Bên cạnh đó, một loạt những luận văn thạc sĩ, những khóa luận tốt nghiệp, cũng như nhiều báo cáo khoa học, nhiều bài viết đăng lên các tạp chí về vấn đề sử dụng thành ngữ của những tên t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
CHÂU MỸ THÚY
TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT VÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN LẬP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Lập đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Quy Nhơn đã có những hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi rất hạnh phúc, biết ơn và sẽ nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với tình yêu thương, tin tưởng, động viên, hết lòng hỗ trợ của tất cả thành viên trong gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp để tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 7
1.1 Những vấn đề chung về từ 7
1.1.1 Khái niệm về từ 7
1.1.2 Các thành phần về nghĩa của từ 8
1.1.3 Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống 10
1.1.4 Sự chuyển nghĩa của từ trong hoạt động 13
1.2 Quan niệm về ngữ cố định và thành ngữ 15
1.2.1 Quan niệm về ngữ cố định 15
1.2.2 Quan niệm về thành ngữ 16
1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ, cụm từ tự do với tục ngữ 26
1.3.1 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ 27
1.3.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do 28
1.3.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Trang 5Chương 2 TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 34
2.1 Khái quát từ ngữ chỉ sự vật và thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật 34
2.1.1 Khái niệm từ ngữ chỉ sự vật 34
2.1.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật 34
2.2 Từ ngữ chỉ thế giới thực vật và động vật trong thành ngữ tiếng Việt 38 2.2.1 Từ chỉ thế giới thực vật 38
2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của một số hình ảnh thực vật tiêu biểu trong thành ngữ tiếng Việt 45
2.2.3.Từ chỉ thế giới động vật 49
2.2.4 Ý nghĩa biểu trưng của một số hình ảnh động vật trong thành ngữ tiếng Việt 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 TỪ NGỮ CHỈ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 63
3.1 Quan niệm về tự nhiên 63
3.1.1 Khái niệm về tự nhiên 63
3.1.2 Con người trong mối quan hệ với tự nhiên 64
3.2 Từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên 68
3.2.1 Những từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt 68
3.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng Việt 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 ĐHQG HN : Đại học Quốc gia Hà Nội
2 ĐH & THCN : Đại học và Trung học chuyên nghiệp
3 ĐH & TCCN : Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp
4 KHXH & NHÂN VĂN : Khoa học xã hội và nhân văn
Trang 7Bảng 2.4 Thống kê và phân loại nhóm động vật gần gũi với con người
được phản ánh trong thành ngữ tiếng Việt 50
Bảng 2.5 Thống kê các loài động vật hoang dã được phản ánh
trong thành ngữ tiếng Việt 54
Bảng 2.6 Thống kê một số loài động vật khác xuất hiện trong thành ngữ
tiếng Việt 55
Bảng 3.1 Thống kê từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên được phản ánh trong
thành ngữ Tiếng Việt 69
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tự nhiên là một thế giới rộng lớn bao gồm những gì thuộc về vũ trụ và các sự vật hiện tượng trong tự nhiên Con người cũng là một sinh thể nhỏ bé trong thế giới tự nhiên Thiên nhiên rất phong phú và đa dạng các loài động vật, thực vật, các hiện tượng của vũ trụ, đất trời Đời sống con người phụ thuộc chặt chẽ vào thiên nhiên và các sự vật, hiện tượng đó Thiên nhiên là nơi có nguồn lương thực, nguồn tài nguyên, nơi cư trú và là điều kiện tất yếu
để con người tồn tại Tuy nhiên, nó cũng là một thế giới kì bí mà con người không thể nào khám phá hết Đó là vẻ đẹp của những chiếc lá, bông hoa, đàn chim, hồ nước, là cái nắng, cơn mưa,…tất cả các sự vật hiện tượng được khái quát thành những tên gọi phù hợp với đặc điểm của chúng, con người thông qua đó có thể hiểu biết thêm về ngôi nhà chung của mình
Thông qua thế giới tự nhiên, con người bộc lộ quan niệm văn hóa của mình về vũ trụ, tình cảm, thái độ ứng xử trong giao tiếp Chính vì thế mà có thể nói rằng lịch sử phát triển văn hóa xã hội của loài người từ xưa tới nay có mối quan hệ mật thiết với tự nhiên
Có thể nói về thế giới tự nhiên ở nhiều phương diện khác nhau Các nhà nghệ sĩ tìm hiểu thiên nhiên qua hội họa, điêu khắc, qua âm nhạc,…Tác giả dân gian lại có lối tư duy rất cụ thể, để diễn tả những điều muốn nói, họ thường tìm đến các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh mình Họ hướng về tự nhiên như trăng, gió, mây, hoa, các loài chim muông…để bầu bạn, chia sẻ tâm sự Cho nên ta thấy trong ca dao mọi sự biểu hiện của tình cảm con người đều liên hệ mật thiết với hiện tượng thiên nhiên Tự nhiên trong thành ngữ là phương tiện nghệ thuật đặc biệt để con người thể hiện tình cảm tâm trạng của mình
Trang 9Từ trước tới nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ, nhưng rất ít người nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam Chúng tôi đã tìm hiểu trên internet, báo chí, sách nghiên cứu, những đầu sách ngữ pháp, từ loại, thành ngữ có rất nhiều nhưng liên quan đến việc khảo sát từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ hầu như chưa có sự chú ý đúng mức Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài cho luận văn của mình là : “Từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam”
Ngoài ra, chúng tôi cũng được kế thừa từ các công trình nghiên cứu thành ngữ trước đó, có nhiều tài liệu tham khảo để chúng tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó Ngay cả khi biết ý nghĩa của các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của
cả cụm từ đó Trong tiếng Việt, “Mẹ tròn con vuông”, “Nước đổ lá khoai”,
“Chó ngáp phải ruồi”…là những thành ngữ, bởi vì ý nghĩa của chúng không
phải là ý nghĩa của các thành tố hợp lại theo quy tắc cú pháp Vì thế, nghĩa của các thành ngữ phải được học riêng biệt Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất khác biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt
Theo cách hiểu thông thường, một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ (idiomaticity) khi ý nghĩa chung của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý
Trang 10nghĩa của những bộ phận tạo thành Igor A Mel’cuk đã sử dụng khái niệm yếu tố tương đương khi dịch để định nghĩa tính thành ngữ Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ khi dịch toàn bộ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong trật tự nhất định) Thêm vào đó, từ này có thể được gặp
cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác Trong định nghĩa trên, có ba nhân tố cần chú ý:
Trong tổ hợp thành ngữ tính phải có ít nhất một từ có khả năng dịch duy nhất, tức là khả năng dịch chỉ có thể có được khi tồn tại đồng thời một hoặc
một số từ nào đó Ví dụ: “Mẹ tròn con vuông”, có nghĩa là người đàn bà ở cữ
và con đều bình yên mạnh khỏe Vuông và tròn chỉ có nghĩa là bình yên,
mạnh khỏe khi kết hợp với các từ mẹ và con
Trong bài viết mở rộng vốn từ tự nhiên trong thành ngữ Tiếng việt 5 Tập 1
trang 78 “Lên thác xuống ghềnh”, “Góp gió thành bão”, “Nước chảy đá mòn”,
“Khoai đất lạ, mạ đất quen” Cũng đề cập đến vấn đề các từ chỉ sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên như từthác, ghềnh, gió, bão, nước, đá, khoai, mạ, đất
Việc nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt hiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Đến những năm 60 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thành ngữ mới có cơ sở khoa học nghiêm túc Phải kể đến mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ Tiếng Việt” (1976) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang Tuy công trình này còn chưa bao quát được hết tất cả các thành ngữ trong tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ ích và có giá trị to lớn Đến năm 1989, Nguyễn Lân xuất bản cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, Hoàng Văn Hành “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ” (1988 – 1990) Các công trình khác về sau đều đi sâu vào nghiên cứu với mục đích tìm ra sự khác biệt giữa thành ngữ và các đơn vị khác liên quan, có nghĩa là các tác giả tìm ra sự
Trang 11khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa thành ngữ với ngữ định danh, giữa thành ngữ với cụm từ tự do Với công trình đó có thể kể đến sự đóng góp như “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” (1973) của Cù Đình Tú, “Từ và vốn tiếng Việt hiện đại” (1976) của Hồ Lê, “Tục ngữ Việt Nam” của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri , “Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc” (2016) của Triều Nguyên Và gần đây nhất là cuốn “Thành ngữ bằng tranh” (2020) của Nguyễn Thị Hường Lý biên soạn, với hơn 300 thành ngữ Việt Nam được minh họa bằng tranh Chính vì thế, thành ngữ cho đến nay vẫn đang được tiếp cận và khám phá theo nhiều khía cạnh khác nhau nhằm làm sáng rõ những giá trị phong phú của đơn vị từ vựng này Xuất phát từ những khía cạnh nói trên là việc nghiên cứu nghệ thuật sử dụng thành ngữ của các nhà văn, nhà thơ, những tác giả lớn Bên cạnh đó, một loạt những luận văn thạc sĩ, những khóa luận tốt nghiệp, cũng như nhiều báo cáo khoa học, nhiều bài viết đăng lên các tạp chí
về vấn đề sử dụng thành ngữ của những tên tuổi lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyên Hồng, Tản Đà, Tô Hoài, Nguyễn Du,…
Nhìn chung, chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách toàn diện về các
từ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam mà phổ biến chỉ dừng ở việc khảo sát các thành ngữ và tìm sự khu biệt giữa thành ngữ và những đơn vị khác liên quan Đó là động lực thúc đẩy chúng tôi đào sâu tìm hiểu, tự do khai thác nhiều điều mới về thành ngữ ở góc độ ngôn ngữ, đặc biệt ở giới hạn các
từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam, góp phần tìm hiểu cụ thể một số vấn đề mới của thành ngữ Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Thành ngữ thể hiện nhiều vấn đề khác nhau của đời sống con người Thông qua việc phân tích các từ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ, người đọc tiếp cận được những phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt của người lao động Từ các hình ảnh đó, tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của từ từ góc
Trang 12độ ngôn ngữ, làm nổi bật giá trị biểu trưng của các hình ảnh trong thành ngữ
Từ ngữ chỉ sự vật bao gồm những từ chỉ tên của cây cối, con người, hiện tượng, con vật, cảnh vật Đề tài này giúp cho người đọc và bản thân chúng tôi thu nhận được một vốn hiểu biết sâu sắc hơn về thành ngữ, đồng thời thấy được giá trị và ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ trong việc sử dụng từ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết giới hạn phạm vi nghiên cứu trong những thành ngữ có chứa các từ chỉ các sự vật và hiện tượng tự nhiên Cụ thể trong cuốn “Thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Lực (2001), Nxb Thanh Niên
Với đề tài này, người viết muốn hướng đến đối tượng nghiên cứu là những từ chỉ sự vật hiện tượng thiên nhiên thuộc về vũ trụ như mây, mưa, trăng, gió, …và các từ chỉ thế giới thực vật, động vật như cỏ cây, hoa lá, chim muông
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng phương pháp khoa
Bằng việc nghiên cứu, phân tích kỹ những đặc điểm của thành ngữ về
Trang 13cấu trúc, ngữ nghĩa, phân loại về loại hình, về phản ánh cách tư duy, chúng tôi mong muốn có thể cung cấp thêm nhiều thành ngữ hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn Chính vì thế, với đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ trong công việc nghiên cứu thành ngữ giai đoạn hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận,Tài liệu tham khảo và Phụ lục,phần nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Từ ngữ chỉ sự vật trong thành ngữ tiếng Việt
Chương 3: Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng Việt
Ngoài ra khóa luận còn bao gồm phần phụ lục: Danh sách thành ngữ
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Những vấn đề chung về từ
1.1.1 Khái niệm về từ
Cho đến nay, vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong cách định nghĩa về
từ Theo G.S Cao Xuân Hạo, “Chúng ta hiểu tính da dạng về tên gọi mà các
tác giả khác nhau đã đề nghị cho các đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordssyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word) Thực ra
nó chính là âm, hình vị, hoặc từ và tất cả là đồng thời nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là
sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết” Theo Nguyễn Thiện
Giáp, “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ba nghĩa để tạo ra câu
nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một chữ viết rời.” [9, tr.168]
Theo quan niệm của Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê, “Từ là âm
có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.” [9, tr.18]
Nguyễn Văn Tu cho rằng, “Từ là đơn vị nhỏ nhất và đơn lập, có hình
thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính biện chứng và lịch sử.” [9, tr.20]
Tác giả Nguyễn Kim Thản viết, “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể
tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và một khối hoàn chỉnh về ngữ âm (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.” [9, tr.21]
Hồ Lê nêu ý kiến, “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi
liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp
Trang 15tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.” [29,tr.104]
Lưu Văn Lãng cho rằng: “Những đơn vị dùng tách biệt rõ nhất mới là
từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất và từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp Tiếng Việt”.[25, tr.214]
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết
cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu hoặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.” [1, tr.14]
Qua các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát về khái niệm từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định và là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo nên câu
1.1.2 Các thành phần về nghĩa của từ
Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta liên hội từ với những cái mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính…mà từ đó làm tên gọi cho nó) Mặt khác nghĩa của từ cũng được thông qua các tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng Từ liên hệ với nhiều nhân
tố, nhiều hiện tượng Nghĩa của từ không chỉ có một thành phần Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:
1.1.2.1 Nghĩa biểu vật (denotative)
Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là nghĩa biểu vật của từ Hay nói cách khác, nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình có bản chất vật chất hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mây, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh, thần, Ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh
Trang 16trong tự nhiên Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc Ta có thể chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ
Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế sự vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể, còn nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát…
Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ
1.1.2.2 Nghĩa biểu niệm (significative)
Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm Hay nói cách khác, khái niệm là phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành nghĩa biểu niệm
Như vậy, nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ Các nét nghĩa bắt buộc từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế Mỗi dân tộc, tùy theo ngôn ngữ của mình, chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập nghĩa của từ trong hệ thống Nghĩa biểu niệm chiếm vị trí hàng đầu trong từ vựng -ngữ nghĩa Cần phải hiểu mối liên hệ mà chúng ta nói tới trong quan niệm về nghĩa của từ ở đây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểu hiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật – biểu vật (đúng là phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng) trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ
Trang 17Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa
có mối quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ Chính vì nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm Ví dụ: Nước biển, nước mắm, ngồi ghế, ngồi chồm hổm, cái bàn, quần áo,…
1.1.2.3 Nghĩa biểu thái (pragmatical meaning)
Nghĩa ngữ dụng còn gọi là nghĩa biểu thái, là mối liên hệ giữa từ với thái
độ chủ quan, cảm xúc của người nói Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như: “mạnh yếu”, “to nhỏ”,…nhân tố cảm xúc như:
“dễ chịu”, “khó chịu”, “sợ hãi”, “ngạc nhiên”,… nhân tố thái độ như: “trọng”,
“khinh”, “yêu”, “ghét”,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe
1.1.3 Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống
1.1.3.1 Nguyên nhân sự chuyển nghĩa của từ
Sự chuyển nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ngừng của thực tế khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tượng kiêng cữ,
sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ…Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất chính là “nhu cầu giao tiếp của con người” Thay đổi nghĩa của một từ có sẵn, thổi vảo chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời của nhu cầu giao tiếp
1.1.3.2 Các dạng chuyển nghĩa của từ
Dạng móc xích
Dạng tỏa ra
1.1.3.3 Phương thức chuyển nghĩa của từ
Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những
Trang 18tổ chức lộn xộn Nếu là một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ
có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu tổ chức nhất định Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn,
có thể phân tích ra được và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó
Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của
từ, trong ngôn ngữ có nhiều phương thức Tuy nhiên, có hai phương thức quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy)
a Phương thức ẩn dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b, c, d
vì giữa a, b, c,d có điểm giống nhau Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng
Ví dụ: Từ CHÂN trong tiếng Việt có nhiều nghĩa Khi định danh cho chân người, nó có nghĩa là: Bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có hình dạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng tương tự nhau, người ta đã chuyển CHÂN sang gọi tên cho những bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác như: chân đèn, chân ghế, chân bàn, chân giường) nó khác so với những hoạt động bằng chân của con người mà ta nói ở trên
Có hai hình thức chuyển nghĩa:
- Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể)
- Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng)
Trang 19b Phương thức hoán dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho sự vật b, c, d
vì giữa a, b, c, d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào
đó về không gian hay thời gian Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận
Ví dụ: “Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan” (thơ Nguyễn Du)
Thì các từ tay, mặt, gan không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay,
khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để chỉ con người trong nghĩa bóng của nó, như vậy bộ phận của con người được dùng để chỉ chính con người
Các dạng chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Dạng chuyển nghĩa này có các cơ chế chuyển nghĩa cụ thể sau: Lấy tên gọi của một bộ phận
cơ thể gọi tên cho người hay cho cả toàn thể Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặc điểm hình dáng của đối tượng gọi tên cho đối tượng Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên cho đơn vị thời gian lớn Lấy tên gọi của toàn bộ gọi tên cho bộ phận
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa hay lượng vật chất được chứa
- Lấy tên nguyên liệu gọi tên cho hoạt động hoặc sản phẩm được chế
ra từ nguyên liệu đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc ngành hoạt động sử dụng dụng cụ đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm – sinh lí đi kèm
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa các tác giả hoặc địa phương và tác
Trang 20phẩm hoặc sản phẩm của họ hoặc ngược lại
Tóm lại, hiện tượng nhiều nghĩa một mặt phản ánh độ dày của ngôn ngữ, một mặt đáp ứng quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ, mặt khác phản ánh độ phong phú của tư duy, tình cảm, những kinh nghiệm sống của mỗi dân tộc Hiện tượng nhiều nghĩa còn giúp ta có thêm căn cứ để hiểu sâu sắc bản chất ý nghĩa của từ cũng như tính hệ thống của chúng
1.1.4 Sự chuyển nghĩa của từ trong hoạt động
Trong hoạt động nhận thức và giao tiếp, từ có thể được chuyển nghĩa (chuyển tên gọi từ một đối tượng cũ sang đối tượng mới) dựa trên mối quan hệ nào đó giữa các đối tượng được gọi tên Tác giả Cù Đình Tú còn nói đến sự chuyển nghĩa của từ trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, 2001).Theo quan niệm của ông thì các cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng là trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi nghĩa Ở đây, nghĩa của từ vốn biểu thị đối tượng này nay được lâm thời chuyển sang đối tượng khác dựa trên một quan hệ liên tưởng nhất định (liên tưởng nét tương đồng và liên tưởng có tính logic khách quan) về mối quan hệ có thực xảy ra giữa hai đối tượng Tùy vào đặc trưng của từng đối tượng, tùy thuộc vào đặc trưng mối quan hệ liên tưởng giữa hai đối tượng mà chúng ta có những cách tu từ: ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, tượng trưng tu từ,…
1.1.4.1 Ẩn dụ tu từ
Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng
Ví dụ: “Nước đổ đầu vịt”
Trong tâm trí người bình dân Việt Nam, hình ảnh “vịt, trâu” thường
gắn với cái gì lì lợm, không thay đổi Người ta liên tưởng đến dấu hiệu tương
Trang 21tự ở một con người chậm tiêu, nói không nghe lời Và “Đầu vịt, tai trâu”
được thành ngữ lấy làm ẩn dụ để lâm thời biểu thị con người không chú ý tới những gì người lớn dạy bảo, hoặc lỳ lợm không nghe sự chỉ dẫn “Thôi thì như nước đổ đầu vịt, những lời chém to kho mặn của ông thầy dạy nghề cũng chẳng thấm vào đâu” (Báo văn nghệ, 1-11-1973)
1.1.4.2 Hoán dụ tu từ
Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng
Ví dụ: “Đầu trâu mặt ngựa”(thành ngữ)
- “Đầu” (bộ phận cơ thể)
- “Mặt người” (bộ phận cơ thể)
Chỉ con người hung hãn, ngang ngược thô bạo không có tính người giống như loài trâu ngựa “Quanh anh một lũ đầu trâu mặt ngựa uống máu người không tanh đang chờ đợi một miếng mồi ngon” (Nguyễn Sơn Tùng, Hoa hồng trắng) “Nửa giờ sau, một đoàn đầu trâu mặt ngựa do tên Chánh mật thám Ri Gan dẫn đầu ập vào hoa tít súng sáu bắt chúng tôi, điệu đi” (Nguyễn Tạo, Sống để hoạt động)
1.1.4.3 Tượng trưng
Tượng trưng là cách tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ
có tính chất xã hội Người ta quy ước với nhau rằng, từ ngữ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài cái nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó
Ví dụ : “Chửi mèo quèo chó”
“Chó”, “mèo” tượng trưng cho con người không có sự tương đồng,
tranh cãi nhau, chửi người này nhưng nói móc người kia
Trang 22Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ với ẩn dụ và hoán dụ từ vựng:
- Ẩn dụ và hoán dụ tu từ được sử dụng nhằm giúp cho sự diễn đạt tăng tính hình ảnh, biểu cảm, chứ không có tác dụng tạo nghĩa mới làm giàu cho
hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc Ẩn dụ và hoán dụ tu từ là sáng tạo của cá nhân do đó nghĩa tu từ mang tính tạm thời, lệ thuộc hoàn toàn vào văn cảnh, nghĩa tu từ biến mất
- Ẩn dụ tu từ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa đó là sản phẩm của toàn dân, được cố định hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từ điển như một nghĩa sẵn có, được tái dụng một cách tự do trong lời nói
Ví dụ: Kén cá chọn canh; Ăn vóc học hay
1.2.1.2 Đặc trưng của ngữ cố định
a Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ Tính thành ngữ được định định nghĩa như sau: Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B, C mang nghĩa lần lượt S(1), S(2), S(3) tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa S(1), S(2), (3) thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ
Tính thành ngữ có mức độ từ thấp tới cao khác nhau “Ba hoa tinh
tướng” có tính thành ngữ thấp hơn “Ba chìm bảy nổi” nhưng “Ba chìm bảy nổi” có tính thành ngữ thấp hơn “Ba cọc ba đồng”
Trang 23b Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa nói chung Thực ra trong các
ngữ cố định, có nhiều ngữ cấu tạo là các câu như: “Chuột sa chĩnh gạo”, “Cha
truyền con nối”, “Chó ngáp phải ruồi” thậm chí có hình thức cấu tạo là câu
ghép: “Đâm bị thóc chọc bị gạo”, “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”,…
Tiêu chí cơ bản để xác định các thành ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu “Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc như từ mà còn
vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu”
c Những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do là các trường hợp như: nói cách khác, nói khác đi, một mặt thì, đáng chú ý là, vv Tính chất cụm từ tự do của các ngữ này rất rõ ràng về ý nghĩa và hình thức Đây là các cụm từ tự do đã được cố định hóa do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải lặp đi lặp lại vì cần thiết cho sự suy nghĩ và cho
sự diễn đạt
d Nói ngữ cố định có tính chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biến đổi trong câu văn cụ thể Sự biến đổi của các ngữ cố định đa dạng hơn, “tự do” hơn các biến thể từ phức
Các ngữ cố định cũng có thể rút gọn, như ngữ “Chết nhăn răng”, “Tốt
mã giẻ cùi” có thể rút gọn còn “Nhăn răng”,”Tốt mã” Chúng có thể được
mở rộng, thêm thành phần như: “Như quốc kêu” được mở rộng thành“Học
như cuốc kêu ra rả mùa hạ”
1.2.2 Quan niệm về thành ngữ
Thông thường các nhà ngôn ngữ học thường phân chia ngữ cố định làm hai loại: Quán ngữ và thành ngữ Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác
Trang 24dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất chưa có tên gọi Ví dụ như: chắc chắn là, rõ ràng, cũng thế mà thôi, vv
Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ Các thành ngữ tương đương với từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hóa, có tính chất miêu tả
Ta có thể phân chia các ngữ cố định tiếng Việt về hình thức (dựa theo kết cấu cú pháp gốc của chúng) thành hai loại: ngữ cố định có kết cấu câu và ngữ cố
định có kết cấu cụm từ Ngữ cố định có kết cấu câu: “Mèo mù vớ cá rán”,
“Lươn ngắn chê chạch dài” Nhìn chung các ngữ cố định có kết cấu câu
thường biểu thị các sự kiện, tình thế phức tạp không có từ sẵn có đồng nghĩa
Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của một ngôn ngữ Thành ngữ hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của tiếng nói dân tộc Cùng với từ, nó được dùng rộng rãi phục vụ cho giao tiếp chung một cách phong phú và đa dạng
Thành ngữ là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và đưa
ra những khái niệm khác nhau, theo những hướng nhìn và khía cạnh khác nhau: Các nhà Việt ngữ học, khi nghiên cứu thành ngữ, không phải ai cũng đưa ra được những quan điểm đầy đủ và rõ ràng, thậm chí còn có tác giả cho rằng thành ngữ là tục ngữ Chẳng hạn Nguyễn Văn Tố trong bài “Tục ngữ ta đối với tục ngữ
Tàu và tục ngữ Tây” đã viết: “ Tục ngữ là những câu thành ngữ nói đã quen
trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ sâu xa, câu nào từ đời xa xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau” [46, tr.105]
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các nhà Việt ngữ học đã dần dần
Trang 25có được quan niệm ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ, mặc dù còn nhiều điểm khác nhau giữa các quan niệm nhưng các tác giả đều chỉ ra được ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ
Trong sách Việt Nam học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm đã đưa ra
quan niệm: “Thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn
đạt một ý gì cho có màu mè”.[13, tr 107]
Đến năm 1972, trong Tạp chí Ngôn ngữ số 3, Nguyễn Văn Mệnh lại coi
“Thành ngữ là đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh các hiện tượng
cũng như hành động và quan hệ” Hay trong bài Ranh giới giữa thành ngữ và
tục ngữ, ông đã chỉ ra một số nét riêng của thành ngữ như sau: “Về nội dung
thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một nét tính cách, một thái độ về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh” [31, tr.72] Tiếp tục hướng nghiên
cứu đó, năm 1986, ông lại đưa ra một khái niệm rõ ràng hơn: “Thành ngữ là
một loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” [32, tr.43]
Còn Trương Đông San thì cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố
định có ý nghĩa hình tượng tổng quát, không suy ra trực tiếp từ ý nghĩa của những đơn vị từ tạo ra nó Thành ngữ gồm những đơn vị mang ý nghĩa hình tượng chung, trong đó tất cả các đơn vị từ đều mất nghĩa đen” [37, tr.7]
Nguyễn Văn Tu quan niệm: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà
các từ trong đó đã mất tính độc lập cao về ý nghĩa kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không do nghĩa của từng thành tố tạo ra Những thành ngữ này cũng có thể có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng có thể khác nghĩa của các từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [44, tr.7]
Trang 26Nhấn mạnh về tính dân tộc của thành ngữ, Nguyễn Đức Dân viết:
“Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy
nghĩ đặc thù của dân tộc Thành ngữ phản ánh các khái niệm và hiện tượng”
[6, tr.11] Để khắc sâu tính gợi hình ảnh của thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp
nêu lên quan niệm: “Thành ngữ là một cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh
về nghĩa vừa có tính gợi tả Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên hình ảnh, những biểu tượng cụ thể Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng ẩn dụ và so sánh”.[9, tr.7]
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã định nghĩa
thành ngữ như sau: “Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể
được phân thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ Các thành ngữ tương đương với các từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hóa, có tính chất miêu tả” [4, tr.86]
Đái Xuân Ninh cho rằng: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các
yếu tố tạo thành đã mất tích độc lập ở các mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [33, tr.211]
Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì lại cho rằng “Thành
ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ” [22, tr.69]
Nhìn chung, quan niệm về thành ngữ khá đa dạng và phức tạp Các tác giả đều cố gắng nêu lên quan niệm của mình về thành ngữ Song qua đó chúng tôi nhận thấy khái niệm về thành ngữ đã ngày càng rõ nét hơn và có những điểm thống nhất như: Tính sẵn có và tính ổn định của tổ hợp từ gọi là thành ngữ
Trang 27Ta thấy sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu chủ yếu thể hiện ở điểm nhấn trong từng quan niệm về cấu trúc hình thức, đặc tính ngữ nghĩa hoặc chức năng của thành ngữ Ở khóa luận này chúng tôi chọn một cách hiểu thông thường rút ra từ quan niệm của các nhà Việt ngữ học, cụ thể chúng tôi coi: Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn và được sử dụng tương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ
1.2.2.1 Đặc điểm của thành ngữ
Thành ngữ với tư cách là đơn vị có sẵn tương đương với từ có các đặc điểm cơ bản như sau:
a Tính ổn định về hình thức: Sự ổn định về hình thức của thành ngữ thể hiện ở mặt cấu tạo, trật tự các thành tố trong thành ngữ
Ví dụ: “Há miệng mắc quai”
Tính ổn định về hình thức là một tiêu chí cơ bản để xác định thành ngữ Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, thành ngữ cũng có thể có những biến đổi
nhất định nhằm tăng thêm giá trị biểu cảm như: “Tất bật như nhà có đám” có thể biến đổi thành “Tất ba tất bật như nhà có đám” hay trường hợp “Đi guốc
trong bụng” thành “Đi dép trong bụng”
b Tính biểu trưng: Tính biểu trưng của thành ngữ thể hiện ở mặt nghĩa,
cụ thể: Nghĩa chung của thành ngữ không phải là phép cộng đơn giản của nghĩa từng thành tố cấu tạo nên nó
Ví dụ: “Đầu trâu mặt ngựa”
Thành ngữ này đã vận dụng hình ảnh trâu và ngựa để chỉ hạng người
hung hăng, ngang ngược, thô bạo không có tính người, giống như loài trâu ngựa
c Tính cụ thể: Tính biểu trưng của thành ngữ có được là do tính cụ thể Tính cụ thể làm cho thành ngữ có thể vận dụng linh hoạt trong giao tiếp hàng
Trang 28ngày và trong những cảnh huống khác nhau
Ví dụ: Cũng là tính chất lúng túng, nhưng “Lúng túng như gà mắc tóc”
nói đến tình trạng lung túng do sa vào nhiều sự việc dồn dập mà không tìm
được cách giải quyết, “Lúng túng như thợ vụng mất kim” là nói đến sự lung
túng không phải vì gặp nhiều sựu việc rắc rối mà là do chỗ chưa có kinh
nghiệm, lại mất phương hướng “Lúng túng như ếch vào rạp xiếc” là nói đến
sự lung túng do bị giam hãm trong những tình thế cực kì khó khăn, không thi
thố được tài năng “Lúng túng như chó ăn vụng bột” là nói đến sự lung túng
của những người phạm sai lầm muốn che giấu lỗi lầm của mình song tang chứng vẫn “sờ sờ” ra đấy” [4, tr.85]
d Tính dân tộc: Mỗi thành ngữ đều mang nghĩa biểu trưng, nó phản ánh tư duy của mỗi dân tộc Mỗi dân tộc có cách tư duy, cách nhìn nhận riêng
về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Ví dụ: Người Tày có thể so sánh “Rẻ như cát” còn người Kinh có thể so sánh “Rẻ như bèo”, hoặc người Anh so sánh “Đắt như bánh nóng”, người Việt lại so sánh “Đắt như tôm tươi”
1.2.2.2 Phân loại thành ngữ
Từ trước tới nay các nhà Việt ngữ học đã chú ý tới sự phân loại thành ngữ nhưng dường như các tác giả chỉ mới dừng lại ở những phạm vi nhất định với mục đích phục vụ cho việc phân loại hệ thống hóa các lớp từ ngữ trong tiếng Việt Điều này đã được thể hiện rõ qua các chuyên luận từ vựng học, ngữ pháp học của Nguyễn Kim Thản (1962), Nguyễn văn Tu (1968), Hồ Lê (1976), Đái Xuân Ninh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Cù Đình Tú (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Hoàng Văn Hành (1993)
Khi phân loại thành ngữ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường dựa vào những tiêu chí sau: Chức năng, ngữ nghĩa và hình thức.Do mục đích
Trang 29nghiên cứu khác nhau nên kết quả phân loại cũng khác nhau, ở đây chúng tôi dựa vào một số kết quả phân loại chính như sau:
Đặt thành ngữ trong sự tương ứng với từ về mặt chức năng và khả năng
thay thế cho nhau, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Các thành ngữ (có tính thành
ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với
từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ” [4, tr.86]
Đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép, Nguyễn Thiện Giáp phân thành ngữ tiếng Việt thành hai loại:
+ Thành ngữ thường (không đối, không so sánh).[45]
Như vậy, ranh giới giữa từng kiểu loại cụ thể được xác định tùy theo mục đích nghiên cứu của từng tác giả Nếu đi sâu vào từng kiểu nhỏ thì đường ranh giới đó lại càng đa dạng và phức tạp hơn
Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng để phân loại thành ngữ phải chú ý đến
Trang 30tất cả những nhân tố tham gia cấu tạo thành ngữ, làm cho sự phân loại không chỉ là sự sắp xếp các thành ngữ thành từng loại một cách triệt để mà còn phải nhằm mục đích nhận thức các thành ngữ Do vậy, khi phân loại thành ngữ cần thiết phải có sự kết hợp các tiêu chí hình thức, ngữ nghĩa để định loại Có thể phân loại thành ngữ thành mấy loại sau:
a Thành ngữ đối
Thành ngữ đối là bộ phận quan trọng trong vốn thành ngữ của bất kỳ một ngôn ngữ nào Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ
Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đề cập đến tính chất đối ứng của các yếu tố
tạo nên thành ngữ Theo tác giả: “Về hình thức, thành ngữ vẫn phân biệt với
cụm từ tự do ở tính phi cú pháp trong quan hệ Tính chất phi cú pháp của thành ngữ được bộc lộ rõ nhất ở tính đối ứng của các thành tố”.[7, tr.83]
Bùi Khắc Việt (1981) đã miêu tả khá kĩ lưỡng về thành ngữ đối Theo
tác giả: “Đối là cách chơi chữ cốt đặt hai tiếng, hai phần của câu hoặc hai
câu song song và cân xứng nhau Hai từ đối nhau nếu: Về ngữ pháp cùng thuộc loại từ; về ngữ nghĩa vừa có những đồng nhất vừa có những khác biệt;
về ngữ âm, có số lượng âm tiết ngang nhau, đối lập với âm điệu bằng trắc Trong ba điều kiện trên, đối về nghĩa là căn bản”.[47, tr.28]
Đi vào chi tiết, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân tích sự đối ứng, điệp hay đối lập giữa các thành tố trong hai vế của thành ngữ, ví như quan hệ về từ loại, quan hệ về các phạm trù ngữ nghĩa giữa các yếu tố Ở đây các quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, điệp nghĩa được miêu tả khá tỉ mỉ Các tác giả đi sâu vào việc tìm hiểu những quy luật bằng trắc, các yếu tố có sự thống kê khá công phu:
- Bằng bằng trắc trắc (quê cha đất tổ)
Trang 31trong thành ngữ “Đời cha ăn mặn đời con khát nước” Quan hệ đối ứng về ý
giữa hai vế của thành ngữ này là: đời cha đã hưởng nhiều, hưởng hết, hưởng quá phần được hưởng thì đời con phải chịu thiếu thốn, phải chịu thiệt thòi
Như vậy, nghĩa của thành ngữ đối được xác nhập chính là nhờ vào bậc đối ý này Đối lời là quan hệ đối ứng giữa các yếu tố xen cài trong hai vế
của thành ngữ Trong thành ngữ “Mẹ tròn con vuông” sở dĩ ta nhận thấy quan
hệ đối ý (sau khi sinh) mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh là
nhờ có quan hệ đối ứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông
Tóm lại, tuy các quan niệm về thành ngữ đối của tác giả mà chúng tôi liệt kê ở trên không có sự trùng khít với nhau nhưng vẫn có điểm đồng nhất: đều khẳng định đặc điểm nổi bật của thành ngữ đối là đối lời và nhờ quan hệ đối ứng này mà ta xác định được quan hệ đối ứng về ý của thành ngữ
từ đó suy ra ý nghĩa của từng thành ngữ
b Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh khi nghiên cứu tác giả đã đưa ra khá nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên chúng tôi xin điểm qua một vài quan niệm tiêu biểu
Nhà Việt ngữ học Trương Đông San cho rằng: “Đó là một cụm từ cố
định được dùng đi dùng lại thường xuyên, nhưng rất sinh động tươi mát, ví von, chân xác vì đã được đúc kết từ thực tiễn lâu đời và được mọi người Việt
Trang 32Nam thừa nhận”.[17, tr.2] Ví dụ: “Lừ đừ như ông Từ vào đền”, “Vắng như chùa bà đanh”, “Lòng vả cũng như lòng sung”, “Lúng túng như ngậm hột thị”, “Nóng như Trương Phi”
Tập thể tác giả biên soạn cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (Hoàng Văn Hành (chủ biên), 1991) nêu quan niệm về thành ngữ so sánh như sau:
“Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bên vững, bắt nguồn từ phép so sánh với
nghĩa biểu trưng” Ví dụ: “Rách như tổ đỉa”, “Khỏe như vâm”, “Ngu như bò”, “Béo như cun cút”, “Xoay như chong chóng”, “Như cá nằm trên thớt”,
“Như mở cờ trong bụng” Để làm rõ hơn về thành ngữ so sánh, Nguyễn Văn
Hằng nhấn mạnh: “Trong thành ngữ so sánh, yếu tố so sánh là yếu tố mang
hình ảnh, được xem như mẫu mực tính chất hay thuộc tính được gán ghép cho chủ thể và cả cụm từ có ý nghĩa khái quát.”
Qua các ý kiến nêu trên, chúng tôi nhận thấy: Quan niệm về thành ngữ
so sánh của các tác giả tuy khác nhau nhưng cơ bản các tác giả đều dựa trên phép so sánh để đưa ra các khái niệm sao cho rõ ràng và đầy đủ nhất Trong khóa luận này, từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi quan niệm về thành ngữ so sánh như sau:
Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh về nghĩa, bắt nguồn từ phép so sánh Hình tượng của thành ngữ so sánh rất phong phú và sinh động, gần gũi và quen thuộc với người bản ngữ được đúc kết từ trong đời sống
c Thành ngữ thường
Kì thực, thành ngữ thường là một loại riêng, có con đường tạo lập nghĩa riêng và rất độc đáo Thành ngữ thường chiếm một số lượng lớn rất đáng kể trong “kho” thành ngữ của bất kì một dân tộc nào Với loại thành ngữ này, nếu không tập trung chú ý thì dễ bị che lấp bởi các loại thành ngữ so sánh và
Trang 33thành ngữ đối Chính vì vậy, chúng ta thường thấy các nhà Việt ngữ học hoặc chỉ nghiên cứu thành ngữ nói chung hoặc lấy các đặc điểm nổi trội của thành ngữ so sánh và thành ngữ đối làm đối tượng nghiên cứu của mình Về hình thức, một bộ phận khá lớn các thành ngữ thường xuất hiện dưới dạng một kết cấu chủ vị, nói chính xác hơn là tương đương với một câu trọn vẹn
Ví dụ: “Chó ngáp phải ruồi”
“Gà què ăn quần cối xay”
Nói một cách tổng quát thì thành ngữ chủ yếu được hình thành bằng xu hướng cố định hóa câu và các cụm động từ Nguyên nhân tạo nên xu hướng này là do bản thân ngữ nghĩa của loại thành ngữ này quy định Thành ngữ thường hẳn là được hình thành nhờ vào sự quan sát sự vật, hiện tượng thiên nhiên, xã hội với một quá trình lâu dài được hình thành trong tư duy của con người, làm nảy sinh những liên tưởng với những điều gần gũi, thân thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày Thông thường những liên tưởng đó phải viện đến một hình thức cố định như kết cấu chủ vị hay cụm động từ (nòng cốt đóng vai trò vị ngữ tính của câu) Nghĩa của thành ngữ thường nói chung tiềm
ẩn những đặc trưng, những tri thức văn hóa, lịch sử, khó có thể lý giải trên bề mặt câu chữ
Ví dụ: “Thả hổ về rừng”
“Gương vỡ lại lành”
1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ, cụm từ tự do với tục ngữ
Về mặt phương pháp luận, muốn hiểu biết khái niệm thành ngữ, ngoài việc chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng của nó cần phải xem xét nó trong quan hệ với các khái niệm có liên quan Những khái niệm có liên quan dễ nhầm lẫn với thành ngữ là quán ngữ, cụm từ tự do và tục ngữ Trên thực tế việc xác định ranh giới giữa các khái niệm này lại hết sức phức tạp, còn tồn tại nhiều ý
Trang 34kiến tranh luận khác nhau
1.3.1 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ
Khi mà để xác định phạm vi rộng hay hẹp của ý sắp trình bày, chúng ta thường mở đầu: Nói chung thì (nói một cách tổng quát; nhìn chung; đại thể; đại cương mà nói), Nói riêng thì (đi vào chi tiết; nhìn riêng; để cho được rõ ràng: chuyên biệt mà nói) Để khẳng định tính chất của ý sắp trình bày, chúng
ta thường mở đầu: Thành thực mà nói; Nói chí tình; Nói thật với nhau; Nói cho đúng; Nói mà không sợ quá lời vv Đây là những nhóm từ quen dùng, các nhà ngữ pháp đã đặt tên cho chúng là “quán ngữ” (những ngữ quen dùng, được dùng lâu ngày thành quen trong ngôn ngữ) Nhưng để phân biệt thành ngữ và quán ngữ ta hãy để ý những điểm này: Thành ngữ thường thì có nội dung so sánh, còn quán ngữ chỉ là một cách nói
Quán ngữ ra đời sau thành ngữ nếu xét về mặt thời gian Ở các tác
phẩm ra đời cách đây vài ba trăm năm, có thể có những thành ngữ “Đẹp như
tiên”, “Đen như cột nhà cháy” nhưng chắc chưa có quán ngữ như: “Nói riêng với nhau mà nghe”, “Nói để bà con dễ thông cảm”
Những quán ngữ được dùng để mở đầu một câu trong các ví dụ trên, thường được gọi là khởi ngữ (ngữ bắt đầu câu) Nhưng trong thông dụng, quán ngữ không phải luôn luôn là khởi ngữ Quán ngữ có thể đứng giữa câu, cuối câu Khi đó quán ngữ sẽ mang tên theo chức năng cú pháp
Ví dụ: Tình hình văn học hiện đại, nói chung, cũng có nhiều biến đổi
Nằm ở giữa câu ý nghĩa không khác khi nằm ở đầu câu, nhưng quán ngữ “nói chung” không có chức năng mở đầu câu nên không được gọi là
“khởi ngữ” Ở đây nó có phận sự đưa đẩy Vì thế nó được gọi là chuyển ngữ Như vậy:
Thành ngữ và quán ngữ đều là những nhóm từ quen dùng đối với mọi
Trang 35người và có thể có người không thích dùng nhưng nghe vẫn hiểu đúng ý
Thành ngữ luôn hàm ý so sánh, nhận xét, nặng về nội dung Quán ngữ chỉ mở ý, chuyển ý, nặng về hình thức
Về số lượng thành ngữ nhiều hơn quán ngữ gấp bội Nhưng tính số lần được dùng thì quán ngữ được dùng nhiều hơn Kiếm một cuốn sách khoảng
200 trang không chắc đếm được 20 thành ngữ, nhưng có thể đếm được cả trăm quán ngữ mở đầu câu như “thật ra”, “nói cho đúng”, “nhìn chung”
Dịch một quán ngữ nước ngoài sang tiếng Việt rất dễ, nhưng không dễ
gì tìm được những thành ngữ đồng nghĩa trong hai thứ tiếng, thường chỉ có thể dịch theo ý
1.3.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và hoạt động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu Cụm từ tự do là một kết hợp tạm thời mỗi lần dùng đều được cấu tạo mới và chỉ tồn tại trong phạm
vi một văn bản nhất định Những bộ phận cấu thành cụm từ tự do có thể được thay thế bằng những từ khác cùng loại, chỉ là tăng giảm nghĩa của từ cụ thể còn nghĩa của cụm từ không bị phá vỡ
Ở thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn, có cấu trúc bền vững luôn được tái hiện dưới dạng có sẵn với cùng một thành phần yếu tố cố định Thành ngữ không thể bỏ đi hay thay thế bất kỳ yếu tố nào mà không phá vỡ nghĩa của toàn thành ngữ
Nghĩa của cụm từ tự do là nghĩa tổng hợp của các từ riêng lẻ Thường
có nghĩa hình ảnh ẩn dụ, không thể suy trực tiếp từ nghĩa của các yếu tố cấu thành Dùng để định danh như thành ngữ nhưng không có giá trị hình ảnh biểu cảm Ở thành ngữ dùng để gọi tên (định danh) hiện tượng, sự vật, tính chất, trạng thái nhưng mang giá trị hình ảnh biểu cảm Sự kết hợp chỉ phục
Trang 36tùng những chuẩn mực từ vựng, ngữ pháp Thành ngữ thường có tổ chức âm điệu, tiết tấu của toàn cấu trúc, thành ngữ có tính nhạc
Tóm lại, có thể nói không có ranh giới rõ ràng, tuyệt đối để phân biệt cụm từ tự do và thành ngữ Bởi lẽ nếu những cụm từ tự do trở nên cố định và nghĩa của nó phức tạp hóa nó biến thành thành ngữ
1.3.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Trong giới ngôn ngữ học có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ, các ý kiến và quan niệm ấy xuất phát từ sự phân loại khác nhau:
Và người đầu tiên đi tìm sự khác nhau giữa hai đơn vị này là nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1943),
ông cho rằng: “Một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên
răng hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng
để diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [13, tr.15]
Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vũ Ngọc Phan đã đưa ra quan niệm
của mình: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt một ý trọn vẹn, một nhận xét,
một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là thành phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh” [34, tr.31]
Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1972 có bài “Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ:” của tác giả Nguyễn Văn Mệnh Tác giả bài báo có nhận xét rằng “giữa thành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra những điểm khu biệt rõ ràng có ở cả hai phương diện nội dung và hình thức” Từ nhận xét “về nội dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái
Trang 37độ”, còn tục ngữ “đi đến một nhận định cụ thể, một kết cấu chắc chắn, mộ kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học tư tưởng về đạo đức” tác giả rút ra kết luận: “Có thể có nội dung của tục ngữ nói chung chỉ mang tính quy luật Từ sự khác nhau cơ bản nội dung đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh
Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”.[31]
Trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1973 trong bài báo: “Góp ý về sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ”, nhà ngôn ngữ học Cù Đình Tú đưa ra quan niệm riêng của mình là: “Thành ngữ là một hiện tượng của ngôn ngữ Tục ngữ xét về mặt nào đó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ Giải quyết được các hiện tượng ngôn ngữ phải dựa vào những căn cứ ngôn ngữ học Một trong những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại là chỉ ra sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết cấu và chức năng, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động của thành ngữ là những đơn vị tương đương từ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ có chức năng khác hẳn thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một phương tiện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” [45, tr 41]
Theo nhà nghiên cứu văn học Chu Xuân Diên, thì cần phải xem xét thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng của ngôn ngữ khác nhau mà chủ yếu như một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng trong ý thức xã hội Cho nên tiêu chí gốc cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là hai tiêu chí về nhận thức luận với tiêu chí đó
Trang 38Hoàng Văn Hành và một số tác giả ở Viện Ngôn ngữ học trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” đã nhận xét thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ nhưng khác tục ngữ về bản chất Thành ngữ là những tổ hợp
từ đặc biệt, biểu hiện những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật
Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại
nhiều lần trong lời nói như một đơn vị có sẵn, nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt nội dung nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ, mà biểu thị một tổ hợp khái niệm” [7, tr.83]
Nhìn chung lại kể cả nhà nghiên cứu văn học lẫn các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều đưa ra những cơ sở những tiêu chí khác nhau để phân biệt
sự khác nhau thành ngữ và tục ngữ nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn Các nhà nghiên cứu văn học thì thiên về tiêu chí nội dung còn các nhà Ngôn ngữ học lại sử dụng tiêu chí chức năng và tiêu chí ý nghĩa để phân biệt Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại những hiện tượng trung giữa thành ngữ và tục ngữ (tuy số lượng không nhiều) Ví dụ như một số thành ngữ có cấu tạo
theo mô hình câu chủ ngữ-vị ngữ nhưng chỉ là thành ngữ: “Cú đội lốt công”,
“Nước mắt chạy quanh” hay có một loại khác do thay đổi chức năng có thể
dùng như một thành ngữ hay tục ngữ bằng cách thêm vào một số từ: mà, thì lại, mà lại Ví dụ:
Dầm mưa dãi nắng → Dầm mưa thì dãi nắng (hiện tượng) (quy luật) Trứng chọi với đá → Trứng mà lại chọi với đá (hiện tượng) (quy luật)
Một hiện tượng khác cũng có những trường hợp tồn tại dưới hai dạng
mà không biết do tục ngữ rút ngắn lại hay tục ngữ triển khai ra, phải chăng đó
là sự “chuyển hóa” giữa thành ngữ và tục ngữ Ví dụ:
Trang 39Khôn nhà dại chợ ↔ Khôn nhà dại chợ
Cờ đến tay ai ngưới ấy phất ↔ Cờ đến tay
Tất cả các trường hợp trên chứng tỏ rằng việc xác định ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ là hết sức phức tạp Tuy nhiên tổng hợp tất cả các ý kiến
đã phân tích ở trên lại, chúng tôi thấy thành ngữ và tục ngữ được phân biệt với nhau dựa trên một số tiêu chí tiêu biểu như:
- Về hình thức: Thành ngữ được thể hiện bằng cụm từ cố định (tương đương với từ) còn tục ngữ thể hiện bằng câu
- Về nội dung: Thành ngữ thể hiện khái niệm còn tục ngữ thể hiện phán đoán
- Về chức năng: Thành ngữ có chức năng định danh còn tục ngữ có chức năng thông báo
Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ:
- Thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị có sẵn với cấu trúc rất bền chặt, cố định, trong đó không thể dễ dàng thay đổi trật tự các yếu tố
- Cả thành ngữ và tục ngữ đều có nội dung ngữ nghĩa mang tính khái quát hình ảnh và nghĩa bóng
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tuy thành ngữ có nhiều quan niệm khác nhau tùy vào cách phân loại của từng tác giả Nhưng chung quy lại thành ngữ là những cụm từ cố định được sử dụng tương đương với từ, có chức năng gọi tên một sự vật, hiện tượng nào đó, có tính hình tượng, bóng bẩy về nghĩa hay còn gọi là nghĩa biểu trưng, nó có giá trị biểu cảm nhằm diễn đạt một nội dung, một quan niệm sống hay một thông điệp nào đó
Bên cạnh đó, có sự phân loại, phân biệt giữa thành ngữ và những đơn vị
Trang 40liên quan như tục ngữ, quán ngữ, cụm từ tự do, qua đó ta thấy sự khác biệt và những điểm tương đồng với nhau Đồng thời, từ sự nghiên cứu khái quát, ta nhận thấy được thành ngữ luôn là đề tài mà các tác giả đưa ra những quan điểm riêng để ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ Cách tư duy, nhận thức
về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, lối nói so sánh, ví von muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta trong thành ngữ góp phần làm giàu, làm đẹp thêm cho tiếng Việt