1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG MÔN PP TỞ CHỨC HOẠT ĐỘNG TDTT CHO HSTH

47 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 66,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi tiểu học. HSTH(611) có nhiều biến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao động, học tập thể hiện qua hoạt động về nhận thức, tình cảm, cảm xúc có những thay đổi cơ bản Đối với HSTH, học tập trở thành hoạt động chủ đạo, sự say mê học tập chưa thể hiện đó là nhận thức trách nhiệm với xã hội mà chủ yếu là từ động lực động cơ mang ý nghĩa tình cảm Học sinh đầu tiểu học có ghi nhớ một cách máy móc, chưa có khả năng phân tích tự giác.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1 Phân tích đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi tiểu học.

- HSTH(6-11) có nhiều biến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao động, học tập thể hiện qua hoạt động về nhận thức, tình cảm, cảm xúc có những thay đổi cơ bản

- Đối với HSTH, học tập trở thành hoạt động chủ đạo, sự say mê học tập chưa thể hiện đó là nhận thức trách nhiệm với xã hội mà chủ yếu là từ động lực động cơ mang ý nghĩa tình cảm

- Học sinh đầu tiểu học có ghi nhớ một cách máy móc, chưa có khả năng phân tích

tự giác

- Học sinh tiểu học lớp 3, 4 :

+ Bước đầu đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật hiện tượng biến phân biệt các đặc điểm của các chi tiết, các phần kỹ thuật, động tác song còn đơn giản

+ Kỹ năng phân tích các hiện tượng trong luyện tập, lao động sinh hoạt còn kém,

dễ bị động khi nhắc nhở, biểu hiện kém tự tin, khả năng kiềm chế hành vi thái độ kém+ Để hình thành kiến thức: học thuộc từng câu từng chữ

+ Để hình thành kĩ năng vận động bắt chước

- Học sinh tiểu học lớp 4, 5:

+ Khả năng ghi nhớ được hình thành và phát triển

+ Khi lên lớp giáo viên cần chú ý sử dụng linh hoạt các phương pháp nhằm tăng kích thích suy nghĩ sáng tạo ý thức tự giác tích cực rèn luyện của học sinh

- Trong giảng dạy thể dục thể thao: tư duy của học sinh tiểu học còn mang hình ảnh

cụ thể nên các em tiếp thu nhanh chóng và dễ dàng hơn đối với các khái niệm có kèm minh họa

=>Khi giảng dạy các động tác Thể dục, thể thao, ngoài việc phân tích, giảng giải kỹ thuật động tác, giáo viên cần phải làm mẫu động tác và sử dụng rộng rãi các hình thức trực quan khác

Trang 2

- Hoạt động vui chơi là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống và học tập của trẻ

Mặt khác, hình thức hoạt động vui chơi còn giúp các em giải toả “sự căng thẳng”, “dồn

ép” thời gian khá nhiều cho học tập, hồi phục khả năng làm việc, hồi phục sức khoẻ, góp

phần duy trì tích cực - tự giác, lòng hăng say học tập, lao động, tạo tâm hồn tươi trẻ cho các em

VD: sau khi cho học sinh ôn lại các động tác của bài tập thể dục phát triển chung thì

có thể cho học sinh chơi trò chơi “chạy nhanh theo số”(lớp 5) để rèn phản xạ kỹ năng chạy và phát triển sức nhanh

- Về mặt tình cảm thái độ cư xử trong sinh hoạt học tập chưa ổn định

+ Thường xúc động thay đổi tâm trạng vui buồn trong cùng một hoạt động một thời điểm

+ Các phẩm chất tâm lý như tính độc lập sự kiềm chế tự chủ còn thấp

- Do trình độ thể lực kinh nghiệm sống còn hạn chế nên mọi sinh hoạt có chịu sự tác động ảnh hưởng trực tiếp của giáo viên bố mẹ nên các em thường trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác khi gặp khó khăn

=>Giáo viên cần có những phương pháp sư phạm thích hợp phương pháp tổ chức tậpluyện hợp lý như:

+ Mô tả chính xác động tác bằng lời

+ Làm mẫu động tác chính xác đẹp có sức lôi cuốn

+ Tích cực vận dụng phương pháp trò chơi trong luyện tập tập

Câu 2 Phân tích khái niệm Giáo dục thể chất.

-GD là tất cả những gì truyền tải và tác động lên cách tư duy thành sự làm việc của mỗi con người

- Thể chất :

+ Chỉ chất lượng cơ thể con người

+ Là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng cơ thể được hình thành

và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống

Trang 3

=> giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao, là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội một quá trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục chung

- Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là một quá trình Sư phạm với đầy đủ những dấu hiệu chung của nó ( vai trò chủ đạo của nhà giáo dục trong dạy học tổ chức hoạt động phù hợp với các nguyên tắc Sư phạm)

- Đặc điểm nổi bật của giáo dục thể chất:

+ Là hình thành vốn kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất vận động+ Xác định khả năng thích nghi thể lực của con người

- Giáo dục thể chất được chia làm hai mặt chuyên biệt:

+ Dạy học động tác

Là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất

 Là quá trình truyền thụ tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người

=> Hình thành những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết liên quan

+ Giáo dục tố chức vận động: là tác động hợp lý tới sự phát triển của các tố chất vận động đảm bảo việc phát triển các năng lực vận động

=>Dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động có liên quan chặt chẽ làm tiền đề cho nhau thậm chí có thể chuyển lẫn nhau nhưng không bao giờ đồng nhất và

có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và giáo dục thể chất khácnhau

=> Giáo dục thể chất là một loại hình thức giáo dục và nội dung chuyên biệt là dạy học vận động động tác và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người

- Mục đích của giáo dục thể chất là tăng cường sức khỏe và phát triển thể chất con người phát triển con người toàn diện

Trang 4

Câu 3 Phân tích khái niệm về sức khỏe.

-Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sức khỏe là một trạng thái hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và sức khỏe có kết quả

-Sức khỏe bao gồm sức khỏe cá thể (từng người), sức khỏe gia đình, sức khỏe cộng đồng, sức khỏe xã hội Sức khỏe là một trong những yếu tố cơ bản, đầu tiên để học tập lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước

-Sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cá nhân, môi trường, cộng đồng, xã hội, tình trạng và những vấn đề chung của từng nước và toàn thế giới (môi trường sinh thái, chiến tranh khu vực, mức sống cao thấp, sự bóc lột ở một số nước chậm phát triển, trình độ nhận thức…)

Câu 4 Phân tích cấu trúc của Thể dục thể thao trường học.

- Thể dục thể thao trường học là bộ phận cơ bản của nền Thể dục thể thao

-Phát triển Thể dục thể thao trong trường học có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị và phát triển nguồn nhân lực, có ý nghĩa chiến lược nhằm phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

- Nhiệm vụ chính của Thể dục thể thao trường học là:

+Nâng cao sức khỏe, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh

+Phát triển thể lực, dạy các kỹ năng vận động cơ bản và cần thiết cho cuộc sống như

đi, chạy, nhảy, mang vác, ném, đẩy, leo trèo

+ Hình thành thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và giáo dục các phẩm chấtđạo đức, nhân cách

- Các hình thức Giáo dục thể chất trong trường học bao gồm:

+Các giờ học bắt buộc

+ Những hoạt động Thể dục thể thao ngoài giờ của học sinh, sinh viên

Trang 5

- Giờ học Giáo dục thể chất (thể dục) bắt buộc trong trường học được thực hiện theo chương trình qui định của Bộ Giáo dục – Đào tạo và có giá trị như giờ học các môn khác trong nhà trường.

-Hoạt động thể thao ngoài giờ học là các hình thức tập luyện tại trường học hoặc tại các địa điểm tập luyện khác ngoài trường nhằm mục đích tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng khiếu thể thao, được nhà trường hoặc các tổ chức Thể dục thể thao (Nhà nước và xã hội) tổ chức với sự tham gia tích cực và tự nguyện của học sinh

-Tuy nhiên Thể dục thể thao trong trường học hiện nay còn nhiều hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức Giờ học thể dục còn bị coi nhẹ, bị cắt xén tùy tiện, nhiều trường học, đặc biệt là trường tiểu học và trung học cơ sở còn thiếu giáo viên thể dục Còn rất nhiều trường học, địa bàn dân cư không có sân bãi tập luyện

Câu 5 Phân tích các tiền đề và các giai đoạn của quá trình dạy học động tác trong giáo dục thể chất.

a Sự sẵn sàng tiếp thu động tác là một tiền đề của dạy học trong Giáo dục thể chất:

-Trong quá trình giáo dục, việc người tập chuẩn bị sẵn sàng để tiếp thu động tác đặc biệt cần thiết, bởi tính đặc thù của Thể dục thể thao là đa phần các bài tập đòi hỏi sự

nỗ lực của cơ bắp cũng như sự tập trung chú ý cao độ khi thực hiện bài tập Vì vậy, trước khi giảng dạy một động tác nào đó, cần kiểm tra sự sẵn sàng chú ý của người tập thông qua các thông tin về kinh nghiệm vận động trước đây của người tập (có thểdưới dạng kiểm tra bài cũ), các bài tập chuẩn bị, các bài tập dẫn dắt

-Sự chuẩn bị của người tập thường biểu hiện theo ba yếu tố:

Trang 6

- Việc thực hiện các động tác đơn giản thì có thể thu được kết quả ngay ở những lần tập đầu tiên Nhưng với những động tác tương đối phức tạp thì kết quả thu được (tốc

độ hình thành vận động) phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm vận động mà người tập đã có từ trước đó Kinh nghiệm càng đa dạng và phong phú thì tiền đề tiếp thu càng có kết quả tốt hơn trên cơ sở chuyển các kỹ năng và kỹ xảo đã hình thành trướcđây Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của các bài tập nhằm mở rộng vốn kỹ năng,

kỹ xảo vận động để đảm bảo cho sự sẵn sàng tiếp thu động tác mới

-Muốn chuẩn bị dạy tốt các động tác phức tạp, nói chung phải dựa trên cơ sở vận dụng tổng hợp các nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa, nguyên tắc hệ thống và tăng dần yêu cầu cũng như các phương pháp, đảm bảo tính kế thừa tối ưu trong quá trình dạy học

b Đặc tính chung về cấu trúc của quá trình dạy học động tác

Sự phân đoạn quá trình dạy học mỗi động tác riêng lẻ cần phải dựa trên các giai đoạn tương ứng của quá trình hình thành các kỹ năng và kỹ xảo vận động Muốn kỹ năng trở thành kỹ xảo tương đối hoàn thiện thì phải trải qua ba giai đoạn tiêu biểu cả

về nhiệm vụ sư phạm lẫn phương pháp dạy học

- Giai đoạn dạy học ban đầu về động tác - tương ứng với giai đoạn dạy học kỹ thuật động tác ở mức còn “thô thiển”

- Giai đoạn dạy học đi sâu và chi tiết hóa động tác – lúc này kỹ năng vận động được chính xác hóa và một phần được chuyển thành kỹ xảo

- Giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện động tác

Đây là sơ đồ chung nhất của quá trình dạy học động tác Tuy nhiên căn cứ vào xu hướng của buổi tập, vào đặc điểm của động tác cần tập cũng như đối tượng tập luyện

mà quá trình dạy học được cụ thể hóa thêm

Câu 6 Trình bày mục tiêu Giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học.

Các mục tiêu cơ bản mà môn thể dục tiểu học cần phải đạt được đó là:

- Góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho học sinh: Phát triển các tố chất thể

lực, đặc biệt là tố chất mềm dẻo và khéo léo, tạo điều kiện cho cơ thể các em phát triển bình thường theo quy luật lứa tuổi và giới tính

Trang 7

- Trang bị cho học sinh một số kiến thức: Kỹ năng sơ giản cần thiết nhằm rèn luyện

tư thế cơ bản, làm giàu vốn kỹ năng vận động sống để học sinh học tập, sinh hoạt có hiệu quả hơn và chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc học tập tiếp các nội dung thể dục

ở các lớp, các cấp tiếp theo

- Góp phần giáo dục đạo đức: Rèn luyện cho học sinh nếp sống lành mạnh, vui chơi

có tổ chức kỉ luật, tạo tiền đề hình thành nhân cách con người Xã hội chủ nghĩa

Câu 7 Trình bày nhiệm vụ và yêu cầu của Giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học.

Nhiệm vụ và yêu cầu của Giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học được xác định bao gồm:

- Thúc đẩy sự phát triển toàn diện các tố chất vận động: (Sức nhanh, sức mạnh, sức

bền, mềm dẻo, khéo léo); nâng cao dần khả năng thích ứng của cơ thể đối với nhữngbiến đổi bất lợi của thời tiết, khí hậu và tăng sức đề kháng, chống đỡ bệnh tật của các em

- Trang bị cho các em những kiến thức cơ bản: Có liên quan và cần thiết nhất về Thể

dục thể thao, hình thành các kỹ năng vận động cơ bản trong Thể dục, thể thao làm cơ

sở cho các em rèn luyện cơ thể, hình thành và củng cố hệ thống kỹ năng vận động sống, phù hợp lứa tuổi,…Tạo cho các em lòng ham thích và thói quen tập luyện Thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể hàng ngày

- Thông qua các hoạt động Thể dục, thể thao trong nhà trường: Bồi dưỡng cho các

em những tư tưởng, tình cảm tốt, hình thành những phẩm chất đạo đức Xã hội chủ nghãi, biết vận dụng và thể hiện những phẩm chất đó trong học tập, lao động và cuộcsống hàng ngày: Cần cù, chịu khó, dũng cảm, sống chân thành, có quan hệ tốt với mọi người…

- Góp phần phát triển và bồi dưỡng: Bước đầu các tài năng thể thao cho đất nước.

Các nhiệm vụ Giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học có mối quan hệ khăng khít, tác động tương hỗ lẫn nhau, do vậy: Trong hoạt động Giáo dục thể chất nói chung, dạy học thể dục nói riêng cho học sinh tiểu học cần quán triệt thực hiện đầy đủ cả 4 nhiệm vụ trên, đồng thời cần phải vận dụng tốt mối quan hệ đó trong việc giải quyết

Trang 8

bất cứ nhiệm vụ nào nhằm đạt được mục tiêu Giáo dục thể chất cho học sinh trong nhà trường tiểu học.

Câu 8 Phân tích quy tắc chung về thực hiện kỹ thuật các bài tập thể dục, thể thao.

Những quy tắc cơ bản về sử dụng hợp lí lực cơ bắp

- Hướng hợp lí của cơ bắp

Hướng tác động của lực cơ bắp phải trùng với hướng chuyển động (Thí dụ: Trong

ném đẩy Hướng lực ra sức cuối cùng phải trùng với hướng bay định trước của tạ, lựu đạn,…)

- Tăng cường tốc độ chuyển động

Để phát triển và đạt được tốc độ tối đa thì tốt nhất là phải sử dụng lực lớn trên đoạn

đường dài, có nghĩa là: Tăng thời gian của lực tác động đó Thí dụ: Lực khi đá vào quả bóng sẽ tăng nếu chúng ta kéo dài đường đi và tốc độ chuyển động của bàn chân

do co khớp gối nhiều

- Tính liên tục và tính tuần tự trong sử dụng lực

Quy tắc này được xây dựng trên cơ sở các định luật của Niutơn: Định luật quán tính

và định luật gia tốc

- Chuyển động lượng từ bộ phận này qua bộ phận khác của cơ thể

Động lượng là một khái niệm vật lí được xác định bằng tích số của khối lượng vật

thể và tốc độ của nó

- Tạo phản lực

Định luận 3 Niutơn cho rằng: khi một vật tác động vào một lực vào vật khác sẽ tạo

nên một lực ngược chiều có độ lớn bằng lực tác động Vận dụng định luật này một cách hợp lí sẽ nâng cao hiệu quả thực hiện bài tập Thể dục, thể thao Bởi vì có những trường hợp cần phát huy phản lực (Thí dụ: Chặn bóng, ném đẩy,…) nhưng cũng có những trường hợp cần giảm bớt phản lực (Thí dụ: Đỡ bóng trong bóng chuyền, nhận bóng trong bóng đá, bắt bóng trong bóng rổ,…tạo ra sự hoãn xung làmgiảm lực bóng đến)

Trang 9

Câu 9 Trình bày mục đích, tác dụng của việc sử dụng các yếu tố thiên nhiên và

vệ sinh môi trường trong Giáo dục thể chất cho học sinh.

Để giải quyết tốt các nhiệm vụ Giáo dục thể chất, cần sử dụng tốt các bài tập Thể dục, thể thao trên cơ sở biết lợi dụng các điều kiện thiên nhiên và đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường Các nhân tố thiên nhiên gồm: bức xạ mặt trời (ánh nắng),tính chất môi trường không khí và nước Đó là những yếu tố quan trọng để củng cố sức khỏe, tôi luyện cơ thể và nâng cao năng lực hoạt động của con người Trong Giáo dục thể chất, việc lợi dụng các điều kiện thiên nhiên để tập luyện Thể dục, thể thao được sử dụng theo 2 hướng:

- Sử dụng các yếu tố thiên nhiên và vệ sinh môi trường

Trong luyện tập Thể dục, thể thao như: Tập luyện ngoài trời, tập luyện dưới mưa, dưới nắng, tập luyện ở trên núi, ở đồng bằng, ở vùng biển,…Với hướng này các yếu

tố tự nhiên sẽ làm tăng tác dụng của các bài tập Thể dục, thể thao đối với cơ thể và nâng cao tính bền vững, sự thích nghi của các kỹ năng – kỹ xảo vận động với sự thay đổi của hoàn cảnh

- Tổ chức theo các thủ thuật chuyên môn

Như: Tắm nắng, tắm không khí, các cách tôi luyện cơ thể,…Với hướng này, các nhân tố thiên nhiên được xác định như một phương tiện độc lập để tôi luyện cơ thể

và nâng cao sức khỏe cho người tập

Kết quả cơ bản của việc lợi dụng các nhân tố thiên nhiên trong Giáo dục thể chất là:

“Tôi luyện cơ thể”, tức là: Nâng cao độ vững chắc của cơ thể đối với ảnh hưởng của thời tiết nóng lạnh, bức xạ mặt trời,…thể hiện bằng sự tăng cường sức khỏe, nâng cao năng lực hoạt động của con người Trong quá trình lợi dụng các nhân tố của thiên nhiên, Giáo dục thể chất cần chú ý sử dụng các phương tiện có tác động khác nhau đối với cơ thể, mức độ tăng lên từ từ,…

Câu 10 Trình bày vị trí, ý nghĩa và tác dụng của bài tập thể dục trong Giáo dục thể chất trường học.

*Vị trí:

Trang 10

-Trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống Giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao đã tạo nên 4 phương tiện riêng biệt là: các bài tập Thể dục, thể thao, trò chơi

và du lịch

-Bài tập thể dục có vị trí và vai trò quan trọng rất đặc biệt, bởi vì nó đảm bảo cho con người sự phát triển và hoàn thiện về mặt thể chất, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống, học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc với hiệu quả cao

*Ý nghĩa và tác dụng của bài tập thể dục:

- Phát triển cân đối về hình thể, hoàn thiện các chức năng, hệ thống cơ quan, nâng cao sức khỏe Các bài tập thể dục góp phần phát triển các nhóm cơ, đồng thời duy trìtốt năng lực làm việc của hệ tim – mạch, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa

- Bổ trợ cho sự hình thành kĩ năng, kỹ xảo vận động cần thiết trong đời sống và khả năng vận động chuyên môn để thực hiện các bài tập thể dục Thông qua tập luyện, khả năng phối hợp vận động được tăng cường, con người trở nên linh hoạt, khéo léo hơn, không chỉ trong tập luyện mà ngay cả trong lao động, chiến đấu và sinh hoạt hàng ngày

- Bài tập thể dục góp phần giáo dục ý chí, phẩm chất đạo đức và óc thẩm mĩ, tính sáng tạo của người tập Quá trình tập luyện là quá trình phân tích và tổng hợp vận động, chủ động điều khiển hoạt động của cơ thể, hình thành những mối liên kết vận động mới, phát triển những kỹ năng vận động sẵn có Tất cả điều đó sẽ kích thích hoạt động trí tuệ, nâng cao hơn tính tích cực của hoạt động trí óc và tăng tính linh hoạt của các quá trình thần kinh

Trang 12

Câu 11 Phân tích khái niệm Thể chất và phát triển thể chất.

-Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người Là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điềukiện sống

-Thể dục thể thao gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển thể chất Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật trong suốt cuộc đời của mỗi con người (tương đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hoạt động thân thể và trí tuệ của mỗi người.-Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng

+ Thể hình nói về hình thái, cấu trúc cơ thể, bao gồm trình độ phát triển, những chỉ

số tuyệt đối về hình thái và tỉ lệ giữa chúng cùng tư thế

+ Còn năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan với những khả năng chức năng của hệ thống, cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính trong hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các

tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo, sự khéo léo…) và những nănglực vận động cơ bản của con người (đi, nhảy, ném, leo trèo, bò, mang vác…)

+ Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với bệnh tật Trạngthái cơ thể chủ yếu nói về tình trạng cơ thể qua một số dấu hiệu về thể trạng, được xác định bằng cách đo lường tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, dung tích sống, lực tay, chân, lưng…trong một thời điểm nào đó

-Đặc trưng của sự phát triển thể chất phụ thuộc vào các nguyên nhân tạo thành (điều kiện bên trong và bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một số quy luật về tính di truyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơthể và môi trường, giữa hình thức - cấu tạo và chức năng của cơ thể Đồng thời, sự phát triển thể chất còn chịu sự chi phối của môi trường , điều kiện sống, vật chất, laođộng, học tập, nghỉ ngơi, điều kiện vệ sinh…

-Mặt khác, sự phát triển thể chất của con người còn phụ thuộc vào ba yếu tố: Bẩm sinh, di truyền và môi trường giáo dục Trong đó, bẩm sinh, di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển; môi trường (điều kiện sống) tác động tới sự phát triển thể chấtmột cách tự phát

Trang 13

-Liên quan với các khái niệm trên, sự hoàn thiện thể chất lại là mức tối ưu (tương đối

về một giai đoạn lịch sử nhất định) của trình độ chuẩn thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối thể hiện ở các mặt sau:

+ Đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác trong cuộc sống

+ Phát huy cao độ, đầy đủ những yếu tố bẩm sinh về thể chất của từng người, phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe

để hoạt động tích cực, bền lâu và có hiệu quả

+ Bước đầu tiên, phổ cập, cơ bản để hoàn thiện thể chất cho con người ở một số nước là tập luyện để đạt được các tiêu chuẩn rèn luyện thân thể trong từng thời kì

Câu 12 Phân tích vai trò của phương pháp trò chơi trong quá trình tổ chức Giáo dục thể chất cho học sinh.

Trả lời

Phương pháp trò chơi không nhất thiết phải gắn với một trò chơi cụ thể nào đó như bóng đá, bóng chuyền hoặc các trò chơi vận động đơn giản Về nguyên tắc, phương pháp trò chơi có thể được sử dụng trên cơ sở của bất kỳ bài tập thể lực nào Tất nhiên, chúng phải được tổ chức sao cho phù hợp với đặc điểm của phương pháp trò chơi.

-Phương pháp trò chơi có tác dụng làm cho học sinh hào hứng tập luyện, qua đó đánh giá khách quan kết quả học tập, tập luyện

-Cần chú ý đến tính nhịp điệu khi làm động tác để thu hút sự chú ý cao của học sinh.Những động tác bắt chước trong trò chơi phải rất gần gũi với đặc điểm ngây thơ của trẻ Cần nhắc nhở học sinh chú ý đến những nét chính của động tác trò chơi yêu cầu Thí dụ: Ở trò chơi “Chạy tiếp xúc” giáo viên nhắc các em chạy nhẹ nhàng đặt nửa trước của bàn chân khi tiếp đất

Trang 14

Câu 13 Phân tích vai trò của phương pháp thi đấu trong quá trình tổ chức Giáo dục thể chất cho học sinh.

-Tập luyện theo phương pháp thi đấu (thi đua) sẽ làm tăng thêm sự hứng thú, tăng khả năng vận động

-Phương pháp thi đấu thường được sử dụng khi học sinh đã nắm được động tác như:

“thi xem ai nhảy xa nhất – ai chạy nhanh nhất,…” và khi cần củng cố những kỹ năngvận động như: “Thi nhảy, chạy nhanh tới đích, ném trúng đích,…” Hình thức thi đấu có thể tổ chức cho học sinh thi cá nhân, theo nhóm, tổ, lớp khác nhau Khi sử dụng phương pháp tập luyện, giáo viên cần chú ý những điểm sau: Khối lượng vận động thích hợp Hình thức phong phú, không phức tạp, không đòi hỏi nhiều dụng cụ,không tốn nhiều thời gian chuyển đội hình Tổ chức hợp lí đảm bảo an toàn cho người tập

- PP thi đấu có tác dụng tốt trong việc giải quyết các nhiệm vụ của GDTC Đó là:+Củng cố và hoàn thiện các KN, kĩ xảo vận động và năng lực sử dụng hợp lí chúng trong các TH khác nhau

+GD tố chất thể lực và tâm lí – ý chí

+Thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các khả năng chức phận của cơ thể

+Tăng thêm sự hứng thú và khả năng vận động của HS

- Thi đấu trong GDTC cũng là 1 trong những PP tập luyện có hiệu quả

Câu 14 Trình bày đặc điểm giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện của quá trình dạy học động tác trong Giáo dục thể chất.

*Xu hướng và các nhiệm vụ riêng:

Mục đích của giai đoạn này là hoàn thiện động tác và vận dụng động tác trong điều kiện thực tế

Nhiệm vụ:

- Củng cố kỹ xảo đã có về kỹ thuật động tác

- Mở rộng tính biến dạng của động tác để sử dụng động tác trong các tình huống

Trang 15

- Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác tương ứng với mức phát triển năng lực của cá nhân.

- Sẵn sàng cấu tạo lại kỹ thuật và phát triển cao hơn (hoàn thiện) trên cơ sở phát triểncác tố chất thể lực

*Phương pháp củng cố và tiếp tục hoàn thiện:

- Lặp lại ổn định: Củng cố những kỹ năng đã được hình thành (trong các môn có kỹ thuật ổn định: Thể dục, điền kinh…)

- Lặp lại thay đổi: Các môn có tính biến dạng Mặt khác, sử dụng các phương pháp ởgiai đoạn trước, củng cố chi tiết

Cần phải lưu ý rằng, trong quá trình hoàn thiện kỹ thuật cần kết hợp hữu cơ với phát triển các tố chất thể lực Có như vậy hiệu quả sử dụng động tác mới được nâng lên Trong huấn luyện thể thao, điều này đặc biệt càng cần thiết

*Về xây dựng lại kỹ thuật động tác:

Phải xây dựng lại kỹ thuật động tác trong hai trường hợp:

- Khi các hình thức động tác vừa tiếp thu được không hoàn toàn tương ứng với khả năng chức phận đang tăng lên của cơ thể

- Khi kỹ xảo được hình thành bị sai sót do dạy học sai lệch

*Các đặc điểm kiểm tra và đánh giá

Các chỉ số cơ bản dùng để đánh giá mức độ hoàn thiện động tác:

- Mức độ tự động hóa đối với động tác (so sánh chất lượng kỹ thuật khi tập trung chú ý vào thực hiện động tác)

- Tính bền vững của kỹ xảo khi mệt mỏi (số lần lặp lại hoặc số thời gian lặp lại độngtác mà không có sai lệch động tác)

- Tính bền vững của kỹ xảo khi cảm xúc thay đổi (so sánh trong học tập và thi đấu)

- Tính biến dạng của động tác (đánh giá năng lực thực hiện động tác trong các điều kiện khác nhau…)

Trang 16

- Tính hiệu quả của kỹ thuật động tác.

Câu 15 Phân tích khái niệm và vai trò của kỹ năng, kỹ xảo vận động trong Giáo dục thể chất.

*Khái niệm:

- Kỹ năng vận động là khả năng điều chỉnh động tác còn phải tập trung chú ý vào các thao tác Kĩ năng thu được trên cơ sở có được hiểu biết và cách thực hiện động tác (nắm được kĩ thuật động tác)

- Kỹ năng là khả năng điều khiển động tác một cách chưa được tự động hóa mà còn phải tập trung chú ý vào động tác, cách làm và chưa được ổn định

- Kỹ xảo vận động là cách thức điều khiển có tính chất tự động hóa các động tác trong hành động vận động toàn vẹn và động tác được thực hành ở mức độ vững chắccao

- Vai trò của kỹ năng vận động trong Giáo dục thể chất:

+ Đối với động tác cần hoàn thiện tới mức kỹ xảo thì kỹ năng là bước chuyển tiếp đểhình thành kỹ xảo

+ Đối với động tác không cần nắm vững đến mức kỹ xảo thì kĩ năng đóng vai trò dẫn dắt đến việc hình thành kỹ xảo của các động tác phức tạp hơn

- Vai trò của kỹ xảo vận động trong Giáo dục thể chất:

+ Tính tự động hóa đối với động tác: Khả năng thực hiện động tác không cần tập trung chú ý cao độ mà vẫn thực hiện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật

+ Tính liên tục của động tác: Đảm bảo sự kế thừa giữa các giai đoạn thực hiện động tác, tốn ít sức, hiệu quả cao

+ Tính bền vững của động tác: Biểu hiện ở khả năng duy trì hiệu quả động tác trong các tình huống khác nhau: Trạng thái tâm lí bất thường (hồi hộp, lo lắng, sợ hãi…), thể lực giảm sút, điều kiện bên ngoài bất lợi (môi trường, khí hậu…) và các trở ngại

từ phía đối phương

+ Tính biến dạng: Là khả năng biến đổi các chi tiết động tác cho phù hợp với điều kiện tình huống luôn thay đổi

Trang 17

-Như vậy, kỹ xảo vận động có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả động tác, giảm nhẹ hoạt động của thần kinh, giảm nhẹ năng lượng tiêu hao không cần thiết Kỹ xảo là cơ sở cho các kỹ năng mới Vốn dự trữ kỹ xảo càng nhiều, hoạt độngcàng toàn diện và càng có hiệu quả.

-Cần phòng tránh nguy cơ biến thành kỹ xảo của những cách thực hiện không hợp lí,thậm chí làm động tác sai rõ rệt

Câu 16 Trình bày đặc điểm giai đoạn dạy học đi sâu của quá trình dạy học động tác trong Giáo dục thể chất

*Xu hướng và các nhiệm vụ riêng

- Mục đích: Mục đích của giai đoạn này là chuyển từ kĩ năng thô sơ thành mức độ hoàn thiện hơn về động tác, thực hiện ở sự chi tiết hóa kĩ thuật động tác

- Các nhiệm vụ cơ bản:

+ Hiểu sâu quy luật vận động của động tác

+ Chính xác hóa kĩ thuật động tác theo đặc tính không gian, thời gian và mức độ dùng sức cho phù hợp với đặc điểm cá nhân

+ Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện động tác tự nhiên, liên tục

+ Tạo tiền đề để thực hiện động tác biến dạng

-Yêu cầu của dạy học ở giai đoạn này là phải tương ứng với các quy luật hoàn thiện

kỹ năng vận động và chuyển một phần kỹ năng đó thành kỹ xảo

*Đặc điểm và trình tự sử dụng các phương pháp trong giai đoạn giảng dạy đi sâu

- Phương pháp tập luyện nguyên vẹn, phương pháp ổn định tăng tiến đi sâu vào những chi tiết kỹ thuật là cơ sở phương pháp dạy học ở giai đoạn này Việc phân chiađộng tác đóng vai trò như một thủ pháp bổ trợ thứ yếu Cần chú ý đến những chi tiết khó để lặp lại nhiều lần

+ Phương pháp sử dụng lời nói: Nhằm cung cấp kiến thức chi tiết về các cơ chế kỹ thuật động tác để phân tích tiến trình tiếp thu kỹ thuật đó; để phát hiện sai sót, các nguyên nhân nảy sinh và sửa chữa, đặc biệt để huấn luyện hình thức tập luyện tư duy– học bằng thơ

Trang 18

+ Phương pháp trò chơi, phương pháp thi đấu: Sử dụng khi kĩ năng đã tương đối vững nhằm thực hiện kỹ thuật động tác vững hơn.

*Kiểm tra và đánh giá

-Động tác khi càng lên mức hoàn chỉnh thì sự kiểm tra của giáo viên (huấn luyện viên) và người tập lại càng khó khăn hơn (do độ khó và tính chất nhanh của động tácđược tăng lên, các giác quan khó theo dõi kịp) Vì thế, càng ở mức độ hoàn thiện càng nên thận trọng và tốt nhất tìm các biện pháp khách quan để kiểm tra Có thể sử dụng phim ảnh (quay phim để kiểm tra – nếu cần) Mặt khác ở giai đoạn dạy học đi sâu, động tác chưa chuyển hẳn thành kỹ xảo nên kỹ thuật động tác có lúc làm tốt nhưng có lúc làm rất chệch

-Trong giai đoạn này, cần có cách đánh giá thích hợp: Kiểm tra, khen, chê…nhưng nên thiên về động viên, khích lệ kịp thời để loại trừ bi quan không đúng mức

Câu 17 Trình bày khái niệm, phân loại bài tập thể dục phát triển chung.

*Thể dục phát triển chung có nhiệm vụ phát triển và củng cố sức khỏe người tập, giáo dục những kỹ năng vận động cơ bản phát triển sức mạnh, sức nhanh, tính khéo léo…Đồng thời chúng còn hình thành ở người tập khả năng biết vận dụng những kỹ năng vận động đã nắm vững vào thực tiễn tập luyện và đời sống Thể dục phát triển chung gồm có:

* Bài tập thể dục cơ bản: Là các bài tập cơ bản, đơn giản nhất, được sử dụng trong

các buổi tập cho trẻ em trước tuổi đến trường (mẫu giáo), học sinh phổ thông, phụ

nữ và người cao tuổi

Các bài tập thể dục cơ bản gồm có: Đi bộ; chạy; nhảy; các bài tập phát triển chung cho tay, chân, thân mình, đầu; các bài tập đơn giản trên dụng cụ thể dục (thang dóng,ghế thể dục, cầu thăng bằng); các bài tập thăng bằng, khắc phục chướng ngại vật, ném bắt bóng hay dụng cụ nhẹ; các bài tập thể dục dụng cụ đơn giản (treo, chống, lên xuống dụng cụ, lăn lộn,…)

* Thể dục vệ sinh: Thường được tiến hành dưới hai hình thức tập thể và cá nhân.

- Thể dục vệ sinh cá nhân được luyện thường xuyên hàng ngày vào các buổi sáng, buổi trưa và buổi tối Thể dục vệ sinh không đòi hỏi các trang thiết bị dụng cụ

chuyên môn chuyên biệt Trong mỗi bài tập có các động tác đơn giản, ảnh hưởng

Trang 19

toàn diện đến cơ thể, củng cố và hoàn thiện khả năng chức năng của các hệ hô hấp, tuần hoàn, bộ máy vận động.

- Thể dục vệ sinh tập thể về nội dung không có gì khác biệt với thể dục vệ sinh cá nhân, song được tiến hành dưới hình thức nhóm đông người, có hướng dẫn viên Người khỏe mạnh có thể sử dụng các bài tập thể dục vệ sinh duy trì sức khỏe và thể chất lâu dài

* Bài tập thể dục thể hình: Đảm bảo sự phát triển cân đối với nhóm cơ của toàn

thân, sửa chữa những thiếu sót về tư thế, đồng thời phát triển sức mạnh, độ dẻo, tính khéo léo và các tố chất cần thiết khác của con người Đồng thời giáo dục những kỹ năng vận động cơ bản có tác động tích cực đến tư thế đi, đứng, chạy, nhảy và rèn luyện cho học sinh tiểu học có tác phong nhanh nhẹn, tháo vát và chững chạc

Thể dục thể hình đảm bảo sự phát triển cân đối với nhóm cơ của toàn thân và các tố chất cần thiết khác của con người

Câu 18 Trình bày vị trí, tính chất và đặc điểm của trò chơi vận động trong Giáo dục thể chất ở trường Tiểu học.

-Trong mỗi nội dung chương trình cấp học, trò chơi có nội dung và tính chất khác nhau, tức là có tổ chức và phương pháp khác nhau Vì vậy, trò chơi vừa là phương tiện vừa là phương pháp Giáo dục thể chất được vận dụng rộng rãi trong gia đình, vườn trẻ, trong các trường phổ thông, trong các trường đại học và chuyên nghiệp cáccấp

*Đặc điểm

Trang 20

-Trò chơi có tính tập thể, ý nghĩa giáo dục tự giác cao, vì khi chơi đòi hỏi người chơiphải tuân theo những quy tắc và yêu cầu của tập thể, luôn luôn vì tập thể cố gắng hoàn thành trách nhiệm của người chơi.

-Việc thay đổi thường xuyên hoàn cảnh và điều kiện chơi cũng là một đặc điểm quan trọng giúp cho người chơi có thể hành động tự giác, tích cực, có tính sáng tạo

và biểu hiện được mọi khả năng hoạt động giao tiếp của mình

-Mỗi trò chơi đều có những quy tắc, yêu cầu nhất định, do đó cần điều hòa mối quan

hệ giữa người chơi có ảnh hưởng nhất định đối với bản thân trò chơi

-Trò chơi thường có sự co giãn về lượng vận động, thời gian, quy tắc, yêu cầu của trò chơi, sân bãi dụng cụ to nhỏ, điều kiện, hoàn cảnh chơi đều có ảnh hưởng rất lớn đối với người chơi, cho nên cần chú ý đến mức độ vận động vừa với sức khỏe người chơi

Câu 19 Phân tích kỹ thuật cơ bản ném bóng.

*Kỹ thuật cơ bản ném bóng được chia thành những giai đoạn sau:

- Cầm bóng và tư thế chuẩn bị

- Tạo đà

- Ra sức cuối cùng

- Đường bay của bóng

- Giữ thăng bằng sau khi bóng rời tay

độ chạy đà

Trang 21

-Tư thế ban đầu cần thoải mái, ổn định, không làm ảnh hưởng đến kỹ thuật khi tạo đà.

-Trình tự dùng sức khi ném bóng: Đầu tiên, nhờ chạy đà và dùng sức hai chân, hông

về vị trí thẳng đứng Tiếp theo nhờ chuyển động và dùng sức của thân, thân trên về

vị trí thẳng đứng Sau đó, chủ động dùng sức và chuyển động của vai, cánh tay cầm bóng cũng trở về vị trí thẳng đứng Nhờ dùng sức của cẳng tay, của tay cầm dụng cụ

mà cẳng tay về tới vị trí thẳng đứng và cuối cùng dùng sức của cổ tay, các ngón tay tiếp tục đưa bóng qua vị trí thẳng đứng, về trước, để rời tay ở điểm cao, xa nhất mà tay có thể vươn tới với góc độ phù hợp với tốc độ Để đạt được kết quả tập luyện tốt,song song với hoàn thành kỹ thuật cơ bản, người tập phải chú ý tập phát triển thể lực– sức mạnh toàn thân, đặc biệt là sức mạnh tay và sức mạnh hai chân

d Đường bay của bóng

-Trong ném bóng, khi kết thúc ra sức cuối cùng, bóng cần được rời khỏi tay ở điểm cao nhất Hình dáng và tốc độ bóng chịu ảnh hưởng của các lực do bay trong điều kiện môi trường không khí khác nhau Tuy nhiên, các ảnh hưởng đó hầu như không đáng kể đối với ném bóng

e Giữ thăng bằng sau khi bóng rời tay

Trang 22

-Sau khi bóng rời tay, các động tác tiếp theo của người ném không có tác dụng thay

độ dài đường bay của bóng

-Động tác giữ thăng bằng nhằm làm cho cơ thể không vượt qua vạch giới hạn

Thông thường thực hiện động tác giữ thăng bằng là nhảy đổi chân, hạ thấp trọng tâm

cơ thể và hai tay dang ngang Kể cả khi rời khỏi khu vực ném cũng phải thực hiện theo Luật qui định để thành tích được công nhận

-Kỹ thuật ném bóng được phân làm hai loại:

*Các yêu cầu

- Đảm bảo thường xuyên mối liên hệ giữa các nội dung giáo dục con người mới (đức, trí, thể, mĩ, lao động kĩ thuật) trong việc giải quyết nhiệm vụ đặc trưng của Giáo dục thể chất

+Cơ sở tự nhiên (tính khách quan) của mối liên hệ này là sự thống nhất giữa: Phát triển thể chất và tinh thần cho con người Đồng thời các phương tiện, phương pháp điều kiện Giáo dục thể chất,…các quy luật dạy học động tác có hiệu quả tới sự phát triển thể chất và tinh thần con người Nó cho phép giải quyết hàng loạt các nhiệm vụgiáo dục đức, trí, thể, mĩ cho con người

Trang 23

+ Trong quá trình Giáo dục thể chất cần đặc biệt quan tâm tới việc kết hợp Giáo dục thể chất với giáo dục đạo đức cho con người Chỉ có vậy, Giáo dục thể chất mới thực

sự trở thành một nội dung quan trọng của giáo dục con người mới

- Bảo đảm tính toàn diện của Giáo dục thể chất:

+Một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện nguyên tắc này là sử dụng các phương tiện, phương pháp… Giáo dục thể chất để phát triển toàn diện các tố chất vận động, các khả năng cá nhân và tạo ra vốn phong phú về kỹ năng, kỹ xảo vận động quan trọng, cần thiết cho cuộc sống

+Cơ sở của vấn đề trên là do các quy luật tự nhiên chi phối Chẳng hạn: Cơ thể con người sinh ra vốn là một thể thống nhất về cấu tạo và chức năng Có thể tồn tại và phát triển hay hoạt động là một thể thống nhất hữu cơ – sự hoàn thiện, phát triển của một hệ thống chức năng khác Đó là quy luật tiến hóa của cơ thể

+Việc thực hiện nguyên tắc phát triển toàn diện, cân đối nhân cách trong Giáo dục thể chất là một nội dung hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên Phát triển toàn diện không phải là lúc nào cũng phát triển tất cả các tố chất (hệ thống cơ quan) ở mức độ như nhau mà vẫn phải ưu tiên phát triển một tố chất nào đó (nội dung nào đó) ở mức cao hơn trong các điều kiện cần thiết

Ngày đăng: 10/08/2021, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w