Vì vậy nghiên cứu toàn cảnh tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như là giai đoạn khởi đầu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng và của văn học Việt Nam hiện đại nói ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : GS HOÀNG NHƯ MAI
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều có nói rõ
Tác giả luận án
Võ Văn Nhơn
Trang 3TRANG THÔNG TIN LUẬN ÁN
Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Chuyên ngành: Lý thuyết và lịch sử văn học
- Mã số: 5.04.01
- Họ và tên NCS: Võ Văn Nhơn
- Người hướng dẫn khoa học: GS Hoàng Như Mai
- Cơ sở đào tạo: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN (abstract):
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại xuất hiện khá sớm ở Nam Bộ và đã có những thành tựu rất đáng chú ý, nhưng một thời gian khá dài bộ phận văn học này đã bị quên lãng Luận án này với những tư liệu mới, đã
nghiên cứu sự hình thành, phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Luận án cũng nêu lên những đặc điểm về lực lượng sáng tác, những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ thời kỳ này (như tính tiên phong, ý thức hướng ngoại, chú trọng chức năng giải trí, quan tâm đặc biệt đến công chúng bình dân) Những thể tài tiểu thuyết mới mẻ và nổi trội của Nam Bộ như tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết hành động cũng được luận án quan tâm phân tích
NHỮNG KẾT QUẢ MỚI CỦA LUẬN ÁN:
1 Trình bày những đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
2 Đề xuất các cách phân loại tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thông qua các thể tài chủ yếu
3 Cung cấp tư liệu để đính chính một số nhận định còn sai sót của các nhà nghiên cứu đi trước
4 Bước đầu giới thiệu những ý kiến về tiểu thuyết của các nhà văn, các nhà phê bình ở Nam Bộ trong giai đoạn này
5 Bổ sung 33 tên tác phẩm vào thư mục tiểu thuyết Nam Bộ (1887 – 1932), nay đã lên đến 586 tác phẩm
CÁC ỨNG DỤNG/KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC TIỄN HOẶC NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU:
- Có thể xuất bản thành sách để phục vụ cho việc nghiên cứu văn học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 hoặc có thể dùng làm chuyên đề giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành văn học
- Tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này rất phong phú, còn nhiều tác phẩm cần phải sưu tầm, nhiều tác giả còn chưa có tiểu sử, chân dung, vì vậy còn cần phải tiếp tục nghiên cứu để có thể hoàn chỉnh diện mạo của bộ phận tiểu thuyết tiên phong này
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh
Trang 4INFORMATION PAGE OF DOCTORAL DISSERTATION
- Theme: Cochichina novels of the late 19th and early 20th centuries
- Major : Theory and History of Literature
- Code: 5.04.01
- PhD student: Vo Van Nhon
- Instructor: Professor Hoang Nhu Mai
- Training base: University of Social Sciences and Humanities, Ho Chi Minh City
ABSTRACT OF THE DISSERTATION:
While modern Vietnamese novels were developed quite early in Cochichina and reached many heights of literary accomplishments, a large part of this body of literature was still undocumented and little known until recently This dissertation with new findings has studied the formation and development of Cochichina novels of the late 19th and early 20th centuries The dissertation seeks to describe characteristics of novelists staff, contents and art of Cochinchina novels of this era (such pioneeristic value, extroversion, entertainment value, and the desire to serve the common people) This dissertation also explores and analyzes new types of Cochichina novels such as historical novels and action novels
NEW RESULTS OF THE DISSERTATION:
1 Discuss main characteristics of Indochina novels of the late 19th and early 20th centuries
2 Propose categorization of Cochichina novels of this period by common themes
3 Provide empirical evidence to erase misconceptions in previous researches
4 Provide a brief survey of literary reviews on novels of this era
5 Add 33 novels to the Cochichina Novel Collection (1887-1932), which currently consists of 586 novels
APPLIES / ABILITIES OF APPLYING IN PRACTICE, OR OPEN
PROBLEMS NECESSARY TO GO ON RESEARCHING
Publications that serve further research on Cochichina literature of the late 19th and early 20th centuries
Teaching materials for college-level literature courses
While the collection of Cochichina novels in this period of history is undeniably rich in both breadth and depth, many novels were still undiscovered, many authors' lives were yet unrecorded Therefore, we have to strengthen our research efforts in order to unveil this chapter of history of Vietnamese literature
Trang 5Instructor’s confirmation Author of the dissertation
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN DẪN NHẬP 1
1 Mục đích, ý nghĩa của luận án 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23
4 Phương pháp nghiên cứu 25
5 Đóng góp mới của luận án 26
6 Cấu trúc luận án 27
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TIỂU THUYẾT NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 28
1.1 Tiền đề kinh tế – chính trị 28
1 2 Tiền đề xã hội – văn hóa 30
1.2.1 Giáo dục 30
1.2.2 Chữ quốc ngữ 32
1.2.3 In ấn và xuất bản 36
1.2.4 Báo chí quốc ngữ 37
1 3 Tiền đề văn học 44
1.3.1 Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa 44
1.3.2 Ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây 54
1.3.3 Ảnh hưởng của văn học truyền thống 58
CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 61
2.1 Giai đoạn phôi thai 61
2.2 Giai đoạn trưởng thành và phát triển 73
2.3 Giai đoạn hòa nhập 84
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 87
Trang 73.1 Đặc điểm về lực lượng sáng tác 87
3.1.1 Một kiểu hình nhà văn mới 87
3.1.2 Các nhà văn nữ 89
3.1.3 Các nhà văn Công giáo 91
3.1.4 Quan niệm về tiểu thuyết 93
3.1.4.1 Quan niệm về chức năng giáo dục 93
3.1.4.2 Quan niệm về phản ánh hiện thực 96
3.1.4.3 Quan niệm về thể loại 97
3.1.4.4 Quan niệm về thủ pháp nghệ thuật 101
3.1.4.5 Quan niệm về ngôn ngữ tiểu thuyết 102
3.2 Đặc điểm về nội dung 106
3.2.1 Tiên phong trên con đường hiện đại hóa 106
3.2.2 Ý thức hướng ngoại 108
3.2.3 Chú trọng chức năng giải trí 110
3.2.4 Quan tâm đến công chúng, đặc biệt công chúng bình dân 111
3.2.5 Đậm đà tình yêu nước, giàu tính đạo lý, có tính dân chủ cao 112
3.3 Đặc điểm về hình thức loại thể 115
3.3.1 Các thể tài tiểu thuyết 115
3.3.1.1 Tiểu thuyết tâm lý 117
3.3.1.2 Tiểu thuyết hành động 121
3.3.1.3 Tiểu thuyết lịch sử 127
3.3.1.4 Tiểu thuyết thế sự 132
3.3.2 Một số đặc điểm về nghệ thuật 136
3.3.2.1 Nghệ thuật kết cấu 136
3.3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 144
3.3.2.3 Ngôn ngữ tiểu thuyết 157
Trang 8KẾT LUẬN 168 TÀI LIỆU THAM KHẢO 173 PHỤ LỤC 194
Trang 9DẪN NHẬP
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Những cứ liệu được công bố gần đây cho thấy tiểu thuyết Việt Nam hiện đại xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ và đã có những thành tựu rất đáng chú ý Trên nền tư liệu mặc dù chưa sưu tầm đầy đủ này, người ta nhận ra tiểu thuyết của vùng đất này đã một thời phát triển rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và gần nghìn tác phẩm, đã cuốn hút đông đảo độc giả và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng họ Nhưng từ sau 1945, văn học quốc ngữ Nam Bộ nói chung và tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng có một thời gian khá dài đã
bị giới nghiên cứu phê bình quên lãng Riêng về tiểu thuyết, chỉ mỗi một Hồ Biểu Chánh được giới thiệu và đánh giá cao Vì vậy nghiên cứu toàn cảnh tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như là giai đoạn khởi đầu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng và của văn học Việt Nam hiện đại nói chung, là một việc làm cần thiết, nhằm bổ khuyết cho những khoảng trống đáng tiếc và góp phần nhận thức đầy đủ về tiến trình hiện đại hoá của tiểu thuyết nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Sau một thời gian dài bị bỏ quên, đến nay tiểu thuyết chữ quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, nhất là từ sau 1975 Đây là điều tất yếu bởi bộ phận văn học này đã đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Trang 10Có thể chia lịch sử nghiên cứu vấn đề tiểu thuyết chữ quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thành ba giai đoạn: từ
1945 trở về trước, từ 1945 đến 1975 và từ 1975 cho đến nay
2.1 Ở trong nước:
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1945:
Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ hình thành vào cuối thế kỷ XIX
và phát triển khá mạnh vào những năm đầu thế kỷ XX Nhiều bài quảng cáo, giới thiệu, điểm sách, phê bình, tranh luận, bút chiến sôi nổi về các tác phẩm trên báo chí đương thời đã giúp chúng ta hình dung được phần nào diện mạo của tiểu thuyết Nam Bộ thời kỳ đó
Theo tìm hiểu của chúng tôi, tiểu thuyết được đề cập sớm nhất có lẽ là tác phẩm Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu Trên Lục Tỉnh tân văn số 402 ngày 11.11.1915, Nguyễn Văn Nghĩa, trong bài Tự do diễn đàn đã có lời khen tiểu thuyết này là
“đặt lớp nghe đã hay, mà văn nói nghe cũng giỏi, thiệt là dủ sức dủ
kỳ, coi không muốn thôi” Và sau đó hơn mười năm, tác phẩm này
đã tạo ra một cuộc bút chiến sôi nổi cùng với một kết cục buồn Phe công kích Lê Hoằng Mưu có những tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn Háo Vĩnh, Cao Hải Để, Trì Nam Tử đã có những ý kiến hết sức gay gắt như “Vì mười năm trở lại đây (nếu chúng tôi không nhớ lắm) ông Lê Hoằng Mưu đặt ra nhiều bộ tiểu thuyết ngôn tình rất đê tiện như thế: Hà Hương phong nguyệt, Hồ Thể Ngọc, Oán hồng quần, Đỗ Triệu kỳ duyên Trong các bộ truyện
ấy, khoản nào lại chẳng “làm cho bại hoại phong tục, suy đồi luân lý” mà hiện nay vẫn in bán khắp nơi rất hại cho đàng giáo dục hàng
Trang 11chí có tựa bài báo còn như một lời tuyên án “Lê Hoằng Mưu là một đứa tội nhơn lớn nhứt của nước An Nam” (Công luận báo, số 48, 1928) Cuối cùng chính quyền thuộc địa đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm
Lỗi bước phong tình (1922) của Nguyễn Thành Long cũng gây ra nhiều ý kiến trái ngược nhau Nguyễn Mạnh Bổng rất khen ngợi khi giới thiệu tiểu thuyết này trên báo Hữu Thanh số 21 ngày 1.6.1922, nhưng bài viết này đã được đáp lại bằng một ý kiến phủ định khá gay gắt của Dá Cô trên Nam Bộ kinh tế báo số 82 ngày 5.7.1922
Các tiểu thuyết của các tác giả khác như Mười lăm năm lưu lạc, Hiếu nghĩa vẹn hai, Lê Triều Lý Thị của Phạm Minh Kiên cũng được giới thiệu bởi TS, Hồ Văn Hiến, LQ trên các báo Nông cổ mín đàm, Đông Pháp thời báo, Lục Tỉnh tân văn vào những năm 1922,
1923, 1931 Riêng Tỉnh mộng của Hồ Biểu Chánh đăng trên Đông Pháp thời báo đã được Nguyễn Tường đánh giá rất cao trong bài Một mối cảm tình đối với nhà tiểu thuyết (Đông Pháp thời báo, số
203 – 204 tháng 10 1924) Tác phẩm này cũng được Minh Quang phê bình trên Lục Tỉnh tân văn (số 3916, 3918 tháng 10.1931) Lối văn “tả chơn” trong các tiểu thuyết Tỉnh mộng, Cay đắng mùi đời, Tiền bạc bạc tiền của Hồ Biểu Chánh cũng được Phạm Minh Kiên bàn đến trong bài Giải chỗ tưởng lầm đăng trên Đông Pháp thời báo số 468 ngy 6.8.1926 Tài mạng tương đố của Nguyễn Chánh Sắc được Phạm Minh Kiên và Tân Dân Tử bình luận trong Đông Pháp thời báo (số 481 ngy 8.9.1926 và số 496 ngày 13.10.1926) Giọt máu chung tình, Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc của
Trang 12Tiểu thuyết và tác giả Nam Bộ cũng được các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình đến từ miền Trung và miền Bắc chú ý Phan Khôi (Trung Kỳ), trong khi hoạt động ở Sài Gòn, đã viết bài Từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Trai cho đến Nguyễn Chánh Sắc, Đặng Thúc Liêng đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 28 năm 1929 Thiếu Sơn, nhà phê bình được xem là người mở đường cho phê bình văn học hiện đại, trong một bài viết trên báo Phụ Nữ Tân Văn (số 106 ngày 29.10.1931), đã rất đề cao Hồ Biểu Chánh:
Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những đã biết do sự quan sát mà sáng tạo ra được những nhân vật đúng với cái khuôn mẫu người đời, biết cho những nhân vật đó sống theo với cái tánh cách riêng, cái thái độ riêng, trong mỗi hoàn cảnh riêng của họ, mà ông còn khéo cho những nhân vật đó hiệp thành một cái xã hội gần giống như cái
xã hội của ta, cho kẻ giầu gặp kẻ nghèo, người hèn đụng người sang, kẻ gian hùng quỷ quyệt với bực nữ sĩ anh hào, vị giai nhân tài nữ với kẻ vô học phàm phu, vì những sự xung đột về danh về lợi, về tư tưởng, tánh tình, về tinh thần khí tiết, mà quay cuồng, vật lộn, mà chiến đấu cạnh tranh, gây nên cái vẻ hoạt động trong đời, cho độc giả được thỏa lòng quan sát [150, 9]
Trong cuốn Phê bình và cảo luận (1933) in sau đó hai năm,
Trang 13Ở miền Bắc, do thiếu thông tin nên các nhà nghiên cứu không mấy chú trọng đến mảng tiểu thuyết Nam Bộ Phạm Quỳnh, người bàn bạc sớm nhất về thể loại tiểu thuyết, đã không đề cập gì đến tiểu thuyết Nam Bộ trong bài viết Bàn về tiểu thuyết (1921) đăng trên báo Nam Phong Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm, một công trình có tính chất tổng kết cũng thế Riêng Nhà văn hiện đại (1942 – 1945) của Vũ Ngọc Phan bên cạnh nhà thơ Đông Hồ có điểm qua chân dung của Hồ Biểu Chánh Hầu hết các tác giả đều xem Quả dưa đỏ (1923) của Nguyễn Trọng Thuật
và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách được sáng tác ở miền Bắc là những tác phẩm tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ở nước ta
2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975:
Từ năm 1945 năm 1954, ngoại trừ Nghiêm Toản trong công trình Việt Nam văn học sử trích yếu in ở Sài Gòn (1949) cho rằng thuở ấy ở miền Nam chưa có văn học, mà chỉ có truyện Tàu dịch như Thủy hử, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa…, còn không có công trình nào đáng chú ý nghiên cứu về văn học Nam Bộ
Từ 1954, đất nước tạm thời bị chia làm hai miền Nam Bắc, việc nghiên cứu về văn học Nam Bộ, tiểu thuyết Nam Bộ do đó cũng có những khác biệt
Trang 142.1.2.1 Ở miền Bắc:
Do thiếu thông tin và tư liệu hạn hẹp nên các nhà nghiên cứu ở miền Bắc ít quan tâm đến văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (tập IV) (1962) có lẽ là công trình đầu tiên sau 1945 có hẳn một chương để giới thiệu thân thế
và tác phẩm Hồ Biểu Chánh Tác giả Nguyễn Đình Chú trong chương này đã nghiên cứu khá kỹ về nhà văn viết nhiều tiểu thuyết nhất Nam Bộ này Năm 1972, nhóm Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú trong Lược truyện các tác gia Việt Nam có đặt lại vấn đề như sau:
Những tiểu thuyết Pháp đều xuất hiện trên các báo miền Nam trước tiên đã có những người như Hồ Văn Đoàn phỏng dịch tiểu thuyết phương Tây từ năm 1905, thế thì tiểu thuyết lãng mạn có thể không phải chỉ xuất hiện trước tiên ở miền Bắc từ 1921, 1922 với Cành lê điểm tuyết, Cuộc tang thương và từ năm 1925 với Tố Tâm mà có lẽ phải xuất hiện ở miền Nam từ nhiều năm trước thời gian đó (1922) Ở Nam Bộ U tình lục xuất bản năm 1909 hay Chúa tàu Kim Quy xuất bản năm
1913 hay 1926, Lỗi bước phong tình và Oan kia theo mãi tiếc rằng không biết rõ nội dung, nhưng cái tên của
nó cũng nói lên phần nào tính lãng mạn của tiểu thuyết
và còn có thể có nhiều quyển khác nữa xuất bản ở miền Nam từ 1921 trở về trước bị thất lạc, cần nghiên cứu các thư mục trong Thư Viện Quốc Gia của Pháp mới rõ được [39, 60]
Trang 15Đây là một giả thuyết khoa học rất đáng trân trọng, nhưng rất tiếc là không ai chú ý Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) của Phan Cự Đệ chỉ đề cập đến Hồ Biểu Chánh và vẫn khẳng định Tố Tâm là tác phẩm mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
2.1.2.2 Ở miền Nam:
Có điều kiện thuận lợi hơn để nghiên cứu về văn học Nam Bộ
và tiểu thuyết Nam Bộ, nhưng không phải nhà nghiên cứu ở miền Nam nào cũng quan tâm đúng mức đến mảng văn học này Trần Thanh Hiệp, trong một bài diễn thuyết tại câu lạc bộ Văn hóa ở Sài Gòn ngày 12- 8-1960, vẫn cho rằng trong quá khứ, nền văn chương miền Nam không có gì đáng gọi là văn chương cả Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III Văn học hiện đại
1862 – 1945 (1965), Phạm Thế Ngũ đã dành hẳn một phần viết về tiểu thuyết miền Nam Ở đó, tác giả thừa nhận thể tiểu thuyết đã đi trước một bước ở miền Nam, nhưng rồi ông cũng chỉ nghiên cứu duy nhất trường hợp Hồ Biểu Chánh Việt Long Giang trên báo Phổ thông số 142 năm 1965 có bài Danh nhân Tân Châu: Ông Nguyễn Chánh Sắc một nhà văn tiền phong của miền Nam Tạp chí Văn học số 136 ngày 15.9.1971 đặc biệt dành riêng cho Phú Đức với những bài viết của Phan Kim Thịnh, Ngọa Long, Thượng Sỹ, Vũ Bằng, Tế Xuyên
Việc tập trung nghiên cứu Hồ Biểu Chánh như là một nhà văn, một nhà tiểu thuyết tiêu biểu của Nam Bộ cũng là hướng nghiên cứu của những công trình như Văn học Việt Nam thế kỷ
Trang 16Đến năm 1967, trong công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng có phác qua đôi nét về phong trào dịch thuật và sáng tác tiểu thuyết ở Nam Bộ Còn cuốn Khi những lưu dân trở lại (1969), tuy không là khảo luận văn học, nhưng Nguyễn Văn Xuân
đã nêu một vấn đề rất xác đáng:
Hồ Biểu Chánh một cây bút tiêu biểu nhất cho miền Nam, qua các thời kỳ thăng trầm nhất của lịch sử văn học, vẫn đứng vững như thạch trụ Tại sao nhắc đến tiểu thuyết phôi thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả miền Nam vào khoảng đầu thế kỷ?” [200,11] Vào thập niên 70, tình hình nghiên cứu văn học Nam Bộ có phần khởi sắc hơn Bằng Giang với Mảnh vụn văn học sử (1974)
đã bước đầu góp nhặt tư liệu để sau này tiến tới xây dựng công trình Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930, một trong những công trình bước đầu đáng chú ý nhất về văn học Nam Bộ xuất bản sau năm 1975
Trang 17Đáng chú ý nhất ở giai đoạn này là công trình Phần đóng góp của Văn học miền Nam, những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết
và thơ mới (1975) của Bùi Đức Tịnh Lần đầu tiên con đường hình thành của tiểu thuyết ở Nam Bộ đã được phác họa khá chi tiết, tác giả cho rằng:
Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện kim và giai đoạn hình thành nền quốc văn mới, nghĩa là từ 1865 đến 1932, hầu hết các tác phẩm xuất hiện ở miền Nam đều bị coi như không
có trong lịch sử văn học miền Nam [176, 7]
Theo ông:
Sự bỏ rơi bỏ rớt những đứa con tinh thần dẫu là vô tình
mà không hay biết, cho dẫu là những đứa con ấy bị nhìn vội và bị cho rằng không khôi ngô tuấn tú – vẫn là điều hoang phí Một sự hoang phí như thế không nên
để xảy ra nhất là khi xem xét lại, mọi người sẽ nhìn nhận rằng những đứa con rơi đó còn giữ nguyên đặc tính của nòi giống và đã can đảm góp công vào cuộc đấu tranh dai dẳng chống xâm lăng [176, 28]
Nói về quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết ở Nam Bộ, Bùi Đức Tịnh nhận định:
Hình thức phôi thai xuất hiện sớm nhất ở miền Nam là thơ, tức loại truyện của văn chương cổ điển đội lốt bằng cách lấy cuộc đời của một nhân vật đương thời làm đề tài, kế đến là những truyện không được gọi thẳng như
Trang 18Công trình của Bùi Đức Tịnh chỉ giới thiệu những tiểu thuyết
từ 1920 trở về trước, và trong việc giới thiệu cũng có những sai sót,
ví dụ như phần giới thiệu về tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu; một vài nhận định cũng chưa chính xác, chẳng hạn về báo Nam Bộ địa phận, nhưng cần phải ghi nhận sự đóng góp quan trọng của Bùi Đức Tịnh trong việc phác họa quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ, đặc biệt là việc phát hiện tác phẩm Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản…
2.1.3 Từ sau năm 1975
Từ năm 1975, đất nước hoà bình, thống nhất, điều kiện nghiên cứu có nhiều thuận lợi hơn Tuy nhiên cũng phải đến giữa thập kỷ 80 trở đi, công việc nghiên cứu văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ mới thật sự sôi nổi Bộ Từ điển văn học gồm 2 tập xuất bản năm 1983, 1984 chỉ giới thiệu duy nhất một tác giả tiểu
Trang 19Năm 1985, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1958 – 1920 (quyển II) do Huỳnh Lý chủ biên có phần viết ngắn về tiểu sử của Trần Thiên Trung và trích giới thiệu tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan với lời đánh giá khá cao về tính hiện thực của tác phẩm Tiếp theo
là những công trình như Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên, Truyện thầy Lazaro Phiền (1987) của Nguyễn Văn Trung, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1988) của nhiều tác giả, Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (1988) của hai tác giả Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng, Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế
kỷ XX (1900-1954) (sơ thảo) của Hoài Anh - Thành Nguyên - Hồ Sĩ Hiệp (1988), Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990) của Nguyễn Q Thắng, Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 –1930 (1992) của Bằng Giang…
Công trình của Nguyễn Văn Trung đã điểm lại các loại truyện viết bằng chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và phân tích Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, với mục đích chứng minh đây là tác phẩm tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ở nước ta chứ không phải là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách chỉ ra đời sau đó gần 40 năm Tập sách còn đề cập đến hàng loạt các nhà văn Nam Bộ khác, như Nguyễn Khánh Nhương, Trương Duy Toản, Michel Tình, Biến Ngũ Nhy, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắc…
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng đã có những nhận định rất sâu sắc về sự hình thành và phát triển của nền văn học mới, về sự ra đời của truyện ngắn và tiểu thuyết Nhưng có lẽ do tư liệu về văn học Nam
Trang 20Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900 – 1954) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp (1988) đã có phần viết
về tiểu thuyết ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX và tiểu thuyết ở Nam Bộ từ
1922 -1945 Một số tác phẩm của Trần Thiên Trung (Trần Chánh Chiếu), Trương Duy Toản, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhy, Nguyễn Chánh Sắc, Hồ Biểu Chánh cũng đã được tóm tắt và giới thiệu sơ lược Sau đó Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp xuất bản cuốn Những danh sĩ miền Nam (1999), trong đó có giới thiệu vắn tắt về Trần Chánh Chiếu Liên tục trên nhiều số tạp chí Văn (TP.Hồ Chí Minh), Hoài Anh có bài nghiên cứu về các nhà văn Nam Bộ, sau được ông đưa vào công trình Chân dung văn học (NXB.Hội nhà văn, 2001), trong đó ông giới thiệu được 28 nhà văn quốc ngữ Nam Bộ Trong Phần 1, Hoài Anh đã xây dựng khá sinh động chân dung của những người viết tiểu thuyết Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắc, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Văn Vinh, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên, Phú Đức, Bửu Đình… Do tính chất báo chí nên những bài viết này dù cung cấp khá nhiều tư liệu nhưng chưa đi sâu vào phân tích tỉ mỉ giá trị của từng tác phẩm Đáng chú ý là Hoài Anh đã khái quát được những đóng góp chủ yếu của các tiểu thuyết gia tiên phong Nam Bộ Ông gọi Nguyễn Trọng
Trang 21Một công trình đã cung cấp khá nhiều tư liệu về văn học Nam
Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ là cuốn Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tập II (1988), trong đó có phần Văn học chữ quốc ngữ ở Sài Gòn – Gia Định cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Tầm Vu (Trần Văn Giàu), Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y viết Các tác giả công trình đã có một số nhận định khái quát về phong trào sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ và giới thiệu sơ lược một số tác gia tiêu biểu như Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắc, Hồ Biểu Chánh… Điạ chí cũng đã cung cấp một thư tịch về truyện và tiểu thuyết ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1930 gồm 99 cuốn truyện và tiểu thuyết của 35 tác giả Đến lần tái bản năm
1998, thư tịch này đã được bổ sung bằng Thư mục văn học (Sài Gòn và Nam Bộ từ 1866 đến 1930) do Nguyễn Văn Y soạn, tập hợp 1122 tác phẩm, trong đó phần tiểu thuyết và truyện ngắn là
276 cuốn Tất nhiên đây chỉ là một phần nhỏ trong gia tài tiểu thuyết
và truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trong Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990), Nguyễn Q Thắng đã dành nhiều trang để giới thiệu thể loại tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ Ông cũng khẳng định các nhà văn Nam Bộ đã đi
Trang 22Một công trình cũng rất đáng chú ý là Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 - 1930 của Bằng Giang xuất bản năm 1992 Trong phần tác giả và tác phẩm, Bằng Giang giới thiệu thư tịch về các tác phẩm đã xuất bản Các tác giả viết văn xuôi quốc ngữ được giới thiệu gồm: Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử… Bằng Giang cũng bàn đến những vấn đề liên quan mật thiết đến tiểu thuyết Nam Bộ như phong trào dịch thuật truyện Tàu, câu văn xuôi quốc ngữ v.v… Những tư liệu đáng quý và gợi ý của tác giả đã giúp
Trang 23Bên cạnh công trình này, Bằng Giang còn có một số bài báo tâm huyết về văn học Nam Bộ, như bài Truyện Tàu với một số tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam đăng trên Kiến thức ngày nay số
100 năm 1993 để trả lời câu hỏi của giáo sư J Shafer về ảnh hưởng của truyện Tàu đến tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ
Năm 1993 Nguyễn Phương Thảo có bài Nguyễn Văn Vinh và các tiểu thuyết của ông trên tạp chí Văn Học số 1 đề cập đến các tiểu thuyết Chuyện chị em cô Lê trò Lý, Tam Yên di hận… của Nguyễn Văn Vinh Nguyễn Phương Thảo đã đánh giá rất cao nhà văn người Bến Tre đã từng bị thực dân Pháp phạt tù vì tác phẩm của mình
Đến năm 2001, có Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam do
Vũ Tuấn Anh và Bích Thu chủ biên Từ điển có 376 mục từ giới thiệu tóm tắt và đánh giá sơ lược 376 tác phẩm văn xuôi, nhưng đáng tiếc là phần văn xuôi Nam Bộ chỉ giới thiệu được 56 tác phẩm Trong lần xuất bản thứ hai năm 2006, các tác giả đã giới thiệu bổ sung thêm 25 tác phẩm văn xuôi Nam Bộ Đó là một sự cố gắng rất lớn của tập thể tác giả của hai Viện Văn học và Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ
Vào những năm đầu thế kỷ XXI, Phong Lê cũng có nhiều bài viết về văn học Nam Bộ đăng trên tạp chí Văn học Đó là các bài viết Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ
XX (số 1 năm 2001), Phác thảo buổi đầu văn xuôi quốc ngữ (số
Trang 24Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XIX” và “văn xuôi quốc ngữ bắt đầu từ Trương Vĩnh Ký và được tiếp tục bởi một loạt các tác giả Nam Bộ cuối thế kỷ XIX” [76, 15]
Đáng chú ý nhất là công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, 2004) do nhóm tác giả Nguyễn Kim Anh (chủ biên), Nguyễn Thị Trúc Bạch, Hà Thanh Vân, Vũ Văn Ngọc, Hoàng Tùng, Huỳnh Vĩnh Phúc biên soạn Công trình đã giới thiệu khái quát về tiểu thuyết Nam Bộ cũng như tiểu sử, sự nghiệp của 30 nhà văn, trong đó có nhiều tác giả được giới thiệu lần đầu Đây là công trình công phu, nghiêm túc và dày dặn nhất về tiểu thuyết Nam Bộ từ trước đến nay
Đến năm 2005, nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh lại tiếp tục giới thiệu văn học Nam Bộ và các tác giả Nam Bộ trong công trình Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến cuối TK.XX, Nxb Văn nghệ TP.HCM
Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên, từ sau đổi mới, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu cũng đã có nhiều hoạt động, nhiều công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ Năm 1989 trong Hội nghị về Hồ Biểu Chánh tổ chức ở Tiền Giang, giới nghiên cứu văn học đã chính thức “chiêu tuyết” cho nhà văn này Tháng 10.1998, Trung tâm nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một cuộc hội thảo về Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, trong đó tập trung bàn về sự đóng góp của văn học Nam Bộ Đáng chú ý có tham luận Tiểu thuyết Nam Bộ trong chặng đầu của
Trang 25Ngày 22- 4- 2002, Viện Văn học phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với các tham luận của Nguyễn Huệ Chi, Phong Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Hoài Anh, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Khuê, Đoàn Lê Giang… bàn về nhiều vấn đề của mảng văn học này Một số tham luận sau đó đã được công bố trên tạp chí Văn Học số 5 năm 2002 Bài tham luận Thử tìm một vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu của Nguyễn Huệ Chi thử nêu lên một số đặc điểm của văn xuôi Nam Bộ, những chặng đường hình thành và phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ Tác giả cũng nêu lên ý kiến về mối quan hệ giữa văn xuôi Nôm Công giáo với sự ra đời của văn xuôi tự sự quốc ngữ; về
“bước đi dích dắc” của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ, về “quá trình chín sớm” của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ v.v… và khẳng định giá trị “đóng góp không nhỏ” của mảng văn xuôi này đối với tiến trình hiện đại hóa văn xuôi nước nhà Bài tham luận Phác thảo quá trình hình thành tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ cuối
Trang 26Từ năm 2004, Khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có công trình nghiên cứu khoa học Khảo sát, đánh giá, bảo tồn văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đến năm 2005, Khoa đã tổ chức hội thảo khoa học với nhiều tham luận của các nhà nghiên cứu đến từ các trường đại học, cơ quan nghiên
cứu trên cả nước
Một số luận án tiến sĩ cũng đã chọn đề tài là tiểu thuyết Nam
Bộ Luận án phó tiến sĩ Sự hình thành và vận động của thể văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm
1932 của Tôn Thất Dụng (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1993)
là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết văn xuôi Nam Bộ và đã có những nhận định khá thỏa đáng về ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa và tiểu thuyết phương Tây; về một số đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ Cao Xuân Mỹ, trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,
đã giới thiệu một số tiểu thuyết Nam Bộ trong bộ sách hai tập Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học năm 2000)
Đó là toàn văn hoặc trích đoạn một số tác phẩm có giá trị của một
số tác giả tên tuổi như Nguyễn Trọng Quản với truyện Truyện thầy
Trang 27Cùng với sự chú ý của các nhà nghiên cứu, việc sưu tầm, giới thiệu tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ cũng được tiến hành khá rầm rộ Sau đổi mới, hai nhà xuất bản Tiền Giang và Long An tái bản hàng loạt sách của Hồ Biểu Chánh và một số nhà văn Nam
Trang 282.2 Ở nước ngoài
Những công trình xuất bản ở nước ngoài nghiên cứu về tiểu thuyết ở Nam Bộ trước 1975 không nhiều Le roman Vietnamien contemporain (1961) của Bùi Xuân Bào có điểm qua một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng, Khóc thầm, Tỉnh mộng, Chút phận linh đinh và Người vợ hiền của Nguyễn Thời Xuyên Ông cũng cho mốc khởi đầu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại là từ năm 1923 với Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
Trong cuốn Introduction à la littérature Vietnamienne (1969), Maurice M Durand và Nguyễn Trần Huân cũng trình bày rất sơ lược về Hồ Biểu Chánh và Bửu Đình
N.I Niculin, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam của Nga cũng rất chú ý đến tiểu thuyết Nam Bộ Trong công trình Nguồn gốc tiểu thuyết trong các nền văn học Á-Phi: Những ngọn nguồn dân tộc của thể loại, Nxb Nauka, Moskva, 1980, ông đã nói đến “một cuộc thi chưa từng có ở VN từ truớc đến giờ”, cuộc thi tiểu thuyết năm
Trang 29Năm 1988 Cao Thị Như Quỳnh và John C Shafer công bố bài nghiên cứu From verse narrative to novel: The development of prose fiction in Vietnam trên The Journal of Asian Studies, No.4, November, 1988 Năm 1989 hai người công bố tiếp bài Ho Bieu Chanh and the early development of the Vietnamese novel trên tạp chí The Vietnam Forum số 12 summer – fall, 1989 Theo Bằng Giang, J Shafer đã tiếp tục nghiên cứu về Trương Duy Toản và tác phẩm Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân John C Shafer và Thế Uyên cũng hợp tác viết bài Tiểu thuyết xuất hiện ở Nam Kỳ (bài này được Cao Thị Như Quỳnh và Thế Uyên tóm dịch và đăng lại ở tạp chí Văn Học số 11 năm 1993) Những bài viết này đã cung cấp nhiều tư liệu và có những nhận định đáng chú ý trong việc nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ
Gần đây trên Internet cũng có đăng tải một số bài báo về văn học quốc ngữ Nam Bộ và tiểu thuyết Nam Bộ của các nhà nghiên cứu Việt Kiều, như Huỳnh Ái Tông với Các nhà văn quốc ngữ tiền phong, Nguyễn Văn Sâm với Một thế kỷ văn học quốc ngữ, Nguyễn
Vy Khanh với Thế kỷ tiểu thuyết, Tiếng Việt và những tác phẩm mới
Trang 30phát hiện, Phạm Đán Bình với Tôn giáo trong Truyện thầy Lazaro Phiền… Nhưng các bài báo này nói chung không có tư liệu gì mới, đáng chú ý là những nhận định, những khái quát của các tác giả này
Ngoài ra còn có một số trang web có thông tin về văn học Nam Bộ, như nguyenvantrung.free.fr, dunglac.net, hobieuchanh.com, namkyluctinh.org…
Nhìn chung, điểm qua tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy trước
1975, do thiếu thông tin, do hạn chế về tư liệu nên những đánh giá, nhận định về mảng tiểu thuyết này còn chưa được thỏa đáng Ngay sau năm 1975, với điều kiện thuận lợi hơn, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nhiều tư liệu, nhiều tác giả, tác phẩm hơn, từ đó ý kiến
đã thống nhất trong việc khẳng định vai trò mở đầu, tiên phong của tiểu thuyết Nam Bộ trong sự hình thành và phát triển của nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Nhưng các công trình này, do là những bước đi ban đầu, còn chưa bao quát được nhiều tư liệu, vẫn còn có những sai sót, nhầm lẫn trong khái quát, trong nhận định, trong việc đánh giá các tác giả, tác phẩm Gần đây, các luận án tiến sĩ của Tôn Thất Dụng (1993), Cao Xuân Mỹ (2001), Lê Ngọc Thúy (2002), công trình do Nguyễn Kim Anh chủ biên (2004) cũng đã cung cấp khá nhiều tư liệu và nghiên cứu khá sâu tiểu thuyết quốc ngữ Nam
Bộ Nhưng văn học Nam Bộ, như nhà nghiên cứu Bằng Giang nói, không phải là một vỉa than lộ thiên Riêng phần tiểu thuyết, vẫn còn nhiều tư liệu chưa được khai thác, vẫn còn nhiều tác giả, nhiều tác phẩm quan trọng chưa được nghiên cứu Vì thế, việc tiếp tục sưu
Trang 31tầm, nghiên cứu để khắc họa hoàn chỉnh chân dung của mảng văn học này vẫn là điều hết sức cấp thiết
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng khảo sát của luận án là những tác giả, những tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1932 Nhưng chúng tôi sẽ tập trung nhiều vào việc giới thiệu các tác giả và tác phẩm có tính chất mở đường, đặt mốc cho các thể tài, như Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Lazaro Phiền, Hồ Biểu Chánh với Ai làm được, Lê Hoằng Mưu với
Hà Hương phong nguyệt, Biến Ngũ Nhy với Kim thời dị sử, Tân Dân Tử với Giọt máu chung tình… vì đây là những đóng góp đáng
kể nhất của tiểu thuyết Nam Bộ cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Thời gian được chọn để khảo sát là từ cuối thế kỷ XIX, cụ thể
từ 1887 đến 1932 Các cứ liệu cho thấy ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đã có nhiều sáng tác văn học mang tính chất hiện đại, nhưng phải đến 1887, Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản mới thật sự đánh dấu một cái mốc cho sự phát triển của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ Còn năm 1932 là năm đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình phát triển của tiểu thuyết hiện đại với sự xuất hiện của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phê phán, tiểu thuyết Nam Bộ từ những năm này cũng đã hòa vào dòng chảy chung của văn học cả nước
Trang 323.2.2 Chúng tôi chủ trương chỉ khảo sát những tác phẩm tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1932, nhưng các tác phẩm này cũng phải gắn bó với cuộc sống, con người Nam Bộ Các tiểu thuyết này có thể do những nhà văn sinh trưởng ở Nam Bộ sáng tác hoặc những nhà văn sinh trưởng nơi khác nhưng đã gắn bó máu thịt với Nam Bộ, ví dụ như trường hợp của Bửu Đình
3.3 Giới thuyết về khái niệm tiểu thuyết:
Ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khái niệm tiểu thuyết chưa được hiểu như ngày nay Do là thời kỳ quá độ nên quan niệm về thể loại của các nhà văn cũng có khác nhau, tùy theo việc họ là người chịu ảnh hưởng bởi truyền thống lâu đời của văn hóa Trung Hoa hay là người đã hấp thu sâu sắc Tây học Thực tế sáng tác cho thấy tiểu thuyết thời bấy giờ có sự giao thoa giữa thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa và thi pháp tiểu thuyết hiện đại phương Tây, tạo nên một nét nhòe thi pháp rất khó phân định Ban đầu, chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, các nhà văn thời bấy giờ quan niệm tiểu thuyết đơn giản chỉ là văn xuôi hư cấu, truyện ngắn và tiểu thuyết đối với họ có sự gần gũi về mặt thể loại, cho nên đã có thuật ngữ “đoản thiên tiểu thuyết” bên cạnh thuật ngữ “tiểu thuyết” Nhưng càng về sau, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phương Tây, quan niệm tiểu thuyết đã gần với cách hiểu ngày nay hơn
Với thực tế đó, chúng tôi cho rằng khi khảo sát tiểu thuyết của thời kỳ này, nên hiểu khái niệm “tiểu thuyết” một cách mềm dẻo và linh hoạt hơn để nắm bắt được đặc điểm và những bước phát triển của thể loại văn học quan trọng này Trên tinh thần đó, định nghĩa
Trang 33tiểu thuyết của Tự điển văn học (bộ mới) theo chúng tôi là phù hợp
và bao quát được thực tế phong phú của tiểu thuyết Nam Bộ thời
kỳ đó:
Thuật ngữ chỉ thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách [127, 1716]
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Người viết quan niệm rằng đối với đề tài này, cần phải có một quan điểm toàn diện và phải vận dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
4.1 Trước hết, người viết sẽ đặt tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào quá trình phát triển của thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam để xác định được vị trí, vai trò của nó trong dòng chảy chung của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam và để thấy nó cũng là một bộ phận không thể chia cắt của văn học dân tộc Phương pháp
xã hội – lịch sử vì vậy sẽ được quan tâm hàng đầu trong luận án này
4.2 Việc nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ từ mối liên hệ biện chứng giữa tiếp thu và sáng tạo đối với văn học nước ngoài là một điều luận án đặc biệt quan tâm, bởi vì tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX được xem là hiện đại thực chất do ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây, cụ thể là văn học và tiểu thuyết Pháp, nhưng đồng thời cũng chịu những ảnh hưởng sâu sắc của
Trang 34văn học Trung Quốc, đồng thời lại mang những đặc điểm riêng của
Việt Nam, của Nam Bộ
4.3 Phương pháp so sánh cũng là một phương pháp chủ yếu của luận án, bởi vì qua so sánh, chẳng hạn như so sánh với sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết miền Bắc cùng thời kỳ, chúng ta mới thấy hết được vai trò và đóng góp của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đối với tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và đối với văn học Việt Nam nói chung
4.4 Ngoài ra người viết còn sử dụng các phương pháp thống
kê, hệ thống, thi pháp học… khi cần thiết để minh họa cho các luận điểm trong luận án
5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
Qua việc khảo sát tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra những đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ và đề xuất một cách phân loại tiểu thuyết trong giai đoạn này thông qua những thể tài chủ yếu Chúng tôi cũng cung cấp tư liệu để đính chính một số nhận định còn sai sót của các nhà nghiên cứu đi trước Trong phần phụ lục chúng tôi bước đầu sưu tầm những ý kiến về tiểu thuyết của các nhà văn, các nhà phê bình của Nam Bộ và bổ sung 33 tên tác phẩm vào thư mục tiểu thuyết Nam Bộ, nay đã lên đến 590 tác phẩm
6 CẤU TRÚC LUẬN ÁN:
Luận án gồm 183 trang Ngoài phần Dẫn nhập (25 trang), Kết luận (5
Trang 35trang) và Thư mục (207 đề mục), luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1 Những tiền đề hình thành và phát triển tiểu thuyết Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (30 trang)
Chương này sẽ trình bày về những tiền đề chính trị – kinh tế,
xã hội – văn hóa và văn học đưa đến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Chương 2: Sự hình thành và phát triển tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24 trang)
Chương này sẽ trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Chương 3: Đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (78 trang)
Chương này sẽ trình bày những đặc điểm về lực lượng sáng tác, về nội dung của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX Những đặc điểm về mặt hình thức loại thể cũng được trình bày trong chương này
Trang 36CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TIỂU THUYẾT
NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Sau khi đánh chiếm ba tỉnh miền Tây tháng 6 1867, chính quyền thực dân ở Nam Kỳ đã ráo riết xúc tiến các hoạt động xây dựng bộ máy hành chính, đào tạo đội ngũ cán bộ, kiện toàn hệ thống tư pháp, ổn định trật tự xã hội để tạo cơ sở cho việc bóc lột thuộc địa về lâu dài Ngày 8.1.1877 Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh chính thức thành lập Thành phố Sài Gòn, đến ngày 12.11.1887 lại
ra Sắc lệnh lấy Sài Gòn làm thủ phủ của toàn Đông Dương và thiết lập Phủ Toàn quyền tại Sài Gòn Sài Gòn - Chợ Lớn từ đó trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của Nam Kỳ và của cả Đông Dương
Từ sau Hòa ước 1884, Nam Kỳ đã sớm trở thành xứ thuộc địa, do thực dân Pháp trực tiếp cai trị, vì thế nên chịu ảnh hưởng của văn minh vật chất và văn minh tinh thần phương Tây sớm nhất Chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho vùng đất này có những đặc điểm riêng về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa so với Bắc Kỳ
và Trung Kỳ
Trang 37Trong giai đoạn này, về mặt kinh tế, Pháp đã xây dựng cảng Sài Gòn, mở các đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho (khởi công năm 1881), Sài Gòn – Khánh Hòa (khởi công năm 1901), làm đường bộ Sài Gòn – Tây Ninh (khởi công năm 1901), xây cầu trên sông Vàm Cỏ… Nhiều công xưởng ở Sài Gòn, Chợ Lớn như đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay lúa đã được xây dựng Những cơ
sở kinh tế ban đầu này khiến kinh tế Nam Kỳ lúc bấy giờ phát triển mạnh mẽ và là tiền đề tạo nên độ chênh về mặt kinh tế – xã hội so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ Bộ mặt xã hội vì thế đã thay đổi sâu sắc Đến những năm đầu thế kỷ XX, với nhiều nhà máy được xây dựng, giao thông thuận lợi nên kinh tế Nam Kỳ càng phát triển mạnh mẽ
Trong sự tái cấu trúc của xã hội Nam Kỳ thời kỳ này, đáng chú ý là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản thị dân, bộ phận công chúng mới ở các đô thị Những người nông dân đói khổ bỏ ruộng nương để đến thành thị kiếm sống Một ít người được làm việc trong các công xưởng, nhà máy hay đồn điền của thực dân Đa số còn lại trở thành bồi bàn, phu xe, con ở hoặc buôn gánh bán bưng ngoài đường Những con người đó đã hình thành một tầng lớp tiểu
tư sản dân nghèo thành thị ngày càng đông đảo
Những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất với các tiệm buôn, vựa lúa, cơ xưởng sản xuất lớn nhỏ tùy theo qui mô đã trở thành tầng lớp tiểu tư sản và tư sản Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là ở Sài Gòn, Chợ Lớn Dân số đô thị ngày càng đông, cuộc sống đô thị ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng với sự
Trang 38xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau: công nhân,
tư sản bản xứ và tiểu tư sản thị dân
Nhìn chung đến khoảng 1879 thì với các chính sách kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội tương đối toàn diện, kẻ xâm lược đã bắt đầu phá vỡ được cơ sở kinh tế - xã hội truyền thống của quốc gia phong kiến Việt Nam trên vùng Lục tỉnh một cách toàn diện, bằng chứng là đã chính thức xóa bỏ được chế độ quân quản với các Đô đốc Toàn quyền (Amiraux Gouverneurs) để thay bằng các viên Toàn quyền dân sự (Gouverneur civil), tiến thêm một bước trong việc xây dựng chế độ hành chính thuộc địa ở Nam Kỳ
Đến khi tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai, Pháp tăng cường đầu tư vào Việt Nam Nhằm biến Nam Kỳ thành một thuộc địa nông nghiệp, thành một vùng sản xuất nông sản – lương thực hàng hóa thật nhiều với chi phí đầu tư thật ít, vào cuối thế kỷ XIX kẻ thống trị thực dân đã tiến hành việc khẩn hoang một cách ồ ạt, tăng sản lượng lúa gạo bằng cách quảng canh - tăng diện tích canh tác Với các biện pháp thủy lợi để mở rộng diện tích được tưới tiêu và
tổ chức di dân để tăng thêm nhân lực khai phá ở những vùng còn nhiều đất hoang, chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng mở rộng thêm được diện tích trồng lúa ở Nam Kỳ Chúng cũng có các chính sách khuyến nông như ra nghị định miễn thuế cho các loại đất trồng bông, chàm, cà phê, cao su ở Nam Kỳ để khuyến khích trồng các loại cây công nghiệp, đặt giải thưởng bằng tiền hàng năm cho các chủ đồn điền nông nghiệp người Pháp ở Nam Kỳ, đặc biệt đối với các đồn điền trồng cau, cà phê, ca cao, cao su, dừa, bông có sợi dài, chàm, đay, hồ tiêu, gai, thuốc lá, chè
Trang 39Trong quá trình phát triển của thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn
và của Nam Kỳ, vai trò của người Hoa cũng rất quan trọng Tầng lớp tư sản mại bản trong dòng di dân người Hoa từ Trung Quốc qua đã thực sự trở thành đối thủ kinh tế đáng gờm đối với cả giới
tư sản người Pháp, đặc biệt là trong lãnh vực xuất khẩu lúa gạo Ngoài kinh tế, họ cũng có những đóng góp về mặt văn hóa Họ cũng xây dựng nhà in, thành lập nhà xuất bản và nhiều người trong
họ cũng trở thành công chúng của văn học quốc ngữ Hoạt động của họ góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa vùng Sài Gòn – Chợ Lớn Họ đã mang vào Việt Nam nhiều tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, sau này gây nên phong trào dịch thuật truyện Tàu có ảnh hưởng không ít đến tiểu thuyết quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ
Trên cơ sở nền sản xuất nông nghiệp mang tính chất hàng hóa vốn có, xã hội thuộc địa Nam Kỳ dần dần đi vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, với hàng loạt thay đổi từ sinh hoạt kinh tế tới cơ cấu xã hội Quá trình tái cấu trúc kinh tế và xã hội theo hướng tư bản chủ nghĩa ở đây tuy chỉ được thực hiện một cách phiến diện và nửa vời, nhưng cũng đã hình thành một cuộc sống tinh thần khác hẳn mấy trăm năm trước đó, trong đó có sự kết hợp cả các yếu tố truyền thống và hiện đại
1.2 Tiền đề xã hội – văn hóa
1.2.1 Giáo dục
Trước khi ký kết hiệp ước Nhâm Tuất 5.6.1862, Pháp chưa
có chính quyền, nhưng soái phủ Nam Bộ cũng đã có những bước
Trang 40trường Adran, tự đặt lấy chương trình giáo dục, thêm cả học đạo, gọi là Pháp – Việt (franco – annamite) Từ năm 1861, các nữ tu dòng Áo trắng (Soeurs Saint Paul de Chartres) lập trường học cho trẻ em, đặc biệt cho nữ sinh, lấy tên là trường Hài Đồng (Sainte – Enfance) Nghị định ngày 8.5.1862 lập trường AnNam (Collège anammite) Cả ba trường đều do giáo sĩ công giáo quản lý nhưng được đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa
Khi chiếm trọn được 6 tỉnh của Nam Bộ vào năm 1867, thực dân Pháp đã mưu toan thay đổi toàn diện nền giáo dục truyền thống của Việt Nam Ngay tại Sài Gòn, một số trường công lập thuộc thẩm quyền thị chính được khai sinh, nhằm mục đích giáo dục thanh niên theo tinh thần thế tục như bên Pháp [119, 695] Đến nghị định 17.11.1874, thực dân Pháp đã chi phối mọi hoạt động và chương trình giáo dục của tất cả các trường một cách chặt chẽ Đặc biệt về mặt chương trình học, hầu như hoàn toàn theo chương trình và giáo khoa Pháp
Thực dân Pháp cũng đẩy mạnh việc đưa chữ quốc ngữ vào lĩnh vực giáo dục Thi Hương đã bị xóa bỏ trước nhất ở Nam Bộ Nghị định ngày 14-6-1880 cho phép “mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy chữ quốc ngữ”
và “những làng nhỏ có một trường dạy chữ quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng góp cho trường hàng tổng” [188, 41] Nhiều làng phải “thuê” người đi học cho đủ túc số Thực dân Pháp còn dùng đến biện pháp cưỡng chế để bắt thiếu niên đi học Sau khi thành lập Sở học chánh Nam Bộ, ngày 17-3-1879 thực dân ban hành chương trình giáo dục Pháp –Việt ở Nam Bộ Chương trình có hai