Mặc dù hiện nay Kiến văn tiểu lục chỉ còn lại 8 phần và không được giảng dạy trong chương trình phổ thông nhưng bằng sự ngưỡng mộ, khâm phục tài năng cũng như con người Lê Quý Đôn, chúng
Trang 2Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Tú Nhi Các nội dung, những kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực và chính xác, không sao chép của bất kì ai
Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào từng công bố
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Bùi Tú Trinh
Trang 3Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Tú Nhi - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn - Trường Đại học Quy Nhơn đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Bình Định, tháng 09 năm 2020
Bùi Tú Trinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu vấn đề 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Những đóng góp của đề tài 15
7 Cấu trúc của luận văn 15
Chương 1 LÊ QUÝ ĐÔN, “KIẾN VĂN TIỂU LỤC” VÀ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI 16
1.1 Tác gia Lê Quý Đôn và “Kiến văn tiểu lục” 16
1.1.1 Lê Quý Đôn - một hiện tượng văn hóa ở thế kỷ XVIII 16
1.1.2 Sự nghiệp trước tác của Lê Quý Đôn 21
1.2 Vấn đề thể loại và giá trị của “Kiến văn tiểu lục” trong lịch sử văn xuôi trung đại Việt Nam 25
1.2.1 Về thể loại ký 25
1.2.2 Về thể loại của “Kiến văn tiểu lục” 29
1.2.3 Giá trị của “Kiến văn tiểu lục” trong loại hình ký thời trung đại 33
Tiểu kết Chương 1 36
Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TRUNG ĐẠI TRONG “KIẾN VĂN TIỂU LỤC” CỦA LÊ QUÝ ĐÔN 38
2.1 Thời đại và đời sống con người 38
2.1.1 Bức tranh văn hóa, xã hội Việt Nam 38
2.1.2 Các nhân vật văn hoá nổi bật 43
Trang 52.2.2 Quan chế qua các triều đại thời phong kiến Việt Nam 57
2.3 Những lễ nghi truyền thống 63
2.3.1 Các lễ nghi liên quan đến đời người 63
2.3.2 Các nghi lễ tế tự của nhà nước phong kiến 69
Tiểu kết Chương 2 74
Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CỦA “KIẾN VĂN TIỂU LỤC” TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ 75
3.1 Nghệ thuật biên khảo văn hoá 75
3.1.1 Nghệ thuật kể, tả kết hợp với bình luận, so sánh 75
3.1.2 Nghệ thuật kể, tả kết hợp với hồi tưởng 81
3.2 Kết cấu tự sự 83
3.2.1 Kiểu kết cấu sự kiện 83
3.2.2 Kiểu kết cấu thời gian 86
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 90
3.3.1 Giọng điệu khách quan 90
3.3.2 Giọng điệu bình phẩm 94
Tiểu kết Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học và văn hóa là hai phạm trù có mối quan hệ khắng khít, mật thiết với nhau Xét mối quan hệ giữa chúng, ta thấy văn học là một bộ phận quan trọng của
văn hóa M Bakhtin nhận định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của
văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” [30, tr.362] Giữa văn học và văn hóa có mối
quan hệ biện chứng, có tính đa chiều và tính nguyên tắc Mỗi quốc gia, dân tộc đều giữ cho mình bản sắc văn hóa riêng, những tinh hoa văn hóa thấm sâu trong cội rễ dân tộc, được thể hiện trong nếp sống và cả trong tâm thức của mỗi người Những giá trị văn hóa của con người có thể được tìm thấy trong các tác phẩm văn học Bởi văn học không chỉ chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa
Với trí tuệ và tài năng của mình, Lê Quý Đôn trở thành cái tên tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam Ông được mệnh danh là thần đồng ở thời trung đại bởi sự thông kim bác cổ, học nhanh, hiểu nhiều, ứng đối nhanh nhẹn Trên các lĩnh vực khoa học, từ lịch sử, triết học, dân tộc học, địa lí học, thiên văn học, luật pháp, giáo dục học, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật cho đến y học, nông học, quân sự ông đều uyên thâm, am hiểu tường tận Lê Quý Đôn đã để lại sự nghiệp “trước thư lập ngôn” với hàng loạt tác phẩm có
giá trị bền vững cho đời sau như: bộ Đại Việt thông sử, Quần thư khảo biện,
Vân đài loại ngữ, Toàn Việt thi lục, Bắc sứ thông lục, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục… Trong số đó, Kiến văn tiểu lục là tác phẩm có giá trị về nhiều
phương diện Đây là tập bút ký ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe, từ những di tích, sự kiện lịch sử, những lĩnh vực thuộc chế độ các triều đại Lý - Trần - Lê cho đến các lễ thức, phong tục tập quán, sinh hoạt, nghệ thuật, thơ văn, sách vở…
Trang 7Mặc dù hiện nay Kiến văn tiểu lục chỉ còn lại 8 phần và không được
giảng dạy trong chương trình phổ thông nhưng bằng sự ngưỡng mộ, khâm phục tài năng cũng như con người Lê Quý Đôn, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này mong rằng sẽ đưa ông và tác phẩm đến gần với bạn đọc hơn
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn - từ góc nhìn văn hóa làm nội dung nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ Thực hiện công trình này, chúng tôi mong muốn độc giả có
cái nhìn hệ thống hơn với các dữ liệu văn hóa, thấy rõ hơn tinh hoa văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc trong tác phẩm của Lê Quý Đôn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học
Trên thế giới, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa đã được hình thành và phát triển từ rất sớm Văn học được xem là một hiện tượng văn hóa
và dùng các lý thuyết, quan điểm của văn hóa học để nghiên cứu văn học Về khả năng phát triển của hướng nghiên cứu này, Trần Đình Sử cho rằng:
Hướng nghiên cứu nảy sinh từ những năm 50 ở Anh với trường phái Birmingham (R.Williams, R.Hoggart), ở Đức với trường phái Frankfurt (D.Kellner), những năm 70 ở Pháp với R.Barthes Họ chủ trương nghiên cứu các hiện tượng đời sống văn hóa…, phát hiện ý nghĩa văn hóa và ý thức hệ của chúng, vừa có thái độ phê phán vừa coi đó là đời sống bình thường của đô thị (…) Hướng nghiên cứu này đến những năm 80 lan sang Úc, Canada, Mỹ, chuyển thành một hướng nghiên cứu có tính chất xã hội, chính trị…và trở thành một trào lưu có tính thế giới [34]
Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ngày càng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, dần lan rộng đến các nước phương Đông vào cuối những năm 90 của thế kỉ XX Trung Quốc là nước hưởng ứng
Trang 8phong trào chỉ trong thời gian rất ngắn, sau đó là giới nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện nay đã xuất hiện rất nhiều nhà nghiên cứu có liên quan
đến phương pháp nghiên cứu văn học từ văn hóa được dịch thuật như Phân tâm
học tôn giáo (D.S.Likhachev), Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo (F.Freud), Các phương pháp nghiên cứu văn hóa học (G.A.Avanesoa), Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương (Itamar Even - Zohar)… Có thể
thấy, từ điểm nhìn văn hóa mà mọi vấn đề xoay quanh văn học như ngôn ngữ, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo được khám phá
và nhìn nhận
Đặc biệt từ thế kỉ XX, hàng loạt những công trình nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ra đời Chẳng hạn như Trần Trọng Kim, người đầu tiên đặt vấn
đề Phật giáo trong Truyện Kiều (1940) Hay Phan Ngọc với Tìm hiểu phong
cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985)… Tính từ sau năm 1985, các công
trình nghiên cứu theo hướng này có sự tiếp nối và xuất hiện nhiều bài viết, công trình nghiên cứu hơn Từ việc xác định nền tảng lí luận văn hóa, vào những năm 2000, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình coi trọng vấn đề văn hóa trong văn học, đặt văn hóa vào nhiều lĩnh vực khoa học, tạo xu hướng liên ngành để mở rộng hiểu biết về văn hóa một cách toàn diện Điển hình là Đỗ Lai Thúy Ông
đã vạch ra lối tiếp cận văn hóa dựa trên lý thuyết của phương Tây Trong bài
viết Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa (2009), tác giả khẳng định:
Những thành tựu của văn hóa học ngày nay cho phép chúng ta
có thể nhìn nhận văn hóa như một tổng thể, một hệ thống bao gồm những yếu tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn…, trong
đó có văn học [40]
Công trình Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003)
[38] của Trần Nho Thìn đã trực tiếp bàn vấn đề văn hóa trong văn học Ông
Trang 9nghiên cứu một số vấn đề lý luận của văn học trung đại nhìn từ góc độ văn hóa, ghi nhận văn hóa là hệ thống mở, nhấn mạnh định hướng tiếp cận,
nghiên cứu giao lưu văn hóa Trong phần Tiếp cận văn hóa với một số tác giả,
ông đã tìm hiểu bi kịch tinh thần nhà nho với tính cách là một nhà văn hóa Thơ của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến được ông đón nhận, phân tích từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho
Có thể nói công trình khảo cứu này của Trần Nho Thìn đã góp phần mở rộng con đường tiếp cận văn học trung đại, phục vụ cho việc nghiên cứu văn hóa - văn học dân tộc Năm 2018, Trần Nho Thìn đã tiếp tục nghiên cứu tiếp cận văn hóa và phát huy vấn đề này trong việc giảng dạy văn học Sáu chương
của chuyên luận Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy
văn học đã tập trung làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa, đề cập đến vấn đề con
người trong văn học từ các góc nhìn của văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử Bên cạnh đó, ông còn trình bày một số khía cạnh của sự vận động, biến chuyển của văn học Việt Nam từ văn học trung đại sang văn học hiện đại Việc vận dụng phương pháp tiếp cận văn hóa là một gợi ý cần thiết cho các giáo viên khi giảng dạy một tác phẩm văn học
Nghiên cứu về văn học từ góc nhìn văn hóa không thể không điểm qua những công trình của Lê Nguyên Cẩn Năm 2008, ông công bố chuyên luận
Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa và khẳng định: “Tính chất phi thường của tác phẩm không chỉ thể hiện qua quan niệm độc đáo, qua nghệ thuật tài hoa mà còn ở chỗ nó mang một tầm vóc văn hóa, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, mang tính lịch sử và truyền thống văn hóa thời đại” [4]
Năm 2014, ông tiếp tục công bố công trình Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn
hóa Qua công trình này, Lê Nguyên Cẩn khẳng định mục tiêu nghiên cứu là
khám phá các giá trị văn học không chỉ trên bình diện hình tượng mà từ chiều sâu văn hóa của các hình tượng văn chương Ông nhấn mạnh:
Trang 10Các giá trị văn hóa có trong tác phẩm văn học, ý nghĩa thực tiễn của các giá trị đó trong việc giáo dục đạo đức, nhận thức và thẩm mĩ cho độc giả Bởi lẽ, một trong những kết tinh cao nhất của văn hóa chính là văn học Đọc hay học văn học chính là đọc và học
để tìm hiểu bản sắc văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng được chuyển tải và kết tụ trong tác phẩm văn chương của dân tộc, cộng đồng ấy [5, tr.4]
Đến năm 2018, Lê Nguyên Cẩn công bố công trình mang tính tổng thuật
những vấn đề ông đã nghiên cứu trước đây, đó là Mã văn hóa trong tác phẩm
văn học - Những vấn đề lí thuyết và giảng dạy Công trình này đáng quan tâm
bởi nó được tiến hành hệ thống hóa trên cơ sở phân tích, đánh giá các lý thuyết về thi pháp học của Nga và phương Tây, các quan niệm liên quan đến
ký hiệu học trong văn học, từ đó xác lập mã văn hóa trong tác phẩm văn học trên cơ sở cứ liệu văn học Việt Nam và tác phẩm văn học nổi tiếng nhân loại
Ngoài ra, còn có một số công trình khác như Văn hóa như là nguồn lạch
sáng tạo và khám phá văn chương của Nguyễn Văn Hạnh (2007), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian của Chu Xuân Diên (2004), Cảm nhận về văn hóa và văn học trong hành trình đổi mới của Nguyễn Duy Bắc (2006) đã
khẳng định việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa không còn dưới dạng tìm tòi, thể nghiệm mà trở nên phổ biến rộng rãi Mặc dù, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa là một câu chuyện cũ nhưng càng tìm hiểu, càng nghiên cứu, chúng lại càng có sức hút
Mười năm trở lại đây, nhiều luận văn, luận án đã tập trung nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng văn học cụ thể Lê Văn
Khải với luận văn Truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kì đổi mới nhìn từ góc độ
văn hóa bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn;
Lương Minh Chung với luận án Tùy bút Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc
Trang 11Tường từ góc nhìn văn hoá bảo vệ năm 2012 tại Viện Văn học; Đỗ Thị Ngọc
Chi với luận án Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa bảo vệ năm
2013 tại Học viện Khoa học Xã hội; Võ Minh Hải với luận án Ngôn ngữ nghệ
thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Xuân Quỳnh với luận văn
Văn xuôi Thạch Lam dưới góc nhìn văn hóa bảo vệ năm 2016 tại Đại học
Quốc gia Hà Nội và Trần Thảo Vy với luận văn Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ từ góc nhìn văn hóa bảo vệ năm 2019 tại Đại học Quy Nhơn
Hầu như ngay từ tựa đề, các công trình nghiên cứu, bài viết khoa học hay luận văn, luận án đều xác định rõ phương hướng tiếp cận từ góc độ văn hóa Điều đó cho thấy văn học đã được đặt trong tương quan với đời sống, xem xét sự tương tác giữa văn học với các thiết chế văn hóa, khắc phục cách tiếp cận xã hội học thô sơ Với định hướng này sẽ giúp con người hiện đại có những nhận thức mới, rõ ràng hơn về con người và văn học trung đại
2.2 Tiếp cận “Kiến văn tiểu lục” từ góc nhìn văn hóa
Trong số các tác gia cổ điển Việt Nam, Lê Quý Đôn là người có số lượng trước tác lớn nhất còn lưu lại đến ngày nay Đồng thời, ông cũng là một trong những tác gia được giới nghiên cứu Việt Nam ưu ái quan tâm đến Tác giả Nguyễn Thanh đã khẳng định điều đó:
Các học giả là Việt kiều ở Pháp như Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Khê, Tạ Trọng Hiệp… khi nghiên cứu, giảng dạy lịch sử, văn hóa, nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam thường vẫn dẫn nguồn tư liệu Lê Quý Đôn đã viết Vào những năm 80 của thế kỷ trước, Giáo
sư Tạ Trọng Hiệp đã nhiều lần từ Paris tìm đến các thư khố ở Bắc Kinh tìm đọc hàng trăm tác phẩm mà Lê Quý Đôn đã trích dẫn trong các tác phẩm để đối chứng, so sánh và đã đi tới kết luận việc viện dẫn tư liệu từ nguồn sử sách của Trung Quốc trong các tác
Trang 12phẩm của Lê Quý Đôn là hoàn toàn chính xác Không chỉ ở Pháp
mà dường như hầu hết các nhà nghiên cứu, giảng dạy về Việt Nam học trên thế giới đều có những chuyên đề khoa học nghiên cứu về
Lê Quý Đôn [36]
Khối lượng các trước tác của ông rất đa dạng và đồ sộ, hầu hết đều được
dịch và in bằng chữ Quốc ngữ và xuất bản như bộ Đại Việt thông sử, Quần
thư khảo biện, Vân đài loại ngữ, Toàn Việt thi lục, Bắc sứ thông lục, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục… Ông để lại cho hậu thế trên 40 bộ sách, gồm trên
100 quyển nhưng hiện nay bị thất lạc rất nhiều, các bản gốc chữ Hán hiện nay còn rất ít
Tác phẩm Kiến văn tiểu lục và Lê Quý Đôn đã được các nhà khoa học,
nhà văn, nhà phê bình như Phan Huy Chú, Phạm Trọng Điềm (Viện sử học),
Tạ Ngọc Liễn, Văn Tân, Trần Thanh Mại, Phan Ngọc Huyền, Phạm Quốc Sử… đề cập ít nhiều đến nội dung tác phẩm, trong đó có bình diện văn hóa
Văn Tân trong Con người và sự nghiệp Lê Quý Đôn (Tổng tập dư địa chí
Việt Nam, tập 3) nhận định Lê Quý Đôn là nhà tri thức có tư tưởng tự tôn và
tự hào dân tộc: “Đọc Kiến văn tiểu lục, chúng ta thấy Lê Quý Đôn như đã reo
lên khi ông viết: “Nước Nam ta hai triều đại nhà Lý, nhà Trần có tiếng là văn hiến” [44, tr.313]
Hay từ góc nhìn văn hóa, Nguyễn Quang Thắng - Nguyễn Bá Thế trong
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (1991) khẳng định “Lê Quý Đôn là một học giả uyên bác, đa dạng và sung mãn nhất của văn hóa Việt Nam Giới nghiên cứu thế giới (Pháp) xem ông là nhà bác học về lĩnh vực văn hóa của nước ta” [37, tr.370] Tuy nhiên, lời nhận định trên chỉ nêu khái quát, chưa
triển khai khía cạnh văn hóa trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn
Lời giới thiệu trong cuốn Kiến văn tiểu lục của Viện sử học cũng nói ít
nhiều về tác phẩm, đánh giá về những câu triết ngôn, lời diễn giải của Lê Quý
Trang 13Đôn Thông qua lời giới thiệu, ta sẽ có những hiểu biết khái quát về con người Lê Quý Đôn, trong đó có sự am hiểu tường tận nhiều lĩnh vực: văn học, địa lý, Phật giáo - Đạo giáo, phong tục người Việt dưới triều Trần; nhạc và vũ thời trước…
Trong lời giới thiệu, Viện Sử học trích dẫn đoạn dịch về cách ăn mặc của người Việt xưa:
Dân đều đi chân không, gián hoặc có người đi giày da, khi đến cung điện thì trút giày ra Trong lúc đón tiếp ở ngoài đô ấp, hàng trăm người mặc áo, cầm hốt đều quỳ mà thôi, da chân họ (người Việt) rất dày, trèo núi như bay, chông gai cũng không sợ, khăn dùng màu xanh thẫm do tơ nhuộm chế ra Khi đội khăn thì dùng dây sắt cài lại, đằng trước cao hai thước mà gập xuống đến cổ, lấy vải buộc thắt lại đằng sau, trên đỉnh có cài cái đinh bằng sắt, người
có quan chức thì thêm một mảnh vải vào đinh sắt này, lúc ở nhà để đầu trần, khi có khách mới đội khăn; nếu đi xa thì một người mang khăn đi theo; duy có Quốc vương búi tóc, dùng lụa là phủ lấy búi tóc, trông xa như luân cân của nhà đạo sĩ… Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là (…)
Trang 14Với lời giới thiệu này, ta phần nào thấy được một khía cạnh nhỏ về văn hóa của người Việt xưa mà Lê Quý Đôn muốn lưu lại cho hậu thế
Đinh Công Vỹ là một trong những chuyên gia chuyên khảo về Lê Quý Đôn và các tác phẩm của ông Theo thống kê, Đinh Công Vỹ có hơn 20 bài
viết có liên quan đến Lê Quý Đôn đã được công bố như Chữ Nôm trong các
tác phẩm Hán văn của Lê Quý Đôn hay Lê Quý Đôn, niềm khát vọng đổi mới
bộ máy quan chức… cho thấy tâm huyết của nhà nghiên cứu trong việc tìm
hiểu nhà bác học kiệt xuất của dân tộc ở thế kỷ XVIII Trong bài chuyên khảo
Môi trường văn hóa Thăng Long với các bậc thầy của Lê Quý Đôn (1998),
Đinh Công Vỹ đã chỉ rõ:
Tất cả những môi trường văn hóa ấy ảnh hưởng rất lớn đến Lê Quý Đôn, có thể coi là những bậc thầy góp phần nâng cao hiểu biết, tạo thành cây bút đại gia của ông Ở trong môi trường văn hóa
ấy, môi trường: “Sum mọi chốn y quan lễ nhạc, vầy mọi nơi văn vật thanh danh”, Lê Quý Đôn có điều kiện tìm được những người thầy xứng đáng từ nhiều vùng quê dồn về [45, tr.211]
Có thể thấy, Đinh Công Vỹ đã kì công tìm hiểu môi trường văn hóa góp phần hun đúc nên tài năng của Lê Quý Đôn như thế nào Ông cũng nêu rõ, tài năng của Lê Quý Đôn là sự tích hợp tinh hoa của đất kinh kỳ
Đề cập đến tác gia Lê Quý Đôn và Kiến văn tiểu lục còn có các bài phê
bình, lời giới thiệu, tham luận của các hội nghị văn học… được đăng trên các tạp chí, các tuyển tập hay các trang web uy tín
Năm 1960, trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Trần
Thanh Mại chỉ rõ 2 lí do của việc kêu gọi những nhà nghiên cứu Văn học và Khoa học Xã hội nên đẩy mạnh nghiên cứu về Lê Quý Đôn Ông cho rằng Lê Quý Đôn là một “hiện tượng văn hóa”, là nhân vật đặc biệt trong lịch sử văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó, vào những năm ông không ủng hộ chúa Nguyễn
Trang 15nên ít được nhắc tới trong lịch sử văn hóa Việt Nam làm việc nghiên cứu về
Lê Quý Đôn có thời gian bị gián đoạn Trong khi đó, cuộc đời Lê Quý Đôn có
58 năm thì có đến 42 năm khảo cứu, biên soạn sách vở, thâu tóm mọi tri thức của thời đại trong các tác phẩm của mình
Hoàng Nhân đã giới thiệu khái quát về nội dung của Kiến văn tiểu lục khi tập sách này được tái bản: “Tám phần của “Kiến văn tiểu lục” được tái
bản lần này in thành hai quyển, mỗi quyển dày hơn 300 trang được Lê Quý Đôn ghi lại gần như đầy đủ về lịch sử, văn hóa, tập tục… của người Việt một thời” [29]
Tác giả bài viết cũng nói thêm nội dung của 3 phần trong tác phẩm Kiến
văn tiểu lục Phần 1 được Lê Quý Đôn ghi chép lại những câu triết ngôn hay
những hành vi của một số nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam nhằm khuyên răn, giáo dục người đương thời Phần 2 là những ghi chép các lễ văn, chế độ của các triều đại Lý - Trần - Lê Phần 3 được Lê Quý Đôn ghi chép cẩn thận những nhân vật đã làm những bài bia, bài minh ở các chùa, quán, các triều Lý, Trần và giới thiệu, phê bình một số thơ văn Ngoài ra, Hoàng Nhân
còn khẳng định cuốn sách Kiến văn tiểu lục sẽ giúp ích cho thế hệ sau có
những hiểu biết về cuộc sống văn hóa trước kia của tổ tiên mình Chẳng hạn
như “Sách còn viết về mái đầu của người Việt dưới triều Trần: Con trai đều
trọc đầu, người nào có quan chức thì trùm đầu bằng khăn xanh…” [29]
Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, Lại Văn Hùng đã đánh giá Lê
Quý Đôn là một trong những vị tổ sư của Bách khoa toàn thư Việt Nam,
khẳng định Kiến văn tiểu lục là “bộ sách có tính bách khoa thư rất sâu đậm
về văn học” [20] Bài viết này đã khảo sát và liệt kê về các phép đối, các tác
phẩm văn học từ thời Lý - Trần đến “đương đại” thời Lê Quý Đôn sống cùng
với những lời bình phẩm mà ông ghi chép lại, nhất là phần Thiên Chương
Đồng thời, tác giả cũng khẳng định đóng góp lớn lao của Lê Quý Đôn trong
Trang 16việc cung cấp nguồn tư liệu vô cùng phong phú cho hậu thế, nhất là những tư liệu về văn hóa một thời
Đặng Đình Nguyên với bài báo Nhà văn hóa Lê Quý Đôn: Đa đoan
nhập thế có đề cập đến con người Lê Quý Đôn “cực kì ham mê đọc sách, có tính khiêm nhường thông qua lời tựa “Kiến văn tiểu lục” hay để lại những nguyên tắc sống cần thiết cho con người hậu thế” [28] Từ Lê Quý Đôn, ta
thấy được nếp sống, suy nghĩ và tâm tính của con người thời đại trước đây
Đặng Đình Nguyên trích dẫn lời văn trong bài giới thiệu Kiến văn tiểu lục để
minh họa cho nhận định của mình về con người của Lê Quý Đôn Tác giả
khẳng định: Cứ đọc những gì ông chép lại để cho đời sau là ta có thể hình
dung ra được phần nào những nguyên tắc mà ông đã vin vào đó để “giữ vững lòng thành, thông suốt sự lý cả” [28]
Dương Tâm với bài viết Thầy giáo Lê Quý Đôn - “túi khôn của thời
đại” đã ca ngợi nhà bác học Lê Quý Đôn là “thần đồng ham học, thông minh, có trí nhớ siêu đẳng” [35] Bên cạnh đó, thông qua tác phẩm Kiến văn tiểu lục, tác giả đề cập việc Lê Quý Đôn là người đề cao văn hóa học
hành, thi cử, “phê phán lối học phục vụ thi cử, đề cao việc học là để
hành” [35] Tác giả có nói:
Ông thấy được cái hạn chế của cách giáo dục tầm chương trích cú, phục vụ thi cử với mục đích để ra làm quan, đào tạo ra những người thiếu bản lĩnh
Trong “Kiến văn tiểu lục”, ông viết “Cái học ấy làm cho lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh Người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe thấy lời can gián Gặp có việc thì rụt
rè, cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu người gọi
là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhân sủng vinh phi nghĩa”
Trang 17(…) Ông nhận thấy cái vô bổ, phù phiếm của việc bỏ công ra trau chuốt, gọt giũa từng câu, từng chữ những bài thơ, phú để ca tụng lẫn nhau” [35]
Hầu hết các công trình trên đều là những bài viết, lời nhận xét, đánh giá, những nghiên cứu mang tính khái quát, ít nhiều liên quan đến một số khía
cạnh văn hóa được thể hiện trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục
Việc viết về một tác phẩm từ góc nhìn văn hóa không phải vấn đề hoàn toàn mới Nhưng nghiên cứu về Lê Quý Đôn cũng như tác phẩm
Kiến văn tiểu lục thì còn khá mới mẻ Phần nhiều những nghiên cứu trước
đây tập trung vào tiểu sử, tư tưởng văn chương của Lê Quý Đôn, giới thiệu các sách của ông dưới hình thức nghiên cứu, thư mục là chủ yếu Chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu bàn luận đến khía cạnh văn hóa trong các tác phẩm của ông
Nhìn chung, việc nghiên cứu những vấn đề xoay quanh nhà bác học Lê Quý Đôn từ nhiều thập kỉ qua khá phong phú, đạt được những thành tựu nhất định, tạo tiền đề cho thế hệ sau Song, các nghiên cứu ấy chưa đi sâu phân tích, đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện những đặc sắc văn
hóa trong tác phẩm của Lê Quý Đôn Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Kiến
văn tiểu lục của Lê Quý Đôn - từ góc nhìn văn hóa” với tâm ý kế thừa thành
quả, công trình nghiên cứu trước đó và từ phương pháp tiếp cận văn hóa học làm sáng tỏ hơn vấn đề hiện chưa được quan tâm nhiều về Lê Quý Đôn - nhà bác học lớn nhất Việt Nam trong nền văn học trung đại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu vấn đề
Với đề tài Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn - từ góc nhìn văn hóa,
chúng tôi sẽ soi chiếu và chỉ ra mối tương giao giữa văn học - văn hóa, xác lập cách tiếp cận khoa học về văn hóa đối với tác phẩm văn học trung đại Việt Nam Đồng thời, chúng tôi sẽ chứng minh từng biểu hiện văn hóa gắn liền với
Trang 18những sự kiện thăng trầm trong lịch sử Từ đó, khẳng định giá trị văn hóa, sự sáng tạo cũng như những đóng góp của tác giả, tác phẩm đối với quá trình phát triển và bảo tồn vốn văn hóa trong tiến trình phát triển lịch sử văn học Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những giá trị văn hóa Việt
Nam được thể hiện trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn Nội dung nghiên
cứu của luận văn tập trung tìm hiểu và phân tích những vấn đề văn hoá vật chất và tinh thần thể hiện trong 8 phần của tác phẩm như: hình thức lễ nghi,
âm nhạc, xe cộ; chế độ thi cử, quan chức; văn chương; nhân vật lịch sử… dưới các triều Lý - Trần - Lê
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Kiến văn tiểu lục là tác phẩm được Lê Quý Đôn viết bằng chữ Hán, đã
có nhiều bản dịch khác nhau Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chọn bản
dịch Kiến văn tiểu lục của Phạm Trọng Điềm, cùng lời giới thiệu của Viện Sử
học (NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1962) Đây là bản dịch được chỉnh sửa, hiệu đính mới nhất, được độc giả quan tâm và sử dụng trong công trình của các nhà nghiên cứu gần đây Trong tác phẩm này, chúng tôi dự định sẽ
khảo sát các phần như “Châm cảnh”, “Thể lệ thượng”, “Thiên chương”, “Tài
phẩm”, “Phong vực thượng”, “Thiền dật”, “Linh tích”, “Tùng đàm” đã được
biên phiên dịch trong công trình của Phạm Trọng Điềm để tìm hiểu và phân tích những nội dung văn hóa
Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi sẽ liên hệ với một số tác phẩm của
Lê Quý Đôn hoặc các tác giả khác như Bắc sứ thông lục, Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú)
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cụ thể như sau:
5.1 Phương pháp liên ngành:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Đây là phương pháp chủ yếu
được chúng tôi quan tâm trong quá trình thực hiện luận văn Nghiên cứu văn hóa như một chỉnh thể toàn vẹn mà trong đó văn học nghệ thuật như một tiểu
hệ thống Từ cái nhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học trung đại Việt Nam Chúng tôi sẽ xây dựng các cơ sở khoa học, hỗ trợ cho quá trình tiếp cận và xử lý các nội dung văn hoá trong tác phẩm
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Thông qua các nguồn tư liệu lịch
sử, chúng tôi tái hiện trung thực bức tranh văn hóa, con người theo trình tự thời gian diễn ra từ giai đoạn hình thành đến quá trình thay đổi, phát triển
5.2 Phương pháp tiếp cận thi pháp học:
Mỗi một tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật Chúng tôi sử dụng phương pháp thi pháp học trong việc phát hiện những đặc trưng nghệ thuật qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu giá trị văn hóa của tác phẩm Cụ thể là các thi pháp về kết cấu, giọng điệu, thời gian nghệ thuật
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác sau trong suốt quá trình nghiên cứu để luận văn có tính khoa học và hệ thống:
- Thao tác thống kê, phân loại: Chúng tôi sử dụng thao tác thống kê, phân loại về các chi tiết, sự kiện, nhân vật, vấn đề được thể hiện trong tác
phẩm Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn Các nội dung được thống kê, phân
loại sẽ là những cứ liệu quan trọng để chúng tôi khái quát thành các luận điểm trong các chương mục của luận văn
Trang 20- Thao tác so sánh, đối chiếu: Trong quá trình triển khai vấn đề
xoay quanh nội dung văn hoá của Kiến văn tiểu lục, chúng tôi sẽ có những thao tác đối chiếu với một số tác phẩm cùng thể loại như Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Lịch triều hiến chương
loại chí (Phan Huy Chú),.… để thấy được mối quan hệ giữa các vấn đề văn
hóa trong các tác phẩm
- Thao tác phân tích, tổng hợp: Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các tư liệu có liên quan đến nội dung văn hoá của tác phẩm, chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp tổng hợp làm cơ sở tập trung đánh giá, phân tích những nội
dung văn hoá trong Kiến văn tiểu lục để làm nổi bật những giá trị văn hoá của
tác phẩm
6 Những đóng góp của đề tài
Với những dự kiến về hướng tiếp cận và định hướng nghiên cứu, hi vọng kết quả của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ trong công tác xây dựng lý thuyết về tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học, nhất là văn học trung đại Việt Nam Bên cạnh đó, với kết quả dự kiến, chúng tôi tin
rằng, những đóng góp của Kiến văn tiểu lục sẽ là nguồn tài liệu tham khảo
có ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy về tác giả Lê Quý Đôn và mảng văn học trung đại Việt Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Lê Quý Đôn, “Kiến văn tiểu lục” và vấn đề thể loại
- Chương 2: Đời sống văn hóa trung đại trong “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn
- Chương 3: Một số phương thức thể hiện của “Kiến văn tiểu lục” từ góc nhìn văn hóa
Trang 21Chương 1 LÊ QUÝ ĐÔN, “KIẾN VĂN TIỂU LỤC”
VÀ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI
1.1 Tác gia Lê Quý Đôn và “Kiến văn tiểu lục”
1.1.1 Lê Quý Đôn - một hiện tượng văn hóa ở thế kỷ XVIII
Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương, tên tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ
7 (1726) và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784) Ông là người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (nay là thôn Phú Hiếu,
xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Ông làm quan dưới thời Lê Trung Hưng, vừa là nhà thơ vừa là nhà khoa học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến
Lê Quý Đôn được thừa hưởng trí tuệ và đạo đức từ người cha của mình, ông Lê Trọng Thứ (lúc nhỏ có tên là Lê Phú Thứ) Ông là một người cha mẫu mực, một vị quan liêm chính, luôn sống giản dị, kính già yêu trẻ, hết lòng vì dân vì nước Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến phẩm chất đạo đức của Lê Quý Đôn Ông Lê Trọng Thứ đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn (1724), được
bổ nhiệm vào Viện Hàn Lâm, sau được phong tước Diễn phái hầu rồi đến tước Hà quận công Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng từ bé, Lê Quý Đôn đã ấp ủ trong mình hai hoài bão lớn là kinh bang tế thế và trước thư lập ngôn Từ thuở bé, ông được người đời ca tụng về trí thông minh hơn người Hai tuổi, ông đã biết đọc chữ “hữu”, chữ “vô” Năm tuổi, ông đã thuộc lòng Kinh thi Mười một tuổi, mỗi ngày ông thuộc hàng tám, chín mươi trang sử Mười bốn tuổi, một ngày ông làm mười bài phú mà không phải nghĩ, không viết nháp Năm 1739, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long, khi đó ông đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia Ngoài trí tuệ trời ban cùng với công lao cha mẹ rèn đúc nên nhân tài thì những người thầy của
Trang 22Lê Quý Đôn cũng góp phần quan trọng Ông được tiếp xúc, học hỏi các bậc đại phu tài giỏi trong triều như Lan Đình hầu Đinh Công, Tả thị lang bộ Hình
Vũ Đình hầu Nguyễn Công, Hữu thị lang bộ Công Trần Công… Từ đó, tài năng của ông càng được nảy nở Ngô Thì Sĩ từng nhận định về tính hiếu học của Lê Quý Đôn:
Ngô Thì Sĩ cho là: “Sở dĩ ông hơn hẳn người chẳng phải vì tài
mà còn vì chăm chỉ đó sao” Ông là người “xem sử quên ăn dưa, đọc kinh không biết mỏi, mỗi ngày thuộc hàng tám chín mươi trang”,
“ông học rộng như Nguyên Khải nhưng hơn ở chỗ chăm chỉ” Hơn nữa, ông lại là người có chí khí Theo Ngô thì Sĩ: “Đến khi biết chơi đùa, ông chỉ thích vun cát, vạch bát quái, ngồi xổm trông trời, ngoài sách vở ra, không ưa chuộng thứ gì khác” [35, tr.21]
Trong 13 năm tiếp theo, ông thi Hương đỗ Giải nguyên rồi tiếp tục đỗ Hội nguyên và đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn Sau đó, ông được bổ nhiệm làm quan, giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê - Trịnh như Hàn Lâm viện thị giảng, Bồi tụng, Hiệp trấn Nghệ An, Công bộ Thượng thư… Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, ông được đi nhiều nơi, gặp gỡ các bậc tài danh, đọc những loại sách mới lạ và tìm hiểu chuyện đời, chuyện người
Từ đô thị Thăng Long, Lê Quý Đôn đã đi đến nhiều vùng miền khác trong cả nước Ông được tiếp xúc với nhiều người, nhiều vùng văn hóa, cảm nhận sự giàu đẹp của các vùng đất, sưu tầm văn hóa nhiều vùng miền Lê Quý Đôn không chỉ đi khắp hai miền Nam Bắc mà còn tận dụng việc đi sứ, đi công cán để tiếp cận với nền văn hóa nước ngoài Qua những lần đi sứ, ông khẳng định niềm tự tôn, tự hào dân tộc của mình Năm 1760, Thái thượng hoàng Lê Ý Tông mất, triều đình Lê - Trịnh cử Lê Quý Đôn làm Phó sứ sang nhà Thanh báo tang và nộp lễ cống Khi sứ đoàn của ta đi qua các châu, phủ ở Trung Quốc đều bị gọi là “di quan, di mục”, nghĩa là quan lại mọi rợ Bất
Trang 23bình điều đó, Lê Quý Đôn đã viết thư cho Tổng đốc Quảng Châu để phản đối Với uy tín của mình, cùng lời văn chặt chẽ, đanh thép, triều đình Mãn Thanh buộc phải ra lệnh bỏ danh từ khinh miệt này và gọi sứ đoàn nước ta là “An Nam cống sứ” Năm 1762, ông tiếp tục đi sứ sang Trung Quốc, tại đây ông được tìm hiểu chính trị Trung Quốc, tiếp xúc với nhiều văn trí thức Trung Hoa Đó là các nho thần nhà Thanh như Lương Thi Chính, Qui Hữu Quang Hơn thế nữa, Lê Quý Đôn còn gặp gỡ, cùng làm thơ với các sứ thần Triều Tiên là Hồng Khải Hi, Triệu Vinh Kiến Ông cho họ xem tác phẩm mình
mang theo như Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện, tập Tiêu Tương
bách vịnh và chính Hồng Khải Hi đã viết lời tựa cho ba sách này Họ đều hết
mực khen ngợi, thán phục về học vấn sâu rộng của ông Ở đây, ông có dịp đọc nhiều sách mới lạ kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, ngôn ngữ học, thủy văn học… Có thể thấy, Lê Quý Đôn là một người có tầm nhìn xa, có kinh nghiệm ngoại giao ở thời Hậu Lê
Sau khi đi sứ về nước, Lê Quý Đôn được thăng chức Hàn lâm viện thừa chỉ, giữ chức Học sĩ bí thư các Năm 1764, ông được cử giữ chức Đốc đồng
xứ Kinh Bắc Năm 1765, ông được bổ nhiệm làm Tham chính xứ Hải Dương, nhưng ông không nhận, xin cáo quan về nhà viết sách Năm 1767, Trịnh Sâm lên thay cha, mời Lê Quý Đôn quay trở lại triều chính, trao cho chức Thị thư, tham gia biên soạn quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám Năm 1768, ông đại phá quân Lê Đình Bản ở Đồng Cổ Ông được thăng chức Thị phó đô ngự
sử (1769) và Công bộ hữu thị lang (1770) Những năm 1772 - 1774, ông đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn, làm nhiệm vụ điều tra tình hình thống khổ của nhân dân cùng tệ nạn tham nhũng của bọn quan lại, đo đạc ruộng đất bị khai man Ông xem chuyến đi này là cuộc thực tế để hiểu về đời sống nhân dân và biết được con đường kinh bang tế thế của mình cần làm những gì Năm 1775, Lê Quý Đôn thăng chức Lại bộ tả thị lang kiêm
Trang 24Quốc sử quán tổng tài Năm 1776, chúa Trịnh đặt ty trấn phủ ở Thuận Hóa, ông được cử giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ Trong thời gian ở đây, ông
ra sức chấn chỉnh lại bộ máy chính quyền, chăm lo đời sống kinh tế, giáo dục cho nhân dân Năm 1778, Lê Quý Đôn được thăng chức Hành tham tụng nhưng ông từ chối, xin đổi sang ban võ và được phong tước Hữu hiệu điểm, quyền Phủ sứ, tước Nghĩa phái hầu Năm 1779, ông bị Hoàng Văn Đồng tố giác ỷ thế ức hiếp lấy bạc và bị giáng chức Năm 1782, ông được triệu về triều thăng lên chức Công bộ thượng thư Đến năm 1784, khi Lê Quý Đôn mất, Trịnh Khải đề nghị bãi triều ba ngày để tang ông, đặt tên thụy là Văn Trung, truy tặng tước Thiếu Bảo
Quãng đời làm quan của Lê Quý Đôn có cả ưu và nhược điểm, nhưng
ưu điểm nhiều hơn Học thuật cao siêu, uyên bác, cần cù tích lũy kiến thức chính là ưu điểm lớn nhất của ông Tri thức trong sách vở, kinh nghiệm cuộc sống phong phú mà ông tích lũy được trong 58 năm sống, học tập và làm việc
đã giúp ông trở thành nhà bác học lỗi lạc, nhà văn hóa tiêu biểu của lịch sử văn hóa Việt Nam
Thế kỷ XVIII là thế kỷ có nhiều biến động lớn, đó cũng là những cơ sở
xã hội quan trọng góp phần hình thành nên phong cách đa tài của ông quan Bảng họ Lê Tạ Ngọc Liễn có viết đôi dòng về thời đại của Lê Quý Đôn:
Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại Lê Quý Đôn sống, bởi vì một tài năng lớn bao giờ cũng là con đẻ của thời đại
Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ XVIII là thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi
ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển… Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới
Trang 25đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học Ở thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác… Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng nghìn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại Thực tế khách quan này đòi hỏi có những bộ óc bách khoa và Lê Quý Đôn với học vấn như biển cả của mình đã trở thành “tập đại thành” mọi tri thức của thời đại [24, tr.204 - 205]
Có thể nói, trước tác của Lê Quý Đôn đã bao quát tri thức văn hóa dân tộc ở thế kỷ XVIII và tạo dấu mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa cả một thời đại
Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Lê Quý Đôn được biết đến là nhà bác học, nhà văn hóa hàng đầu của nước ta Bên cạnh đó, ông còn được vinh danh với những danh xưng khác như: nhà sử học, nhà khảo cứu, nhà thơ, nhà ngôn ngữ, nhà ngoại giao, nhà giáo, nhà thư tịch… Dù với danh xưng nào thì cuộc đời của Lê Quý Đôn cũng đều có sự gắn kết đặc biệt đối với sách vở, văn chương Suốt quá trình làm quan, bản thân ông rất biết cách tận dụng thời gian cho việc nghiên cứu, biên soạn sách chuyên khảo Ông để lại cho đời sau nhiều công trình khảo cứu về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, văn hoá xã
hội, văn thơ… có giá trị lớn Các tác phẩm như Tứ thư lược giải, Thư kinh
diễn nghĩa, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Kiến văn tiểu lục, Lê triều thông sử, Bắc sứ thông lục, Quế Đường thi tập, Toàn Việt thi học… của Lê Quý Đôn được đánh giá cao trong giới học thuật
Việt Nam
Có thể nói, Lê Quý Đôn là một con người năng động, bởi ông là người
đi nhiều, đọc nhiều, viết nhiều Ông không ngần ngại việc tiếp cận những nguồn kiến thức mới để tích lũy và sáng tạo Từ tính cách ấy, cuộc đời ông
Trang 26dường như có mối quan hệ khắng khít đối với văn chương Giáo sư Văn Tân
có viết:
Trần Danh Lâm, bạn của Lê Quý Đôn đã viết rất đúng về ông:
“Lê Quế Đường người huyện Diên Hà không sách gì không đọc, không vật gì không suy xét đến cùng, ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết ngay thành sách, sách chất đầy bàn, đầy tủ, kể ra khôn xiết” [44, tr.306]
Các trước tác của ông đóng vai trò quan trọng trong kho tàng văn hóa của dân tộc, làm rạng rỡ nền văn hiến Việt Nam Với một số tác phẩm, người đọc còn cảm nhận ngòi bút đa tài cùng khả năng khảo tả văn hóa đặc sắc của
Lê Quý Đôn Vì thế, ông xứng đáng một nhà văn hóa tiêu biểu ở thế kỷ XVIII
1.1.2 Sự nghiệp trước tác của Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn là một trong số những người có nhiều tác phẩm đóng góp vào nền thư tịch nước nhà Ông dành nhiều thời gian cho việc khảo cứu, biên soạn sách vở Có lẽ từ lâu, Lê Quý Đôn đã xác định được văn chương là gốc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự kinh bang tế thế Chỉ cần nhìn vào số lượng tác phẩm để lại cho hậu thế cũng thấy được tầm vóc, sự uyên bác của ông trong thời đại
Về Sử học, ông có các tác phẩm: Đại Việt thông sử (còn gọi là Lê Triều
thông sử), Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục và Kiến văn tiểu lục đều là
những tác phẩm đặc sắc
Đại Việt thông sử là bộ lịch sử nước Đại Việt do Lê Quý Đôn biên soạn
từ năm 1418 đến năm 1433 Tác phẩm gồm bốn phần: Đế kỷ, Nghệ văn chí, Liệt truyện (hậu phi, hoàng tử, công thần, gian nghịch) và họ Mạc
Phủ biên tạp lục là tập bút ký được viết khi Lê Quý Đôn giữ chức Hiệp
Trang 27trấn tham tán quân cơ phủ Thuận Hóa trong 6 tháng Tác phẩm ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe về tình hình xã hội Đàng Trong, nhất là xứ Thuận Hóa và xứ Quảng Nam (từ thế kỷ XVIII về trước) Đây là nguồn tài liệu mà những ai muốn nghiên cứu lịch sử xã hội Việt Nam ở Đàng Trong đều phải dựa vào
Bắc sứ thông lục là tác phẩm tập hợp các tài liệu trong thời gian ông đi
sứ Trung Quốc từ năm 1760 đến năm 1762 Trong đó có ghi chép những bài tấu, khải, truyền báo hay về núi sông, đường sá, phong tục…ở những nơi mà phái đoàn đi qua
Kiến văn tiểu lục là tập bút ký được Lê Quý Đôn viết khi nghe truyền
tai hoặc đọc những tài liệu có liên quan đến văn hóa, lịch sử Đại Việt dưới thời Lý, Trần, Lê như chế độ các triều Lý - Trần, thành quách núi sông, đường sá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật và cách khai thác, nhân vật lịch sử, thơ văn, sách vở các triều Lý - Trần… Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, gồm 12 phần (giờ chỉ còn 8 phần), được Viện Sử học dịch ra Tiếng Việt
và xuất bản năm 1962
Về triết học gồm có Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Âm
chất văn chú, Vân đài loại ngữ… đều là những tác phẩm ít nhiều mang những
quan điểm về vấn đề chính trị xã hội của Lê Quý Đôn
Quần thư khảo biện gồm 2 quyển, có bài tựa của tác giả viết năm 1757,
một bài của Chu Bội Liên, một bài của Tần Triều Vu, một lá thư ngắn của Lý Huy Trung, một bài và một lá thư ngắn của Hồng Khải Hi… Tác phẩm bao gồm 223 sự kiện khác nhau trong lịch sử Trung Quốc từ đời Hạ Thương Chu
cho đến nhà Minh, được tác giả nêu ra và bình luận, đánh giá Quần thư khảo
biện được xem là tác phẩm tập hợp những quan điểm về các vấn đề chính trị
xã hội của Lê Quý Đôn
Trang 28Thánh mô hiền phạm lục gồm 12 quyền, ghi chép và bình chú những
danh ngôn của các bậc thánh hiền, trong đó có bài tựa của sứ thần Triều Tiên, Chu Bội Liên, Tần Triều Vu
Âm chất văn chú gồm 2 quyển trong đó có bài tựa của tác giả, của Bùi
Huy Bích và sự tham gia hiệu đính của các học trò Lê Quý Đôn
Đặc biệt hơn cả là tác phẩm Vân đài loại ngữ, bộ sách được ví như
bách khoa toàn thư Tác phẩm tập hợp được rất nhiều tri thức khác nhau như triết học, sử học, khoa học, văn học… sắp xếp theo thứ tự: vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ… Bên cạnh đó, Lê Quý Đôn còn đưa ra những quan điểm triết học tự nhiên, triết học xã hội tương đối đầy đủ Đó là điều mà cho đến bây giờ chưa có một nhà tư tưởng Việt Nam nào làm được
Bộ sách chứa đựng kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học Nhà nghiên cứu nông học ngày nay có thể tìm thấy nguồn gốc, đặc điểm, thổ nghi, cách trồng
của gần 200 giống lúa ở Vân đài loại ngữ Những nhà nghiên cứu lí luận văn
học có thể học hỏi về những quan điểm như chức năng văn học, quan hệ nội
dung và hình thức, sự tu dưỡng của nhà văn… Tóm lại, Vân đài loại ngữ là
bộ sách đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học ở nước ta thời phong kiến
Các công trình nghiên cứu, biên soạn cũng mang lại nhiều giá trị cho sự
nghiệp văn học của Lê Quý Đôn Công trình biên soạn lớn nhất là bộ Toàn
Việt thi lục gồm 6 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời
Hậu Lê Sách do ông phụng chỉ biên tập, dâng lên vua Lê Hiển Tông năm
1768 Đây là một quyển sách quý để khảo cứu về tiểu sử, tác phẩm của các thi gia
Ngoài danh xưng là nhà bác học, Lê Quý Đôn còn được biết đến là một
tác gia văn học Ông để lại Quế Đường thi tập với khoảng vài trăm bài, làm
khi ở trong nước và khi đi sứ Trung Quốc Tạ Ngọc Liễn từng nhận xét về thơ
Trang 29ông: “Đọc thơ Lê Quý Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú, đa dạng,
sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong lòng ta những xúc động đẹp
đẽ, sâu xa” [24, tr.212] Ngoài ra, Lê Quý Đôn còn có cuốn Quế Đường văn tập nhưng sách này không còn nữa
Một đời văn chương của Lê Quý Đôn gắn kiến thức sách vở với thực tiễn đời sống, học đi đôi với hành Ông tự đặt cho mình nguyên tắc hàng đầu
là vừa học trong sách vở, vừa nghiên cứu thực tiễn để nâng cao tri thức, biên soạn tác phẩm Tri thức mà Lê Quý Đôn có được là nhờ vào việc trọng thực
tế, ông không chỉ đọc sách nhiều mà còn bám vào đời sống bên ngoài Những kiến thức, kinh nghiệm được đúc kết trong tác phẩm của ông nhờ vào những lần đi sứ, đi công cán về các địa phương hoặc khi trực tiếp làm Hiệp trấn
Trong tựa Kiến văn tiểu lục, ông thuật lại rằng: “… đi đến đâu cũng để ý tìm
tòi, phàm việc gì mắt thấy tai nghe, đều dùng bút ghi chép” [43, tr.10] Ông
luôn tiếp xúc với mọi mặt sinh hoạt của nhân dân, bám sát đời sống xã hội, cố gắng nghe nhiều, nghĩ nhiều để giúp dân, giúp nước Ông luôn đặt giá trị văn chương trong quan hệ chặt chẽ với con người và với cuộc đời Giáo sư Văn
Tân nhận định: “Do đọc sách và do kinh nghiệm bản thân, Lê Quý Đôn cũng
đã phần nào nhìn thấy vai trò to lớn của nhân dân” [44, tr.310]
Lê Quý Đôn vốn là người luôn có ý thức tự hào về nền văn hiến Đại Việt Ông đã thể hiện sâu sắc ý thức ấy trong các trước tác của mình Ông tự
hào rằng: hai triều nhà Lý, Trần “tinh anh nhân tài, khí cách văn chương,
không khác gì Trung Quốc” [43, tr 192] Để minh chứng cho sự so sánh ấy,
đã có lần Lê Quý Đôn mang các sách vở Đại Việt cho các trí thức Trung Quốc xem, cùng tranh luận với các đại phu nhà Thanh về văn hóa Đại Việt khiến họ phải nể phục ông Quan khâm sai Tần Triệu Châm đã khen Lê Quý
Đôn “văn chương có khí tượng cao siêu, hình sắc rực rỡ” [43, tr.264] Có thể
thấy, sáng tác văn chương chính là cách tôn vinh nhân tài của đất nước
Trang 30Ở thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn giữ vai trò là một người thầy xuất sắc Ông luôn quan tâm đến chế độ đào tạo, tham gia việc giảng dạy, bình văn cho các giám sinh, tổ chức các kỳ thi Hội, thi Đình tìm kiếm nhân tài cho đất nước Lê Quý Đôn từng phê phán lối học phục vụ thi cử và chỉ ra phương châm học là để hành, phải biết nắm bắt cái chính, biết suy luận
Với Lê Quý Đôn, văn chương không bao giờ là thứ yếu Ông nhận ra
được giá trị từ những lời dạy hay, lời nói phải của cổ nhân: “Sách vở văn
chương của cổ nhân không phải một loại, xem vào đấy có thể giúp tâm trí, gợi tính tình” [43, tr.9] Hơn 200 năm trôi qua nhưng trí tuệ và tâm hồn Lê
Quý Đôn vẫn tỏa sáng, để lại cho hậu thế di sản thư tịch đồ sộ, một di sản tinh thần cao quý Không ai khác, Lê Quý Đôn chính là một biểu tượng cao đẹp về tinh thần học tập, khiến ta có thêm niềm kiêu hãnh về văn chương nước nhà
1.2 Vấn đề thể loại và giá trị của “Kiến văn tiểu lục” trong lịch sử văn xuôi trung đại Việt Nam
1.2.1 Về thể loại ký
Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất trong quá trình sáng tác cũng như tiếp nhận tác phẩm Bất kì một tác phẩm văn học nào ra đời cũng thuộc về một thể loại nhất định Trong quá trình sáng tác, tác giả bắt buộc phải cân nhắc, lựa chọn một phương thức, cách thức, cấu trúc tổ chức ngôn từ để thể hiện nội dung, miêu tả hiện thực cuộc sống Còn trong quá trình tiếp nhận, thể loại là một trong những con đường đưa người đọc khám
phá, lý giải toàn bộ khía cạnh sâu bên trong tác phẩm Để giải mã Kiến văn
tiểu lục cũng vậy, việc tìm hiểu bất kì phương diện nào của tác phẩm cũng
cần phải xác định thể loại của nó
Văn học trung đại Việt Nam kéo dài gần 10 thế kỷ, từ thế kỷ X đến thế
kỷ XIX Quá trình của văn học trung đại thực chất là quá trình hình thành và
Trang 31phát triển các thể loại, thể tài văn học Theo Biện Minh Điền, trong bài nghiên
cứu “Vấn đề phân loại thể loại văn học trung đại Việt Nam” chỉ rõ văn học
trung đại Việt Nam hiện diện qua một hệ thống thể loại với các đặc điểm nổi bật Thứ nhất, nó có sự hỗn dung, chồng chéo, đan xen nhau hay có thể gọi là
“đậm tính nguyên hợp” [12, tr.30] Thứ hai, nó mang tính quy phạm cao, có
đặc trưng thi pháp hết sức chặt chẽ, thể thơ Đường luật là minh chứng tiêu biểu nhất Thứ ba, tên thể loại thường được nêu ngay từ đầu đề của tác phẩm, gọi theo chức năng và nội dung của nó Năm 1998, trong công trình nghiên
cứu Lý luận văn học, Hà Minh Đức cho rằng:
Các thể ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng được miêu tả [14, tr.217]
Trong bài viết “Ký Việt Nam thời trung đại – quá trình hình thành và
đặc trưng thể loại”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na định nghĩa:
Ký là loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời trung đại, bởi bản thân khái niệm ký hàm chứa một nội diên có biên
độ hết sức co dãn Thoạt đầu ký có nghĩa là ghi chép sự việc gì đó để khỏi quên [27, tr.103]
Từ nhận định trên, ta có thể thấy bản thân loại hình ký đã thể hiện sự phóng khoáng, tự do mà khó loại hình văn xuôi trung đại nào có được Ký không chỉ phản ánh, lưu giữ những hiện tượng, mang tính lịch sử, thời sự, tính cảm hứng của tác giả mà còn có tính tổng hợp về tài liệu tin cậy cho văn học nghệ thuật sau này Về màu sắc thẩm mỹ, ký không hề thua kém các thể loại khác mà còn linh hoạt trong phương thức tiếp cận, phản ánh, lí giải tạo nên giá trị phong phú, độc đáo của riêng mình
Trang 32Loại hình ký có khả năng phản ánh hiện thực một cách sinh động nhất Tác phẩm thuộc thể ký vừa có khả năng đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực vừa bộc lộ tâm tình của tác giả Loại hình ký gồm nhiều thể loại khác nhau như ký sự, hồi ký, phóng sự, tùy bút, bút ký tùy theo hình thức, đối tượng miêu tả mà ký có cách tái hiện riêng để phù hợp với mục
đích của tác giả Nhìn chung, trong ký “đậm đặc tính tư liệu, hướng vào
việc tái hiện chính xác các sự kiện và hiện tượng có thực, và thường kèm theo sự lý giải và đánh giá của tác giả” [1, tr.221] Trong kho tàng văn
học trung đại Việt Nam, các tác phẩm ký có một vị trí đặc biệt quan trọng,
như truyện ký Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Thượng kinh ký sự của
Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ… Những tác phẩm ký
trung đại hầu như không đồng nhất với ký hiện đại Thời trung đại, ký không được hư cấu, không dùng các thủ pháp nghệ thuật của thần thoại,
sử thi, truyền kỳ Trong quan niệm về tính xác thực, ký trung đại mang nghĩa chép thực, tả thực, thấy gì ghi nấy, nghe gì chép nấy trong cuộc sống xã hội Với quan niệm này, ký trung đại không chỉ có những nhân vật, sự kiện có thật mà còn chứa đựng số ít những điều mà ngày nay ta không cho đó là sự thật Về ngôn ngữ, nếu ký hiện đại gắn với lối dùng từ của đời sống thường nhật thì ngôn ngữ ký trung đại lại trau chuốt, tinh luyện hơn
Văn học trung đại Việt Nam đa dạng về thể loại trong đó ký là loại hình phức tạp nhất Trong quá trình hình thành và phát triển của văn học trung đại Việt Nam, loại hình ký trải qua ba giai đoạn: thế kỷ X - XIV, thế
kỷ XV – XVII, thế kỷ XVIII – XIX Từ thế kỷ X - XIV, ký chưa được tách khỏi văn học chức năng, đa phần là văn học chức năng nghi lễ Từ thế kỷ
XV - XVII, đặc điểm nổi bật của văn xuôi tự sự giai đoạn này là ký chưa thành một thể riêng mà chỉ là một phần rất nhỏ nằm trong tác phẩm tự sự
Trang 33nhiều thiên Nếu truyện ngắn thế kỷ XV - XVII đã đạt đến đỉnh cao thì ký nghệ thuật chỉ mới bắt đầu, tính chất ký trong những thiên tự sự vẫn còn
mờ nhạt Cho đến thế kỷ XVIII - XIX, ký đã đến độ chín muồi, có bước nhảy vọt đáng kinh ngạc Yếu tố hiện thực trong giai đoạn này dần gia tăng
đã giúp thể ký trở thành một trong những loại hình tiêu biểu, đánh dấu mốc quan trọng cho văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Tác phẩm mở đầu
cho ký thế kỷ XVIII – XIX là Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề Dường
như lần đầu tiên, trong văn xuôi tự sự Việt Nam xuất hiện một tác phẩm có quy mô lớn tới 43 thiên, được tác giả dùng thuật ngữ “ký” để chỉ cho thể
loại của tác phẩm Sau Công dư tiệp kí đến Trần Tiến viết Cát Xuyên tiệp
bút, Trần Quýnh viết Tục công dư tiệp kí Trần Tiến viết tiếp hai tập ký khá
đặc sắc là Tiên tướng công niên phả lục và Trần Khiêm Đường niên phả
lục Sự thành công của người cầm bút thể hiện ở chỗ họ đã dần tách tác
phẩm của mình ra khỏi lối viết truyện của văn học cổ điển, tiến gần hơn với việc ghi chép hiện thực, tuy nhiên vẫn chưa cắt đứt mối quan hệ với
văn học chức năng Cho đến khi Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác ra
đời, ông đã đưa thể ký dần rời khỏi quỹ đạo của văn học chức năng và khắc phục những hạn chế của lối văn chương khoa cử Tác phẩm đã đánh dấu sự hoàn thiện và được mệnh danh là đỉnh cao của thể ký thời trung đại Nó còn là tác phẩm mực thước cho lối viết ký sau này Nguyễn Đăng Na nhận xét toàn diện về thể ký của thế kỷ XVIII - XIX:
Chưa bao giờ ký nở rộ và đạt đến cực điểm như vậy Chúng không chỉ nhiều về số lượng, cao về chất lượng, lớn về quy mô mà còn phong phú về chủng loại, đa dạng về phong cách Những tác phẩm ký hay nhất đều xuất hiện ở thế kỷ XVIII - XIX với đủ các hình thức: tiệp ký, niên phả lục, ký sự, tùng ký, tùy bút, tạp thảo, kỷ lược, biệt lục, ngôn hành lục, và mang nhiều phong cách: trữ tình, khảo
Trang 34cứu, trào phúng, luận thuyết hoặc kết hợp các phong cách đó trong một tác phẩm Quy mô của ký cũng ngày càng mở rộng, từ những thiên ngắn vài ba trang đến các tác phẩm trường thiên dài hàng trăm hoặc vài trăm trang [26, tr.75]
Nhìn chung, thể loại ký không cho phép người viết tưởng tượng những điều không xảy ra trong thực tế nhưng cũng không phải là ghi chép một cách máy móc Mục đích của ký không chỉ là thông tin về sự kiện xã hội mà còn nhằm phản ánh cái hay, cái đẹp và những giá trị, ý nghĩa của con người Tác giả ký là người chứng kiến, lắng nghe và cảm nhận sự việc, con người và tình huống mình quan tâm đến Như vậy, trong tác phẩm ký, các chi tiết, sự kiện của cuộc sống vừa giữ được tính thật lại vừa được nhìn nhận, cảm thụ, đánh giá theo cách nhìn độc đáo của riêng nhà văn
1.2.2 Về thể loại của “Kiến văn tiểu lục”
Kiến văn tiểu lục là một tác phẩm thuộc loại hình ký - một bộ phận
văn học cùng với truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại Đồng thời đây cũng là một áng văn tiêu biểu của thể lục trong loại hình ký Việc xác định thể ký lục cho tác phẩm trước hết là ở
tựa đề Trong Kiến văn tiểu lục, ngoài quan sát trực tiếp, Lê Quý Đôn còn
gián tiếp ghi nhận thông tin Chữ “kiến” là nhìn, có nghĩa là trực tiếp quan sát; chữ “văn” là nghe, có nghĩa là gián tiếp lấy tin từ người khác hoặc qua
sách vở Với Kiến văn tiểu lục, đây không phải là “tạp lục” hay “tùy bút”
mà là “tiểu lục”, là bút ký về những tri thức khá nhiều mặt mà tác giả ghi được qua việc lắng nghe, nhìn nhận “Tiểu” ở đây là nhỏ, ghi chép những điều nhỏ nhặt nhưng được tích góp thành khối kiến thức lớn Ta có thể coi tác phẩm như là một “tiểu bách khoa”
“Lục” là một trong những hình thức ghi chép của thể ký Đào Duy
Anh trong Hán Việt tự điển đã đưa ra quan điểm về từ “lục”: Ký lục là “biên
Trang 35chép”; hay nói cụ thể hơn, như ở phần “chính nghĩa” sách Chu Lễ “Phàm tên số các sự vật được ghi chép cụ thể trong sổ sách xưa đều gọi tên là lục”
[45, tr.175] Ông nhận định:
Từ lâu ở nước ta đã phổ biến các tác phẩm viết theo ký lục Ngay
từ đời Trần đã ra đời hàng loạt tác phẩm như: Khóa hư lục, Trung
hưng thực lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Thánh tăng lục Ở
thời Lê Quý Đôn đã có các tác phẩm như Bình Hưng thực lục, Bình
Ninh thực lục, Bình Tây thực lục, Bình Nam thực lục có ít nhiều
dính dáng đến Lê Quý Đôn vì ông từng tham gia vào một trong các cuộc “bình” này [45, tr.175]
Hay trong cuốn Hán Việt tự điển, tác giả Thiều Chửu có 3 cách giải nghĩa về lục: “một là sao chép như biên chép sách vở, chuyên công việc sao
chép; hai là ghi chép những việc xảy ra, những việc đã nghe; ba là tên để gọi sách vở ghi chép” [10, tr.638] Nhìn chung, ký lục thể hiện một phương
pháp ghi chép linh hoạt, mềm dẻo của tác giả Tức khi viết ký lục, Lê Quý Đôn ít bị gò bó hơn nhiều so với việc phải theo quy định nghiêm ngặt của một trong hai thể loại phổ biến là “biên niên” hay “ký truyện” khi viết thông sử Ở kiểu lục này, tác giả có thể ghi chép một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng tùy theo sự quan sát của tác giả Chẳng hạn, những sự kiện
trên đường ở Bắc sứ thông lục đều do Lê Quý Đôn trực tiếp quan sát và ghi lại ngay Ở Phủ biên tạp lục, ông thăm hỏi sự tích, xem xét lệ cũ, việc thế nào
ghi chép thế ấy, cũng là trực tiếp ghi chép Cũng có khi Lê Quý Đôn trực tiếp quan sát nhưng không ghi ngay tại chỗ Trên đường đi sứ, nhìn thấy câu đối, bài thơ hay, đáng lưu truyền, ông để bụng ghi nhớ, đến khi về thuyền thì mới sao chép lại vào trong tập, tức ghi theo trí nhớ
Về mặt nội dung, Kiến văn tiểu lục ghi chép lại sự thật khách quan
và tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả Sự thật khách quan được
Trang 36biểu hiện trong tác phẩm qua những yếu tố sau: Thứ nhất, người trần thuật xưng “tôi” với tư cách là người chứng kiến, ghi chép, luận bàn hay một chủ thể nói thực sự Trong tác phẩm, người trần thuật chính là nhân chứng mắt thấy, tai nghe những sự việc vừa diễn ra hoặc là người được trải nghiệm, tham dự vào các sự kiện đó Vì vậy, trong tác phẩm, tác giả thường tô đậm hành trạng, lai lịch, thân thế người kể chuyện một cách chi tiết Thứ hai, chuỗi các nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm trong tác phẩm cụ thể và
đơn nhất Nhân vật trong Kiến văn tiểu lục thường được cụ thể hóa bằng các chi tiết về tên tuổi, quê quán, tiểu sử Chẳng hạn như: “Mai Doãn
Thường, người xã An Toàn, huyện La Sơn, tự đặt tên hiệu là Mai Hồ, đỗ Hương cống, từng giữ chức Tri phủ…” [43, tr.246] hay “Năm Tân Tị (1761) niên hiệu Cảnh Hưng, sứ thần Trung Quốc là Đức Bảo, Thị độc và
Cố Nhữ Tu, Tự Khanh, sang nước ta phong sách Lúc ấy tôi phụng mệnh đi
sứ Trung Quốc trở về, cùng gặp nhau ở phủ Thái Bình, nhân hết năm, nên giữ lại khoản đãi hơn 10 ngày…” [43, tr.208] Như vậy, đặc trưng của Kiến văn tiểu lục trùng với đặc trưng của thể ký là ghi chép lại sự thật khách
quan, tôn trọng tối đa tính xác thực Sự thật luôn là hạt nhân quan trọng cho cấu trúc của loại hình ký dù là ở phương pháp ghi chép nào
Đặc trưng của ký là ghi chép sự thật nên nó có mối liên hệ chặt chẽ
với lịch sử Do vậy chất sử trong ký cũng khá đậm nét Kiến văn tiểu lục là
một trong số những tác phẩm ký mang tính chất văn - sử - triết bất phân Văn - sử - triết bất phân là hiện tượng đặc thù của văn học trung đại Nó liên quan đến quy luật văn hóa, quan niệm văn chương ở thời trung đại Nguyễn Đình Chú có viết:
Hiện tượng văn - sử - triết bất phân có liên quan mật thiết với quan niệm văn chương thời trung đại trong đó khái niệm văn vừa
có nghĩa hẹp vừa có nghĩa rộng, nhưng nói chung là rộng Hẹp là
Trang 37trong trường hợp văn được đặt vào quan hệ đối xứng với chất để chỉ vào hình thức trong khi chất là thuộc nội dung: Văn chất bân bân (hình thức và nội dung đều hoàn mỹ) Rộng là trong trường hợp văn gần như đồng nhất với văn hoá, văn hiến, với học thuật nói chung Chữ văn trong luận đề “Tiên học lễ, hậu học văn” có nghĩa rộng như thế Ở thời trung đại, một khi quan niệm văn chương còn được mở rộng như thế thì có hiện tượng văn - sử - triết bất phân là chuyện dễ hiểu [8, tr.32]
Vấn đề này đã gây ra nhiều tranh cãi về tác phẩm mang giá trị sử học hay văn học và khó có thể phân biệt rạch ròi được Về cơ bản, các sử gia chỉ chép lại những điều đã xảy ra chứ không phải sáng tác nhưng để lưu giữ được lịch sử, họ phải chạm đến nghệ thuật viết văn Yếu tố sử được chọn lọc, tái hiện qua lăng kính cá nhân, mang dấu ấn kinh nghiệm và cảm xúc của nhà văn
Có thể thấy, giá trị văn học trong Kiến văn tiểu lục thể hiện ngay ở
những đoạn mô tả bối cảnh không gian, thời gian làm nền cho diễn biến sự việc Đặc biệt, tác giả đã xây dựng chân dung nhân vật lịch sử bằng bút pháp của văn học Nội dung của tác phẩm chủ yếu là các sự kiện lịch sử có liên quan đến đời sống cung đình được ghi chép lại theo nguyên tắc biên niên Các nhân vật lịch sử thường là các bậc vua, quan triều đình, họ được kể lại qua sự tái hiện hành động, lời nói, quan hệ tương tác qua lại giữa họ Dùng văn để
chép sử nên thời gian trong Kiến văn tiểu lục có khi gắn liền với cuộc đời của
cá nhân tác giả Giá trị văn chương trong tập ký này còn thể hiện trong việc miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật Chỉ cần phác họa một vài hành động tiêu biểu đã làm nổi bật lên chân dung, nhân cách của nhân vật Ngoài ra, giá trị văn học còn được thể hiện ở cái tôi người cầm bút, khi tác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình trong tác phẩm Chức năng sử học là phản ánh lịch sử
Trang 38chính xác, cung cấp thông tin, sự kiện còn văn học thiên về chức năng thẩm
mỹ, giáo dục Thông qua những phần như “Châm cảnh”, “Tài phẩm”, “Tùng
đàm”… ghi chép về những tấm gương trung quân ái quốc, triết ngôn nhằm
khuyên răn, giáo dục người đời sau đã tạo chức năng giáo dục, thẩm mỹ cho tác phẩm
Nhìn lại lịch sử phát triển của thể ký thời trung đại, tuy Kiến văn tiểu
lục không phải là tác phẩm mở đầu cho loại hình ký nhưng đã góp phần tạo
nên vị trí của thể ký trong nền văn xuôi trung đại Việt Nam Với tác phẩm này, người đọc dễ dàng thấy được những giá trị phản ánh, điểm nhìn và nghệ
thuật biên khảo của thể ký Do đó, Kiến văn tiểu lục cũng có thể được xem là
một tác phẩm ký nổi bật trong nền văn xuôi trung đại Việt Nam
1.2.3 Giá trị của “Kiến văn tiểu lục” trong loại hình ký thời trung đại
Kiến văn tiểu lục là tác phẩm tiêu biểu cho lối ghi chép xác thực để
nhằm làm tư liệu truyền lại cho đời sau Tác phẩm thiên về ghi chép sự việc,
sự kiện, hiện tượng diễn ra trong lịch sử dưới thời nhà Lý, Trần, Lê… Phạm
vi biểu hiện đời sống của tác phẩm rất rộng lớn Xuất phát từ mục đích ghi chép để ghi nhớ, làm tư liệu cá nhân, tác giả đã ra sức tìm tòi, nghiên cứu,
phát hiện rồi ghi lại người thật, việc thật Khi viết Kiến văn tiểu lục, Lê Quý
Đôn trực tiếp tiếp cận, nghiên cứu cuộc sống Ông đi nhiều đến mức gắn bó, hòa nhập, hiểu biết tỉ mỉ, chính xác những chi tiết về đối tượng cần phản ánh
Sự thật của cuộc sống như một bản sao chép vẫn còn nguyên vẹn tính xác thực trong tác phẩm Nhờ sự sắp xếp của Lê Quý Đôn, các chi tiết đời sống không còn là các mảnh ghép tập hợp ngẫu nhiên nữa mà trở thành chỉnh thể nghệ thuật tiêu biểu của loại hình ký trong văn xuôi trung đại Việt Nam
Xét từ phương diện lịch sử, Kiến văn tiểu lục đã góp phần tạo nên sự đa
dạng, phong phú trong nội dung cho văn học trung đại thế kỷ XVIII - XIX
Theo học giả Trần Văn Giáp, trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam có
Trang 39giới thiệu tác phẩm Kiến văn tiểu lục gồm 9 mục với 12 quyển Bản hiện có là
sách chép tay của thư viện Khoa học Trung ương Sách này đã có bản dịch ra tiếng Việt do Phạm Trọng Điềm biên dịch công phu (nhà xuất bản Sử học, xuất bản năm 1960) Từ bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Viện sử học xuất
bản cuốn Kiến văn tiểu lục, khẳng định đây là một tác phẩm có giá trị về
nhiều mặt Sách bao gồm 12 phần (tức 12 quyển): Châm cảnh, Thể lệ thượng, Thể lệ hạ, Thiên chương, Tài phẩm, Phong vực thượng, Phong vực trung, Phong vực hạ, Thiền dật, Linh tích, Phương thuật, Tùng đàm Nhưng hiện nay chỉ còn 8 phần, thiếu hẳn 4 phần là Thể lệ hạ, Phong vực trung, Phong vực hạ
và Phương thuật Với 8 quyển còn lại, các nhà nghiên cứu đều cho rằng ghi chép khá thống nhất, các phần nhỏ được sắp xếp theo trật tự như nhau, sự sai
lệch trong từ ngữ không đáng kể Ngoài bản của Nhà xuất bản Sử học, Kiến
văn tiểu lục trở lại với “Tủ sách dịch thuật” của Bộ Quốc gia Giáo dục xuất
bản năm 1963 do dịch giả Trúc Viên, Lê Mạnh Liêu chịu trách nhiệm Năm
1965, một lần nữa Kiến văn tiểu lục được xuất bản từ Bộ Văn hóa Giáo dục
do Đàm Duy Tạo phiên dịch Năm 2007, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt
bộ sách Lê Quý Đôn tuyển tập được biên dịch bởi Nguyễn Khắc Thuần
Trong đó, tập 4 và tập 5 giới thiệu cho bạn đọc bản dịch, hiệu đính, chú thích
của tác phẩm Kiến văn tiểu lục Đến năm 2013, Nhà xuất bản Trẻ kết hợp với Nhà xuất bản Hồng Bàng xuất bản bộ “Cảo thơm trước đèn” trong đó có Kiến
văn tiểu lục, bản dịch của Phạm Trọng Điềm Có thể thấy, các nhà nghiên
cứu, các dịch giả xem Kiến văn tiểu lục như một kho tài liệu cổ rất quý giá
cần được lưu truyền Họ cũng cho độc giả thấy được bộ sách này có tầm vóc lớn, được biên soạn một cách công phu và nghiêm túc, phản ánh trình độ học vấn uyên bác của Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực phong phú khác nhau
Theo Từ điển văn học (bộ mới), Kiến văn tiểu lục là bộ sách cuối cùng
của Lê Quý Đôn Đây là một tập bút ký bao gồm những câu chuyện nhỏ về
Trang 40lịch sử, văn hóa, phong tục, văn chương, luật lệ và con người được Lê Quý Đôn ghi chép lại trong suốt quãng thời gian dài đi sứ, làm quan từ năm 1762
đến 1778 (mặc dù đề tựa là vào năm 1777) Phần “Châm cảnh” ghi chép về
những câu triết ngôn và hành vi đạo đức, lối sống của một số nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam nhằm khuyên răn, giáo dục người đương thời nên
noi theo hoặc tránh các lỗi Phần “Thể lệ thượng” ghi chép các lễ văn, chế độ
như lễ nghi, âm nhạc, khoa cử, quan chức, bổng lộc… của các triều đại Lý,
Trần, Lê Phần “Thiên chương” ghi chép tên những nhân vật đã làm những
bài bia, bài minh ở các chùa, quán ở thời Lý - Trần Ngoài ra còn giới thiệu,
phê bình một số thơ văn của cổ nhân trong phần này Phần “Tài phẩm” ghi
chép về tài ba, phẩm hạnh, tiết tháo, văn học… của một số nhân vật lịch sử như Lý Tử Cấu, Nguyễn Dữ, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Phạm Công
Trứ,… Phần “Phong vực” ghi chép về núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường xá… ở các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang Phần “Thiền
dật” ghi chép về các nhà sư Việt Nam tu hành, ẩn đạt từ thời Bắc thuộc cho
đến thời Hậu Lê Bên cạnh đó cũng ghi chép lại một số bài thơ của các nhà sư như Thẩm Thuyên Kỳ, Dương Cự Nguyễn, Trương Tịch, sư Huyền Quang,
sư Pháp Loa,… Phần “Linh tích” ghi chép về các đền miếu thờ các thần như
miếu thờ Quảng Lợi, đền thờ Chiêu Ứng, Nhân Huệ… và thêm 26 mẫu
chuyện nhỏ khác liên quan đến phần này Phần cuối cùng là “Tùng đàm”,
ngoài việc đính chính lại một số câu đối, câu văn của người Trung Hoa còn có chép thêm mười bốn mẩu chuyện về các nhân vật thời nhà Trần, Lê
Hầu như xuyên suốt tác phẩm đều là những câu chuyện, sự việc được
Lê Quý Đôn ghi chép, sắp xếp, xâu chuỗi lại với nhau một cách hệ thống
Chính nhan đề Kiến văn tiểu lục đã toát lên tinh thần của loại hình ký - ghi
chép những điều nhỏ mắt thấy, tai nghe Chỉ với nhan đề, những mảnh ghép tri thức về bức tranh hiện thực của xã hội đương thời phần nào đã hiện lên