cứu như hoàn cảnh gia đình và môi trường đại học (Radin và cộng sự, 2017),kinh nghiệm làm việc (Lacap và cộng sự, 2018), khả năng tiếp cận tài chính (Luc, 2018), vốn con người vàvốn xã hội (Jemari và cộng sự, 2017), nhu cầu động lực (Barton và cộng sự, 2018) và định hướng đổi mới xãhội (Cavazos-Arroyo và cộng sự, 2017)

Có hai bài báo trong nhóm chủ đề về giới tính tìm hiểu vai trò của giới tính Notais và Tixier (2017) tìmhiểu điều gì thúc đẩy mong muốn của những người phụ nữ khiến họ trở thành doanh nhân xã hội Lortie vàcộng sự (2017) từ các lược đồ về giới tính (gender self-schemas) và lý thuyết bản sắc xã hội (social identitytheory) để giải thích tại sao phụ nữ có xu hướng tự tạo ra các mục tiêu xã hội và giải quyết nó thông qua việcKSKDXH

Danh mục 3 Bối cảnh và thể chế (4 nghiên cứu)

Danh mục này chỉ có bốn bài báo dành sự quan tâm cho vai trò của bối cảnh đến YĐKSKDXH Ba chủ

đề trong danh mục này bao gồm: nghiên cứu về đa văn hóa, các nghiên cứu về thể chế và nghiên cứu ở cấp

Trang 8

Cuối cùng, liên quan đến cấp độ tổ chức, bài báo của Tan và Yoo (2015) tạo thành một chủ đề của riêng biệt.Nghiên cứu này chỉ ra các thuộc tính tổ chức và các nhiệm vụ xã hội có vai trò quan trọng đến YĐKSKDXHcủa những cá nhân trong tổ chức đó.

Danh mục 4 Quá trình từ ý định đến quyết định (1 nghiên cứu)

Danh mục này tập trung vào tìm hiểu về cơ chế từ YĐKSKDXH sang quyết định KSKDXH Chỉ có mộtnghiên cứu trong danh mục này Salhi (2018) xem xét vai trò của động lực cá nhân trong quá trình từYĐKSKDXH sang quyết định thành lập DNXH

Từ kết quả danh mục và các chủ đề trong YĐKSKDXH ở bảng trên có thể thấy các yếu tố tác động đếnYĐKSKDXH của một cá nhân rất đa dạng, tuy nhiên trong luận án này sẽ tập trung vào nhóm nghiên cứuthuộc danh mục 2 (Các yếu tố thuộc về cá nhân) mà cụ thể sẽ là vốn con người Vốn con người là một trongnhững yếu tố cơ bản nhất cần phải tìm hiểu khi nghiên cứu ý định ở một lĩnh vực mới như KSKDXH(Marvel và cộng sự, 2016) Các tính cách, kinh nghiệm và giáo dục đều là những thành phần cốt lõi trongvốn con người (Marvel và cộng sự, 2016) Sự quan tâm đến các yếu tố này gia tăng đồng thời với sự quantâm dành cho tác động của vốn con người đến KSKD trong trong hai thập kỷ qua (Marvel và cộng sự, 2016)

Lý thuyết vốn con người ban đầu được phát triển để nghiên cứu giá trị của giáo dục (Becker, 1964; Schultz,1961) và cho thấy những cá nhân có kiến thức và kỹ năng có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế Unger vàcộng sự (2011) kế thừa những quan điểm này và đưa ra lý thuyết đầu tư vào vốn con người (theory ofinvestments in human capital) dựa trên những bằng chứng cho thấy những người có trình độ học vấn và kỹnăng cao hơn hầu như luôn có thu nhập cao hơn những người còn lại Lý thuyết này áp dụng vào lĩnh vựcKSKD thông qua việc liên kết các thuộc tính thuộc về bản chất của con người với thành công của doanhnhân khi KSKD (Unger và cộng sự, 2011) Một số nghiên cứu sau đó lý giải lý do tại sao tính cách, kinhnghiệm và giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với KSKD như giúp khám phá và tạo ra những cơ hộiKSKD (Alvarez và Barney, 2007; Marvel, 2013) hay tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp (Bradley và cộng

sự, 2012; Corbett và cộng sự, 2007) hoặc làm giảm những rủi ro trong nhận thức của các cá nhân về KSKD(Zacharakis và Meyer, 2000)

Có thể nói vốn con người là một cấu trúc khá rộng và có nhiều cách tiếp cận, tuy nhiên dù ở cách tiếp cậnnào thì tính cách, kinh nghiệm và giáo dục vẫn là những thành phần cốt lõi không thể thiếu trong vốn conngười Một trong những quan điểm nổi bật là của Ployhart và Moliterno (2011), quan điểm này chia vốn conngười thành hai loại là vốn con người nhận thức (kinh nghiệm và giáo dục) và vốn con người không nhậnthức (tính cách và động lực) Theo đó, vốn con người nhận thức có xu hướng nhìn thấy và phát triển, trongkhi vốn con người không nhận thức có xu hướng ẩn và khó phát triển Từ đó, có thể thấy mặc dù chung cấutrúc vốn con người nhưng bản chất của các tính cách với giáo dục và kinh nghiệm là khác nhau do đó luận ánnày sẽ thực hiện hai nghiên cứu thực nghiệm tương ứng với hai nhóm yếu tố trên bao gồm tính cách (vốn conngười không nhận thức) và kinh nghiệm, giáo dục (vốn nhận thức) để tìm hiểu tác động của từng nhóm đếnYĐKSKDXH Việc thực hiện hai nghiên cứu là cách tiếp cận phù hợp vì những lí do sau:

Thứ nhất, đây là hai nhóm vốn con người có sự khác biệt trong bản chất Nếu như những tính cách chịuảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong như trí tuệ, tinh thần, bản năng, cảm xúc, ham muốn, thói quen và cáchsuy nghĩ (McClelland, 1965) thì kinh nghiệm và giáo dục lại bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài như sựtrải nghiệm, tác động của các khóa học, các công việc đã trải qua…(Alvarez và Barney, 2007; Marvel vàcộng sự, 2016) Do đó, cơ chế hình thành YĐKSKDXH thông qua các tiền đề cũng đòi hỏi phải được xemxét một cách phù hợp với từng nhóm yếu tố, do đó việc kết hợp xem xét cùng lúc hai nhóm yếu tố vốn conngười với cùng các tiền đề để dẫn đến ý định là không phù hợp Cụ thể trong luận án này, các tính cách sẽđược xem xét thông qua hai tiền đề trước khi đến YĐKSKDXH là sự mong muốn và tính khả thi trong khigiáo dục KSKDXH

Trang 9

và kinh nghiệm sẽ được xem xét thông qua hai tiền đề niềm tin vào năng lực KSKDXH và kết quả mong đợi

từ KSKDXH

Từ lược khảo về YĐKSKDXH, các yếu tố trong vốn con người nhận được rất nhiều sự quan tâm từ cộngđồng học thuật trong thời gian gần đây (Tan và cộng sự, 2019), bằng chứng là rất nhiều nghiên cứu tập trungvào vai trò của giáo dục, kinh nghiệm hay tính cách (Chipeta và Surujlal, 2017, Politis và cộng sự, 2016,Kedmenec và cộng sự, 2015, Prieto, 2011) tuy nhiên các nghiên cứu này cũng chỉ là những nghiên cứu riêng

lẻ vì bản chất của các yếu tố này trong YĐKSKDXH vẫn chưa được khám phá một cách toàn diện do đó việcxem xét đồng thời các yếu tố dễ dẫn đến sự chồng chéo và không xác định rõ các hiệu ứng tác động Có thể

kể đến như tính cách là một danh mục lớn trong ý KSKDXH (Tan và cộng sự, 2019), việc xem xét tương tácvới các yếu tố khác là chưa thật cần thiết khi ngay cả các tính cách của doanh nhân xã hội vẫn còn là một chủ

đề chưa được làm rõ và nhiều nghiên cứu hiện nay cũng chỉ tập trung chuyên sâu vào tính cách hơn là kếthợp nó với các yếu tố khác trong mô hình YĐKSKDXH (Nga và Shamuganathan, 2010; Aure, 2018; Chipeta

và Surujlal, 2017; Prieto, 2011) Với những lí do trên, luận án nhằm sẽ thực hiện hai nghiên cứu để kiểm tratác động của hai loại loại vốn con người đến YĐKSKDXH:

 Nghiên cứu thứ nhất: tác động của tính cách đến YĐKSKDXH

 Nghiên cứu thứ hai: tác động của hai yếu tố kinh nghiệm và giáo dục đến YĐKSKDXH

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tương ứng với các loại vốn con người

1.2Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, YĐKSKDXH là một nhánh nghiên cứu quan trọng trong KSKDXH và cũng nhận được rất

nhiều sự quan tâm, nhưng chưa có một nghiên cứu nào thực hiện lược khảo các các nghiên cứu

YĐKSKDXH, xác định các danh mục, các hướng nghiên cứu trong chủ đề này Thứ hai, đa phần các nghiên

cứu về YĐKSKDXH sử dụng các lý thuyết ý định từ KSKD thương mại như mô hình sự kiện doanh nhâncủa Shapero (Shapero và Sokol, 1982) hay thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991) Với sự phát triển củacác lý thuyết mới như mô hình YĐKSKDXH đầu tiên của Mair và Noboa (2006) hay cách tiếp cận mới từlựa chọn nghề nghiệp với SCCT (Social Cognitive Career Theory) (Lent và cộng sự, 1994) thì việc sử dụngcác mô hình lý thuyết mới cũng nên được quan tâm và đánh giá khả năng áp dụng trong bối cảnh KSKDXH

Thứ ba, các nghiên cứu trước chưa làm nổi bật những tính cách nào là đặc trưng của doanh nhân xã hội.

Ngoài ra, mối quan hệ giữa tính cách và YĐKSKDXH đa số tìm hiểu mối quan hệ trực tiếp (Nga vàShamuganathan, 2010; Ip và cộng sự, 2018a; Hsu và Wang, 2018; Preethi và Priyadarshini, 2018), trong khi

có nhiều bằng chứng cho rằng tính cách

VỐN CON NGƯỜI (Ployhart và Moliterno, 2011)

Vốn con người không nhận thức(tính cách) Vốn con người nhận thức (kinhnghiệm và giáo dục)

Nghiên cứu 1 Tác động của tính

cách đến YĐKSKDXH Nghiên cứu 2 Tác động của kinh nghiệm và giáo dục đến YĐKSKDXH

Trang 10

được xem là có tác động trung gian đến YĐKSKD nói chung và YĐKSKDXH nói riêng Thứ tư, ở những

nghiên cứu trước, hai yếu tố trong vốn con người nhận thức là kinh nghiệm và giáo dục đa phần được xemxét những biến kiểm soát trong quá trình hình thành YĐKSKDXH và chưa có sự quan tâm đến ảnh hưởng

của những biến này lên các tiền đề của YĐKSKDXH Thứ năm, mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc vốn con

người và KSKDXH đa phần được nghiên cứu ở các nền kinh tế phát triển trong khi đó các bằng chứngnghiên cứu tại các nước đang phát triển - nơi mà những vấn đề xã hội ngày càng trở nên đa dạng – vẫn còn ít

Từ những lí do trên, tác giả thực hiện đề tài tác động của tính cách, giáo dục và kinh nghiệm đếnYĐKSKDXH nhằm kiểm tra vài trò của các khía cạnh vốn con người (tính cách, giáo dục KSKDXH và kinhnghiệm với các tổ chức xã hội) tác động đến quá trình hình thành YĐKSKDXH

1.3Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu

1.3.1Mục tiêu chung của nghiên cứu

Luận án này lược khảo chủ đề YĐKSKDXH, từ những khoảng trống nghiên cứu phát hiện được, xâydựng mô hình để luận giải một cách rõ ràng vai trò tác động của từng nhóm yếu tố vốn con người bao gồmvốn con người không nhận thức (các đặc điểm tính cách) và vốn con người nhận thức (kinh nghiệm và giáodục) ảnh hưởng đến YĐKSKDXH

1.3.2Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu thứ nhất: Tác động của các tính cách (vốn con người không nhận thức) đến YĐKSKDXH được

xem xét thông qua hai tiền đề trong mô hình YĐKSKDXH của Mair and Noboa (2006) Mục tiêu thứ hai:

Luận án sẽ xem xét tác động của kinh nghiệm làm việc với các tổ chức xã hội và giáo dục KSKDXH đếnYĐKSKDXH thông qua lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp (social cognitive career theory - SCCT)

Mục tiêu thứ ba: Đề xuất các hàm ý chính sách giúp làm tăng YĐKSKDXH nói riêng và KSKDXH nói

chung dựa trên các khía cạnh của vốn con người

1.4Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này là hai nhóm yếu tố của vốn con người bao gồm các đặc điểm tính cách(vốn con người không nhận thức), kinh nghiệm và giáo dục KSKDXH (vốn con người nhận thức) vàYĐKSKDXH Tác giả phối hợp với Cộng đồng DNXH Việt Nam (SSEC) để thu thập dữ liệu từ những cánhân có tham gia các hoạt động liên quan đến KDXH tại đây Mẫu trong nghiên cứu này được chọn theophương pháp thuận tiện Để thu thập dữ liệu, đường link khảo sát bảng câu hỏi được tạo trên Google Formđược gửi đến những cá nhân có tham gia các hoạt động mà SSEC tổ chức

Giới hạn không gian: KDXH nói chung và KSKDXH nói riêng còn rất mới ở Việt Nam do đó để đảm bảonhững cá nhân tham gia có đủ kiến thức và hiểu biết để hoàn thành bảng khảo sát về KSKDXH, nghiên cứunày sẽ tập trung vào những cá nhân đã tham gia các khóa học/chương trình được tổ chức bởi Cộng đồngDNXH Việt Nam (SSEC), Seed Planters, Saigon Innovation Hub và CSIP Những cá nhân này đa số sinhsống tại khu vực TPHCM và các vùng lân cận

1.5Phương pháp nghiên cứu

Từ những khe hổng nghiên cứu xác định được trong quá trình thực hiện lược khảo tài liệu Mô hìnhnghiên cứu và thang đo nháp được hình thành Sau đó, tác giả thực hiện thảo luận nhóm các chuyên gia lànhững doanh nhân xã hội hoặc những người có kinh nghiệm trong KSKDXH để hoàn thiện mô hình, khámphá các yếu tố mới, điều chỉnh thang đo cho rõ ràng, phù hợp bối cảnh Việt Nam Khởi sự kinh doanh xã hộivẫn còn mới tại Việt Nam do đó trong luận án này, các chuyên gia được hội hỗ trợ Cộng đồng DNXH(Supporting Social Enterprise Community Association - SSEC) giới thiệu đến tác giả để thực hiện thảo luậnnhóm Đây là những cá nhân có hoạt động tích cực trong việc giúp phát triển cộng đồng DNXH tại khu vựcmiền Nam Các

Trang 11

chuyên gia bao gồm 2 chuyên gia nằm trong ban điều hành của hội hỗ trợ Cộng đồng DNXH (chủ tịch hội vàPhó chủ tịch phụ trách Marketing), 2 chuyên gia hiện đang là người trực tiếp quản lý các doanh nghiệp xãhội (SAC MOC TINH CO., LTD và Dakado Group) và cuối cùng 1 chuyên gia là giảng viên giảng dạy vềkhởi nghiệp kinh doanh xã hội đã được cấp chứng chỉ khóa đào tạo giảng viên nguồn về Công dân tích cực

và Doanh nghiệp xã hội do Hội đồng Anh Việt Nam (Hội đồng Anh Việt Nam) tổ chức Buổi thảo luận đượctiến hành vào lúc 8h sáng ngày 13/11/2019 Địa điểm: phòng A306, trường Đại học Kinh tế TPHCM, 59CNguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, thang đo nháp thứ hai được hìnhthành để phục vụ cho nghiên cứu sơ bộ định lượng Thang đo nháp thứ hai được dùng để phỏng vấn thử vớimẫu gồm 100 cá nhân khi họ tham gia tham gia chương trình Tập huấn Điều phối viên & người hướng dẫnChương trình Sáng tạo vì xã hội do Saigon Innovation Hub (SIHUB), trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệTp.HCM, Hội Bảo trợ Trẻ em TP.HCM và UNICEF tổ chức Phương pháp lấy mẫu thuận tiện Bảng câu hỏiđược phát trực tiếp cho các cá nhân Thời gian khảo sát trong thời gian diễn ra chương trình từ 04/12/2019 –11/12/2019 Phương pháp đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khámphá EFA được sử dụng để đánh giá các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu Kết quả, các thang đo đượchoàn chỉnh Bảng hỏi chính thức được gửi thông qua email cho các đối tượng được chọn khảo sát Mô hình

đo lường và mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm hỗ trợ PLS-SEM được sử dụng để đánh giácác thang đo Kỹ thuật PLS Bootstrapping với kích thước mẫu là 5,000 được sử dụng để kiểm định các giảthuyết và mô hình nghiên cứu Cuối cùng, các tác động trung gian trong mô hình cũng được kiểm tra thôngqua quy trình 4 bước của Baron and Kenny (1986)

1.6Ý nghĩa luận án

1.6.1Đóng góp về mặt lý thuyết

Thứ nhất, tác giả thực hiện lược khảo một cách có hệ thống về chủ đề YĐKSKDXH Lược khảo này giúp

khám phá những danh mục và những chủ đề đã được nghiên cứu trong YĐKSKDXH Thứ hai, đối với lý

thuyết nền, trong nghiên cứu này mở rộng mô hình YĐKSKDXH đầu tiên của Mair và Noboa (2006) chonghiên cứu thứ nhất (nghiên cứu về tính cách) và lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp (social cognitivecareer theory - SCCT) cho nghiên cứu thứ hai., đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên áp dụng lý

thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp trong bối cảnh nghiên cứu YĐKSKDXH Thứ ba, cảm nhận về tính

khả thi và cảm nhận về sự mong muốn được kiểm tra tác động trung gian trong mối quan hệ từ tính cách đếnYĐKSKDXH (nghiên cứu thứ nhất) và niềm tin vào năng lực bản thân và kết quả mong đợi cũng được kiểm

tra tác động trung gian trong mối quan hệ từ tính cách đến YĐKSKDXH (nghiên cứu thứ hai) Thứ tư, về

mối quan hệ giữa tính cách và YĐKSKDXH, luận án này sẽ nghiên cứu một cách toàn diện tính cách củadoanh nhân xã hội bằng cách xem xét tính cách của các doanh nhân xã hội tiềm năng là sự kết hợp giữa cáctính cách thông thường xuất hiện ở doanh nhân thương mại kết hợp với các tính cách xã hội đặc trưng chỉ có

ở doanh nhân xã hội Thứ năm, nghiên cứu này xem xét tác động đồng thời của giáo dục KSKDXH và kinh

nghiệm với cách tiếp cận mới Luận án này sẽ đánh giá giáo dục KSKDXH theo cảm nhận của những cánhân đã được trải nghiệm và học tập về KSKDXH, ngoài ra kinh nghiệm sẽ được xem xét là kinh nghiệm

làm việc với các tổ chức xã hội Cuối cùng, luận án này tập trung vào bối cảnh tại Việt Nam được đặc trưng

bởi các kỹ năng và giáo dục về KSKDXH đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, mức độ hoạt động

KDXH thấp, nhiều tiềm năng nhưng thiếu nguồn lực để khai thác (CSIP, 2016) Kết quả từ nghiên cứu này

có thể đóng góp vào cơ sở lý thuyết bằng cách cung cấp những hiểu biết về KSKDXH tại những nước đangphát triển

1.6.2Ý nghĩa thực tiễn

Trang 12

Luận án thực hiện lược khảo YĐKSKDXH, lược khảo này giúp những nhà nghiên cứu mới khi tìm hiểu

về các chủ đề này sẽ có được cái nhìn tổng quát về những cấu trúc chính, những hướng nghiên cứu chínhtrong YĐKSKDXH Các nhà hoạch định chính sách, những người vốn rất ít tiếp xúc với các vấn đề học thuậtcũng có thể tiếp cận chủ đề về KSKDXH một cách dễ dàng hơn để tìm hiểu và xây dựng chiến lược pháttriển KDXH Ví dụ, các công cụ để đo lường và phát hiện những cá nhân tiềm năng để tập trung nguồn lựcgiúp họ trở thành doanh nhân xã hội thay vì đầu tư đại trà gây tổn thất và lãng phí Việc gia tăng số lượngDNXH tại Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung luôn là vấn đề được quan tâm Việc tìmhiểu YĐKSKDXH sẽ giúp chính phủ xây dựng các chiến lược phù hợp để phát triển KDXH nói chung vàDNXH nói riêng Các đại học lớn trên thế giới đều có những chương trình giảng dạy về KSKDXH Tại ViệtNam, các chương trình giáo dục vẫn chưa có sự quan tâm dành cho KSKDXH Do đó, từ những yếu tố dướigóc độ cá nhân mà nghiên cứu xác định được như tính cách, giáo dục, kinh nghiệm… sẽ là cơ sở để cáctrường Đại học xây dựng và phát triển chương trình đào tạo về KSKDXH

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI, Ý ĐỊNH

KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1Khởi sự kinh doanh xã hội (KSKDXH)

Mặc dù có nhiều định nghĩa và cách giải thích khác nhau, nhưng nhìn chung KSKDXH được xác định làmột quá trình bắt đầu với việc hình thành ý tưởng xã hội, nhận dạng các cơ hội, xây dựng các giải pháphướng đến phát triển bền vững (Salamzadeh và cộng sự, 2013; Shane, 2003) Tạo ra giá trị xã hội hoặc giảiquyết các vấn đề xã hội bằng các giải pháp đổi mới sáng tạo là mục tiêu trọng tâm của KDXH và đó là sựkhác biệt giữa KDXH với các hình thức kinh doanh khác (Martin và Osberg, 2007; Zahra và cộng sự, 2008;Alvord và cộng sự, 2004)

2.2Ý định khởi sự kinh doanh xã hội (YĐKSKDXH)

Bird (1988) định nghĩa ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành vi, hướng tới mụctiêu cụ thể Ý định thể hiện niềm tin cá nhân để thực hiện một hành vi tương lai (Krueger và cộng sự, 2000).Davidsson và Honig (2003) định nghĩa YĐKSKD liên quan đến định hướng thành lập một doanh nghiệptrong tương lai YĐKSKD được cho là tiền đề cho mối liên hệ giữa cá nhân và việc thành lập các doanhnghiệp mới (Ozyilmaz, 2011; DeGeorge và Fayolle, 2008) YĐKSKDXH đề cập đến ý định thành lập mộtDNXH (Mair và Noboa, 2006) YĐKSKDXH được coi là hành vi tâm lý của một cá nhân, thuyết phục họtiếp thu tri thức, nhận thức ý tưởng và thực hiện kế hoạch KDXH để trở thành một doanh nhân xã hội (Mair

và cộng sự, 2006) YĐKSKDXH có thể được định nghĩa là mong muốn và quyết tâm của một người để thànhlập một DNXH mới (Tran và cộng sự, 2016)

2.3Lược khảo các lý thuyết nền về ý định KSKD

Qua tổng kết những nghiên cứu về ý định KSKDXH, có thể thấy được các nghiên cứu về ý địnhKSKDXH sử dụng các lý thuyết nền theo ba hướng chính

Hướng thứ nhất kế thừa và sử dụng các lý thuyết từ các nghiên cứu về KSKD thương mại truyền thốngnhư mô hình sự kiện KSKD của Shapero và Sokol (1982), lý thuyết tiềm năng KSKD của Krueger vàBrazeal (1994) và nổi bật nhất chính là thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991)

Hướng thứ hai sử dụng các mô hình được xây dựng hoàn toàn mới và được thiết kế chuyên biệt choKSKDXH điển hình là mô hình của mô hình của Mair and Noboa (2006) và Nga và Shamuganathan (2010)

Trang 13

Hướng nghiên cứu thứ ba, các mô hình mới cũng nổi lên thông qua sự phát triển các mô hình cũ như lýthuyết nhận thức xã hội nghề nghiệp (Social cognitive career theory) phát triển từ lý thuyết nhận thức hay môhình của Hockert (2017) được thay đổi và bổ sung các yếu tố mới từ mô hình gốc của Mair và Noboa (2006).

2.4Khoảng trống nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính cách và ý định KSKDXH

Thứ nhất, các nghiên cứu tiếp cận theo Năm tính cách lớn (hướng thứ nhất) rất khó để phân biệt đâu là

tính cách của doanh nhân thương mại và của doanh nhân xã hội Thứ hai, các nghiên cứu về tính cách cụ thể

đa số vẫn dựa trên các tính cách thường thấy ở các doanh nhân thương mại, nếu chỉ xem xét tính cách củadoanh nhân xã hội giống như tính cách của doanh nhân thương mại thì sẽ thiếu đi sự xem xét tính cách xã hội

của doanh nhân xã hội Thứ ba, tính cách xã hội mới chỉ được phát triển để xem xét nhiều ở ý định tham gia các hoạt động xã hội và tình nguyện mà chưa được xem xét trong KSKDXH Thứ tư, việc xem xét đồng thời

vai trò của các tính cách doanh nhân truyền thống và tính cách xã hội cũng là vô cùng cần thiết khi tìm hiểunhững tính cách chung giữa doanh nhân xã hội và doanh nhân thương mại vì những nghiên cứu so sánh như

thế này vẫn còn rất hạn chế (Smith và cộng sự, 2014) Thứ năm, nghiên cứu này sẽ khám phá những tác

động trung gian và sử dụng hai tiền đề của Mair và Noboa (2006) bao gồm nhận thức về sự mong muốn và

nhận thức về tính khả thi làm trung gian tác động giữa tính cách và ý định KSKDXH Cuối cùng, tác động

của nền văn hóa Á Đông đến ý định KSKDXH chưa được nghiên cứu sâu Mô hình nghiên cứu đề xuất vàgiả thuyết về mối quan hệ giữa tính cách và ý định KSKDXH

Ngoài các giả thuyết về tác động trực tiếp như hình 2.7, 4 giả thuyết về tác động trung gian được kiểmđịnh như sau:

Giả thuyết H9a: Nhận thức về sự mong muốn KSKDXH trung gian tác động cho mối quan hệ từ các tínhcách thương mại truyền thống (xu hướng chấp nhận rủi ro, nhu cần thành tích, tính chủ động và sự sáng tạo)đến ý định KSKDXH

Giả thuyết H9b: Nhận thức về tính khả thi KSKDXH trung gian tác động cho mối quan hệ từ các tínhcách thương mại truyền thống (xu hướng chấp nhận rủi ro, nhu cần thành tích, tính chủ động và sự sáng tạo)đến ý định KSKDXH

Giả thuyết H9c: Nhận thức về sự mong muốn KSKDXH trung gian tác động cho mối quan hệ từ các tínhcách xã hội (sự đồng cảm và nghĩa vụ đạo đức) đến ý định KSKDXH

Giả thuyết H9d: Nhận thức về tính khả thi KSKDXH trung gian tác động cho mối quan hệ từ các tínhcách xã hội (sự đồng cảm và nghĩa vụ đạo đức) đến ý định KSKDXH

Trang 14

Nguồn: tác giả đề xuất

Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất mối quan hệ giữa tính cách và ý định KSKDXH

2.5Khoảng trống nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh nghiệm và giáo dục đến ý định KSKDXH

Thứ nhất, vai trò của giáo dục kinh và kinh nghiệm vẫn mới mẻ trong KDXH và vẫn tồn tại những mâu

thuẫn trong các nghiên cứu đi trước Thứ hai, các nghiên cứu trước chỉ xem kinh nghiệm và giáo dục là biến

kiểm soát trong nhóm biến nhân khẩu học và chưa chỉ ra tác động rõ ràng của kinh nghiệm và giáo dục đến

quá trình hình thành ý định KSKDXH Thứ ba, giáo dục và kinh nghiệm là hai cấu trúc quan trọng trong

nguồn vốn con người nhận thức Tuy nhiên, các yếu tố này lại được nghiên cứu riêng lẻ mà chưa có sự tích

hợp chung với nhau để xem xét tác động đồng thời Thứ tư, những tác động gián tiếp thông qua các tiền đề

của ý định chưa nhận được nhiều sự quan tâm so với những tác động trực tiếp, do đó trong nghiên cứu này,tác động của giáo dục và kinh nghiệm sẽ được xem xét tác động đến ý định thông qua hai tiền đề của thuyết

nhận thức xã hội nghề nghiệp (sự tự tin vào KSKDXH và kết quả mong đợi từ KSKDXH) Thứ năm, nghiên

cứu này sẽ tiếp cận kinh nghiệm và giáo dục theo cách hoàn toàn mới Theo đó, kinh nghiệm được tiếp cận làkinh nghiệm thực tế của một cá nhân làm việc với các tổ chức xã hội Trong khi đó, giáo dục được đo lườngbởi mô hình của Lanero và cộng sự (2011) thông qua cảm nhận của các cá nhân về giáo dục KSKDXH sau

khi được trải qua các khóa học Cuối cùng, luận án này tập trung vào nền kinh tế phát với bối cảnh tại Việt

Nam được đặc trưng bởi các kỹ năng và giáo dục về KSKD và KSKDXH kém, mức độ hoạt động KDXHthấp, nhiều tiềm năng nhưng thiếu nguồn lực để khai thác Ngoài các giả thuyết về tác động trực tiếp nhưhình 2.8, 2 giả thuyết về tác động trung gian được kiểm định như sau:

Giả thuyết H8a: Niềm tin vào năng lực bản thân và kết quả mong đợi trung gian mối quan hệ từ giáo dụcKSKDXH đến YĐKSKDXH

Giả thuyết H8b: Niềm tin vào năng lực bản thân và kết quả mong đợi trung gian mối quan hệ từ kinhnghiệm với các tổ chức xã hội đến YĐKSKDXH

Ngày đăng: 10/08/2021, 21:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w