Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ CẨM HỒNG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH DỰA TRÊN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Mai Thị Hoàng Minh và PGS TS Võ Văn Nhị.
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường hợp tại
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Các quốc gia trên thế giới đã không ngừng thực hiện việc đổimới hệ thống kế toán và ngân sách để ngăn chặn và phát hiệntham nhũng kịp thời (Chan, 2003) Tại Việt Nam, để phòngchống lãng phí, thất thoát và đề cao nguyên tắc công khai, minhbạch; nâng cao trách nhiệm giải trình, Chính phủ đã từng bướccải cách trên nhiều phương diện, trong đó có yêu cầu đổi mớihoạt động lập và phân bổ NSNN để quản lý và sử dụng nguồnngân sách hiệu quả Đồng thời, hiện nay mô hình lập dự toán dựatrên kết quả hoạt động (PBB) đã chi phối ở nhiều quốc gia (Shah
& Shen, 2007), và xu hướng đổi mới trong phong trào “quản lýcông mới” Trong khi đó tại Việt Nam, mô hình lập dự toántruyền thống tại các đơn vị công không còn phù hợp Vì vậy nhànước đã đề cập đổi mới theo mô hình PBB trong những năm qua.Tuy nhiên mặc dù đã được Bộ tài chính tiến hành thí điểm từnăm 2009, nhưng PBB vẫn chưa được triển khai rộng rãi Thực
tế cho thấy để áp dụng PBB rộng rãi đòi hỏi có nhiều thay đổitrong thể chế về mặt luật pháp; cách thức xây dựng và điều hành
kế hoạch ngân sách; và văn hóa quản lý theo hướng đảm bảotrách nhiệm giải trình về kết quả hoạt động (Dũng, Nguyệt, &ctv, 2008) Hơn nữa đổi mới là một quá trình được thực hiện bởimọi cá nhân, cho nên nhận thức của người thực hiện rất quantrọng trong việc thông qua bất kỳ sự đổi mới nào, góp phần dẫnđến sự thành công cho sự thay đổi đó (Ehsein, 2014) Vì vậy bêncạnh những thay đổi về mặt thể chế, cần phải xác định các nhân
tố nào sẽ tác động thúc đẩy việc áp dụng mô hình PBB của ngườilập dự toán tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam Ngoài ra sau khitìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước,
Trang 4tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về PBB chỉ tập trung vàonghiên cứu các kỹ thuật lập dự toán chưa tập trung vào hành vicon người liên quan đến việc áp dụng PBB và cho đến hiện nayvẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu vấn đề này tạiViệt Nam Dựa vào những phân tích trên, tác giả nhận thấy cầnthiết phải có một nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc hơn về “Các nhân
tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sựnghiệp công lập ở Việt Nam”
2.Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: xác định các nhân tố tác động thúc đẩy
việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
Cụ thể: Mục tiêu cụ thể
lường các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB củangười lập dự toán tại các đơn vị SNCL trong bối cảnh nghiêncứu ở Việt Nam
việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu: để đạt được các mục tiêu trên, như sau:
tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam? Các nhân tố được đo lườngbằng những thang đo như thế nào?
PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập như thế nào?
3.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố tác động đến việc áp dụng
mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
Trang 5Đối tượng phân tích cũng đồng thời là đối tượng khảo sát: là cá
nhân - người tham gia lập dự toán trong các phòng kế toán vàtài chính tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
4.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về cácnhân tố tác động đến việc lập dự toán ngân sách tại các đơn vịSNCL ở Việt Nam, với đơn vị phân tích là cá nhân
Phạm vi khảo sát: trên các đơn vị SNCL thuộc các lĩnh vực nhưgiáo dục, y tế, văn hóa thể thao, và một số lĩnh vực khác, tuynhiên tập trung phần lớn vào 2 lĩnh vực giáo dục và y tế, ở địabàn TP HCM và một số tỉnh lân cận: Tiền Giang, Cà Mau, KiênGiang…
5.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết trong
đó nghiên cứu định lượng là chính và nghiên cứu định tính làphụ đóng vai trò hỗ trợ thêm dữ liệu cho nghiên cứu địnhlượng:
(1)Nghiên cứu định tính: để nhận diện các nhân tố tác động
đồng thời giúp điều chỉnh mô hình nghiên cứu và thang đo cáckhái niệm Thông qua kết quả các nghiên cứu trước và các lýthuyết có liên quan, từ đó phỏng vấn chuyên gia để bổ sungnhân tố và điều chỉnh lại thang đo nháp
(2)Nghiên cứu định lượng: nhằm đánh giá sơ bộ thang đo các
khái niệm và đánh giá giá trị thang đo chính thức đồng thời kiểmđịnh và đo lường mức độ tác động của các nhân tố Định lượng
sơ bộ thông qua bảng câu hỏi khảo sát, với SPSS 20.0 để phântích Cronbach’s Alpha và phân tích EFA Sau đó định lượngchính thức thông qua kỹ thuật PLS_SEM để đánh giá lại mô hình
đo lường và mô hình cấu trúc cùng với các giả thuyết trong môhình
Trang 66.Đóng góp mới của đề tài
Trang 7Về mặt lý thuyết
lý thuyết thông qua việc kết hợp các lý thuyết: TPB, SQB, lýthuyết khuếch tán và lý thuyết thể chế mới để xem xét các nhân
tố tác động đến hành vi của người thực hiện liên quan đến việcthay đổi mô hình lập dự toán mới
hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam và đolường mức độ tác động của các nhân tố
dụng hệ thống thang đo các nhân tố tác động đến việc áp dụng
mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
thuyết nền để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến các nhân
tố tác động đến việc chấp nhận đổi mới mô hình lập dự toán
Về mặt thực tiễn
quan quản lý nhà nước làm căn cứ khoa học xây dựng các chínhsách tác động phù hợp vào các nhân tố nhằm tăng cường thẩmquyền áp dụng và khả năng áp dụng PBB của thể chế
-Về phía các nhà quản lý, luận án cung cấp những cơ sở để cáctrưởng đơn vị soạn thảo các chính sách phù hợp để gia tăng
nhận thức về mô hình PBB và gia tăng cảm nhận của nhân
viên về sự hỗ trợ của tổ chức liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB cũng như giảm các chí phí chuyển đổi cho người lập
dự toán
7.Kết cấu của luận án
Trang 8Kết cấu 5 chương: Chương 1-Tổng quan các nghiên cứu;Chương 2-Cơ sở lý thuyết; Chương 3-Phương pháp nghiên cứu;Chương 4-Kết quả nghiên cứu và bàn luận; Chương 5: Kết luận
và hàm ý
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.Giới thiệu: Chương này cung cấp bức tranh tổng quát về
các nghiên cứu trên thế giới có liên quan Từ đó, xác địnhkhoảng trống trong nghiên cứu và minh chứng tính cấp thiết của
đề tài
1.2.Các nghiên cứu nước ngoài
1.2.1.Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB tại các quốc gia
Phần này trình bày về các nghiên cứu liên quan đến việc ápdụng mô hình PBB ở cấp quốc gia để cung cấp những hiểu biếtmới và giúp phát hiện các nhân tố có tác động đáng kể
Thông qua các bài nghiên cứu tổng quan về việc áp dụng môhình PBB của một số quốc gia trên thế giới cho thấy việc thựchiện PBB là xu hướng tất yếu Tuy nhiên để thực hiện thànhcông cần có thời gian và phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác độngliên quan đến thể chế (gồm khả năng đo lường kết quả hoạtđộng và khả năng áp dụng PBB của thể chế và thẩm quyền ápdụng) Hơn nữa trong quá trình đổi mới không thể không xemxét đến yếu tố con người là yếu tố quan trọng quyết định cho sựthành công của việc áp dụng mô hình PBB (Hepworth, 2003)
1.2.2.Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB
1.2.2.1. Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chấp nhận áp dụng một sự đổi mới
Trọng tâm của một số nghiên cứu về việc áp dụng PBB là khámphá việc chấp nhận đổi mới trong việc sử dụng thông tin kết quả
Trang 9hoạt động trong nội bộ đơn vị để phục vụ cho việc lập dự toán.Cho nên nghiên cứu này xem xét các nghiên cứu liên quan đếnviệc áp dụng một sự đổi mới hoặc sự đổi mới HTTT nói chung,
để phát hiện các nhân tố có thể tác động đến việc áp dụng môhình PBB và các lý thuyết nền tảng nói chung Sau khi xem xét,tác giả nhận diện được các nhân tố tác động đến việc áp dụng
mô hình PBB tại các đơn vị công ở các quốc gia, gồm: nhận
thức về lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng lực của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức, các yếu tố của thể chế (khả năng áp dụng của thể chế và thẩm quyền
1.2.2.3.Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị công trên thế giới
Phần này thoogn qua các nghiên cứu chính xem xét các nhân tốtác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị côngtrong những năm gần đây Qua đó cũng góp phần chứng minhthêm cho sự tác động của các nhân tố đã được nhận diện ở trên
1.3.Các nghiên cứu trong nước về việc áp dụng mô hình PBB
Các nhà nghiên cứu về kế toán tại Việt Nam đang dần mở rộng hướng nghiên cứu sang kế toán khu vực công, nhưng chỉ mới tậptrung nghiên cứu vào việc xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia theo định hướng chuẩn mực kế toán công quốc tế và
Trang 10nghiên
Trang 11cứu về chuyển đổi sang kế toán trên cơ sở dồn tích Trong khi đócác nghiên cứu liên quan đến việc đổi mới mô hình quản lý ngânsách dựa trên kết quả hoạt động gần đây mới được quan tâm khi
có định hướng thay đổi trong quản lý chi tiêu ngân sách
1.4.Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống trong nghiên cứu.
1.4.1.Nhận xét các nghiên cứu trước
1.4.1.1. Đối với các nghiên cứu nước ngoài
Nội dung nghiên cứu
(tiểu bang), số lượng bài nghiên cứu ở cấp tổ chức hoặc đơn vịcòn khá hạn chế Đồng thời các nghiên cứu về PBB đều ở khuvực Bắc Mỹ, cụ thể là Hoa Kỳ
“giai đoạn” và “chủ đề” liên quan đến PBB
không có khuôn khổ lý thuyết rõ ràng hoặc vận dụng nhiều lýthuyết nền (Mauro, Cinquini, & Grossi, 2017)
Phương pháp nghiên cứu: được sử dụng trong các nghiên
cứu liên quan đến PBB trong các tạp chí kế toán không thuộckhu vực châu Âu đa phần là: nghiên cứu định lượng dựa trênkhảo sát, còn đối với các tạp chí hành chính công không thuộckhu vực châu Âu sử dụng phương pháp hỗn hợp
Kết quả các nghiên cứu liên quan đến PBB: Nhiều nhân tố
được phát hiện là có tác động đến việc áp dụng PBB nhưng mỗinghiên cứu được thực hiện trong các tổ chức và ngữ cảnh khácnhau và tại các quốc gia khác nhau, cho ra những kết quả khác.Dựa trên các quan điểm này, tác giả đã tổng hợp những nhậnđịnh
Trang 12về các nhóm nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB
gồm: nhận thức về lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng
lực của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức, khả năng áp dụng của thể chế và thẩm quyền áp dụng.
1.4.1.2. Đối với các nghiên cứu trong nước
Nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu tập trung ở phạm vi ngân sách cấp
quốc gia, hoặc cấp tỉnh
toán khu vực công từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích, hoặcnghiên cứu về xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia theoIPSAS, hoặc nghiên cứu về minh bạch thông tin kế toán vàtrách nhiệm giải trình (2) nghiên cứu vấn đề hoàn thiện thu, chingân sách cấp tỉnh hoặc hoàn thiện phương pháp lập dự toánNSNN
khổ lý thuyết nền rõ ràng
Phương pháp nghiên cứu: định tính truyền thống từ tổng
hợp lý thuyết đến đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
Kết quả nghiên cứu liên quan đến PBB: tại Việt Nam thì
chưa phát hiện ra nghiên cứu nào nghiên cứu các nhân tố tácđộng đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ởViệt Nam
1.4.2.Xác định khoảng trống trong nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
1.4.2.1. Khoảng trống trong nghiên cứu nước ngoài: Thứ
nhất, nghiên cứu ở cấp đơn vị khá hạn chế Thứ hai, nghiên cứu
theo hướng hành vi cá nhân chưa được chú trọng trong lĩnh vựcnày
1.4.2.2. Khoảng trống trong nghiên cứu trong nước: Thứ
Trang 13nhất: các nghiên cứu tập trung ở ngân sách cấp quốc gia hoặccấp chính
Trang 14quyền địa phương, còn cấp đơn vị khá hạn chế Thứ hai: chưaphát hiện được nghiên cứu nào liên quan đến các nhân tố tácđộng đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ởViệt Nam.
1.4.2.3. Định hướng nghiên cứu:
“Đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội thành lập, có tư cách pháp nhân và cung cấp dịch vụ công ( như giáo dục, y tế,
…), phục vụ quản lý nhà nước” (Luật viên chức số 58/2010/QH12, 2012).Các đơn vị SNCL ở Việt Nam hoạt động
trong môi trường thể chế chính trị của một nhà nước XHCN; docác cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập thực hiện chứcnăng nhiệm vụ mà nhà nước giao nên được hỗ trợ ngân sách đểhoạt động Tuy nhiên tùy từng loại đơn vị mà nhà nước có sự hỗtrợ ở mức độ khác nhau Đặc biệt, cơ chế hoạt động của các đơn
vị hiện đang được đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự
và tài chính ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào khả năng
tự chủ tài chính Ngoài ra, việc lập dự toán tại các đơn vị SNCLthường vận dụng các kỹ thuật đơn giản hơn doanh nghiệp
Tình hình hoạt động: Theo điều tra kinh tế năm 2017, các đơn
vị SNCL vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn tới 96% với gần 70.700 đơn vị, trong đó hai ngành cao nhất là giáo dục và y tế (chiếm 61.7% và 19.3%) Hiện nay số lượng đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chihoạt động vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn với 70.2% số đơn vị
SNCL Một số quy định pháp lý liên quan đến việc lập dự
toán theo mô hình PBB tại Việt Nam hiện nay (chi tiết trong
luận án) Không nhấn mạnh vào các kỹ thuật PBB mà tìm hiểu những động
Trang 15lực tác động đến hành vi của người lập dự toán chấp nhận hoặcchống lại việc áp dụng PBB.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.Giới thiệu: chương này giới thiệu tổng quan về mô hình
PBB, các lý thuyết nền có liên quan và các khái niệm nghiên cứu
2.2.Tổng quan về mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động
2.2.1.Khái niệm khu vực công
Khu vực công là khái niệm để xác định một tập hợp các cơ quanquản lý nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp công và cả hệthống ngân hàng trung ương của quốc gia (Ball et al., 2012)
2.2.2.Khái niệm dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách là một kế hoạch hành động thể hiện dướidạng giá trị để hoàn thành các chương trình với các mục tiêutrong một thời gian nhất định gồm cả việc ước tính các nguồnlực cần thiết và các nguồn lực có sẵn, thường được so sánh vớimột hay nhiều thời kỳ trong quá khứ và thể hiện các yêu cầu vềnguồn lực trong tương lai (Bandy, 2014)
Dự toán NSNN
Dự toán NSNN được định nghĩa như là việc lập kế hoạch của
nhà nước về quy mô nguồn lực cần phải huy động trong xã hội,
để sử dụng cho các nhu cầu chi tiêu nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (Trần Thị Thanh Hương, 2007).
Dự toán ngân sách tại đơn vị công
Dự toán ngân sách tại một đơn vị công là kế hoạch tổng quan vềnhững hoạt động của một đơn vị công trong một thời kỳ nhấtđịnh, dưới các khía cạnh tài chính, gồm cả các khoản doanh thu
và chi phí, và thường được bổ sung bởi các thông tin khác vềcác
Trang 16hoạt động này, chẳng hạn như chức năng, mục tiêu hoặc tác độngmong muốn (Van Helden & Hodges, 2015).
2.2.3.Mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động (Performance based budgeting – PBB)
2.2.3.1 Khái niệm
Khái niệm về mô hình PBB
Trong các công trình trước chưa có định nghĩa hoàn chỉnh và đầy
đủ về khái niệm PBB Điểm chung của các định nghĩa là đề cậpđến việc sử dụng các thông tin về kết quả nói chung, liên kết
"mối quan hệ giữa ngân sách và kết quả" và "mối quan hệ giữachỉ số kết quả hoạt động và đánh giá” Trong nghiên cứu này,
dựa theo định nghĩa của Mauro et al (2017), PBB là mô hình về
quá trình thu thập, soạn lập dự toán dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin về kết quả hoạt động để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính của đơn vị nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của chính phủ nói chung
và đơn vị nói riêng Qua định nghĩa này PBB là một HTTT về tài chính, ngân sách
Khái niệm về kết quả hoạt động
Kết quả hoạt động là một khái niệm phức tạp và có thể được xemxet từ nhiều góc nhiều khác nhau (Dooren et al., 2015) Trongbối cảnh khu vực công, kết quả hoạt động là một khái niệm đachiều từ những lo ngại về việc tăng tính hiệu quả, tính hiệu lực,
số lượng và chất lượng đầu ra, năng suất, công bằng, cân đối, đápứng nhu cầu dịch vụ, niềm tin, sự hài lòng của người dân vàngười tiêu dùng (J Lee, 2008; Walker et al., 2011) Nhìn chungkết quả hoạt động liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả vàtính hiệu lực (van Helden & Reichard, 2013) Gần đây nhấnmạnh vào các tiêu chí liên quan đến đầu ra là tính hiệu quả, tínhhiệu lực và tính phù