Số lượng bệnh nhân tại cộng đồng chưa được phát hiện là rất lớn so với số người đã được chẩn đoán và điều trị, nhiều người được phát hiện bệnh chưa từng nghĩ rằng mình có thể mắc bệnh ĐT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
ĐINH THỊ ĐÀO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
NĂM 2019-2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Bình Định – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
ĐINH THỊ ĐÀO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả điều tra trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Bình Định, tháng 7 năm 2020
Tác giả
Đinh Thị Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Võ Văn Toàn, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tại nhà trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Khoa học tự nhiên
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Khám, Khoa Xét nghiệm Trung tâm y tế thành phố Pleiku đã hết sức hợp tác, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình cùng tập thể anh chị em học viên lớp cao học K21 đã động viên, ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này./
Bình Định, tháng 7 năm 2020
Tác giả
Đinh Thị Đào
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 4
1.1.1 Vị trí, cấu tạo và chức năng của tuyến Tụy 4
1.1.2 Cấu tạo và chức năng của Isulin 6
1.1.3 Bệnh đái tháo đường 7
1.2 CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 17
1.2.1 Biến chứng tăng huyết áp 18
1.2.2 Biến chứng mắt 18
1.2.3 Biến chứng thận 19
1.2.4 Biến chứng thần kinh 19
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNGTRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 20
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 20
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 21
1.4 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG 22
Trang 6Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CÚU 24
2.2.1 Thực trạng mắc bệnh đái tháo đường 24
2.2.2 Một số biến chứng của đối tượng nghiên cứu 24
2.2.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường 24
2.2.4 Đánh giá hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về bệnh đái tháo đường 25
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu 25
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.3.5 Đạo đức nghiên cứu 32
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 33
3.1 THỰC TRẠNG MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 33
3.1.1 Tỷ lệ giới tính trong số người bệnh đái tháo đường 33
3.1.2 Tỷ lệ mắc bệnh theo nhóm tuổi 34
3.1.3 Tỷ lệ mắc bệnh theo nghề nghiệp 36
3.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh theo dân tộc 38
3.1.5 Tỷ lệ mắc bệnh theo địa bàn 40
3.2 MỘT SỐ BIẾN CHỨNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 425
3.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 45
3.3.1 Di truyền 45
Trang 73.3.2 Thời gian mắc bệnh 47
3.3.3 Chỉ số khối cơ thể (BMI 49
3.3.4 Thói quen ăn uống, sinh hoạt, tập thể lực 51
3.4 ĐÁNH GIÁ HIỂU BIẾT CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 54
3.4.1 Hiểu biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường 54
3.4.2 Hiểu biết về triệu chứng bệnh đái tháo đường 55
3.4.3 Hiểu biết về tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường 57
3.4.4 Hiểu biết về các biến chứng bệnh đái tháo đường 59
3.4.5 Hiểu biết về chế độ ăn uống trong điều trị bệnh đái tháo đường 61
3.4.6 Hiểu biết về chế độ tập thể lực đối với bệnh đái tháo đường 63
3.4.7 Hiểu biết về điều trị bệnh đái tháo đường 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt Chữ
1 ADA American diabetes Association (Hiệp hội ĐTĐ Mỹ)
2 BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
3 ĐTĐ Đái tháo đường
4 ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
5 IDF International Diabetes Federation (Hiệp hội ĐTĐ Quốc tế)
6 SD Standard deviation (Độ lệch chuẩn)
7 WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo giới 33 Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo nhóm tuổi 35 Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo nghề nghiệp 37 Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo dân tộc 38 Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo địa bàn 40 Bảng 3.6 Tỷ lệ một số biến chứng trên đối tượng nghiên cứu 42 Bảng 3.7 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo di truyền 46 Bảng 3.8 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh 47 Bảng 3.9 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo chỉ số BMI 49 Bảng 3.10 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo thói quen 51 Bảng 3.11 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về yếu tố nguy cơ gây
bệnh đái tháo đường
54
Bảng 3.12 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về triệu chứng bệnh
đái tháo đường
56
Bảng 3.13 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh đái tháo đường
57
Bảng 3.14 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về các biến chứng
bệnh đái tháo đường
60
Bảng 3.15 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết chế độ ăn uống trong
điều trị bệnh đái tháo đường
61
Bảng 3.16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về chế độ tập luyện
thể dục đối với bệnh đái tháo đường
63
Bảng 3.17 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về điều trị bệnh đái
tháo đường
64
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo giới 33 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo nhóm tuổi 35 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo nghề nghiệp 37 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo dân tộc 39 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường theo địa bàn 41 Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ một số biến chứng trên đối tượng nghiên cứu 42 Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo di truyền 46 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh 48 Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo chỉ số BMI 50 Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo thói quen 52 Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về yếu tố nguy cơ
gây bệnh đái tháo đường
55
Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về triệu chứng bệnh
đái tháo đường
56
Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh đái tháo đường
58
Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về các biến chứng
bệnh đái tháo đường
60
Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết chế độ ăn uống
trong điều trị bệnh đái tháo đường
62
Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về chế độ tập luyện
thể dục đối với bệnh đái tháo đường
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang 12Năm 2015, theo báo cáo của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF), trên toàn cầu ước tính có khoảng 8,8% dân số trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ Tại Việt Nam, năm 2015 có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,6% Việt Nam đứng trong top 5 nước có số lượng bị mắc ĐTĐ cao nhất trong khu vực Tây Thái Bình Dương.
Năm 2017, IDF ước tính, 1trong 11 người trưởng thành (20-79 tuổi)
bị ĐTĐ (425 triệu người) 1 trong 2 người trưởng thành (20-79 tuổi) bị ĐTĐ không được chẩn đoán (trên 212 triệu người) IDF ước tính, năm
2045, một trong 10 người trưởng thành (20-79 tuổi) sẽ bị ĐTĐ (629 triệu người); Chi phí y tế liên quan đến ĐTĐ sẽ vượt quá 776 tỷ USD
Những con số trên chỉ là ước tính, thực sự chúng ta còn chưa biết số bệnh nhân hiện nay chính xác là bao nhiêu Bệnh có thể diễn biến thầm lặng trong vòng 5-10 năm, có tới 65% bệnh nhân mắc bệnh nhưng không được phát hiện Tuy nhiên, bệnh ĐTĐ có thể được ngăn chặn nếu cải thiện được các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh [1] Những người bị bệnh ĐTĐ cũng có thể sống lâu và khỏe mạnh nếu được phát hiện, quản lý và chăm sóc tốt tình trạng bệnh của mình Do vậy, việc đánh giá đúng tình hình thực trạng bệnh tại địa phương, sự hiểu biết của người dân về bệnh
Trang 132 ĐTĐ để có chiến lược, biện pháp phòng chống bệnh một cách có hiệu quả
là hết sức cần thiết
Ngày 2 tháng 9 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Sức khoẻ Việt Nam tại quyết định Số 1092/QĐ-TTg, đặt mục tiêu đến năm 2025, sẽ có ít nhất 50% bệnh nhân ĐTĐ được phát hiện bệnh và tiếp tục tăng lên 70% vào năm 2030, đồng thời tăng tỉ lệ bệnh nhân được quản lý tại các cơ sở y tế lên 30-40% trong 10 năm tới
Gia Lai là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế, xã hội còn thấp, việc tiếp cận các thông tin bệnh tật còn hạn chế, người dân chưa có điều kiện
để tìm hiểu về bệnh ĐTĐ nhiều Số lượng bệnh nhân tại cộng đồng chưa được phát hiện là rất lớn so với số người đã được chẩn đoán và điều trị, nhiều người được phát hiện bệnh chưa từng nghĩ rằng mình có thể mắc bệnh ĐTĐ Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai nói riêng cũng không nằm ngoài hiện trạng bệnh và các yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, số lượng bệnh nhân mắc bệnh tương đối nhiều, tuy nhiên chưa có nghiên cứu khoa học nào để đánh giá tình hình mắc bệnh
và các yếu tố nguy cơ liên quan tại địa bàn Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường tại Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai năm 2019 - 2020”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định thực trạng mắc bệnh đái tháo đường trên các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường đến khám và điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Pleiku
- Xác định tỷ lệ một số biến chứng xảy ra trên các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường
- Điều tra, tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc bệnh đái tháo đường và đánh giá hiểu biết của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường về bệnh đái tháo đường
Trang 154
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1 Vị trí, cấu tạo và chức năng của tuyến Tụy
1.1.1.1 Vị trí của Tụy
Tụy là một cơ quan sau phúc mạc trãi dài từ độ cong bên trong của
tá tràng đi đến đến cuống lách, nằm cắt ngang trước cột sống, chếch lên trên sang trái Phần dài nhất của tuyến tụy nằm dài phía sau dạ dày, đuôi của tuyến tụy nằm liền kề với lá lách Phần lớn tụy ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, chỉ có một phần nhỏ ở dưới mạc treo [24]
1.1.1.2 Cấu tạo của Tụy
Cấu tạo của tụy gồm có ba phần: đầu tụy, thân tụy và đuôi tụy Đầu tụy nằm sát đoạn tá tràng D2, đuôi tụy thì kéo dài đến sát nách Ống tụy là một ống nằm dọc suốt chiều dài của tụy có chỗ nối vào tá tràng gọi là bóng Vater dẫn lưu dịch tụy đổ vào đoạn D2 của tá tràng Ống mật chủ kết hợp với ống tụy gần bóng Vater còn cơ vòng Oddi là nơi đổ ra của ống tụy và ống túi mật Tụy được cung cấp máu bởi các động mạch
tá tụy là nhánh của động mạch mạc treo tràng trên Tĩnh mạch đưa máu
đổ về các tĩnh mạch lách rồi đổ vào tĩnh mạch cửa Tĩnh mạch cửa được hợp thành bởi sự hợp thành của hai tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách Đối với một số người thì tĩnh mạch mạc treo tràng dưới cũng đổ vào tĩnh mạch lách, phía sau tuyến tụy [13], [24]
1.1.1.3 Chức năng của Tụy
Tuyến tụy sản xuất dịch tiêu hóa có khả năng tiêu hóa gần như tất
cả các thành phần thức ăn gồm tụy ngoại tiết và tụy nội tiết:
Trang 165
Hình 1.1 Cấu tạo của tuyến tụy
Tụy ngoại tiết
Tụy được bao bọc bởi bao tụy có tác dụng phân chia tụy thành các tiểu thùy Nhu mô của tụy được cấu tạo bởi các tế bào tụy ngoại tiết chứa đựng rất nhiều các hạt nhỏ chứa enzyme tiêu hóa dưới dạng tiền chất chủ yếu là trypsinogen, chymotrysinogen, lipase tụy và amylase [13], [24]
Tụy nội tiết
Hình 1.2 Cấu tạo tụy nội tiết
Nhu mô của tụy nội tiết là các nhóm nhỏ tế bào gọi là tiểu đảo tụy hay tiểu đảo Langerhans gồm từ 1-2 triệu đảo, là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu và đổ vào tĩnh mạch cửa
Các tiểu đảo này là phần nội tiết của tuyến tụy có chức năng tiết các hormone quan trọng là Insulin có tác dụng làm giảm đường huyết; glucagon
có tác dụng làm tăng đường huyết và tăng cường phân giải glycogen thành
Trang 176 glucose; còn các hormone khác như Lipocain có tác dụng oxy hóa các chất đặc biệt là axit béo Nếu nhiều mỡ được đưa về gan mà không được oxy hóa
có thể tích tụ gây nhiễm mỡ gan
Ba loại tế bào chính của tiểu đảo tụy là tế bào alpha, tế bào beta, và tế bào delta Trong ba loại này thì tế bào beta chiếm số lượng nhiều nhất và sản xuất Insulin Các tế bào alpha sản xuất glucagon và tế bào delta sản xuất somatostatin có tác dụng làm giảm nồng độ của glucagon và Insulin trong máu [13], [24]
1.1.2 Cấu tạo và chức năng của Isulin
1.1.2.1 Cấu tạo Insulin
Insulin là một polypeptide bao gồm một chuỗi A với 21 amino acid và một chuỗi B với 30 amino acid, có một cầu nối disulfide trong chuỗi A và 2 cầu nối disulfide nối giữa hai chuỗi A và B Gene mã hóa insulin nằm trên nhiễm sắc thể số 11 [27]
1.1.2.2 Chức năng của Insulin
Hình 1.3 Vai trò của Insulin
Insulin có tác dụng lên chuyển hóa lipid, điều hòa bài tiết và đặc biệt là tác dụng lên chuyển hóa glucid, là hormon duy nhất có tác dụng giảm đường máu với cơ chế cụ thể như sau:
Tăng tính thấm glucose qua màng tế bào, đồng thời cũng làm tăng sự thẩm thấu của các ion K+ và phosphate vô cơ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
Trang 187 phosphoryl hóa và sử dụng glucose Cần chú ý rằng, có một số tổ chức không nhạy cảm với insulin, do vậy ở những tổ chức này insulin không làm thay đổi nồng độ glucose trong tế bào (như tổ chức thần kinh, bạch cầu, phổi, thận và nhất là gan) Ở gan, glucose thấm qua màng tế bào một cách tự do dù có hay không có mặt insulin
Tăng thoái hóa glucose ở cơ vì màng tế bào cơ bình thường chỉ cho glucose khuếch tán qua rất ít trừ khi có Insulin Thường sau ăn vài giờ, khi nồng độ glucose máu tăng, tăng tiết Insulin làm tế bào cơ sử dụng nhiều glucose Khi lao động nặng hoặc luyện tập thì tế bào cơ cũng có thể sử dụng 1 lượng lớn glucose mà ko cần 1 lượng Insulin tương ứng Tăng dự trữ glycogen ở cơ: nếu sau bữa ăn mà cơ ko vận động thì glucose vẫn chuyển vào
tế bào cơ và tích trữ dưới dạng glycogen
Tăng thu nhập, dự trữ, sử dụng glucose ở gan: Hầu hết lượng glucose hấp thu từ ruột vào gan chuyển thành glycogen, nếu dư thừa sẽ chuyển thành acid béo vận chuyển đến mô mỡ dưới dạng lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp và lắng đọng dưới các mô mỡ dự trữ ức chế quá trình tạo đường mới: Insulin làm giảm hoạt tính và số lượng các enzym tham gia tạo đường mới, kích thích sự tổng hợp glucosekinase ở gan, ức chế tổng hợp một số enzyme xúc tác sự tân tạo đường như pyruvat carboxylase… giảm giải phóng acid amin từ cơ và mô khác vào gan do đó giảm nguyên liệu của quá trình tạo đường mới
Giảm tác dụng của glucose 6 – phosphatase
Ức chế phân hủy lipid, cho nên tăng cường đốt cháy glucose [27], [39]
1.1.3 Bệnh đái tháo đường
1.1.3.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ được Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Heath Orgnization) định nghĩa là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng
Trang 198 glucose máu mạn tính do hậu quả của thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của Insulin hoặc kết hợp cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là tổn thương ở mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [55]
Tại Việt Nam, theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 7 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế, bệnh ĐTĐ được định nghĩa là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết Insulin, về tác động của Insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh[11].
1.1.3.2 Sơ lược lịch sử bệnh đái tháo đường
Người Hy Lạp và người La Mã đã biết về bệnh ĐTĐ Người La Mã đã khám phá ra rằng: Nước tiểu của một số người thì mellitus, nghĩa của nó trong tiếng La-Tinh là “ngọt” Người Hy Lạp nhận ra rằng khi người bệnh ĐTĐ uống nước, dịch tiết vào nước tiểu hầu như rất nhanh khi nước đi vào miệng, y hệt như “xifông” – gọi là bình thông đáy Họ đã gọi đó là Siphon vì nghĩa của nó trong tiếng Hy Lạp là Diabetes Đây là nguồn gốc của tên hiện nay cho chứng bệnh Diabetes mellitus Có những sự mô tả về triệu chứng bởi người Ba Tư, người Ấn Độ và người Ai Cập cổ Nhưng một sự hiểu biết chính xác về trạng thái của căn bệnh này đã được phát triển hơn 100 năm qua.Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus mô tả về những người mắc bệnh đái nhiều Dobson (1775) lần đầu tiên hiểu được vị ngọt của nước tiểu ở những bệnh nhân ĐTĐ là do sự có mặt glucose [31], [37], [46]
Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào bài tiết ra Insulin và Glucagon không nối với đường dẫn tụy Năm 1889, Minkowski và Von Mering gây ĐTĐ thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ tụy, đặt cơ
sở cho học thuyết ĐTĐ do tụy [31] Năm 1921, Banting và Best cùng các
Trang 209 cộng sự đã thành công trong việc phân lập Insulin từ tụy [9] Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và biến chứng ĐTĐ, được công bố năm
1993 và nghiên cứu dự báo bệnh tiểu đường của Anh được công bố năm 1998
đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh ĐTĐ, là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh [55]
1.1.3.3 Đặc điểm biểu hiện bệnh đái tháo đường
Do nồng độ glucose trong máu tăng cao rõ rệt nên đã xuất hiện những biểu hiện lâm sàng sau:
+ Đi tiểu nhiều, khát nước, uống nhiều nước: Do đường huyết tăng cao,
áp lực thẩm thấu nước tiểu tăng cao mà khả năng hấp thu lại của tiểu thận giảm, nên lượng nước tiểu tăng thêm nhiều đã dẫn tới đi tiểu nhiều Mỗi ngày
có thể đi tiểu đến 20 lần, lượng nước tiểu mỗi ngày từ 2-3 lít trở lên Do lượng nước tiểu tăng thêm nhiều, nên làm cho cơ thể bị mất nước, đã dẫn tới hiện tượng khát nước và uống nhiều nước
+ Ăn nhiều: Sau khi ăn, lượng đường trong máu tăng cao, do lượng Insulin giảm làm cho lượng đường được chuyển hóa và dự trữ trong gan và trong cơ thể giảm, vì vậy lượng đường được cơ thể hấp thụ ít, phần lớn bị thải
ra ngoài cùng nước tiểu, làm cho cơ thể thiếu nhiệt năng, bệnh nhân thường thấy đi tiểu và ăn nhiều hơn bình thường khá nhiều
+ Sút cân: Do cơ thể thiếu chất Insulin nên sự phân giải và chuyển hóa các chất lipit, prôtêin gia tăng, lượng đường được hấp thụ giảm mà phần lớn
bị thải ra ngoài, nhiệt lượng của cơ thể chủ yếu dựa vào sự phân giải của lipit, nên đã làm cho trọng lượng của bệnh nhân giảm dần
Những triệu chứng trên ở mỗi bệnh nhân cụ thể có những biểu hiện nhiều ít hoặc nặng nhẹ khác nhau Có một số bệnh nhân lại xuất hiện ngay những triệu chứng bệnh tiểu đường dạng cấp hoặc mạn tính, nên có thể chẩn đoán phát hiện ra ngay bệnh tiểu đường, cũng có một số người triệu chứng
Trang 2110 bệnh biểu hiện không rõ ràng, mà qua khám sức khỏe hoặc chữa trị các bệnh khác đã phát hiện ra bệnh tiểu đường [4].
1.1.3.4 Phân loại bệnh đái tháo đường
- Năm 1999, WHO phân loại như sau: Phân loại theo nguyên nhân bệnh ĐTĐ [31]:
Bệnh ĐTĐ loại 1: Tế bào β bị phá vỡ thường dẫn tới thiếu chất Insulin
tuyệt đối Đây là dạng miễn dịch của tự thân, phát sinh đặc biệt
Bệnh ĐTĐ loại 2: Chủ yếu do đề kháng Insulin kèm theo Insulin tương đối thiếu, hoặc do Insulin tiết ra ít có kèm theo hoặc không kèm theo đề kháng Insulin
Những dạng đặc thù khác như: bệnh tiểu đường khi mang thai; bệnh do dùng thuốc hoặc các chất hóa học khác; chứng tổng hợp di truyền khác kèm theo bệnh ĐTĐ:chứng tổng hợp Down, chứng tổng hợp Twner’s, chứng tổng hợp Wolfram’s,
- Năm 2017, Theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT của Bộ Y Tế, bệnh ĐTĐ được phân thành các loại sau [11]:
ĐTĐ tip I do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu Insulin tuyệt đối ĐTĐ típ II do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng Insulin
ĐTĐ thai kỳ là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ tip 1, típ 2 trước đó
Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô
- Năm 2019, Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ, bệnh ĐTĐ được phân thành các loại như sau[48]:
ĐTĐ típ 1: Do tự miễn, phá hủy tế bào β ở tụy dẫn đến thiếu Insulin tuyệt đối
Trang 2211 ĐTĐ típ 2: Do đề kháng Insulin, dần dần giảm tiết Insulin do suy chức năng tế bào β tụy
ĐTĐ thai kỳ: ĐTĐ được chẩn đoán trong tam cá nguyệt thứ 2, thứ 3 của thai kỳ
Típ đặc biệt: ĐTĐ khởi phát ở người trẻ Bệnh lý tụy Do thuốc (glucocorticoid, điều trị HIVAIDS, hay sau ghép tạng)
ĐTĐ týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ thế giới Nguyên nhân do tế bào β bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt Insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ Insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn) Các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của ĐTĐ týp 1 ĐTĐ týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh
Đa số các trường hợp được chẩn đoán bệnh ĐTĐ týp 1 thường là người có thể trạng gầy, tuy nhiên người béo cũng không loại trừ Người bệnh ĐTĐ týp 1 sẽ
có đời sống phụ thuộc Insulin hoàn toàn [3].
ĐTĐ týp 2 chiếm 90-95% bệnh ĐTĐ Trước đây người ta gọi là bệnh ĐTĐ không phụ thuộc Insulin Đặc trưng của ĐTĐ týp 2 là kháng Insulin đi kèm với thiếu hụt tiết Insulin tương đối ĐTĐ týp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hóa lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận, … Nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng [18]
1.1.3.5 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
Cùng với sự phát triển của khoa học ngành y, căn cứ vào kết quả nghiên cứu khoa học về bệnh tiểu đường, giới y học đã tiến hành sửa đổi về tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại bệnh tiểu đường do tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xác định năm 1985 Vào năm 1997 Hiệp hội về bệnh ĐTĐ Hoa Kỳ
Trang 2312 công bố tiêu chuẩn cho việc chẩn đoán ĐTĐ, bao gồm bất kỳ một trong ba tiêu chuẩn sau [39] :
- Glucose trong huyết tương ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/L)
- Glucose trong huyết tương của bệnh nhân nhịn đói ≥ 126 mg/dl (7 mmol/L) nhịn đói có nghĩa là bệnh nhân không dùng bất kỳ thức ăn nào 8 tiếng trước khi thử nghiệm
- Hàm lượng Glucose trong máu ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/L) khi được xét nghiệm 2 giờ sau khi uống 75g Glucose Thử nghiệm này được gọi là thử nghiệm dung nạp Glucose Mặc dù thử nghiệm này hiếm khi được thực hiện
vì mất thời giờ và nặng nề nhưng nó vẫn là tiêu chuẩn vàng cho việc chẩn đoán bệnh ĐTĐ
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ theo kiến nghị của ADA (Hiệp hội ĐTĐ Mỹ) năm 1997 và được WHO công nhận năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999 được Bộ Y tế ra Quyết định áp dụng tại Việt Nam năm 2011 Bệnh ĐTĐ được chẩn đoán xác định khi có bất kỳ một trong ba tiêu chí sau: [1]
- Tiêu chí 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl), kèm theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân
- Tiêu chí 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126mg/dl), xét nghiệm lúc bệnh nhân đã nhịn đói ít nhất 6-8 giờ không ăn
- Tiêu chí 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)
Năm 2017, Theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT của Bộ Y Tế, Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (theo Hiệp Hội ĐTĐ Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau[11]:
- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:
Trang 2413
- Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
* Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày
- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện
ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
- Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản
và hiệu quả để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ
Theo hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2018, chúng ta có 4 lựa chọn cho tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ [48]
- HbA1C>= 6.5%
Thực hiện ở labo bằng phương pháp chuẩn theo chứng chỉ NGSP và tiêu chuẩn để khảo nghiệm DCCT (Kiểm soát tiểu đường và các biến chứng
có thể)
- Glucose huyết lúc đói >= 126 mg/dL (7.0 mmol/L)
(Lúc đói được xác định là không dung nạp calo trong 8h)
Trang 25- Glucose huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L)
(Ở những người có triệu chứng tăng đường huyết hay tăng đường
huyết đột ngột)
1.1.4 Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ có liên quan chặt chẽ với với các yếu tố như: Di truyền, tuổi tác, thời kỳ mang thai, tăng huyết áp, béo phì, thuốc, độc chất, Stress, lối sống, đặc biệt là chế độ ăn uống, vận động. Tuổi càng cao tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ càng lớn, đặc biệt là độ tuổi 50 trở lên, khi ở lứa tuổi trên
70 thì nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ tăng gấp 3-4 lần so với tỷ lệ chung của người lớn; Đối với những người có bố, mẹ, anh, chị em ruột mắc bệnh ĐTĐ thì khả năng mắc bệnh của người đó cao gấp 4-6 lần so với người trong dòng họ không mắc bệnh ĐTĐ, nếu một dòng họ mà cả 2 bên nội, ngoại, bố, mẹ, con cái đều có người mắc bệnh ĐTĐ thì khả năng mắc bệnh ĐTĐ của những người trong gia đình này là 40% [5]
1.1.4.1 Yếu tố di truyền
Hiện nay người ta chưa rõ bệnh ĐTĐ sinh ra do sự di truyền hay vì một tác động nào đó ảnh hưởng đến sự biến dưỡng của cơ thể mà sinh ra bệnh Tuy nhiên bằng những kết quả theo dõi lịch sử của bệnh nhân và bệnh ĐTĐ ở trẻ
em một chứng minh khá rõ ràng tính di truyền ảnh hưởng đến sự xuất hiện của bệnh Tỷ lệ mắc bệnh này ở trẻ phụ thuộc vào loại bệnh ĐTĐ mà bố mẹ mắc phải Nếu bố mẹ đều mắcbệnh ĐTĐ týp 1 thì tỷ lệ di truyền sang con sẽ khoảng 1/4 Với bệnh ĐTĐ týp 2, là loại bệnh liên quan đến cân nặng, tỷ lệ di truyền lại càng cao Nếu bố hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ týp 2, tỷ lệ di truyền sang
Trang 2615 con là 1/7 – 1/3, nhưng nếu cả hai bố mẹ đều mắc bệnh này thì tỷ lệ di truyền
sẽ là 1/2 [9].
1.1.4.2 Tuổi
Tuổi trung bình của bệnh nhân ĐTĐ týp 2 (chiếm 90% số trường hợp ĐTĐ) vào khoảng 60 – 65 tuổi Tỷ lệ bệnh gia tăng nhanh bắt đầu ở nhóm người > 45 tuổi; trên 65 tuổi: Tỷ lệ mắc bệnh có thể tới 16% dân số chung Gần một nửa số người mắc bệnh ĐTĐ thuộc nhóm người > 65 tuổi Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới: Ở người > 70 tuổi tỷ lệ người mắc ĐTĐ cao gấp 3 -4 lần so với tỷ lệ mắc ĐTĐ chung ở người lớn
Tuy nhiên, với nhịp điệu phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có nhiều người trẻ tuổi, thậm trí trẻ vị thành niên mắc ĐTĐ týp 2 Quan sát sự xuất hiện bệnh ĐTĐ týp 2 trong gia đình có tiền căn di truyền rõ ràng, ở thế
hệ thứ nhất thường mắc bệnh vào độ tuổi 60 – 70, đến thế hệ thứ hai tuổi xuất hiện bệnh giảm xuống ở lứa tuổi 40 – 50 và ngày nay những người được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 < 20 tuổi không còn là hiếm [5].
1.1.4.4 Địa dư
Các nghiên cứu tỷ lệ ĐTĐ cho thấy: Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng gấp 2 -3 lần
ở người sống trong nội thành so với người sống ở ngoại thành theo các công
Trang 2716
bố nghiên cứu dịch tễ ở Tuynidi, Ôxtrâylia, Puerto Rico và ở Việt Nam tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm khoảng 4,4% người >16 tuổi sống trong nội thành Hà Nội nhưng ở ngoại thành tỷ lệ mắc ĐTĐ chỉ vào khoảng 1% (theo số liệu điều tra dịch tễ năm 2000) Với cùng một chủng tộc, dân tộc, nguyên tắc yếu tố di truyền liên quan đến khả năng mắc bệnh ĐTĐ là như nhau, song những nghiên cứu tỷ lệ ĐTĐ ở những người di cư từ Nhật Bản đến Mỹ, từ Châu Phi đến Châu Mỹ cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở những người di cư này thường cao hơn 2 – 3 lần so với cộng đồng người không di cư Yếu tố địa dư ảnh hưởng đến tỷ lệ ĐTĐ thực chất là sự thay đổi lối sống: Ít vận động, ăn uống nhiều, stress, dẫn đến béo phì gây ra [5].
Những người béo phì lượng mỡ phân phối ở bụng nhiều dẫn đến tỷ lệ eo/hông lớn hơn bình thường Béo bụng có liên quan chặt chẽ đến hiện tượng kháng Insulin và sự thiếu hụt Insulin Từ năm 1985 béo phì đã được tổ chưc
Y tế Thế giới ghi nhận là một trong những yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ, Béo phì dạng nam hay còn gọi là béo bụng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ týp 2 Một người được coi là béo bụng khi vòng bụng > 90cm đối với nam và > 80cm đối với nữ [5]
Đối với những người đã có tiền sử rối loạn glucose lúc đói hoặc giảm dung nạp glucose thì có khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ rất cao, những người này cần được phát hiện sớm và phải được can thiệp sớm bằng chế độ dinh dưỡng và luyện tập để phòng nguy cơ tiến triển của bệnh [37]
Trang 2817
- Các yếu tố nguy cơ ĐTĐ típ 1
Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ típ 1 vẫn đang được nghiên cứu Tuy nhiên, khi có một thành viên trong gia đình mắc ĐTĐ típ 1, làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển bệnh Các yếu tố môi trường và phơi nhiễm với một số vi rút cũng là mối quan hệ đối với nguy cơ phát triển ĐTĐ típ 1 Dấu ấn di truyền của ĐTĐ típ 1: Mẹ bị ĐTĐ típ 1 nguy cơ con bị là 3%, nguy cơ tăng đến 6% nếu cha bị ĐTĐ [11]
- Các yếu tố nguy cơ ĐTĐ típ 2 [4]:
+ Tiền sử gia đình có ĐTĐ
+ Tiền sử ĐTĐ thai kỳ
+ Tuổi cao
+ Dân tộc
+ Chế độ ăn uống không lành mạnh
+ Chế độ dinh dưỡng kém trong thời kỳ mang thai
1.2 CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Bệnh ĐTĐ là “kẻ giết người” thầm lặng Với những biến chứng khó lường, có tỷ lệ tử vong cực kỳ cao, bệnh tiểu đường được coi là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất hiện nay Bệnh tiểu đường nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây hậu quả khôn lường
ĐTĐ thực sự là căn bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm, việc tầm soát, phát hiện sớm bệnh ĐTĐ giúp cho quá trình điều trị đạt hiệu quả cao nhất, kiểm soát, ngăn ngừa những biến chứng nguy hiểm
Các biến chứng của tiểu đường được chia thành hai loại [10]:
Trang 2918 + Cấp tính (xảy ra đột ngột trong thời gian ngắn, có thể dẫn đến hôn mê hoặc tử vong nếu như không được cứu chữa kịp thời)
+ Mãn tính (có thể dẫn đến rối loạn tiêu hóa và tăng lượng đường huyết, lâu dần có thể gây tổn thương đến cơ thể)
1.2.1 Biến chứng tiểu đường tăng huyết áp
Tăng Insulin huyết làm tăng hấp thu natri ở ống thận Tăng đường huyết càng góp phần làm tăng tái hấp thu natri ở ống lượn gần Hậu quả là làm tăng 10% lượng natri toàn cơ thể ở bệnh nhân ĐTĐ gây tích tụ dịch ngoại bào làm tăng huyết áp Nên có thể gọi tăng huyết áp là biến chứng tiểu đường Biến chứng tiểu đường tăng huyết áp là một sát thủ thầm lặng vì nó xuất hiện
mà không có triệu chứng Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về mạch máu như tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, tắc mạch chi, bệnh lý thần kinh… Người bệnh tiểu đường típ 1 hay típ 2 khi bị tăng huyết áp thì tình trạng bệnh đều xấu đi rõ rệt, tỷ lệ bệnh mạch vành và đột quỵ sẽ cao hơn (gấp 2-3 lần) so với người không bị tiểu đường Tỷ lệ bệnh ĐTĐ ở người tăng huyết áp cao hơn nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi một số nghiên cứu cho thấy có 9,6% số người bệnh tăng huyết áp bị mắc bệnh ĐTĐ, trong khi đó ở người bình thường thì tỷ lệ này chỉ có 3,4% [10], [31]
1.2.2 Biến chứng ở mắt
Đường máu cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến tình thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề
Nếu gây phù ở hoàng điểm thì có thể làm giảm thị lực rất nhiều Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính)
Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở
Trang 3019 võng mạc và trong quá trình liền sẹo nó có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn
Hậu quả của phù hoàng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn
Bệnh võng mạc tiểu đường là biến chứng tiểu đường gây mù mắt phổ biến nhất, thường không có triệu chứng và chỉ phát hiện khi mà thị giác bị ảnh hưởng
Theo thống kế của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ, 90% người bệnh tiểu đường trên
10 năm sẽ phải đối mặt với biến chứng võng mạc và trong số đó 59% có thể
bị mù lòa [10], [31]
1.2.3 Biến chứng ở thận
Biến chứng tiểu đường ở thận là khái niệm mô tả các vấn đề về thận gây ra bởi căn bệnh tiểu đường Thận có vai trò lọc máu và loại bỏ các chất thải trong cơ thể ra bên ngoài theo đường nước tiểu Ở những người bệnh tiểu đường, lượng đường trong máu cao nên khi đào thải ra cùng nước tiểu sẽ làm tổn thương các mạch máu nhỏ trong các Nephron (đơn vị lọc máu với nhiệm
vụ điều hòa, nước, muối, urê, photpho và các khoáng chất) và làm chúng bị mất dần khả năng lọc Sau một thời gian, protein bị rò rỉ qua thận vào nước tiểu làm cho chức năng của thận bị suy giảm Sau cùng dẫn đến thận bị mất chức năng hoàn toàn, có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh ĐTĐ [10], [31] .
1.2.4 Biến chứng thần kinh
Đau thần kinh là một biến chứng thần kinh của bệnh tiểu đường Khi lượng đường trong máu cao sẽ gây nên những tổn thương cho sợi thần kinh khắp cơ thể, thường xuyên đau sẽ gây thiệt hại cho dây thần kinh ở chân và bàn chân Các triệu chứng có thể kể đến như đau và tê tay chân cho đến các vấn đề với đường tiết niệu, hệ thống tiêu hóa, tim và mạch máu Ở những trường hợp người bệnh có các triệu chứng đều nhẹ, nên thường chủ quan vì
Trang 3120 vậy mà, bệnh tiểu đường đau thần kinh có thể bị đau, vô hiệu hóa và thậm chí gây tử vong [10], [31] .
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là bệnh ĐTĐ và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [7]
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm 2000 lên
194 triệu năm 2003, đã tăng vọt lên 246 triệu năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 - 399 triệu vào 2025 Trong đó các nước phát triển tỷ lệ người mắc bệnh tăng 42% và các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170% Trong đó chủ yếu là ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ[8]
Nghiên cứu của Shaw JE và cộng sự ước tính số người ĐTĐ trên thế giới năm 2010 và 2030 Nghiên cứu thực hiện từ 91 quốc gia để xác định tỷ
lệ ĐTĐ cho tất cả 216 quốc gia năm 2010 và 2030 dựa theo tiêu chuẩn của
tổ chức Y tế thế giới và hội ĐTĐ Mỹ, nhóm tuổi từ 20-79, kết quả cho thấy
tỷ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới ở người trưởng thành 20-79 là 6,4% (285 triệu người) và tăng lên 7,7% (439 triệu người) năm 2030 Từ năm 2010 và 2030
có 69% người trưởng thành mắc ĐTĐ ở nước đang phát triển và 20% ở nước phát triển [52]
Nghiên cứu của tác giả David R và cộng sự, trong năm 2011, có 366 triệu người ĐTĐ tuổi từ 20-79, dự kiến sẽ tăng đến 552 triệu vào năm
2030 Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ sống ở quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [54]
Trang 3221
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và theo mức độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa
Nghiên cứu của Phan Sỹ Quốc và cộng sự năm 1991 trên 4912 đối tượng trên 15 tuổi tại quận nội ngoại thành Hà Nội xác định bệnh theo tiêu chuẩn của
tổ chức y tế thế giới (WHO năm 1985), kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Hà Nội là 1,2% trong đó nội thành là 1,44%, ngoại thành 0,63% [38]
Năm 1993, Mai Thế Trạch và cộng sự điều tra trên 5.416 người từ 15 tuổi trở lên ở thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ ĐTĐ là 2,52% [43]
Năm 2001, điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo chuẩn quốc tế mới với sự giúp đỡ của các chuyên gia hàng đầu của WHO, được tiến hành ở 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh Kết quả điều tra này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng bệnh ĐTĐ nói riêng và bệnh không lây nói chung ở Việt Nam, đó là tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại 4 thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng ở đối tượng lứa tuổi 30-64 tuổi là 4,9%, tỷ lệ đối tượng có yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ là 38,5%, đáng lo ngại là trên 44% số người mắc bệnh ĐTĐ không được phát hiện và không được hướng dẫn điều trị [7]
Năm 2002, Bệnh viện Nội tiết Trung ương tiến hành điều tra toàn quốc
về ĐTĐ và yếu tố nguy cơ trên 9.122 người thuộc 90 phường xã, khu vực Tây nguyên là 1833 đối tượng, đồng bằng 2722 đối tượng, thành phố
là 2.759 đối tượng, nam chiếm 45%, nữ 55% Người mắc bệnh ĐTĐ type 2 tăng gần gấp ba lần so với 10 năm trước [3]
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống ĐTĐQuốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ
Trang 3322 mắc bệnh ĐTĐ là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất
là Tây Nguyên 3,8%) Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐ típ 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần Như vậy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc ĐTĐ mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh ĐTĐ [2]
Một số nghiên cứu tại các tỉnh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh khác nhau, nghiên cứu của Vũ Thị Mùi và Nguyễn Quang Chùy tại Yên Bái là 2,68% [35], nghiên cứu của Tạ Văn Bình và Hoàng Kim Ước tại Cao Bằng là 6,8% [6], nghiên cứu của Vũ Hữu Chiến và cộng sự tại Thái Bình là 8,4% [15], nghiên cứu của Trần Hữu Dàng và Huỳnh Văn Đôm tại thành phố Quy Nhơn là 8,6% [16], nghiên cứu của Nguyễn Bá Trí cùng Cộng sự tại Kon Tum là 3,5% [45]
Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam hiện có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh ĐTĐ Con số này dự báo tăng lên 6,3 triệu vào năm
2045 Mặc dù, cả nước hiện có 3,5 triệu người (độ tuổi từ 20-79) mắc bệnh này nhưng có tới 70% người mắc không biết mình bị bệnh Có 20% người bệnh ĐTĐ bị bệnh thận, gây suy thận, có thể phải chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận Bệnh ĐTĐ đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam được xếp nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh nhân ĐTĐ cao nhất thế giới với tỷ lệ bệnh nhân tăng 5,5% mỗi năm
1.4 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG
Pleiku là thành phố, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của tỉnh Gia Lai ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam với diện tích: 261,99 km2 và dân số: 201.914 người bao gồm 28 dân tộc đang sinh sống; người Kinh chiếm đa
Trang 34Thành phố có 14 phường và 9 xã Hệ thống giao thông, lưới điện quốc gia, thông tin liên lạc đã thông suốt từ thành phố đến 23 xã, phường
Hơn ba thập niên qua và đặc biệt là trong 5 năm gần đây (2005 - 2010), thành phố Pleiku có những bước phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, khẳng định vai trò là trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh Gia Lai và
cả khu vực Tam giác phát triển ba nước: Việt Nam - Lào – Campuchia
Hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân: Ngoài Trung tâm
Y tế thành phố được đầu tư trang bị khá hiện đại và mạng lưới trạm y tế, trên địa bàn còn có 14 bệnh viện, bệnh xá của các đơn vị, các ngành với 1.450 giường bệnh, 130 cơ sở khám - chữa bệnh ngoài giờ… [32]
Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai nói riêng cũng không nằm ngoài hiện trạng bệnh và các yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, số lượng bệnh nhân mắc bệnh tương đối nhiều, tuy nhiên chưa có nghiên cứu khoa học nào để đánh giá tình hình mắc bệnh và các yếu tố nguy
cơ liên quan tại địa bàn
Trang 3524
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là 610 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ típ 2, trong đó có 265 nam và 345 nữ sống tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đến khám tại Trung tâm y tế thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020 Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CÚU
2.2.1 Thực trạng mắc bệnh đái tháo đường
- Tỷ lệ giới tính trong số người bệnh đái tháo đường
- Tỷ lệ mắc bệnh theo nhóm tuổi
- Tỷ lệ mắc bệnh theo nhóm nghề nghiệp
- Tỷ lệ mắc bệnh theo dân tộc
- Tỷ lệ mắc bệnh theo địa bàn
2.2.2 Một số biến chứng của đối tượng nghiên cứu
- Biến chứng tăng huyết áp
- Chỉ số khối cơ thể (BMI)
- Thói quen ăn uống, sinh hoạt, tập thể lực
Trang 3625
2.2.4 Đánh giá hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết về triệu chứng bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết về tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết về các biến chứng bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết chế độ ăn uống trong điều trị bệnh đái tháo đường
- Hiểu biết về chế độ tập thể lực đối với bệnh đái tháo đường
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả một loạt ca bệnh
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu
- Chọn mẫu có chủ đích (mẫu sàng lọc), theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ, lần lượt chọn đối tượng được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường đến khám tại Trung tâm y tế thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
- Sàng lọc ĐTNC căn cứ tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT của Bộ Y Tế ban hành năm 2017, trong nghiên cứu chúng tôi dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn sau đây[11]:
+ Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dl (hay 7 mmol/l) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ)
+ Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân) hoặc
mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l) 2.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Tất cả các ĐTNC khi đến khám được khám lâm sàng, cận lâm sàng như làm xét nghiệm máu và phỏng vấn khai thác các yếu tố liên quan đến bệnh ĐTĐ theo phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước (phụ lục mẫu phiếu điều tra
Trang 3726 kèm theo) Các kết quả được ghi vào mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất Cụ thể tiến hành như sau:
2.3.3.1 Xác định thực trạng mắc bệnh ĐTĐ
Thông qua quan sát và phỏng vấn xác định: Giới tính, tuổi, nghề
nghiệp, dân tộc, địa bàn sống của ĐTNC
* Giới tính: Chúng tôi xác nhận giới tính của mẫu nghiên cứu gồm 02
giá trị: Nam & nữ
* Nhóm tuổi: Tuổi của mẫu nghiên cứu, tính theo năm dương lịch cho
đến thời điểm phỏng vấn Chúng tôi chia tuổi của ĐTNC thành 04 nhóm:
- Nhóm < 40 - Nhóm 40-49
- Nhóm 50-59 - Nhóm ≥ 60
* Nghề nghiệp: là nghề nghiệp mang lại thu nhập chính cho mẫu
nghiên cứu, chúng tôi xác nhận 03 nhóm nghề nghiệp:
- Lao động trí thức (Bao gồm: Công chức, viên chức, học sinh, sinh viên)
- Lao động chân tay (Bao gồm: Công nhân, nông dân, lao động phổ thông)
- Không lao động (Bao gồm: Hưu trí, được bảo trợ)
* Dân tộc: Chúng tôi xác nhận dân tộc của mẫu nghiên cứu gồm 2
giá trị: Dân tộc Kinh và dân tộc khác
* Địa bàn: Là nơi ĐTNC sinh sống trong khu vực thành phố Pleiku
Chúng tôi xác nhận 2 giá trị:
- Nội thành (ĐTNC sống tại các phường trong thành phố)
- Ngoại thành (ĐTNC sống tại các xã ngoại thành thuộc thành phố)
2.3.3.2 Một số biến chứng của bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ
* Chẩn đoán biến chứng tăng huyết áp: Căn cứ vào kết quả đo
huyết áp và phân loại theo Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ VI
+ Sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân ALPK2, hãng sản xuất Japan, đo
Trang 3827 huyết áp cánh tay, lấy chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương
+ Đối tượng được nghỉ ngơi ít nhất 15 phút trước khi đo, ngồi trên ghế, đặt ngửa tay trái trên bàn ngang mức tim, cánh tay để trần Đặt huyết áp trên bàn, cột thủy ngân thẳng đứng, kiểm tra huyết áp kế, đảm bảo cột thuỷ ngân ở giá trị 0, không bị đứt đoạn, quấn băng hơi đã xả hết khí vào cánh tay trên nếp khuỷu 2cm, thắt vừa băng không để lỏng quá hay chặt quá, không xắn tay áo lên vì sẽ cản trở tuần hoàn máu, khóa van xả hơi lại, rồi bóp bóng thổi hơi vào băng lên mức huyết áp tối đa bình thường của người được đo cộng thêm 30- 40mmHg, đặt ống nghe lên đường đi của động mạch cánh tay, rồi từ từ mở van xả hơi, mắt nhìn vào cột thủy ngân Huyết áp tối đa là giá trị đo được khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên, huyết áp tối thiểu là giá trị đo được khi nghe thấy tiếng đập cuối cùng hoặc khi thay đổi âm sắc nhỏ dần Sau khi đo xong
mở van xả hơi hết cỡ cho xả hết hơi ra ngoài, tháo băng hơi khỏi tay người được đo để đo lại lần 2
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán cao huyết áp theo Liên ủy ban quốc gia Hoa
Kỳ VI [9]
Mức độ Huyết áp tâm thu
(mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
>180
90-99 100-109
≥110
* Chẩn đoán biến chứng mắt: Chẩn đoán bằng cách khám mắt, đo thị
lực, soi đáy mắt do bác sỹ chuyên khoa mắt thực hiện
* Chẩn đoán biến chứng thận: Lấy máu tĩnh mạch làm xét nghiệm
sinh hóa xác định chỉ số Glucose máu và xác định nồng độ Creatinin
Trang 3928 Khi nồng độ creatinine tăng cao đồng nghĩa với có rối loạn chức năng thận Vì vậy khi thận bị suy chức năng thì khả năng lọc creatinine bị giảm dẫn tới nồng độ creatinine trong máu sẽ tăng cao hơn bình thường Theo Who, tiêu chuẩn chẩn đoán suy thận theo nồng độ creatinine là:
Ở người trưởng thành, nồng độ creatinine bình thường là:
* Chẩn đoán biến chứng thần kinh:
Khám lâm sàng, bệnh nhân có cảm giác đau như điện giật, bỏng, châm chích, như kiến bò, cảm giác nóng, ngứa ran, tê bì, giảm đáp ứng đau hoặc không còn cảm giác đau
2.3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường
* Di truyền: Phỏng vấn ĐTNC về tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ
nhằm xác định có người thân mắc bệnh ĐTĐ (bố, mẹ, anh, em) Chúng tôi xác nhận có 02 giá trị: Có & Không
* Thời gian mắc bệnh: Phỏng vấn ĐTNC về thời gian mắc bệnh
ĐTĐ, là khoảng thời gian kể từ khi được chẩn đoán mắc ĐTĐ cho đến khi tiến hành lấy mẫu Chúng tôi chia thời gian phát hiện bệnh thành 3 nhóm: Nhóm < 1 năm; Nhóm 1 - 5 năm; Nhóm > 5 năm
* Chỉ số BMI: Xác định bằng khám lâm sàng, cụ thể như sau:
- Đo cân nặng:
+ Sử dụng cân sức khỏe phạm vi trọng lượng cân từ 20kg-120kg để đo cân nặng, làm tròn số thập phân đến 0,5kg
Trang 4029 + Đặt cân trên nền cứng, phẳng, điều chỉnh kim cân đúng vị trí số 0 Yêu cầu ĐTNC cởi bỏ quần áo nặng, dày, dép, vật dụng mang theo, đứng nhẹ nhàng lên cân, hai tay dọc theo thân mình, mắt nhìn về phí trước, không nhún Người cân nhìn thẳng góc với kim đồng hồ để dọc kết quả khi kim đồng hồ đứng yên Yêu cầu ĐTNC bước xuống, xem lại kim dồng hồ trở về vị trí số 0, tiếp tục cân lại lần 2 như trên
- Đo chiều cao:
+ Sử dụng thước đo chiều cao phạm vi đo từ 3,5- 220cm để đo chiều cao, làm tròn số thập phân đến 0,5cm
+ Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng ngang Đối tượng để đầu trần, đi chân đất, đứng quay lưng vào thước đo, gót chân, mông, vai và đầu tạo thành một mặt phẳng áp sát vào thước đo, mắt nhìn thẳng về phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Dùng thanh ngang của thước đo áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo Đọc kết quả và ghi số đo tính bằng centimet (cm) Yêu cầu đối tượng bước ra rồi đo lại lần 2