Ở trong nước cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Đăng Bình 2003: “ Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong di
Trang 1DO ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA NGÔN NGỮ
GIAO THOA NGÔN NGỮ - LỖI SỬ DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG ANH
TRẦN THỊ NGỌC THẢO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
EM XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN CÁC THẦY, CÔ GIÁO KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ – TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐÃ DẠY
DỖ VÀ GIÚP ĐỠ EM TRONG NHỮNG NĂM QUA, CÁM ƠN CÁC THẦY
CÔ GIÁO PHÒNG SAU ĐẠI HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ TẠO MỌI ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO EM TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG
ĐẶC BIỆT, EM XIN GỬI LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH VÀ TRI ÂN SÂU SẮC TỚI GS.TS BÙI KHÁNH THẾ, NGƯỜI THẦY ĐÃ TẬN TÌNH, NGHIÊM KHẮC HƯỚNG DẪN, TẠO NHIỀU ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI GIÚP ĐỠ EM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN NÀY
XIN CẢM ƠN NGƯỜI THÂN, CÁC ANH CHỊ, BẠN BÈ ĐỒNG NGHIỆP, CÁC BẠN SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC
TP HỒ CHÍ MINH, CÁC BẠN HỌC VIÊN CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ,… ĐÃ HỖ TRỢ, DÀNH THỜI GIAN GÓP Ý VÀ ĐỘNG VIÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TP.HỒ CHÍ MINH, NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2008
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN THỊ NGỌC THẢO
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
TÔI XIN CAM ĐOAN ĐÂY LÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA RIÊNG TÔI NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN VĂN NÀY LÀ QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG KHOA HỌC NGHIÊM TÚC CỦA BẢN THÂN VÀ CHƯA TỪNG CÔNG BỐ TRÊN BẤT KỲ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG, CHƯƠNG TRÌNH NÀO KHÁC
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN THỊ NGỌC THẢO
Trang 4HỆ THỐNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 GT : giới từ
2 NH : người học
3 GTNN : giao thoa ngôn ngữ
4 GTVH : giao thoa văn hóa
5 TA : tiếng Anh
6 TV : tiếng Việt
7 GTTV : giới từ tiếng Việt
8 GTTA : giới từ tiếng Anh
Trang 53 Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của luận văn 04
4 Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 06
CHƯƠNG I
KHÁI LƯỢC VỀ LỖI NGÔN NGỮ VÀ LỖI DO GIAO THOA NGÔN NGỮ 08
[
1.1 Định nghĩa về “lỗi” ngôn ngữ (errors, mistakes) 08
1.2.1 Lỗi được nhận diện từ góc độ hành vi luận (behaviorism) 09 1.2.2 Lỗi được nhận diện từ góc độ ngôn ngữ học chức năng
(Communicative competence) 11
1.2.3 Lỗi được nhận diện từ góc độ lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ngôn
ngữ học so sánh đối chiếu (contrastive Analaysis)
12
1.2.4 Lỗi được nhận diện từ góc độ giao thoa văn hóa 13
1.4 Các quan niệm về lỗi do giao thoa ngôn ngữ 191.5 Cơ chế mắc lỗi ngôn ngữ do giao thoa ngôn ngữ 22
Trang 61.6 Các nguyên nhân gây ra lỗi do giao thoa ngôn ngữ 26
1.6.1 Sự hình thành thói quen và lý thuyết chuyển di trong học tập ngoại
2.4 Lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh khi phát ngôn 77
CHƯƠNG III
NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC GIẢI PHÁP SỬA LỖI GIỚI TỪ CHỈ
NƠI CHỐN VÀ MỤC ĐÍCH TRONG TIẾNG ANH HIỆN NAY
81
3.1.1 Khái quát về tình hình sửa lỗi hiện nay 81 3.1.2 Một vài nguyên tắc sửa các lỗi giới từ do giao thoa ngôn ngữ 83
3.2 Giải pháp sửa lỗi giao thoa ngôn ngữ về giới từ chỉ nơi chốn và mục
đích trong tiếng Anh
86
3.2.1 Giải pháp so sánh đối chiếu đặc điểm giới từ của hai ngôn ngữ 87
Trang 73.2.3 Giải pháp sửa lỗi giới từ bằng cách chơi trò chơi 93 3.2.4 Giải pháp rèn luyện kỹ năng phát hiện lỗi và chữa lỗi 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, việc học tập và sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh với tư cách như là một ngôn ngữ được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng nhất là một nhu cầu tất yếu Nhu cầu đó xuất phát từ việc giao tiếp, trao đổi, giao lưu với các quốc gia khác trong mọi vấn đề của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến chia sẻ tâm tư, tình cảm Thông qua tiếng Anh, người ta có thể tiếp cận và làm chủ tri thức nhân loại một cách hiệu quả, dễ dàng hội nhập với các nước khác trong cộng đồng quốc tế Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế của nhà nước ta, việc dạy và học tiếng Anh được đặc biệt quan tâm, các trung tâm ngoại ngữ tiếng Anh được thành lập ngày một nhiều tại các trung tâm, thành phố lớn trong cả nước Xuất phát từ việc nhận thức tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh như một thứ ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất và giữ vị trí độc tôn trong các hội nghị, hội thảo quốc tế, mới đây Bộ Giáo dục – Đào tạo
đã ban hành Quy chế mới về đào tạo thạc sỹ bắt đầu áp dụng vào cuối năm
2009, trong đó quy định việc thi môn ngoại ngữ tiếng Anh theo các dạng thức TOEFL, IELTS và yêu cầu trình độ tối thiểu là TOEFL 400 Tuy nhiên, cũng như việc học tập các ngoại ngữ khác, việc tiếp thu tiếng Anh trở thành thứ ngôn ngữ thứ 2, 3 của người Việt Nam không phải là một quá trình trôi chảy và dễ dàng mà nó cần có thời gian và sự nỗ lực đáng kể của
cả người dạy lẫn người học Hiện tượng mắc lỗi trong quá trình học ngoại ngữ là khó tránh khỏi Vấn đề ở đây là chúng ta cần phải tìm hiểu sự nhầm lẫn làm nảy sinh lỗi trong quá trình học tập và sử dụng tiếng Anh, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục các lỗi này
Trang 9Có một số ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp của một quốc gia,
mà còn được dùng phổ biến ở cả nhiều quốc gia khác và có sức lan tỏa rộng khắp thế giới Chúng ta có thể thấy rằng, nhìn chung các ngôn ngữ không tồn tại một cách biệt lập, riêng lẻ mà ngược lại chúng có thể tiếp xúc nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong thế giới mở hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới không chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình mà còn sử dụng ngôn ngữ của các nước khác như là một ngôn ngữ thứ hai, thứ ba… để phục
vụ cho nhu cầu giao tiếp Ngày nay, nhu cầu này diễn ra càng ngày càng mạnh mẽ, thông qua ngôn ngữ mà các dân tộc khác nhau về lịch sử, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ… có cơ hội tiếp xúc nhau làm tăng thêm mối quan hệ bang giao, gần gũi và hiểu biết nhau hơn nhờ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp như các phương tiện truyền thông đại chúng, sách báo, phim ảnh… Khoảng cách về địa lý không còn là rào cản của việc giao tiếp giữa các quốc gia, dân tộc với nhau Hệ quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ như thế làm nảy sinh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ
Xu thế hiện nay của việc học và sử dụng ngoại ngữ tiếng Anh là theo
xu hướng giao tiếp, tức là nhấn mạnh tới vai trò của tính phù hợp và mức
độ lưu loát hơn là độ chính xác của ngôn ngữ Tuy nhiên, quá trình giao lưu hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi việc sử dụng tiếng Anh một cách chính xác, nhất là trong các hoạt động mang tính chất khoa học Để đạt được yêu cầu
đó, ngữ pháp trở thành một nhân tố quan trọng đòi hỏi người sử dụng ngoại ngữ cần phải rèn luyện cùng với các kỹ năng ngôn ngữ khác Trình độ nắm vững ngữ pháp của người học phản ánh qua khả năng không phạm lỗi hay mắc các lỗi ngữ pháp của họ trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ, trong đó bao gồm yêu cầu không mắc lỗi giới từ tiếng Anh Trong lĩnh vực nghiên cứu các phương pháp giảng dạy, học tập và sử dụng ngoại ngữ thì việc xác định lỗi giới từ là gì, tại sao người học mắc lỗi và cách sửa lỗi như
Trang 10thế nào cho hiệu quả vẫn đang là vấn đề không dễ tìm ra câu trả lời, mặc dù việc phân tích lỗi đã trở thành một phân ngành của lý thuyết dạy tiếng trong ngôn ngữ học ứng dụng
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Giao thoa ngôn
ngữ - Lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh do ảnh hưởng của giao thoa ngôn ngữ”
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành ngôn ngữ học khóa 2005 – 2008
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thực tế, như chúng tôi đã trình bày thì công việc nghiên cứu về lỗi ngữ pháp nói chung và lỗi giới từ trong tiếng Anh nói riêng đã từng được thực hiện khá nhiều trên thế giới cũng như ở Việt nam Các công trình nghiên cứu về hiện tượng mắc lỗi do quá trình giao thoa ngôn ngữ nói chung, lỗi giao thoa ngôn ngữ của giới từ tiếng Anh nói riêng cũng đã được quan tâm Có thể kể ra một vài công trình ở nước ngoài liên quan đến lỗi về giới từ như trong luận án tiến sỹ ngôn ngữ học của tác giả Đỗ Minh Hùng
đã dẫn ra công trình “Error in foreign language”(tạm dịch: Sửa lỗi ngoại ngữ) của Hendrickson (1980); cuốn “Preposition pied - piping and preposition stranding constructions in the Interlanguge grammar of Iranian EFL learners” đề cập đến tiền giới từ và hậu giới từ trong câu nghi vấn và câu có mệnh đề quan hệ của tác giả Sadigi, F, MR Parhizgar, M Saadat (2004) [10.10] Ở trong nước cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Đăng Bình (2003):
“ Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh” Luận án này đã chỉ ra một số lỗi giao thoa ngôn ngữ và giao thoa văn hóa, trong đó tác giả có khái quát đề cập đến lỗi giao thoa về giới từ của người Việt khi học tiếng Anh Gần đây, tác giả Đỗ Minh Hùng với luận án tiến sĩ “Lỗi ngữ pháp tiếng Anh thường gặp của người Việt
Trang 11Nam” (2007) cũng khái quát về những lỗi giới từ mà người Việt Nam thường mắc phải trong quá trình học tiếng Anh Kế thừa những thành quả nghiên cứu từ các công trình kể trên, tác giả luận văn này tiếp tục đi vào
nghiên cứu về lỗi do quá trình giao thoa ngôn ngữ của giới từ chỉ nơi chốn và
mục đích trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt nhằm phân tích một cách hệ
thống và xem xét, khảo sát ý kiến về độ khó dễ của việc sử dụng giới từ nói chung và giới từ chỉ nơi chốn, mục đích nói riêng tại trường Đại học Kiến trúc Tp Hồ Chí Minh và một số trung tâm ngoại ngữ tiếng Anh, một số công ty có mối quan hệ đối tác với nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, người viết mong muốn rút ra được một cái nhìn khái quát về việc sử dụng giới từ chỉ nơi chốn và mục đích trong tình hình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Anh hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu một cách hệ thống, có chọn lọc
về các vấn đề liên quan tới các quan điểm về lỗi ngôn ngữ từ một số góc độ nghiên cứu, đặc biệt nhấn mạnh tới góc độ giao thoa ngôn ngữ là chủ đề chính của luận văn Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng tìm hiểu những quy luật dẫn đến việc mắc lỗi của người học tiếng Anh do yếu tố giao thoa ngôn ngữ nhằm làm nổi bật yếu tố liên quan đến việc mắc lỗi giới từ chỉ nơi chốn và mục đích của người học ở trình độ tiếng Anh trung cấp Thông qua việc xem xét, phân tích một cách có chọn lọc cách sử dụng giới
từ chỉ nơi chốn và mục đích trong một số văn bản tiếng Việt và tiếng Anh trên các sách báo và tạp chí như tờ báo Thanh Nien Daily, Saigon Times Online hay trong các cuốn sách: 20 truyện ngắn chọn lọc Anh – Việt (Nhiều tác giả), After Sorrow (Lady Borton, Hà Quang Hiến dịch), một số truyện ngắn nằm trong cuốn “Dịch thuật – từ lý thuyết đến thực hành” của Nguyễn
Trang 12Thượng Hùng, tác giả luận văn nhận thấy, việc sử dụng giới từ tiếng Việt và tiếng Anh trong hầu hết các văn bản được khảo sát đều khá cẩn trọng, quá trình dịch thuật và biên tập khá công phu và kỹ càng nên hầu như khó tìm thấy lỗi về giới từ Vì thế, chúng tôi chuyển sang hướng nghiên cứu các bài viết trong quá trình học tập của sinh viên, phản ánh mức độ nắm bắt ý nghĩa và cách sử dụng giới từ của sinh viên trường Đại học Kiến trúc Tp
Hồ Chí Minh cùng học viên của một số trung tâm ngoại ngữ mà người viết
có tham gia giảng dạy Qua việc khảo sát ngữ liệu thực tế của các đối tượng này trong việc sử dụng các giới từ chỉ nơi chốn và mục đích tiếng Anh để phân tích các lỗi mắc phải Chúng tôi hy vọng có thể qua đó đề ra một số nguyên tắc và giải pháp nhằm giúp người nói tiếng Việt học tiếng Anh hạn chế lỗi dùng giới từ một cách chủ động và tích cực
]
Nhiệm vụ của luận văn:
- Dựa vào lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và áp dụng phương pháp phân tích đối chiếu để tìm ra bản chất của hiện tượng giao thoa ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
- Căn cứ vào lý thuyết phân tích lỗi để xác định và phân loại lỗi
do quá trình giao thoa ngôn ngữ, đặc biệt là lỗi về giới từ chỉ nơi chốn và mục đích tiếng Anh ở sinh viên Việt Nam
- Thông qua việc tìm hiểu nhận thức của người học, người sử dụng tiếng Anh, phân tích quá trình phát sinh lỗi qua khảo sát bài viết, bài dịch của họ trong đó thể hiện cách sử dụng giới từ tiếng Anh nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về quan điểm của các đối tượng này khi học và sử dụng giới
từ tiếng Anh nói chung, giới từ chỉ nơi chốn và mục đích nói riêng Xem xét bản chất việc mắc lỗi về giới từ chỉ nơi chốn và mục đích của người học thông qua lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, lý thuyết phân tích lỗi và lý thuyết
Trang 13tri nhận để tìm ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thống giới từ nhằm xác định nguyên nhân gây ra lỗi khi sử dụng giới từ tiếng Anh
- Đề xuất một số giải pháp để hạn chế việc mắc các loại lỗi về giới
từ chỉ nơi chốn và mục đích tiếng Anh đối với người học và sử dụng tiếng Anh hiện nay
4 Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học
- Việc nghiên cứu luận văn nhằm bổ sung cho sự hiểu biết của lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ về hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, làm phong phú hơn những vấn đề về giao thoa ngôn ngữ, nhất là ảnh hưởng của giao thoa ngôn ngữ trong ngữ dụng học
- Bổ sung lý thuyết phân tích đối chiếu trong việc dạy và học ngoại ngữ Mỗi một quốc gia, mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng Tuy nhiên các ngôn ngữ không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà ngược lại chúng có thể tác động qua lại lẫn nhau Mỗi một ngôn ngữ đều mang những nét đặt thù riêng nhưng đồng thời cũng có những nét tương đồng mang tính phổ quát Chính tính chất hai mặt này giúp chúng ta có thể so sánh đối chiếu các ngôn ngữ khác nhau
- Làm sáng tỏ thêm giới từ trong văn bản, góp phần xây dựng
những cơ sở lý luận vững chắc để sử dụng các giới từ (prepositions) chỉ nơi
chốn và mục đích một cách hợp lý trong tiếng Anh
* Ý nghĩa thực tiễn
- Làm rõ cơ chế và nguyên nhân tạo ra lỗi do hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, góp phần giúp người cho người thụ đắc ngôn ngữ nhận ra và
Trang 14khắc phục những lỗi về sử dụng giới từ nói chung và giới từ chỉ nơi chốn và mục đích nói riêng trong từng văn bản cụ thể
- Giải quyết những khó khăn trong quá trình dạy và học các giới từ
chỉ nơi chốn và mục đích Tránh được những nhầm lẫn khi sử dụng các giới
từ này Góp phần nâng cao hiệu quả vào việc dạy và học ngôn ngữ thứ hai
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: Phần mở đầu, 3 Chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục
- Chương I Khái lược về lỗi ngôn ngữ và lỗi do giao thoa ngôn ngữ
- Chương II Lỗi khi sử dụng giới từ chỉ nơi chốn và mục đích trong tiếng Anh
- Chương III Những nguyên tắc và các giải pháp sửa lỗi giới từ chỉ nơi chốn và mục đích trong tiếng Anh hiện nay
CHƯƠNG I
KHÁI LƯỢC VỀ LỖI NGÔN NGỮ
VÀ LỖI DO GIAO THOA NGÔN NGỮ
Trang 151.1 Định nghĩa về “lỗi” ngôn ngữ (errors, mistakes)
Có thể khẳng định rằng trong quá trình giao tiếp, không ai có thể sử dụng một ngoại ngữ nào lưu loát tới mức không bao giờ mắc lỗi, kể cả người bản ngữ nói chính thứ tiếng mẹ đẻ của mình Trong quá trình học tập và sử dụng một ngoại ngữ nào đó thì việc mắc lỗi ngôn ngữ (trong luận văn này người viết xin gọi tắt là “lỗi”) là một điều khó có thể tránh khỏi Chúng ta biết rằng học một ngoại ngữ có nghĩa là phải làm quen với một hệ thống ký hiệu ngôn ngữ khác với hệ thống tiếng mẹ đẻ Do đó, việc mắc lỗi là một phần tự nhiên của quá trình học tiếng Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng (Dictionary of Applied Linguistics) của nhà xuất bản Longman (1985) định
nghĩa lỗi như sau: “Lỗi (trong khi nói và viết của người học ngoại ngữ hoặc
thứ tiếng thứ hai) là việc sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (ví dụ: một từ, một đơn
vị ngữ pháp, một hành động lời nói) theo cách mà một người bản ngữ hoặc người nói thạo thứ tiếng đó đánh giá là việc học hành có vấn đề hoặc không hoàn hảo” [70, 95] Còn tác giả Klassen lại cho rằng: “Lỗi là một hình thức hay cấu trúc ngôn ngữ mà người bản ngữ không thể chấp nhận được khi nó được sử dụng không đúng” [58, 134], lỗi nảy sinh ở người sử dụng ngoại ngữ
được hiểu là những gì mà người ấy làm sai lạc các sự kiện, đặc điểm cấu tạo,
ý nghĩa ngoại ngữ so với chuẩn của nó, có nghĩa là người học (NH) vi phạm
và thậm chí đôi khi còn phá vỡ các quy tắc của hệ thống ký mã ngoại ngữ
đó, do vậy, thông tin truyền đạt không được hiểu và không được xử lý chính
xác, thỏa đáng Nhà nghiên cứu Pit Corder khẳng định rằng: “Lỗi là sự lệch
chuẩn so với ngữ pháp của người bản ngữ hoặc sự vi phạm các quy tắc sử dụng ngôn ngữ” [49, 259]
1.2 Những quan điểm về lỗi ngôn ngữ
Trang 16Lỗi được các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận từ những góc độ khác nhau và đưa ra nhiều quan điểm không đồng nhất, thậm chí còn đối lập nhau Khi đề cập đến vấn đề lỗi, chúng ta không thể không nhắc đến các nhà ngôn ngữ học ứng dụng nổi tiếng như Pit Corder, Selinker, J.C, Richards và R Ellis với hàng loạt công trình để lại những dấu ấn rõ nét, giúp định hướng cho ngành phân tích lỗi (Error Analysis) Trong phạm vi của luận văn, người viết xin liệt kê một số quan điểm khác nhau về lỗi ngôn ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
1.2.1 Lỗi được nhận diện từ góc độ hành vi luận (behaviorism)
Từ những năm 60 của thế kỷ trước hai nhà tâm lý học J.Watson và B.Skinner là những người đầu tiên góp phần đưa ra lý thuyết hành vi luận Theo
lý thuyết này, cơ chế hoạt động của hành vi con người dựa trên sự kích thích - phản ứng - và củng cố (stimulus - response - consolidate), cơ chế hoạt động của
nó như sau: muốn có phản ứng thì phải có yếu tố kích thích phát ra, khi nhận được kích thích thì sẽ có phản ứng ngược lại Phản ứng được củng cố và xác định xem nó phù hợp hay không phù hợp, được chấp nhận hay không chấp nhận Nếu phản ứng không phù hợp thì sẽ bị loại bỏ còn phản ứng nào phù hợp thì sẽ được chấp nhận và lặp đi lặp lại nhiều lần biến chúng thành thói quen (một thói quen được tạo nên bởi một phản hồi trước một kích thích có sẵn) Lý thuyết này
có thể áp dụng cho việc dạy và học tiếng thông qua các bước sau: Thứ nhất, khi đối mặt với các kiến thức được cung cấp (cái kích thích), ngay lập tức NH phải tích cực chủ động tiếp nhận lượng kiến thức ấy, sau đó là xử lý và giải quyết khối lượng kiến thức vừa tiếp nhận (phản ứng) Thứ hai, kết quả xử lý được đưa
ra, hoặc là đúng, hoặc là sai so với ngữ đích Nếu đúng thì sử dụng các hình thức khuyến khích động viên để NH tiếp tục phát huy, đồng thời giúp NH sửa ngay nếu mắc lỗi Thứ ba, sau khi định hình và xác định kết quả đúng, sai thì NH biến những cái đúng, cái chính xác thành thói quen cho mình bằng cách cố gắng
Trang 17luyện tập, thường xuyên thực hành, phải lặp đi lặp lại nhiều lần đồng thời cũng phải loại bỏ ngay những gì cho là sai, không phù hợp tránh để chúng biến thành
lỗi cố tật hay còn gọi là lỗi đã hóa thạch, khó sửa hoặc không thể sửa được Tạo
dựng những thói quen tốt bằng các phản ứng tích cực, đúng đắn, chính xác chứ không phải qua cách mắc lỗi
Điều cốt lõi là một khi học ngôn ngữ thứ hai thì cũng có nghĩa là người học phải hình thành những thói quen ngôn ngữ mới Trong quá trình hình thành thói quen mới khi sử dụng ngôn ngữ thứ hai đó, tất yếu sẽ chịu tác động của thói quen cũ từ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, vì vậy có thể làm cho NH sẽ mắc lỗi Nguyên nhân của lỗi này là do sự chuyển di thói quen cũ trong ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ thứ hai Dưới cái nhìn của hành vi luận, mắc lỗi là điều không mong muốn, là sự yếu kém của NH cần phải sửa chữa và loại trừ trước khi chúng trở thành cố tật, họ tìm mọi cách triệt tiêu lỗi bằng cách không cho thói quen của ngôn ngữ mẹ đẻ can thiệp vào quá trình hình thành thói quen ngôn ngữ mới Theo họ, đối tượng gây ra lỗi là hoàn toàn do NH (có thể do yếu kém về năng lực ngôn ngữ) Như vậy, đối với nhà nghiên cứu theo xu hướng cấu trúc và hành
vi luận thì lỗi là một nhân tố tiêu cực, là một hành vi xấu, không thể chấp nhận được, nó không có ích gì cho việc học ngoại ngữ, mà ngược lại nó chính là nhân
tố gây cản trở cho việc hình thành thói quen sử dụng đúng ngôn ngữ đích, NH
không được mắc lỗi, “việc mắc lỗi trong quá trình học tiếng là không được chấp
nhận và phải được ngăn chặn bằng mọi giá”[39, 42] Vì quan điểm lỗi không
được phép xảy ra, nếu xuất hiện lỗi thì người dạy bằng mọi cách phải tìm nguyên nhân và trừ khử nó Những nhà nghiên cứu theo quan điểm hành vi luận chưa chỉ
ra được mặt tích cực còn tiềm ẩn trong thực thể lỗi, “chưa thấy được nỗ lực của
NH, vai trò của hoạt động tư duy ngầm ẩn của NH bị phủ nhận” [39, 42]
1.2.2 Lỗi được nhận diện từ góc độ ngôn ngữ học chức năng (Communicative
competence)
Trang 18Nếu quan điểm cấu trúc và hành vi luận cho rằng lỗi là thói xấu không thể chấp nhận được và cần phải triệt tiêu ngay bằng mọi giá thì các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng có quan điểm ngược lại Họ cho rằng lỗi không phải là sự yếu kém hay không hiểu biết của NH, lỗi không gây cản trở trong quá trình học tập Lỗi là một phần tất yếu trong sản phẩm
ngôn ngữ mà họ vừa tạo ra trong quá trình học tập Họ có quan điểm, trong
giao tiếp không mắc lỗi có nghĩa là NH chưa học gì mới và việc sửa lỗi là một phần tất yếu của bài học [53, 65] Lỗi cũng là nhân tố góp phần giúp cho
hoạt động học tập ngôn ngữ thứ hai theo đường hướng dạy giao tiếp như hiện nay NH cố gắng diễn đạt một điều gì đó bằng một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ quen thuộc của mình thì chắc chắn không nhiều thì ít họ
sẽ mắc lỗi ngôn ngữ Lỗi của NH còn được xem là dấu hiệu tích cực trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ, NH sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm học tập từ chính những lỗi mà mình mắc phải trước đó Sau khi phát hiện ra lỗi, sửa chúng và biết cách tránh được những lỗi này lần sau là một bước tiến bộ đáng ghi nhận của NH
Các nhà ngôn ngữ theo quan điểm ngôn ngữ chức năng không chú trọng đến hình thức hệ thống cấu trúc, họ không đề cao việc dạy cho NH nắm vững cấu trúc hay ngữ pháp, họ cũng không quan tâm xem NH mắc lỗi ngữ pháp như thế nào, chúng lệch chuẩn ra sao Ngược lại, họ chỉ quan tâm đến mức độ lưu loát, năng lực giao tiếp của NH tới đâu và hiệu quả giao tiếp đạt đến mức nào Năng lực giao tiếp trở thành mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng Như vậy, trong quá trình giao tiếp, nếu NH truyền đạt thông tin có thể mắc lỗi hay lệch chuẩn đều có thể chấp nhận được nếu người tiếp nhận vẫn nghe được, hiểu được nội dung họ truyền đạt, và ngược lại Với chiến lược giao tiếp của mình, NH tìm mọi cách để giao tiếp, trao đổi thông tin mặc dù những câu họ đưa ra có sai ngữ pháp hay sai cấu trúc, không phù hợp với chuẩn của ngôn ngữ đích Tuy nhiên
Trang 19mặt trái của quan điểm này là: nếu người dạy và NH theo đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp, chỉ chú trọng tính phù hợp và độ lưu loát hơn là độ chính xác của
sử dụng ngôn ngữ mà không quan tâm sửa lỗi thì những lỗi NH mắc phải sẽ rất
dễ thành lỗi cố tật
1.2.2 Lỗi được nhận diện từ góc độ lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ngôn ngữ học
so sánh đối chiếu (contrastive Analaysis)
Lỗi ngôn ngữ là một vấn đề được lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và các nhà
ngôn ngữ học so sánh đối chiếu (Contrastive Analaysis) rất quan tâm trong các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt trong quá trình giảng dạy tiếng Trong
công trình nghiên cứu Các ngôn ngữ trong quá trình tiếp xúc (languages in
contact), nhà ngôn ngữ học Weinreich cho rằng: “Những sai lệch so với chuẩn
mực của cả hai ngôn ngữ xảy ra trong lời nói của người song ngữ là do sự quen thuộc của họ đối với ngôn ngữ này hơn là ngôn ngữ kia Đó là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Sự khác biệt giữa hai hệ thống càng lớn thì vấn đề gây ra cho việc học và phạm vi giao thoa càng nhiều” [39, 46] Đến năm 1957, nhà ngôn
ngữ học người Mỹ Robert Lado trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học qua
các nền văn hóa (Lingusicts Across Cultures) cho rằng: “sinh viên khi mới học
tiếng nước ngoài sẽ nhận thấy một số điểm rất dễ và một số điểm rất khó Những yếu tố giống với ngôn ngữ bản địa của anh ta thì sẽ đơn giản còn những yếu tố khác thì thật là khó khăn Người giáo viên khi tiến hành so sánh ngoại ngữ với ngôn ngữ bản địa của sinh viên sẽ hiểu rõ hơn những vấn đề phức tạp thực sự trong việc học ngoại ngữ và sẽ đưa ra cách giảng dạy phù hợp hơn cho sinh viên” [15, 11] Nguyên nhân gây ra lỗi là do sự khác biệt về ngôn ngữ mẹ đẻ và ngoại ngữ, nếu so sánh đối chiếu mà tìm ra được những điểm tương đồng và dị biệt thì nó có thể giúp NH dự đoán, giải thích căn nguyên của lỗi Như vậy, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu rất có ích cho công tác giảng dạy ngoại ngữ như
Trang 20xác minh lại tài liệu trước khi giảng, soạn giáo trình, giáo án, dự đoán những khó khăn mà NH mắc phải trong quá trình tiếp thu ngoại ngữ và giúp họ tránh những lỗi mà họ sẽ gặp phải
Tuy nhiên trong thực tế, có nhiều lỗi mà NH mắc phải không phải xuất phát từ sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, cũng không phải là do ảnh hưởng thói quen tiếng mẹ đẻ mà do các nhân tố chủ quan, khách quan khác gây ra (yếu tố NH, yếu tố người dạy, giáo trình, môi trường học tập, yếu tố tâm lí, chiến lược học chưa hợp lý ) Hệ quả là có nhiều trường hợp dự đoán lỗi không chính xác hoặc không thể đoán được lỗi So sánh đối chiếu các ngôn ngữ để tìm ra điểm giống và khác nhau nhằm mục đích loại bỏ những tiêu cực xuất hiện trong quá trình GTNN; nhưng trong công tác giảng dạy, việc làm này phải phù hợp với từng đối tượng NH, ứng với từng mục đích học tập và áp dụng hợp lý trong từng thời điểm cụ thể
1.2.3 Lỗi được nhận diện từ góc độ giao thoa văn hóa
Để giao tiếp đạt hiệu quả thì NH phải hội đủ ít nhất ba yếu tố: kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng tương tác và hiểu biết văn hóa Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong ngôn ngữ và giao tiếp ngôn ngữ Ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành trong nền văn hoá của một cộng đồng và yếu tố văn hoá hiện diện trong mọi bình diện của giao tiếp ngôn ngữ Cũng như những khác biệt và tương đồng giữa các ngôn ngữ về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng,… mỗi quốc gia có những quy tắc và phong cách giao tiếp của riêng mình Sự khác biệt trong phong cách giao tiếp này thường rất tinh tế, không
dễ được nhận diện ngay trong quá trình giao tiếp, thường gây ra những ngộ nhận đôi khi rất trầm trọng, điều đó có thể phá vỡ các quá trình giao tiếp Chẳng hạn như quan điểm về xã hội, con người, tôn giáo, thậm chí trong cách cách xưng hô, cách sử dụng các nghi thức lời nói trong giao tiếp ngôn
Trang 21ngữ Bên cạnh việc mắc lỗi hệ thống, hình thức, NH còn mắc lỗi do giao thoa văn hóa Một người sẽ không được cho là có khả năng giao tiếp tốt nếu anh
ta chỉ có khả năng tương tác, khả năng tiếp xúc được mọi đối tượng hay được trang bị đầy đủ kiến thức ngôn ngữ nhưng lại thiếu đi kiến thức văn hóa Nếu thiếu hiểu biết về văn hóa trong ngôn ngữ thứ hai thì NH sẽ mắc lỗi thậm chí là những lỗi không thể chấp nhận được và làm cản trở giao tiếp
hay làm gãy đổ quá trình giao tiếp Theo R Lado: “người giáo viên khi tiến
hành so sánh ngoại ngữ với ngôn ngữ bản địa của sinh viên sẽ hiểu rõ hơn những vấn đề phức tạp thật sự trong việc học ngoại ngữ và sẽ đưa ra cách
giảng dạy phù hợp hơn cho sinh viên” [15, 11], còn tác giả Phạm Đăng Bình
thì cho rằng: “Lỗi giao thoa văn hóa là nguyên nhân gây ra các hiện tượng đồng nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những sự hiểu nhầm hoặc ngưng trệ giao tiếp” [39, 48] Như vậy, lỗi GTNN và lỗi giao thoa văn hóa gây khó khăn, cản trở NH tiếp thu và sử dụng ngoại ngữ, những lỗi này xảy ra cho mọi đối tượng người sử dụng ngoại ngữ từ những người có trình độ thấp đến các đối tượng có trình độ cao và sử dụng ngoại ngữ thường xuyên Chúng phải được phát hiện kịp thời nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình học, nếu để càng lâu thì chúng sẽ trở thành thói quen và NH khó sửa
Từ những quan điểm khác nhau về nhận diện lỗi ngôn ngữ nêu trên, chúng tôi thấy rằng quan điểm nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ theo góc độ của ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu là phù hợp, nhất là trong công tác giảng dạy, chúng tôi cũng nhìn nhận góc độ phát sinh lỗi ngôn ngữ do giao thoa văn hóa, GTNN là nguyên nhân quan trọng trong quá trình học tập và sử
dụng TA
1.3 Phân loại lỗi ngôn ngữ
Trang 22Lỗi xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể do khách quan hay chủ quan của người thụ đắc ngôn ngữ đó Lỗi xảy ra cho mọi đối tượng như người mới bắt đầu học, người đã đạt đến một trình độ nhất định, thậm chí cũng có thể xảy ra cho người có trình độ ngoại ngữ cao Lỗi xảy ra là do NH trong quá trình sử dụng ngôn ngữ có thể xuất phát từ một một yếu tố tâm lí khác can thiệp vào như do
dự, hồi hộp, lo lắng hay do xúc động, mệt mỏi và các biểu hiện tâm lý khác.Ví
dụ, NH vẫn ý thức được rằng thêm “es” vào ngôi thứ ba số ít ở thì hiện tại khi học TA, nhưng do không chú ý hay lỡ lời hoặc lơ đễnh mà NH có thể nói “he
like* [ likes] swimming”, hoặc thường quên đưa động từ về dạng danh động từ
(V + ing) sau một số động từ như sau: “He admitted steal* [stealing] my money”
hoặc không nhớ chia thì quá khứ cho động từ khi muốn diễn đạt hành động đã
xảy ra có thời gian xác định như: We go* [went] out yesterday… Sau khi nói
xong thì NH dễ dàng nhận biết ngay là họ đã mắc lỗi và họ có thể tự sửa sai Trái lại, nếu NH yếu kém về kiến thức và năng lực sử dụng ngôn ngữ thì họ lại không biết là mình mắc lỗi
Theo sơ đồ phân tích lỗi ngôn ngữ của P.Corder thì ông phân lỗi ra thành hai loại: lỗi tiềm ẩn và lỗi hiển hiện Lỗi hiển hiện là lỗi về hình thức,
nó biểu hiện ra hình thức bên ngoài, người phân tích lỗi cũng dễ dàng phát hiện ra chúng và dễ dàng tìm ra nguyên nhân gây ra lỗi Lỗi hiển hiện là lỗi xảy ra trong thực tế học tập và sử dụng ngoại ngữ Lỗi tiềm ẩn là các lỗi về hình thức thường là câu có cấu trúc ngữ pháp đúng nhưng lại không có nghĩa trong các ngữ cảnh, có nghĩa là lỗi thuộc về nội dung Đây là là lỗi rất khó phát hiện mà Corder đã khẳng định: “cái khó trong việc phát hiện lỗi là
ở chỗ một câu nghe qua hoặc nhìn qua có vẻ hoàn toàn chấp nhận được, nhưng có thể lại mắc lỗi Ông cho rằng: “câu không những phải chấp nhận được mà còn phải thích hợp, điều đó có nghĩa là nó thích hợp và hiểu được trong một ngữ cảnh cụ thể” [49, 57] Như vậy đối với lỗi tiềm ẩn thì người
Trang 23phân tích phải dựa vào ngữ cảnh và tiếng mẹ đẻ của NH ngoại ngữ thì mới
có thể tìm được tận gốc nguyên nhân gây lỗi (xem sơ đồ Hình 1.1)
Trang 24Theo quy tắc ngữ pháp của ngữ đích thì câu có nghĩa không
Hình 1.1 Sơ đồ cách nhận diện và phân loại lỗi
(Nguồn: S Pit Corder 1973 Introducing Applied Linguistics p.276)
Competence (ngữ năng)
Câu bị mắc lỗi ẩn
Câu bị mắc
lỗi hiển thị
So sánh câu được sửa với câu nguyên gốc bị sai Nói rõ câu nguyên gốc và câu được sửa lại khác nhau?
Dịch câu theo nghĩa đen sang tiếng mẹ đẻ.Câu dịch có nghĩa
Sửa lại câu cho đúng với ngữ pháp của ngữ
Dịch câu của tiếng mẹ đẻ sang ngữ đích
để sửa l
Không
ại câu
Có Có
Không
Trang 25Intralingual (ngữ đích)
developmental error (lỗi phát triển)
processing problems (các vấn đề về xử lý)
Performance (hành năng)
Errors
(lỗi)
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại lỗi của Abbot
(Nguồn:Abbot, G 1980, International Review of Applied Linguistics )
Còn theo cách phân loại lỗi của Richards và Abbot thì lỗi bao gồm: lỗi tự ngữ đích (Intralingual Error), lỗi giao thoa (Interlingual Error) và lỗi phát triển (developmental error) Lỗi tự ngữ đích là loại lỗi sinh ra do những yếu tố trong nội bộ ngôn ngữ đích và do NH mượn những tri thức đã biết về ngôn ngữ đích Lỗi xuất hiện do không nắm vững kiến thức cơ bản của ngôn ngữ thứ hai, các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chưa hoàn chỉnh, thiếu năng lực giao tiếp nên khả năng tiếp nhận và sản sinh ngôn ngữ thứ hai còn hạn chế tạo ra sản phẩm ngôn ngữ lệch so với chuẩn mực của ngôn ngữ đích Lỗi này cũng do NH suy luận tương
tự hay khái quát quá mức Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác tác động để gây ra lỗi như: năng lực của NH, trình độ người truyền thụ kiến thức, môi trường học tập… khi mà trình độ NH đạt đến một trình độ nhất định thì những lỗi này dần dần giảm đi hoặc được loại bỏ Lỗi này thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của người học ngoại ngữ
Lỗi giao thoa ngôn ngữ (GTNN) là lỗi sinh ra do NH mượn những tri thức
có trước từ tiếng mẹ đẻ Họ áp dụng những kiến thức sẵn có, những thói quen của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ mà họ đang học, chính vì thế tạo ra hiện tượng chuyển di, chuyển di tiêu cực sẽ tạo ra lỗi Lỗi GTNN thường mang tính hệ
Trang 26thống, xuất hiện trong một cộng đồng nói năng Lỗi mà NH thường mắc phải khi học TA là muôn hình muôn vẻ, đó có thể là lỗi về từ vựng (lexical error), lỗi về phát âm (phonological error), lỗi về ngữ pháp (syntactic error), lỗi hiểu sai về ý định hay nghĩa của người nói (interpretive error) và lỗi về ngữ dụng học (pragmatic error), lỗi giao thoa văn hóa… Những lỗi này là nhân tố cản trở quá trình học ngôn ngữ thứ hai, trong đó lỗi GTNN đã được nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm và dành nhiều thời gian nghiên cứu, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giao tiếp, dịch thuật hay hoạt động dạy và học ngoại ngữ
1.4 Các quan niệm về lỗi do giao thoa ngôn ngữ
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”
(V.I.Lenin) Mỗi quốc gia đều có ngôn ngữ riêng cho dân tộc mình “ngôn ngữ là
linh hồn của dân tộc, linh hồn của dân tộc là ngôn ngữ” (Humboldt W) Tuỳ
theo loại hình ngôn ngữ và loại hình văn hoá mà ngôn ngữ của các dân tộc có những nét tương đồng và những nét dị biệt Chính những dị biệt mới có thể làm nên bản sắc, đặc trưng riêng của từng ngôn ngữ, và nhờ thế mà chúng ta không thể nhầm lẫn ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác Tuy nhiên, do nhu cầu giao tiếp
mà ta trao đổi, giao lưu về mọi mặt đời sống xã hội từ kinh tế, văn hóa đến chia
sẽ tâm tư, tình cảm với nhau Chúng ta có thể khẳng định rằng các ngôn ngữ không tồn tại biệt lập, riêng lẻ mà ngược lại chúng có thể tác động qua lại lẫn nhau Hệ quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ như thế làm nảy sinh hiện tượng GTNN
Thuật ngữ giao thoa (interference) được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và cả trong cả khoa học xã
hội…Giao thoa vốn là một hiện tượng vật lí được định nghĩa “ là một hiện tượng
hai hay nhiều sóng cùng tần số, tăng cường hay làm yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm”[31, 733] Ở bình diện ngôn ngữ học, GTNN được dùng để
Trang 27chỉ hiện tượng tác động qua lại, ảnh hưởng và xâm nhập lẫn nhau giữa các cấp
độ ngôn ngữ (âm vị học, hình thái học, từ vựng- ngữ nghĩa, phong cách học…), giữa cấu trúc và các yếu tố trong cấu trúc Nhà ngôn ngữ học Ilese Lehiste cho
rằng GTNN là “hiện tượng chệch khỏi chuẩn của một ngôn ngữ nào đó trong lời
nói của những người biết từ hai ngôn ngữ trở lên” theo [38, 46]
Cũng như các lĩnh vực khác của ngôn ngữ học như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, dụng học, giao thoa văn hóa,… GTNN cũng là một trong những vấn đề được nhiều nhà ngôn ngữ học, những người làm công tác dịch thuật, và những người làm công tác giảng dạy ngoại ngữ quan tâm Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về GTNN
Theo các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ xã hội, hiện tượng GTNN chỉ được xem xét một cách đầy đủ nếu như nó được xem xét từ hai bình diện: bình diện thứ nhất là mối tương quan giữa các cấu trúc, sự ảnh hưởng lẫn nhau, sự xâm nhập lẫn nhau giữa các cấp độ của hai ngôn ngữ Sự ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ lên ngôn ngữ thứ hai hay là sự tác động ngôn ngữ thứ hai lên ngôn ngữ thứ nhất Bình diện thứ hai là giao thoa ảnh hưởng đến chức năng ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình giao tiếp, tức là người truyền thông tin hay người thụ đắc thông tin đó một cách chính xác Họ có thể truyền đạt những gì mình muốn thể hiện và lĩnh hội những gì người khác truyền đạt Các nhà ngôn ngữ học xã hội cho rằng: GTNN không giống như hiện tượng vay mượn chỉ xảy
ra trong sự tiếp xúc với thời gian ngắn, mà nó chỉ có thể xảy ra trong quá trình tiếp xúc trực tiếp lâu dài của cư dân khác ngôn ngữ GTNN gắn liền với tác động của các mối quan hệ vốn có của hai ngôn ngữ Giao thoa đặc trưng cho hệ thống được tổ chức nghiêm ngặt về cấu trúc của ngôn ngữ trong điều kiện thuận lợi có thể tạo nên sự thay đổi trong cấu trúc bên trong của hệ thống ngôn ngữ đó
Theo cách nhìn của ngữ pháp tạo sinh về GTNN là gạt bỏ sự đối lập giữa ngôn ngữ và lời nói, mà hướng về sự đối lập giữa hiện thực ngôn ngữ
Trang 28và năng lực thực hiện Theo quan điểm này, người nói lưu loát hai hay nhiều thứ tiếng là người có được hai hay nhiều năng lực tạo sinh khác nhau GTNN xuất hiện như là sự ảnh hưởng của năng lực tạo sinh một thứ tiếng này đến năng lực tạo sinh một thứ tiếng khác Điều đó có nghĩa là có sự xung đột giữa các năng lực tạo sinh khác nhau Giao thoa xuất hiện do có sự hỗn hợp các năng lực tạo sinh khác nhau, do sự hạn chế của năng lực ngoại ngữ gây ra Hơn nữa, hiện tượng giao thoa với trường hợp học liên tiếp hai ngoại ngữ A và B nếu trình độ của A càng cao thì giao thoa đối với A và B càng lớn, trường hợp này thường xảy ra ở giai đoạn đầu của quá trình mới bắt đầu học một ngoại ngữ mới Giao thoa A, B càng giảm nếu như năng lực ngôn ngữ B mạnh hơn, trường hợp này thường xảy ra ở giai đoạn sau khi
đã tiếp cận dần với ngoại ngữ B Mối quan hệ đồng dạng giữa các yếu tố của ngoại ngữ A và ngoại ngữ B đóng vai trò quyết định thì khi ấy giao thoa xuất hiện
Quan niệm của nhóm ngữ học Praha lại cho rằng GTNN xuất hiện ở ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác khi tiếp xúc lẫn nhau, những hiện tượng đi lệch chuẩn mực ngôn ngữ truyền thống, do sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ.Trong chuyên đề của mình GS Bùi Khánh Thế cho rằng: “Sự giao thoa bao trùm lên mọi trường hợp vay mượn có liên quan đến mọi bậc của cơ sở ngôn ngữ: ngữ âm- âm vị, ngữ nghĩa, từ vựng, ngữ pháp (bao gồm cả hình thái học lẫn cú pháp học)” [2, 6]
Giao thoa cũng là một trong những đối tượng được các giáo viên dạy ngoại ngữ và những người làm công tác dịch thuật quan tâm vì GTNN ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình công tác của họ Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung các quan điểm này đều nhìn nhận về GTNN từ những góc độ sau:
Trang 29Thứ nhất, quan điểm ngôn ngữ học: Trong hoàn cảnh mà hai hay
nhiều thứ tiếng có điều kiện tiếp xúc với nhau thì sẽ xuất hiện hiện tượng GTNN Giao thoa xảy ra là do vận dụng các yếu tố của một thứ tiếng vào hoạt động nói hoặc viết một thứ tiếng khác Giao thoa theo cơ chế này thường là do tiếp xúc ngôn ngữ giữa những người thuộc các dân tộc cộng cư trên cùng một khu vực địa lý hay tiếp xúc trong quá trình học tập ngoại ngữ Khác với hiện tượng vay mượn là xảy ra trong một thời gian tiếp xúc ngắn, GTNN chỉ có thể xảy ra trong quá trình tiếp xúc lâu dài của cư dân khác ngôn ngữ
Thứ hai, là quan điểm sư phạm - sinh ngữ: NH ngoại ngữ (ngôn ngữ
thứ hai) áp đặt một yếu tố, một mô hình nào đó của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ mà họ đang học hay đang sử dụng, hệ quả là làm chúng lệch khỏi chuẩn mực ngôn ngữ của nó Đây là một dạng lỗi đặc biệt mà học sinh thường mắc phải do thói quen hoặc do chịu ảnh hưởng tự nhiên của mô hình cấu trúc tiếng mẹ đẻ Người ta thường gọi nó là hiện tượng trượt, chuyển di, hiện tượng ký sinh
Thứ ba, quan điểm tâm lý học ngôn ngữ: Theo quan điểm này giao
thoa là sự lây nhiễm (contamination) hành vi, thái độ có tính chất tâm lý học Tâm lý đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng ngoai ngữ nào đó Giao thoa xuất hiện do tác động tiêu cực một thói quen này đối với một thói quen khác có thể xảy ra trong học tập ngoại ngữ làm ảnh hưởng đến kết quả sử dụng ngoại ngữ
1.5 Cơ chế mắc lỗi ngôn ngữ do GTNN
Cơ chế mắc lỗi dùng ở đây được hiểu là các bước nối tiếp nhau trong
quá trình NH tiếp nhận các quy tắc sử dụng ngôn từ ở ngôn ngữ thứ hai và sản sinh các sản phẩm ngôn từ bằng ngôn ngữ đó theo cách hiểu của mình
Trang 30Hoạt động ngôn ngữ ở NH ngoại ngữ để tạo ra sản phẩm ngôn từ thứ hai có thể được hình dung theo sơ đồ dưới đây
Hiểu (Tiếp nhận - Giải mã) ngoại ngữ (N2) Người học
Sản sinh (Kiến thiết - Lập mã) thông báo Hình 1.3 Sơ đồ cơ chế hoạt động hành vi ngôn ngữ [36.52]
Theo sơ đồ giao tiếp, hiện tượng GTNN sẽ xuất hiện trong cơ chế hoạt động như sau: NH sẽ hiểu (tiếp nhận - giải mã) và sản sinh (kiến thiết - lập mã) để tạo ra sản phẩm ngoại ngữ tạm gọi là N2 Có hai khả năng có thể xảy ra: sau khi tiếp nhận thông báo của N2 thì NH hiểu rõ ràng nội dung, ý nghĩa của nó, sau đó ngay lập tức có thể dễ dàng sản sinh ra ngôn ngữ với nội dung tương ứng để phản hồi lại, khả năng thứ hai NH có thể hiểu rõ ràng nội dung thông báo thứ hai nhưng gặp khó khăn trong việc sản sinh ngôn ngữ để phản hồi lại Nếu như N1 xuất hiện những phạm trù, những hiện tượng ngôn ngữ đa nghĩa, thì NH sẽ trở ngại trong việc sản sinh ra và thông báo N2 tương ứng và họ có nhiều khả năng áp dụng kiến thức sẵn có của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ, gây ra hiện tượng GTNN
Không phải lúc nào có tiếp xúc ngôn ngữ cũng xuất hiện hiện tượng GTNN GTNN thường xuất hiện khi có các yếu tố tương đương trong hai ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đóng vai trò gợi ý tối nghĩa, dẫn đến hành vi áp đặt những quy tắc của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ, có thể nói rằng
sự giống và khác nhau giữa các ngôn ngữ là một trong những nhân tố quyết định độ khó, dễ đối với NH Trong thực tế không bao giờ có sự giống nhau hoàn toàn giữa hai ngôn ngữ, dù cho chúng gần nhau như một (nếu không
có điểm khác biệt nào giữa hai ngôn ngữ thì nó trở thành một ngôn ngữ), và cũng không có ngôn ngữ nào hoàn toàn khác nhau mà không có một điểm
Trang 31tương đồng nào Một ngôn ngữ là một hệ thống ký mã đặc thù mà sự giống nhau chung nhất chỉ ở những nét phổ quát, ngay cả trên những nét giống nhau vẫn thường có những khác biệt tinh tế, chi tiết, tinh vi mà chỉ khi ta phân tích chúng ở cả các bình diện từ cấu trúc, chức năng ngôn ngữ đến dụng học thì chúng ta mới có thể phát hiện sự khác biệt đó
Chẳng hạn, xét phát ngôn: Chúng tôi gặp một tai nạn giao thông trên
đường đi học, người Việt thường nói:
We meet a traffic accident on the way to school *
S V O ADV
Khi so sánh bề mặt cấu trúc hai câu TV và TA ở trên, chúng ta thấy rằng về mặt hình thức và nội dung cả hai câu có vẻ như đều hợp lý, có thể chấp nhận được (về mặc cấu tạo câu hoàn toàn đúng với quy tắc ngữ pháp
TA, về mặt ngữ nghĩa hoàn toàn tương đương nhau, nhưng về bình diện từ
vựng thì có vấn đề, vì người Việt chuyển di từ “gặp” trong tiếng Việt thành
từ “meet” trong TA (dựa vào sự liên tưởng về nghĩa trong tiếng mẹ đẻ để tạo
ra tổ hợp từ “ meet a traffic accident” Đây là lỗi rất phổ biến của người Việt, nếu không chú ý thì tất dễ mắc lỗi Câu đúng phải là: We see a traffic
accident on the way to school Hay thay vì nói “Although he tried to manage
his best, he was unsuccessful” thì người Việt thường nói “Although he tried
to manage his best but he was unsuccessful” Đây là câu phức chỉ sự nhượng
bộ bao gồm hai mệnh đề, một mệnh đề phụ và một mệnh đề chính, giữa hai
mệnh đề không có liên từ “but” trong TA, nhưng người Việt theo thói quen bằng tiếng mẹ đẻ, nên tự thêm liên từ but vào giữa hai mệnh đề trong TA
Tác giả Nguyễn Văn Chiến trong giáo trình “Ngôn ngữ học đối chiếu
và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á” đã xét cơ chế hoạt động giao thoa ở những khía cạnh sau:
Trang 32Thứ nhất: Giao thoa được xuất hiện ở hai dạng cụ thể: Giữa hai
ngôn ngữ đối chiếu, những ngôn ngữ tương đương có cùng hình thức biểu đạt, nhưng nội dung ký hiệu lại không đồng nhất Trong trường hợp này người ta gọi là giao thoa mặt biểu hiện Thông thường các ký hiệu như vậy
có nội dung đa nghĩa: các từ đa nghĩa, các kết cấu đa nghĩa, các câu đa nghĩa,… người học ngoại ngữ khi gặp những trường hợp như thế rất dễ nhầm lẫn do bị tiếng mẹ đẻ chi phối Ngược lại, giao thoa mặt biểu hiện là loại giao thoa mà giữa hai ngôn ngữ đối chiếu các ký hiệu có cùng nội dung biểu đạt nhưng lại khu biệt nhau về hình thức biểu đạt (sự khác biệt đôi khi
do phong cách chức năng quy định) Người học ngoại ngữ đôi khi gặp ký hiệu đồng nghĩa của ngôn ngữ thứ 2 thường lúng túng trong việc lựa chọn biến thể nào ứng với ngữ cảnh và tình huống ngôn ngữ cần thiết Thông thường giao thoa xuất hiện do người nói áp dụng ký hiệu đồng nghĩa tương ứng ngôn ngữ thứ 1 với các biến thể ngôn ngữ thứ 2, không phân biệt được những sắc thái khu biệt chức năng của các biến thể ấy
Thứ hai: là giao thoa hệ dọc và giao thoa hệ ngang: toàn bộ ngôn ngôn
ngữ hoạt động trên hai trục: trục lựa chọn và trục kết hợp, mỗi ngôn ngữ đều khác nhau ở hình thức lựa chọn và cách sắp xếp, phân bố các ký hiệu trên hai trục, theo đó xuất hiện giao thoa hệ dọc và giao thoa hệ ngang, khi
có ảnh hưởng bất lợi của ngôn ngữ thứ 1 và thứ 2 Nếu hai thông báo của ngôn ngữ thứ 1 và thứ 2 đều có các số lượng các yếu tố như nhau, được sắp xếp theo một trình tự hình tuyến như nhau Nhưng do sự khác nhau trên hai trục này giữa hai ngôn ngữ dẫn đến NH nhầm lẫn và mắc lỗi Mắc lỗi trật tự từ xuất hiện hệ ngang Mắc lỗi chọn lựa từ (ở ngôn ngữ không biến hình) hoặc biến đổi hình thái (ở ngôn ngữ biến hình) xuất hiện ở hệ dọc hay
hệ thay thế, lựa chọn
1.6 Các nguyên nhân gây ra lỗi do GTNN
Trang 331.6.1 Sự hình thành thói quen và lý thuyết chuyển di trong học tập ngoại ngữ
Khi học một ngoại ngữ NH thường có xu hướng chuyển di (transfer) những kiến thức sẵn có như đặc điểm, cấu trúc, sự phân bố, thậm chí cả ý nghĩa của ngôn ngữ của NH sang tiếng nước ngoài, NH mượn những tri thức đã có trong tiếng mẹ đẻ “để khám phá” ngôn ngữ đích Sự chuyển di xảy ra rất tinh tế đôi khi NH khó phát hiện do không tự ý thức được mình
mắc lỗi Theo nhà ngôn ngữ học Odlin, chuyển di là “sự ảnh hưởng xuất
phát từ sự giống nhau và khác nhau giữa ngôn ngữ đích và bất kỳ ngôn ngữ nào khác đã được thụ đắc (có thể chưa hoàn hảo trước đó)” [64, 27] Trong
học tập ngoại ngữ, những đặc điểm khác nhau và sự giống nhau giữa tiếng
mẹ đẻ và ngoại ngữ là nguyên nhân trực tiếp gây ra hiện tượng GTNN Quá trình học thường bị tác động của chuyển di ngôn ngữ, nó diễn ra theo hai chiều hướng: chuyển di tích cực và chuyển di tiêu cực Theo GS.TS Bùi Khánh Thế, hiện tượng GTNN trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên cá thể song ngữ thuộc cộng đồng ngôn ngữ A do sử dụng cả được ngôn ngữ B, tiếp nhận một số nguyên tắc của ngôn ngữ B trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ A và như thế là xảy ra hiện tượng “đi lệch chuẩn mực” của ngôn ngữ A Tuy nhiên nếu trong cộng đồng song ngữ A-B có nhiều cá thể song ngữ cùng
có thói quen dùng các quy tắc của ngôn ngữ B “chệch với chuẩn mực” của ngôn ngữ A như vậy đến mức chúng được cả cộng đồng hay phần lớn cộng đồng chấp nhận thì các qui tắc này trở thành bổ sung cho ngôn ngữ A, làm phong phú thêm cho ngôn ngữ A, làm cho ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích có thể xích lại gần nhau hơn [2, 6] Kiểu chuyển di theo hướng làm
phong phú thêm ngôn ngữ như thế gọi là chuyển di tích cực (positive
transfer) Giao thoa ngôn ngữ tích cực là loại ảnh hưởng có lợi đối với việc
nắm bắt những thói quen mới trong ngoại ngữ) do tác động tích cực của
tiếng mẹ đẻ Thường những cấu trúc giống nhau thì sẽ dễ học vì chúng sẽ
Trang 34chuyển di sang tiếng nước ngoài và có thể có cùng đặc điểm, cùng chức năng ngôn ngữ, những cấu trúc khác nhau sẽ khó học vì khi chuyển di sang ngoại ngữ, chúng sẽ không có cùng chức năng và vì vậy sẽ thay đổi
Đối lập với chuyển di tích cực là chuyển di tiêu cực (negative transfer) Chuyển di tiêu cực hay gọi là giao thoa tiêu cực là những chuyển
di gây khó khăn và cản trở cho việc thụ đắc ngữ đích, là những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ đã gây cản trở cho khả năng tiếp thu những thói quen mới khi học ngoại ngữ Nếu như trong hiện tượng chuyển di, yếu tố ảnh hưởng
đến học tập ngoại ngữ gọi là sự thuận lợi (facilitation) thì trong hiện tượng
giao thoa, những yếu tố hoặc xu hướng ảnh hưởng đến học tập ngoại ngữ
được gọi là sự bất lợi (illifitation) Cần phải biết được giao thoa tiêu cực để
tìm cách ngăn chặn và khắc phục, có phương pháp dự đoán, tránh gây lỗi Mỗi một ngôn ngữ đều có những hệ thống, cấu trúc, nguyên tắc riêng của mình mà người bản ngữ quen thuộc với chúng Khi người bản ngữ tiến hành học một hay nhiều thứ tiếng khác tức là họ phải lĩnh hội, nắm bắt những hệ thống thói quen mới Trong quá trình lĩnh hội, nắm bắt và hình thành thói quen mới đó, bao giờ NH cũng bị chi phối bởi những thói quen
do tiếng mẹ đẻ đưa lại, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ đã ảnh hưởng đến ngoại ngữ GTNN là sự ảnh hưởng của việc sao phỏng các mô hình, cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ mình đang học khiến các đặc điểm, của ngoại ngữ bị sai lệch, không chính xác và làm lệch khỏi chuẩn mực vốn có của nó Lỗi giao thoa xảy ra ở mọi bình diện ngôn ngữ như: lỗi giao thoa ngữ âm, lỗi giao thoa từ vựng, lỗi giao thoa ngữ pháp, lỗi giao thoa văn hóa… chẳng hạn như NH thường mượn từ của tiếng
mẹ đẻ áp đặt vào ngoại ngữ mình đang học mà không quan tâm đến nét dị biệt của hai ngôn ngữ, lỗi dùng sai từ vựng là rất phổ biến, người Việt thường hay mắc lỗi trong việc chọn lựa từ vựng vì họ cho rằng chúng tương
Trang 35đương nhau, chẳng hạn: I’d like a cup of black coffee and a cup of milk*
[white] coffee (tôi muốn một tách cà phê đen và một tách cà phê sữa) hay My brother is driving* [flying] a plane (anh tôi đang láy máy bay) Xét mẫu đối
thoại ngắn giữa một người Anh và một người Việt:
- Người Việt: Your house is very nice (Nhà anh xinh quá!)
- Người Anh: It’s too old I’ll sell it if you like (Nó cũ quá rồi Tôi sẵn sàng bán nó nếu anh thích)
- Người Việt: ?!
Ở TV, từ “ nhà” được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) nhà = nhà để ở (house), (2) nhà = vợ (wife) (trong mối quan hệ vợ chồng) Trong trường hợp trên, người Việt muốn sử dụng từ “nhà” theo nghĩa thứ hai là khen vợ của người Anh (your wife is nice), nhưng anh ta lại dùng từ “house” của tiếng Anh để diễn đạt ý của mình; người Anh thì lại hiểu từ “nhà” theo nghĩa thứ nhất nên có lời đáp như trên và gây sự hiểu nhầm cho người Việt Về bình diện ngữ pháp, người Việt Nam khi học TA thường mắc lỗi về trật tự từ, đây là lỗi phổ biến của người Việt như có thói quen đặt tính từ sau danh từ như
trật tự từ trong tiếng Việt: system educational (hệ thống giáo dục), problems
international (vấn đề quốc tế), a flower sweet ( một bông hoa thơm) Thói
quen sử dụng tiếng mẹ đẻ bền vững đến mức NH cứ “vô tư chuyển di” từ mang ý nghĩa từ tiếng mẹ đẻ sang TA mà không nghĩ mình vi phạm qui tắc ngữ pháp của TA Lỗi sử dụng giới từ là một trong những lỗi đặc trưng cho
kiểu này Chẳng hạn, NH thường nói: I always wait* [for] you, we’ll contact
with* [ø] you later (Tôi sẽ liên lạc với bạn sau) (contact là ngoại động từ nên
không cần phải dùng giới từ with, trong khi phải có giới từ for sau động từ
wait); He got married with* [to] my sister: anh ấy kết hôn với chị tôi (get
married to someone mới là cấu trúc đúng trong TA) hay I feel mortified
Trang 36about his rudeness because he is impolite with* [to] me: Tôi phật ý về tính thô bạo của hắn vì hắn thường cư xử vô phép với tôi (NH hay chuyển di nghĩa
TV như thế khi họ tìm từ tương đương để dịch) Mặc khác, thay vì nói Your
boyfriend and I have just gone out thì người Việt lại nói I and your boyfriend have just gone out Câu trên vừa mắc lỗi trật tự từ vừa mắc lỗi giao thoa
văn hóa – người Anh cho rằng phép lịch sự đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
I phải đặt sau những đại từ nhân xưng hoặc sau danh từ khác (cái tôi của mình phải khiêm tốn đặt sau cái tôi của người khác), trong khi tiếng Việt thì
đại từ tôi đứng trước hay sau các đại từ hay danh từ khác mà không ảnh
hưởng đến phát ngôn Ngoài ra, còn một nguyên nhân quan trọng khác làm cho NH thường mắc lỗi khi học TA là do cách phát âm của TA và tiếng Việt
có sự khác nhau rất lớn Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập), hoàn toàn mang tính phân tích và không hề có hiện tượng biến hình hay chắp dính Còn TA là ngôn ngữ đa âm tiết, mang tính phân tích cao, có pha trộn với các đặc điểm của ngôn ngữ tổng hợp và chủ yếu là chắp dính Do đó, sự can thiệp của cách phát âm của tiếng Việt đối với cách phát của TA là không thể tránh khỏi Chẳng hạn, nhiều âm TA thuộc dạng khó mà người
Việt Nam gặp phải như Chương Hoàng Chung trong công trình The
Language Situation of Vietnamese Amercan, 1998 đưa ra một số âm:
Trang 37Các phụ âm cuối phát âm như là
Người Việt Nam học TA không chỉ gặp nhiều trở ngại trong cách phát
âm những âm khó mà chúng không có trong hệ thống âm của tiếng Việt mà còn gặp khó khăn khi gặp trọng âm (stress), ngữ điệu (intonation),…
Có nhiều trường hợp NH “chuyển câu của ngôn ngữ này sang làm mô hình cho ngôn ngữ kia, hoặc dùng mô hình này để giải thích cho mô hình ngôn ngữ khác” [38,49] Chẳng hạn, thay vì dùng cấu trúc TA như phát
ngôn: He had his hair cut (S + have something + Ved/3 ) thì người Việt chuyển sang mô hình tiếng Việt (S + V + O): He cut his hair, một trong
những biểu hiện rỏ nhất là chuyển đổi mô hình câu bị động do, bởi, bị, được… Ranh giới giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực nhiều khi rất
tế nhị: khi thói quen trong học tập ngoại ngữ A và B tương tự nhau, dễ xuất hiện hiện tượng chuyển di Khi các thói quen chỉ giống nhau ở bộ phận từng phần một, hoặc giống nhau trên đại thể mà phân biệt ở chi tiết, thì dễ nảy sinh giao thoa
Khi chúng ta nói không phải là chỉ phát ra một loạt âm thành hay một chuỗi từ Nói đúng ngữ pháp hay phát âm chính xác vẫn chưa đủ Con người cần phải biết nói sao cho phù hợp với từng đối tượng, phù hợp với từng bối cảnh giao tiếp, có nghĩa là người sử dụng một ngoại ngữ phải biết được văn hóa của đối tượng mà mình đang giao tiếp để tránh những hiểu
Trang 38lầm đáng tiếc hay vi phạm những nguyên tắc giao tiếp Quá trình giao tiếp thành công hay không tùy thuộc vào năng lực giao tiếp của mỗi người Năng lực giao tiếp thể hiện ở kiến thức ngôn ngữ (linguistic knowledge), kỹ năng tương tác (interaction skills), hiểu biết văn hóa (culture knowledge) Trong thực tế, khi giao tiếp NH ngoại ngữ thường diễn đạt theo văn hóa và tư duy của dân tộc mình, đây cũng là lý do góp phần gây ra lỗi GTNN Mỗi xã hội đều có những chuẩn mực giao tiếp riêng của mình; ở trong một số trường hợp, chuẩn mực giao tiếp của xã hội này lại là phi chuẩn mực của xã hội khác và ngược lại Chẳng hạn thói quen của người Việt Nam khi gặp nhau
chào hỏi bằng cách hỏi Where are you going? (Ông bà đi đâu đấy?), nhưng
người phương Tây thì không biết đó là lời chào mà cho rằng đây là câu hỏi
để lấy thông tin, hay khi muốn bày tỏ sự quan tâm khi giao tiếp thường hỏi tuổi tác và tình trạng hôn nhân, thăm hỏi sức khỏe gia đình riêng, về công việc, lương bổng, nhưng người phương Tây cho đây là những việc riêng tư, hỏi như thế là không lịch sự, là tò mò, là muốn can thiệp vào cuộc sống của
họ, cách hỏi thăm này thường làm cho người phương Tây không được thoải mái thậm chí đối với một số người có tâm lý cực đoan thì họ sẽ dừng ngay cuộc đàm thoại và có thành kiến không tốt về người hỏi
Có hai đối tượng người sử dụng ngoại ngữ thường rơi vào tình trạng có
ý định nhiễu loạn vô ý thức, đó là những đối tượng lớn tuổi, có một khoảng thời gian dài nói và viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình và các đối tượng học sinh chưa hề học ngoại ngữ nào Khi diễn đạt một ý nghĩa nội dung của các
sự kiện, hiện tượng ngoại ngữ thì lại có thói quen diễn đạt theo kiểu tư duy, dùng chính những yếu tố, cấu trúc, hệ thống của tiếng mẹ đẻ của mình để diễn đạt, đôi khi NH ngoại ngữ có quan niệm rằng ngôn ngữ mới sẽ hoạt động giống như tiếng mẹ đẻ của họ Do đó, họ rất dễ mắc lỗi Những lỗi cấu trúc được chuyển di từ cấu trúc của tiếng mẹ đẻ thường được tìm thấy ở
Trang 39giai đoạn bắt đầu học ngoại ngữ khi mà NH chưa quen với hệ thống cấu trúc của ngoại ngữ, giải pháp thông thường của họ để diễn đạt ý tưởng trong ngoại ngữ là chuyển từ tiếng mẹ đẻ sang Chính vì thế NH thường giữ thói quen khi nói, viết tiếng mẹ đẻ và chuyển di các thói quen ấy trong quá trình học tập ngoại ngữ
Khi đề cập đến sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ tạo ra sự chuyển di phải kể đến lỗi xuất phát từ sự khác nhau về sự tri nhận “Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ, công cụ của tư duy” [22, 13] Cùng một sự vật, hiện tượng nhưng mỗi quốc gia
có cách nhìn, cách tri nhận và giải thích từ những góc độ khác nhau, đôi khi ngược nhau Nếu NH áp dụng thói quen tư duy và tri nhận một ngoại ngữ nào đó
sẽ gây ra hiện tượng GTNN, biểu hiện rõ nhất là sự GTNN giữa giới từ TA và tiếng Việt như giới từ chỉ nơi chốn và giới từ chỉ mục đích mà chúng tôi sẽ đề
cập cụ thể ở Chương II trong luận văn này
Mỗi một dân tộc đều có những lối suy nghĩ riêng của cộng đồng người được thể hiện qua ngôn ngữ của dân tộc mình “Các ngôn ngữ tự nhiên đều
có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài liệu ngữ nghĩa Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa - bản ngữ đó, thường được gọi là mô hình thế giới” Mỗi mô hình như thế, ngoài cái chung, cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ảnh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy (không giống những dân tộc khác), được gọi là “cách nhìn thế giới” [17, 57]
1.6.2 GTNN xuất hiện do các yếu tố tâm lý
Trang 40Yếu tố tâm lý là một trong những nhân tố gây ra sự GTNN khi học ngoại ngữ:
Thứ nhất: Khi mà mọi quy tắc đã trở thành thói quen thì sử dụng
chúng rất tự nhiên Hơn nữa với tâm lý thoải mái, tự do dùng ngôn ngữ mà lại là ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nên NH có cảm giác tự tin và “ làm chủ” hơn Trong trường hợp phải học, phải nói và phải viết một thứ tiếng của một quốc gia khác không phải là tiếng mẹ đẻ của mình, giống như đang bắt chước làm một điều gì đó không thuộc sở hữu của mình thì tâm lý không được thoải mải, mất tự nhiên Người sử dụng phải đối mặt với một hệ thống
ký tự hoàn toàn mới mẻ Mỗi một ngôn ngữ đều có những quy tắc giao tiếp riêng, khi chấp nhận sử dụng một ngôn ngữ nào đó có nghĩa là họ bó buộc,
ép mình vào các qui tắc, khuôn khổ ngôn ngữ, quy tắc xã hội và cả quy tắc văn hóa của quốc gia mà mình đang dùng thứ tiếng của họ Xuất hiện tâm
lý sợ nói sai, sợ dùng từ không chính xác, sợ phát âm không chuẩn, ngại vì không phải là tiếng mẹ đẻ của mình… Hơn nữa khi thảo luận bất kỳ một vấn đề gì mang tính chất tự do, không gò bó thì người ta có thể nói hay, diễn đạt một cách tự nhiên, giao thoa dễ xảy ra khi tình huống giao tiếp được quy định bằng những sự kiện, chủ đề xã hội nhất định, họ cố diễn đạt nội dung, ý nghĩa ngôn ngữ họ đang học bằng chính cách mà họ diễn đạt bằng tiếng mẹ đẻ Nói chung, sử dụng một ngôn ngữ với tâm lý bị gò bó không thoải mái, rất dễ làm NH mất tự nhiên và mắc lỗi giao thoa sẽ xảy ra
Tuổi tác cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lỗi GTNN GTNN cũng xuất hiện ở những người có một trình độ ngoại ngữ nhất định nào đó Những người nhiều tuổi, nếu còn sử dụng được nhiều ngoại ngữ thì ở một phương diện nào đó càng có khả năng thủ tiêu giao thoa hơn vì họ có sẵn những kinh nghiệm khả năng tiếp thu ngoại ngữ Khi sử dụng nó, họ có ý thức mình đang sử dụng ngoại ngữ, thường thể hiện những