Có thể nói, Phật giáo ñã ñóng góp một phần công sức to lớn, làm nên trang sử vẻ vang của nước nhà, ñể lại những dấu ấn sâu ñậm trong mọi lĩnh vực hoạt ñộng tinh thần, xã hội của con ngườ
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THẢO
TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn Học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 2LỜI TRI ÂN
Bể học mênh mông, kiến thức thì vô tận Song, trong quá trình học tập, tôi may mắn ñược quý Thầy Cô Giáo sư Tiến sĩ, Phó Giáo sư Tiến sĩ… luôn nhiệt tình giảng dạy, truyền trao những kiến thức cần thiết, làm tư lương bước ñi trên phương trời cao rộng
Cho phép tôi kính lời tri ân chân thành ñến quý Thầy cô khoa Ngữ Văn, phòng Sau ðại học Trường ðại Học Khoa học Xã hội & Nhân văn ñã tận tâm chỉ dạy và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập
ðặc biệt, tôi chân thành cảm ơn Thầy TS Hồ Quốc Hùng ñã hết lòng hướng dẫn, giúp ñỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Con cũng xin thành kính tri ân HT Thích Trí Quảng, HT Thích Như Niệm, HT Thích Giác Toàn, HT Thích Thanh Sơn, HT Thích Thanh Hùng, TT Thích Bảo Nghiêm, TT Thích Tấn ðạt, TT Thích Minh Thiện,
ðð Thích Giác Trí, ðð Thích Phước Nghiêm, ðð Thích Phước ðạt, NS Thích Nữ Hạnh Ngọc ñã ñộng viên, chỉ dạy cho con trên bước ñường tu học
và hoàn thành tốt khóa luận
Sau cùng, con xin dâng lên Ni trưởng Bổn sư Thích Nữ Tịnh Hạnh, Người là nguồn ñộng lực cho con dõng mãnh tu học
Tp Hồ Chí Minh, 28.10.2008 Học viên Nguyễn Thị Thảo
Kính lời
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ðẦU 1
1- Lý do chọn ñề tài 1
2- Mục ñích ñề tài 2
3- Lịch sử vấn ñề 3
4- ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5- Phương pháp nghiên cứu 16
6- Những ñóng góp mới của luận văn 17
7- Kết cấu của luận văn 17
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM TỪ BI NHÌN TỪ GÓC ðỘ PHẬT GIÁO 19
1.1- ðịnh nghĩa Từ bi 19
1.2- Phương pháp huân tập lòng Từ bi theo tư tưởng giáo lý Phật giáo 21
1.2.1- Nghĩ ñến nỗi khổ ñau của muôn loài 22
1.2.2- Nghĩ mình và muôn loài ñều ñồng có Phật tính như nhau 23
1.2.3- Lòng Từ bi phát khởi một cách vô tư 24
1.3- Mối quan hệ giữa tinh thần Từ bi Phật giáo với yếu tố tình thương trong dân gian 25
1.3.1 Nét tương ñồng và dị biệt giữa tinh thần Từ bi Phật giáo với yếu tố Tình thương trong dân gian 25
1.3.1.1- Tình tương thân tương ái 27
1.3.1.2- Tình thân thiện 27
1.3.2 Ảnh hưởng của tinh thần Từ bi Phật giáo trong cuộc sống ñời thường 29
Trang 4CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT THỂ HIỆN TINH THẦN TỪ BI
TRONG TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM 36
2.1- Kiểu nhân vật thuần túy Phật giáo 36
2.1.1- Kiểu nhân vật ông Bụt, Bồ tát, Tăng sĩ 39
2.1.2- Kiểu nhân vật ông tiên, cô tiên, thần thánh 44
2.1.3- Kiểu nhân vật ông lão, bà lão nghèo khổ 48
2.2- Kiểu nhân vật thiện 52
2.2.1- Kiểu nhân vật chàng trai 53
2.2.2- Kiểu nhân vật cô gái 55
2.2.3- Kiểu nhân vật vua, quan 58
2.3- Kiểu nhân vật dân dã 60
2.3.1- Kiểu nhân vật vợ chồng nghèo 61
2.3.2- Kiểu nhân vật người mồ côi nghèo 64
2.3.3- Kiểu nhân vật người em trai 68
2.3.4- Kiểu nhân vật mất vợ hoặc mất chồng 69
2.4- Kiểu nhân vật trợ thủ 71
2.4.1- Kiểu nhân vật thấy chuyện bất bình liền ra tay cứu giúp 72
2.4.2- Kiểu nhân vật cùng huyết thống, thân quen 75
2.4.3- Kiểu nhân vật thuộc ñộng vật 76
2.4.4- Kiểu nhân vật có duyên tiền ñịnh 78
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT TỪ BI TRONG CẤU TẠO CỐT TRUYỆN 83
3.1- Sự phát triển của cốt truyện qua việc hiện hữu của nhân vật Từ bi 84
3.1.1- Dạng cốt truyện có nhóm hành ñộng của người ban tặng 85
Trang 5trong cấu tạo cốt truyện 102
3.2.1- Dạng kết cấu của sự bắt chước không thành công 103
3.2.2- Dạng kết cấu của hành ñộng bắt nạt, chèn ép nhân vật chính 104
3.2.3- Dạng kết cấu của hành ñộng âm mưu lừa lọc, ám hại nhân vật chính 105
3.2.4- Dạng kết cấu của hành ñộng vô ơn bội nghĩa, hại người mang ơn 106
3.2.5- Dạng kết cấu của hành ñộng ám hại nhân vật chính, bị biến thành loài vật 106
3.3- Những Mô típ ñặc trưng về tinh thần Từ bi trong cốt truyện 107
3.3.1- Mô típ Bụt giúp người hiền lương thoát nạn 108
3.3.2- Mô típ ban cho phương tiện thần kỳ 109
3.3.3- Mô típ thử thách lòng người, sau ñó giúp ñỡ 110
3.3.4- Mô típ người thường dân tốt bụng 110
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC Phụ lục - 1 (124)
Trang 6MỞ ðẦU
1- Lý do chọn ñề tài
Trong kho tàng Văn học dân gian Việt Nam, truyện cổ dân gian ñóng vai trò rất quan trọng về việc phản ánh trung thực tư tưởng, tình cảm, sinh hoạt của ñại ña số nhân dân lao ñộng Trong ñó, yếu tố tư tưởng Phật giáo ñược xem là một bộ phận thiết yếu cấu thành tư tưởng chung của cộng ñồng
xã hội Nó tạo thành nét bản sắc văn hóa xuyên suốt trong chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam
Gần 2000 năm, kể từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo ñã hòa mình
và phát triển thật sâu rộng trong ñời sống tinh thần của dân tộc Có thể nói, Phật giáo ñã ñóng góp một phần công sức to lớn, làm nên trang sử vẻ vang của nước nhà, ñể lại những dấu ấn sâu ñậm trong mọi lĩnh vực hoạt ñộng tinh thần, xã hội của con người Việt Nam, ñặc biệt là về tư tưởng, văn học, nghệ thuật, kiến trúc v.v… Truyện cổ Việt Nam, một hình thái nổi bật của văn học truyền miệng, dĩ nhiên cũng ñã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Phật giáo Trong ñó, tinh thần Từ bi ñã tác ñộng vào tư duy nghệ thuật, chi phối cấu trúc thể loại Tinh thần Từ bi trong các tác phẩm truyện cổ thường ñược diễn ñạt một cách nhẹ nhàng, trầm lắng, thậm chí có lúc hòa lẫn trong các tín ngưỡng dân gian Dẫu tinh thần ấy chỉ hiện diện qua một số yếu tố như hình ảnh quen thuộc của ông Bụt, cô Tiên hay ông lão già nua… nhưng ñã nêu bật ñược bản chất thương người, thương vật một cách tự nhiên, sâu ñậm và cũng ñã trở thành lối ứng xử không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Nam
Quả thật, sự ảnh hưởng mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất của Phật giáo ñối với nền văn học dân gian ñó là tinh thần Từ bi Từ bi chính là một trong những giáo lý căn bản trong nền giáo lý ñạo Phật và hầu như thấm ñượm trong các tác phẩm truyện cổ dân gian Việt Nam ðâu ñâu ta cũng thấy xuất
Trang 7hiện những nhân vật ñặc thù, mang tinh thần Từ bi cao quý này ðối với các tác phẩm truyện cổ, hầu như người nghe hay người kể ñều nghiêng về phía nhân vật nghèo khó, hoạn nạn nhưng chất phác và hiền lành Người sống tốt
dù trải qua gian khó thế nào, cuối cùng cũng ñược ñền trả xứng ñáng Kết cục những câu chuyện như thế ñủ chứng tỏ cho thấy, chính lòng nhân ñạo, tinh thần nhân bản và Từ bi của Phật giáo ñã trở thành nền tảng cho tư duy nghệ thuật và văn hóa ứng xử của dân tộc
Qua thực tiễn của lịch sử nhân loại cũng ñã thấy rõ, ở ñâu có xuất hiện tinh thần Từ bi thì ở ñó con người có an vui và hạnh phúc Khi lòng Từ bi khắc sâu vào tình cảm, tư tưởng của con người thì xã hội ở ñó không ngừng hoàn thiện về các mối quan hệ giao tiếp trong cuộc sống, cũng như hoàn thiện nhân cách con người Nhờ Từ bi, con người dễ kết nối với nhau thành tình yêu, niềm tin và lẽ sống Truyện cổ dân gian ra ñời, một phần cũng dựa trên
tư tưởng hướng thiện này
Ngày nay, khoa học kỹ thuật ñã không ngừng phát triển, không ít người chạy theo cuộc sống vật chất bên ngoài mà lắm lúc lãng quên nếp sống tâm linh hạnh phúc, quên ñi bản sắc văn hóa dân tộc Từ ñó xa rời nguồn cội và nếp sống thuần phong mỹ tục lâu ñời của Tổ tông, dẫn ñến việc xuất hiện sự rối loạn giá trị Do vậy, con người có xu hướng muốn quay về với tình thương chân thật, tình thương cao quý và xem ñó là giải pháp hữu hiệu trong các mối quan hệ ứng xử
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn và lý luận trên, người viết ñã chọn vấn ñề “Tinh thần Từ bi trong các kiểu nhân vật truyện cổ dân gian Việt Nam” ñể làm ñề tài cho luận văn
2- Mục ñích ñề tài:
Như ñã trình bày, mục ñích của chúng tôi là nghiên cứu nội dung tư tưởng cũng như sự ảnh hưởng của tinh thần Từ bi Phật giáo trong các kiểu
Trang 8nhân vật truyện cổ dân gian Việt Nam, nghĩa là chúng tôi muốn ñi sâu tìm hiểu vai trò của nó (tinh thần Từ bi) qua việc chi phối tư tưởng thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật của dân gian Dẫu biết rằng tinh thần Từ bi Phật giáo và bản chất hiền hòa, thuần phác của con người Việt Nam trong tiến trình lịch sử
ñã giao thoa với nhau, trên cơ sở những tương ñồng và hoàn cảnh lịch sử tạo nên Thế nhưng, không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng nhận thấy tinh thần
Từ bi ấy trong từng kiểu nhân vật Bởi vì ở những mức ñộ khác nhau, qua từng thời ñại, sự tác ñộng ấy có thể ñậm nhạt lên theo các kiểu nhân vật Chẳng hạn chúng ta dễ dàng tìm thấy tinh thần Từ bi trong từng kiểu nhân vật Phật, Bụt, Bồ tát Song cũng có những kiểu nhân vật khác không phải là nhân vật Phật giáo, như chàng trai nghèo khó, em bé mồ côi… mà vẫn thấm ñượm tinh thần Từ bi Cho nên, chúng tôi phải tiến hành xác lập tiêu chí, ñể tìm ra các biểu hiện của tinh thần Từ bi trong những kiểu nhân vật này Vì thế, ñề tài
Từ trước ñến nay, việc nghiên cứu truyện cổ dân gian luôn ñược nhiều người quan tâm trên nhiều lĩnh vực, nhiều góc nhìn khác nhau Dẫu so với lịch sử nghiên cứu truyện kể dân gian thế giới, thì ngành nghiên cứu truyện kể
Trang 9dân gian Việt Nam vẫn còn hạn chế, song ñiều ñó không làm cản trở sự ra ñời của những công trình chuyên khảo về truyện cổ Vì thế hiện nay, nguồn tư liệu về truyện cổ dân gian rất phong phú, ña dạng Chúng tôi cố gắng chọn lựa những tài liệu ít nhiều có liên quan ñến ñề tài, ít nhiều ñề cập ñến những truyện cổ dân gian Việt Nam mang màu sắc Phật giáo, thể hiện qua những kiểu nhân vật, mô típ…
3.1- Về công trình nghiên cứu của các học giả khoa học, như Nguyễn ðổng Chi, ðinh Gia Khánh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn ðăng Thục, Nguyễn Hữu Sơn, Lại Phi Hùng, Cao Huy ðỉnh, Chu Xuân Diên… chúng tôi ñã tìm ñược những thông tin bổ ích cho ñề tài của mình
3.1.1- Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn ðổng Chi, ông ñã mặc nhiên cho rằng: “Lịch sử Việt Nam từng trải qua một thời kỳ tồn tại và phát triển trên dưới 4000 năm Trong quá trình lâu dài ñó ñã diễn ra không ít biến cố về chính trị, xã hội, về tín ngưỡng, tôn giáo và cả về ngôn ngữ văn tự… Những biến cố này nhất ñịnh cũng ñã ảnh hưởng ñến tư duy nghệ thuật của quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ, tạo nên những biến cách trọng ñại trong truyền thống sáng tác dân gian ở nhiều chặng ñường lịch sử…” [6, Tập 5, tr.2421] Bên cạnh ñó, chúng tôi còn phát hiện rất nhiều truyện kể mang nội dung tư tưởng Phật giáo và ông ñã lý giải: “Trái lại, cái tên Bụt, Tiên cũng là mượn của những thứ tôn giáo ngoại lai nhưng ñã thành truyền thống, vì từ rất xưa, những tôn giáo này từng hóa thân vào ñời sống dân tộc, chấp nhận mọi thứ thanh lọc gay gắt, trở thành tôn giáo chung chi phối cuộc sống tâm linh của cả cộng ñồng” [6, tập 1, tr.69]
Như vậy, ñứng về góc ñộ loại hình và nội dung tư tưởng, theo Nguyễn ðổng Chi cho rằng sự hiện diện của Phật giáo ñã tác ñộng khá sâu sắc vào lối sống của dân tộc Việt Nam, thông qua lịch sử truyền bá lâu ñời của ñạo Phật vào Việt Nam, ñã tạo nên những biến thể trong sáng tác dân gian
Trang 10ðồng tình với quan ñiểm ñó, Vũ Ngọc Phan ñã nhận ñịnh: “Sau cuộc xâm lăng của Mã Viện, Phật giáo và ðạo giáo du nhập mạnh hơn vào Việt Nam Các nhà sư vừa là người ñi truyền ñạo, vừa làm ảo thuật, vừa chữa bệnh Từ những hiện thực ấy của lịch sử, nhân dân ñã xây dựng nên các nhân vật Phật Quang, Chử ðồng Tử và Tiên Dung ñều có những phép biến hóa phi thường…” [66].
3.1.2- Trong Sơ bộ tìm hiểu những vấn ñề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, ðinh Gia Khánh cũng cho rằng: “Ở ñây ta thấy có ảnh hưởng của Phật giáo Ông Bụt trong truyện cổ tích ñúng là có nguồn gốc từ ðức Phật Nhưng ñó là ðức Phật ñã dân gian hóa Trong tất cả mọi khái niệm của giáo lý liên quan ñến ðức Phật, nhân dân chỉ giữ lại khái niệm ñơn giản nhất và có ý nghĩa nhất ñối với mình: kẻ có sức mạnh vô biên và hay giúp ñỡ người ñau khổ” [43, tr.39] Cùng với sự tìm hiểu Ảnh hưởng của Phật giáo trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính của ðinh Thị Khang [39], cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Phật giáo vào những truyện kể dân gian Việt Nam
Có lẽ vì thế, mà nhiều truyện kể dân gian ñã mang ñậm nét Phật giáo, ñồng thời Phật giáo ñã cung cấp cho dân gian nhiều thể truyện cổ tích thật phong phú như truyện Sự tích cây nêu ngày tết, Sự tích bãi âm nam, sự tích cây huyết dụ…
3.1.3- Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn ðăng Thục, có thể nói
là ñề cập khá ñầy ñủ và rõ nét về Phật giáo, về mức ñộ ảnh hưởng của Phật giáo trong dân gian, về sự tiếp thu của dân gian ñối với Phật giáo: “Phật tính
ấy biểu hiện ra các phương diện của tình yêu hoạt ñộng, từ tình yêu cha mẹ ñến nhân ái là tình yêu xã hội cho ñến lòng bác ái từ bi ñối với tất cả chúng sinh Tất cả vũ trụ này là trường hoạt ñộng của tình yêu hiện thực mà nguồn gốc là do một tâm linh biến hóa ra cả Bởi thế mà bảo Phật tức Tâm, Tâm tức
Trang 11Phật Chắnh tình yêu hoạt bát hiện thực ấy là Phật Bà Quan Âm ở Việt Nam hay cả miền Nam Hải, mà bình dân phụng thờ ở động Hương Tắch và ở các chùa khácỢ Rõ ràng theo Nguyễn đăng Thục, Phật giáo ựã thực sự hòa nhập khá thiết thực vào dân gian, cụ thể bằng lòng từ bi hướng về tất cả chúng sinh Mọi hoạt ựộng từ bi ấy ựều phát xuất từ tâm Phật
3.1.4- đến với Nguyễn Hữu Sơn và Lại Phi Hùng trong bài nghiên cứu ỘCảm quan Phật giáo trong truyện cổ tắch Việt NamỢ lại nhận thấy:
ỘTâm thức dân gian coi trọng Phật giáo và ựi ựến xây dựng cả một hệ mô tắp Phật thoạiỢ [78, tr.53] Cách nhìn nhận của hai tác giả này tuy ựề cập ựến mô tắp Phật thoại và xem nó như là việc giáo hóa những mẫu người thật, chi tiết thật, nhưng cũng không ngoài nhận ựịnh cho thấy sự ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng của Phật giáo trong lòng dân gian
3.1.5- Trong công trình Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy đỉnh, ông ựã nhận ựịnh: ỘNhiều truyện ngụ ngôn nước ngoài ựã vào ta từ ựầu công nguyên với ựạo Phật và phát triển ở thời Lý, Trần đó là những truyện Ấn độ ựã ựược Việt hóa thông qua việc giảng kinh của các nhà thiền họcỢ [24, tr.70] Có lẽ vì ựiều ựó mà nhà nghiên cứu phải thốt lên: ỘKhó lòng mà liệt những truyện Từ đạo Hạnh, Ác Lai, Bất Nhẫn, Mục Thận, v.vẦ vào kho tàng truyện dân gian đó là sản phẩm của nhà chùa,
có thu hút ắt nhiều mẫu ựề dân gian, chứ không phải là truyện dân gian thực sựỢ [24, tr.51] Quả thật, ựiều ựó ựã cho chúng ta thấy rõ tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc ựến nền văn học dân gian Việt Nam, thể hiện qua nhiều truyện cổ tắch mang màu sắc tôn giáo ấy
3.2- Với công trình nghiên cứu của các học giả là nhà tu hành, nhà nghiên cứu Phật học, có thể thấy sự hiện diện của Minh Chi, Lê Mạnh Thát,
Lệ Như Thắch Trung Hậu, đỗ Văn đăngẦ Những công trình này ựã cung cấp cho chúng tôi nhiều tài liệu liên quan ựến ựề tài
Trang 123.2.1- Tìm hiểu Lịch sử Phật giáo Việt Nam [83] và Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam [84] của Lê Mạnh Thát, chúng ta thấy rất rõ những vấn
ñề giao thoa giữa Phật giáo với văn học dân gian Việt Nam Tác giả ñã nêu ra các minh chứng chắc thật về mối tương quan, ảnh hưởng giữa Phật giáo và văn học dân gian Việt Nam: “Chẳng hạn khi nghiên cứu về truyền thuyết Trăm trứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta thấy truyền thuyết này ñã xuất hiện trong Lục ñộ tập kinh1 3 ðTK152 tờ 14a26-c18 truyện 23 do Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán vào khoảng những năm 220-2502 Cũng một cách, Truyện Tây qua của Lĩnh nam trích quái3 là một dị bản của truyện 7 trong Cựu tạp thí dụ kinh, ðTK206 tờ 512a16-b7, cũng do Khương Tăng Hội phiên dịch, v.v” [83, tr.16-17] Và một lần nữa, Lê Mạnh Thát nhận ñịnh:
“Nói thế, tức là muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh nam trích quái là từ phía nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên, tại Nam Giới hay cửa Sót, giáp với Chiêm Thành” [83, tr.21]
Có thể nói, tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát ñã phân rõ cho ta thấy ba thời kỳ lớn của lịch sử Phật giáo Việt Nam Cụ thể là thời kỳ ñầu ñã ñánh dấu sự xuất hiện của Phật giáo trên ñất nước ta, cách thức tiếp thu tư tưởng và nhận thức Phật giáo ñối với dân tộc, cùng những ñóng góp vào sự nghiệp ñấu tranh giải phóng ñất nước và duy trì bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam như thế nào
3.2.2- Ngoài ra, không thể bỏ qua công trình sưu tập ñầy công phu về Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo của Lệ Như Thích Trung Hậu [28] Tuy tác giả không ñưa ra những tiêu chí cụ thể trong việc tuyển chọn truyện, nhưng có dành ra 15 trang trong phần dẫn nhập ñể giới thiệu quá trình truyền bá Phật giáo Việt Nam, quá trình hòa nhập của tư tưởng Phật giáo
Trang 13và tư tưởng bản ñịa: “Từ khi du nhập, Phật giáo ñã dần dà tiến sâu vào lòng dân tộc Việt Nam, chia sẻ những thăng trầm của ñất nước, nhân dân trong mọi sinh hoạt văn học, triết học, kiến trúc, nghệ thuật…, tham gia xây dựng
và bảo vệ ñất nước Bằng sức mạnh của từ bi và trí tuệ, triết lý và ñạo ñức Phật giáo dần dần ñã trở thành bản sắc của dân tộc” [28, tr 29] Từ ñó hình thành nên hình ảnh ðức Phật dân gian thật ñộc ñáo, thấm nhuần tinh thần từ bi, nhân ái trong lòng dân tộc
Tác phẩm gồm tất cả 118 truyện, ñược sưu tập từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau như: Truyện cổ nước Nam (Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn ðổng Chi), Thiền uyển tập anh Lê Mạnh Thát (dịch), Lĩnh nam chích quái (Trần Thế Pháp)… Trong ñó có nhiều tác phẩm nêu bật tinh thần Từ bi của Phật giáo qua hình tượng Phật, ông Bụt v.v… giàu tính sinh ñộng ðây là một công trình ñáng ñề cao, bởi ñã lựa chọn ñược những truyện cổ mang màu sắc Phật giáo và tạo mức ảnh hưởng to lớn trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam
Sau hết, công trình ñáng ñược chú ý là Truyện dân gian Việt Nam về Phật giáo nhìn từ góc ñộ loại hình của ðổ Văn ðăng [22] Tác giả ñã chỉ ra ñược những Phật thoại dân gian tiêu biểu, sự ảnh hưởng Phật giáo trong truyện cổ dân gian Việt Nam và mối giao thoa giữa truyện cổ dân gian Việt Nam với kinh ñiển, ñiển tích Phật giáo Ngoài ra, tác giả còn xác ñịnh rõ những truyện kể có nguồn góc từ Phật giáo, những truyện có mô típ tương ñồng với kiểu truyện Phật giáo, ñồng thời hệ thống hóa những kiểu truyện,
mô típ, nhân vật Phật giáo trong truyện kể dân gian Việt Nam
Có thể nói, công trình nghiên cứu của ðỗ Văn ðăng là những gợi ý ñầy thuận lợi cho chúng tôi ñi sâu tìm hiểu quan niệm, cách nhìn nhận, cách nghĩ của dân gian ñối với các nhân vật Phật giáo Từ ñó dễ dàng ñi ñến phân loại
Trang 14các kiểu nhân vật ñã ảnh hưởng tinh thần Từ bi và thể hiện tinh thần Từ bi Phật giáo một cách thiết thực trong truyện cổ, trong ñời sống xã hội
Nhìn chung, mỗi công trình là một sự nỗ lực và ñóng góp ñáng kể vào nền văn học dân gian Hầu như các tác phẩm ñược ñề cập trong những công trình của nhiều tác giả ấy ñều ñiểm qua cho chúng ta thấy quá trình hội nhập
tư tưởng Phật giáo và tư tưởng bản ñịa, góp phần không nhỏ vào việc hình thành nên hình tượng ðức Phật dân gian vừa hiện thực sống ñộng, vừa nhiệm mầu ñộc ñáo Như Nguyễn ðổng Chi nhận ñịnh: “Hình ảnh Bụt ñược người Việt xếp cao hơn cả vị vua cõi trời là Ngọc Hoàng Thượng ñế” [6, tập 5, tr.2492] ðinh Gia Khánh cũng cho rằng: “Bụt trong truyện cổ tích của ta chỉ
có thể là tượng trưng cho cái thiện ñầy sức mạnh” [42, tr.40] Nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi khi nhận ñịnh về Bụt, cũng ñã viết: “Bụt trong dân gian Việt Nam hiền lành, nhân hậu tới mức không biết giận là gì, cho nên, thậm chí người ta không gọi là ðức Bụt hay ông Bụt mà chỉ gọi là Bụt cụt ngủn, nhưng thân thương biết bao” [8, tr.204]
ðiều ñó cho biết các học giả tu hành, các nhà nghiên cứu Phật học cùng các học giả khoa học ñều tương ñồng về tư tưởng dân gian hóa hình ảnh Bụt Hình ảnh Bụt ấy ñi vào dân gian rất thiết thực qua ñức tính nổi bật là Từ bi, là lòng nhân hậu bao la vô bờ bến Chính ñiều này ñã dễ dàng cảm hóa ñược quần chúng nhân dân, tạo trợ lực mạnh mẽ cho nhân dân trong cuộc sống tồn tại và phát triển
Trong những công trình ấy, mức ảnh hưởng của Phật giáo, vấn ñề hòa nhập của Phật giáo vào tư tưởng bản ñịa cũng như hình ảnh nhân vật Bụt, Phật lại là kiểu nhân vật ñược nhắc ñến khá nhiều Tuy nhiên, chưa có tác giả nào ñề cập cụ thể về tinh thần Từ bi ảnh hưởng ñến cấu tạo cốt truyện, ñến cấu tạo trong từng kiểu nhân vật khác nhau, mà chỉ dùng phương pháp ẩn dụ thể hiện trong cách ứng xử, cách sống của từng nhân vật, ñể cho người ñọc tự
Trang 15cảm nhận Và có thể nói, dù diễn tả dưới góc ñộ nào, vẫn chưa chỉ ra ñược nguyên tắc cấu tạo, tính quy phạm của nhân vật mang tinh thần Từ bi của Phật giáo
Tiếp thu các công trình nghiên cứu, hy vọng với ñề tài này, người viết
có thể phân loại, hệ thống ñược vài nét về tinh thần Từ bi thể hiện cụ thể trong từng kiểu nhân vật khác nhau như thế nào Mong sẽ hé mở cho người ñọc con ñường tìm ñến dễ dàng và thấy ñược phần nào nét thù thắng của thể loại cổ tích, mà trước ñây thường ñược nghiên cứu dưới nhiều góc ñộ khác 4- ðối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu khái niệm truyện cổ dân gian chính là hiểu trên một phạm vi tương ñối rộng lớn, bao gồm những thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích… Trong phạm vi nghiên cứu, ñề tài này có nội dung tập trung khảo sát các thể loại truyện cổ tích có ảnh hưởng tinh thần Từ bi, một triết lý chủ ñạo trong ñời sống văn hóa tâm linh của Phật giáo Tuy có phân ñịnh và ñịnh hướng rõ ràng, nhưng vì tính chất ñan xen của các thể loại, nên cũng không tránh khỏi sự lệch chuyển sang các thể loại truyền thuyết, thần thoại… ở một
số tác phẩm cụ thể Do ñó, ñối tượng chủ yếu chúng tôi chọn phân tích là những kiểu nhân vật thể hiện trong từng cốt truyện Với những kiểu nhân vật này, chúng tôi lần lượt tìm hiểu chi tiết qua tính cách, hành ñộng, ngữ cảnh, không gian, thời gian và tính mâu thuẫn của từng nhân vật ñã thể hiện ñược tinh thần Từ bi như thế nào
Với phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào năm nguồn tài liệu ñể khảo sát, nhằm ñáp ứng các tiêu chí nói trên
Thứ nhất là Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn ðổng Chi [6] Ở tài liệu này, tác giả cho rằng “ñã gắng chọn lọc lấy những truyện tiêu biểu (…) ñể bạn ñọc thấy ñược toàn diện truyện cổ tích nước nhà” [6, tr.141] Phải nói rằng, cho ñến hôm nay, tuyển tập truyện cổ tích này vẫn luôn mang
Trang 16tính tiêu biểu và ñáng tin cậy nhất của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, ñược giới nghiên cứu khoa học trong cũng như ngoài nước ñánh giá cao
Thứ hai là Kho tàng Văn học Dân gian Việt Nam – Truyện Cổ tích Việt Nam của Nguyễn Giao Cư - Phan Diên Vỹ - Sơn Hà sưu tầm & biên soạn [15] Thứ ba là Truyện cổ nước Nam (Sự tích trầu cau) Quế Chi [10]
Thứ tư là Truyện Cổ tích Việt Nam chọn lọc của Ngọc Tú [93]
Thứ năm là Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam của Thanh Thanh [81] Năm nguồn tài liệu này, tuy chưa thể nói là ñã ñủ, nhưng theo chúng tôi thấy, ñây là những công trình ñáng tin cậy, ñã qua thời gian chắt lọc và cũng
ñã ñược nhiều ñộc giả ñánh giá cao
Ngoài năm nguồn tài liệu ñó, dĩ nhiên là chúng tôi còn sử dụng một số tài liệu khác nhằm bổ sung cho những truyện khảo sát chính và ñể so sánh, ñối chiếu trong quá trình tiếp cận vấn ñề
Từ việc khảo sát những tuyển tập trên, chúng tôi rút ñược 111 truyện có
ñề cập ñến tinh thần Từ bi Nguồn dẫn liệu cụ thể như sau:
1 Nguyễn ðổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập I-V, Viện Văn Học:
Trang 1710 Sự tích bãi ông Nam
11 Quan Âm Thị Kính
12 Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử
13 Của Thiên trả ðịa
14 Cây tre trăm ñốt
15 Người dân nghèo và Ngọc Hoàng
23 Gái ngoan dạy chồng
24 Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán
25 Sự tích trái sầu riêng
26 Thạch Sanh
27 Ông già họ Lê
28 Sự tích khăn tang
29 Bính và ðinh
30 Con chó, con mèo và anh chàng nghèo khổ
31 Quan Triều hay là chiếc áo tàng hình
Trang 1837 Sự tích ðầm Nhất Dạ hay Bãi Tự Nhiên
38 Ai mua hành tôi hay là lọ nước thần
39 Người dì ghẻ ác nghiệt hay là sự tích con dế
2 Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tầm và giới thiệu (2004), Những truyện
cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo, Nxb Tôn giáo, 737 tr:
1 Sự tích bãi ông Nam
2 Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử
10 Sự tích ông ðầu Rau
11 Sự tích ðầm Nhất Dạ hay Bãi Tự Nhiên
3 Ngọc Tú biên soạn (2007), Truyện Cổ tích Việt Nam chọn lọc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, 284 tr:
1 Ba ñiều ước
2 Cây tre trăm ñốt
3 Chín nàng tiên
4 Hoàng tử cóc
5 Người anh tham lam
6 Sự tích cây Nêu ngày tết
7 Của Thiên trả ðịa
8 Nàng út
9 Tấm Cám
Trang 194 Sự tích bãi ông Nam
5 Cây tre trăm ñốt
6 Của Thiên trả ðịa
7 Sự tích cây Nêu ngày tết
8 Tấm Cám
9 Cái cân thủy ngân
10 Công chúa bán than
Trang 2021 Sự tích khỉ ñít ñỏ
5 Nguyễn Giao Cư - Phan Diên Vỹ - Sơn Hà sưu tầm và biên soạn (2007), Kho tàng Văn học Dân gian Việt Nam – Truyện Cổ tích Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 467tr:
1 Vàng lấy con vua
2 Cái cân thuỷ ngân
3 Chàng Mồ Côi
4 Sự tích con kên kên
5 Quả dưa dại
5 Người anh tham lam
6 Con quỷ và cô công chúa
Trang 2114 Sự tích bông thủy tiên
về tính khoa học của việc nghiên cứu theo cốt truyện Ngoài ra, nó ñược thuyết phục bởi: “Công phu tích lũy lâu dài, ñặc biệt là trình ñộ uyên bác của người soạn” [6, tập 4, tr 2069 – 2070] Thế nên, những truyện nào hoàn toàn giống nhau hay giống nhau về nội dung, cốt truyện mà chủ ñề có thay ñổi, hoặc nội dung tuy có thay ñổi vài nét nhưng cốt truyện vẫn như nhau thì sau khi ñưa ra so sánh, ñối chiếu, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu những truyện nằm trong tác phẩm của Nguyễn ðổng Chi
5- Phương pháp nghiên cứu:
ðể giải quyết các yêu cầu do ñề tài ñặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1- Bước ñầu tiên, chúng tôi chú trọng phương pháp khảo sát, phân tích,
so sánh và ñối chiếu trong số lượng truyện cổ tích ñã thu thập, nhằm tìm ra các kiểu nhân vật cụ thể, ñã thể hiện tinh thần Từ bi trong cuộc sống như thế nào Công việc này giúp chúng tôi xác lập ñược các tiêu chí căn bản, ñể có thể tìm
ra những dạng cốt truyện dân gian tiêu biểu, có ảnh hưởng tinh thần Từ bi Qua ñó, còn thấy ñược vai trò của nhân vật Từ bi trong cấu tạo cốt truyện, cũng như trong tiến trình ứng xử văn hóa dân gian
5.2- Trên cơ sở này, chúng tôi ñi ñến ứng dụng phương pháp thống kê, phân loại, mô hình hóa và hệ thống hóa Vì ñây là một ñề tài mới mẻ và hầu
Trang 22như chưa có người nghiên cứu sâu sát, nên sau khi phân tích, chúng tôi sẽ ñi vào thống kê tần số xuất hiện của những kiểu nhân vật thể hiện tinh thần Từ bi, ñồng thời phân loại, mô hình hóa và hệ thống hóa các kiều nhân vật ñó Hy vọng sẽ ñạt ñến một cái nhìn xác thực về mức ñộ ảnh hưởng của Phật giáo trong nền văn học dân gian, cũng như sức tiếp thu, cách ñồng hóa của dân gian ñối với tinh thần Từ bi Phật giáo
Với những phương pháp nghiên cứu trên, mong rằng có thể giúp người viết rút ra ñược những nhận ñịnh khách quan, khoa học trên bình diện truyện cổ dân gian Việt Nam và luận văn cũng sẽ có cơ hội ñi ñúng hướng nghiên cứu, theo bản chất của sáng tác dân gian
6- Những ñóng góp mới của luận văn:
- Bước ñầu hệ thống hóa, phân loại nhân vật theo tiêu chí Từ bi của Phật giáo ñối với những truyện có liên quan, ñồng thời miêu tả cấu tạo của nó
- Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu nội dung tinh thần Từ bi Phật giáo, luận văn cố gắng ñưa ra cái nhìn ñúng ñắn về vai trò của Phật giáo ảnh hưởng ñến nền văn hóa, giáo dục thông qua hệ thống thể loại cổ tích Trong chừng mực nào ñó, có thể góp phần hoàn thiện tư duy, lý luận và nghiên cứu những ñóng góp, giá trị ñích thực của tinh thần Từ bi trong ñời sống xã hội ñương ñại ðồng thời, dựa trên nền tảng ñó, giúp chúng ta thấy rõ hơn những giá trị nhân bản của nền văn học dân gian nói riêng, nền văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung
7- Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở ñầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn ñược chia làm 3 chương:
Chương 1: Quan niệm Từ bi nhìn từ góc ñộ Phật giáo
Trang 23ðây là chương nền, chủ yếu nói về quan niệm Từ bi nhìn từ góc ñộ Phật giáo Từ ñó làm cơ sở lý luận ñể khảo sát chương 2 và chương 3 Vấn ñề bao gồm việc tìm hiểu khái niệm Từ bi và phương pháp huân tập lòng Từ bi theo tư tưởng giáo lý Phật giáo, ñồng thời so sánh mối quan hệ giữa tinh thần
Từ bi trong Phật giáo với tình thương trong nhân gian Trên cơ sở này, giúp ta thấy ñược mối giao hòa giữa tinh thần Từ bi Phật giáo với yếu tố tình thương của con người; thấy ñược sự ảnh hưởng của tinh thần Từ bi trong cuộc sống ñời thường ra sao
Chương 2: Các kiểu nhân vật thể hiện tinh thần Từ bi trong truyện cổ dân gian Việt Nam
Nhiệm vụ của chương này là miêu tả và phân loại các kiểu nhân vật thể hiện tinh thần Từ bi trong cốt truyện Từ những kiểu nhân vật này, chúng ta sẽ thấy rõ thêm sự tác ñộng sâu xa của tư tưởng nhà Phật vào việc cấu tạo nhân vật trong cổ tích
Chương 3: Vai trò của nhân vật Từ bi trong cấu tạo cốt truyện
Chương này ñề cập ñến sự ảnh hưởng của nhân vật Từ bi trong cấu tạo cốt truyện ðiều này sẽ ñược thực hiện qua sự ñối chiếu, so sánh vai trò, tác dụng của nhân vật Từ bi và nhân vật không Từ bi ñối với sự hình thành và phát triển cốt truyện Từ ñó có thể rút ra ñược các dạng cốt truyện tiêu biểu, các mô típ phổ biến của kiểu truyện ảnh hưởng tinh thần Từ bi
Trang 24CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM TỪ BI NHÌN TỪ GÓC ðỘ PHẬT GIÁO 1.1- ðịnh nghĩa Từ bi:
Từ bi là Hán ngữ dịch từ chữ Karuna (tiếng Phạn) Từ là lành, hiền từ;
Bi là thương xót Trong các sách Tây phương viết bằng tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, chữ Karuna ñược dịch là Compassion Chữ Compassion có gốc từ tiếng La-tinh là compassio, có nghĩa là thương xót trước sự ñau khổ của kẻ khác Trong chữ compassion có chữ passion, chữ này có gốc từ chữ patior, một ñộng từ trong tiếng La-tinh có nghĩa là khổ ñau, ñau ñớn
Theo Từ ñiển Phật học Huệ Quang, Tập V [3] giải thích:
Từ (S: Maitrya, Maitru; P: Metti)
Bi (S,P: Karuna)
Thương yêu và cứu giúp, ñây là tinh thần cơ bản nhất của Phật giáo
Từ là yêu thương chúng sinh và ban cho họ sự an lạc (dữ lạc) Bi là ñồng cảm với sự ñau khổ (bạt khổ) của họ; gọi chung là Từ bi Lòng Bi của Phật là trạng thái ñồng tâm ñồng cảm, lấy nỗi khổ của chúng sinh làm nỗi khổ của mình, nên gọi là ðồng thể ñại bi Tâm Bi này rộng lớn vô tận, nên gọi là Vô cái ñại bi (không có gì rộng hơn, lớn hơn, cao hơn tâm Bi này)
Theo Phật học Từ ñiển, Tập 3 [14] giải thích:
Từ: Thương tưởng, dốc làm lợi ích, an lạc cho chúng sinh
Bi: ðau xót trước những cảnh khổ não, hoạn nạn, ưu sầu của chúng sinh, dốc chí ra tay cứu vớt họ Phật ñối với chúng sinh, coi như con một nhà, làm cho họ hưởng các sự an ổn, vui vẻ, nên kêu là Từ Phật thấy chúng sinh chịu các nỗi khổ, ñộng lòng trắc ẩn, muốn cứu họ ra khỏi các tai nạn, nên kêu
là Bi
Như vậy, Từ bi trong ñạo Phật không phải vỏn vẹn là một “ñức tính”
dù ñó là “ñức tính từ tâm”, cũng không phải là một thứ “xúc cảm”, say mê
Trang 25hay ñam mê (passion) theo ngôn từ Tây phương Từ bi cũng không phải là một thứ “tình cảm thụ ñộng” làm ta tê liệt trước khổ ñau của chúng sinh, cũng không hẳn là một “khuynh hướng tinh thần” muốn chia bớt và nhận chịu khổ ñau của kẻ khác
Karuna hay Từ bi trong Phật giáo là khả năng nhận thức rằng mọi sinh linh có giác cảm, từ con người cho ñến các sinh vật khác ñều gánh chịu khổ ñau Khi nào tất cả các sinh linh ấy chưa ñược Giác ngộ và Giải thoát, thì Từ
bi chính là ước vọng mãnh liệt thúc ñẩy ta phải giải thoát cho tất cả mọi chúng sinh ra khỏi khổ ñau
Khía cạnh cao ñẹp của Từ bi hay Karuna cũng là một trong những chân
lý cao cả hơn hết của ðạo Phật: Khổ ñau không phải là một ñịnh mệnh, khổ ñau có thể tránh khỏi, ta có thể tự giải thoát ñược và tất cả mọi chúng sinh ñều
có thể thực hiện ñược sự giải thoát ñó, không phải chỉ riêng có Phật mà thôi4
Hơn thế nữa, Từ bi không phải ñơn giản chỉ là sự xót thương và chia sẻ khổ ñau với kẻ khác, mà Từ bi chứa ñựng ý nghĩa tích cực và mãnh liệt hơn những gì ta hiểu một cách thông thường Từ bi là sức mạnh thiêng liêng, siêu việt và luôn ñược soi sáng bởi Trí Tuệ Trí Tuệ là gì? Trí Tuệ là một khí cụ toàn năng giúp ta xóa bỏ Vô minh Xóa bỏ Vô minh tức là ñạt ñược Giác ngộ ðạt ñược Giác ngộ tức là thành Phật
Thông thường, có một số người quan niệm sai lầm rằng: Từ bi là bi lụy, mềm yếu, than khóc, tiêu cực Họ tưởng rằng hễ ñã Từ bi thì ai muốn làm thế nào mình cũng chịu, sống trong hoàn cảnh ra sao mình cũng theo, thiếu tinh thần tiến thủ Nói chung, người ta cho rằng Từ bi theo nghĩa thông thường là than khóc và nhu nhược Thật ra, Từ bi theo ðạo Phật có nghĩa
4
ðiều 1, 2 và 3 trong Tứ diệu ñế: Khổ ñế, Tập ñế, Diệt ñế và ðạo ñế Khổ ñế là sự thật vững chắc về sự khổ ở thế gian Tập ñế là sự thật ñúng ñắn, vững chắc về nguyên nhân của những nỗi khổ Diệt ñế là sự thật ñúng ñắn về hoàn cảnh tốt ñẹp mà mọi người có thể ñạt
Trang 26khác xa Phật dạy: “Từ” năng dữ nhất thiết chúng sinh chi lạc, “Bi” năng bạt nhất thiết chúng sinh chi khổ (Từ là cho vui tất cả chúng sinh, Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài) Diệt khổ và ñưa ñến niềm vui cho mọi loài, ñó là tất cả nguyện vọng và hành ñộng lợi tha, cứu ñời của người có lòng Từ bi Thế nên, Từ bi không phải là thụ ñộng, là trốn ñời hay nhu nhược Còn cái khổ, cái vui nói ở ñây, không chỉ là khổ vui vật chất mà gồm cả tinh thần
Vậy, Từ bi là một lòng thương rộng lớn vô biên, nó khiến người ta vận dụng tất cả khả năng, tâm tư, phương tiện ñể làm cho mọi người, mọi vật thoát khổ ñược vui Bởi thế, với lòng Từ bi rộng lớn, ðạo Phật hướng dẫn chúng sinh cần phải tạo nhân vui và diệt nhân khổ Nhân vui và nhân khổ ấy ñều ở trong tâm mọi chúng sinh Tâm là nguồn gốc của mọi hành ñộng, mọi kết quả Vậy thì quả khổ hay vui ñều do tâm cả Nếu tâm chúng sinh ñầy dẫy phiền não tật xấu, dung chứa vô số hạt giống cay, chua, ñắng, ñộc; thì những mầm mống ấy sẽ trổ ra quả khổ ñau Bởi thế, ðạo Phật rất chú trọng vấn ñề tu tâm dưỡng tánh cho chính mình và mọi người
Trong ý nghĩa ñó, Từ bi không chỉ là sự ban tặng niềm vui, hóa giải nỗi khổ cho một ñối tượng tiếp nhận nào ñó, mà còn luôn hướng người khác tự biết ñiều chỉnh tâm thức, ñể sống theo một nếp sống an vui, hạnh phúc Tại ñây, tinh thần Từ bi trở thành triết lý ứng xử chủ ñộng, vừa hướng nội vừa hướng ngoại Tự thân an lạc và khiến cho người khác ñồng an lạc, hạnh phúc như chính mình
1.2- Phương pháp huân tập lòng Từ bi theo tư tưởng giáo lý Phật giáo:
ðiểm cốt lõi của ðạo Phật là “ñến ñể thấy”, chứ không phải ñể nghe và tin những lý thuyết suông ðể huân tập tâm Từ bi có hiệu quả, ðạo Phật ñã chỉ cho chúng ta những phương pháp thực nghiệm cần thiết trong cuộc sống ñược khi ñã diệt hết phiền não, mê mờ và ðạo ñế là phương pháp chân chính, có hiệu quả
Trang 27Ở phương diện này, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là Ộhuân tậpỢ Theo Từ ựiển Phật học Huệ Quang, Tập II [3] giải thắch: ỘHuân tập là thu thập, gom chứa những hành vi của thân, ngữ, ý vào trong tâm thứcỢ
Từ những luận ựiểm theo Từ ựiển Phật học Huệ Quang giải thắch cho thấy, Ộhuân tậpỢ nghĩa là những hành vi, hành ựộng ựược thực hiện nhiều lần Huân tập có thể hiểu theo hai chiều hướng là thiện5 và ác6 Nếu thực hiện nhiều lần hành ựộng ác thì gọi ựó là huân tập ựiều ác Còn ngược lại, thực hiện nhiều lần hành ựộng thiện, gọi là huân tập ựiều thiện
để huân tập ựược lòng Từ bi, ỘTư duy, suy gẫm Từ biỢ là phương thức thể nghiệm thiết thực nhất, biểu hiện ở ba cấp ựộ khác nhau từ thấp ựến cao:
1.2.1- Nghĩ ựến nỗi khổ ựau của muôn loài:
Ở cấp ựộ này, chúng ta dùng cảm tình mà tập tư duy, suy gẫm Từ bi Nghĩa là tâm Từ bi phát khởi do nghĩ ựến nỗi khổ ựau của muôn loài Lòng
Từ bi này, không chỉ gói gọn trong phạm vi con người mà mở rộng ựến muôn loài từ quá khứ, hiện tại ựến tương lai
Trước kia, chúng ta có thói quen là cái gì ngoài ỘtaỢ thì ắt khi quan tâm ựến, giờ ựây huân tập Từ bi tức là phải tập có thái ựộ thương quý, quan tâm ựến người khác, phải nhận ựịnh ựược rằng: Thế giới của loài người chúng ta
ở ựây giống như một cái nhà lớn, là nơi sum họp và ựoàn kết của ựại gia ựình Vẫn biết nhân loại khác nhau về màu da, chủng tộc, nhưng cái khác ựó chẳng qua là bề ngoài đã là người thì ai cũng có một thân hình xương thịt như nhau, cũng ựồng sợ khổ ưa vui, biết thắch ựiều tốt, ghét cái xấu v.vẦ Hiểu ựược ựiều ựó, giờ ựây, ựối với người lớn tuổi, ta phải kắnh trọng như ông bà chắc thật ựể thành Phật [33, tập 1, tr.406, 428, 454, 483]
Trang 28cha mẹ, người ngang hàng hay tuổi xấp xỉ, ta xem như anh chị em ruột thịt, người nhỏ tuổi hơn nữa thì xem như con cái, cháu chắt…
Gần với chúng ta nữa là loài vật, chúng cũng ñồng chung một nguồn sống và ñã có sống thì dĩ nhiên ñều ham sống sợ chết, ñều biết cảm nỗi sung sướng và khổ ñau Tuy chúng không biết nói như con người, nhưng ta nên ñối ñãi tử tế thì chúng cũng biết thương mến và trung thành với ta Dẫu không có học thức, chúng vẫn biết nghe lời và giúp ñỡ ta trong nhiều công việc nặng
nề
Nếu nghĩ ñược như thế, thấy ñâu ñâu cũng là bà con, anh em thân thuộc của ta Từ ñó tâm Từ bi phát khởi, huân tập dần, ñể rồi ta có ñược một
sự ñồng cảm sâu sắc với tất cả nỗi khổ ñau của muôn loài
1.2.2- Nghĩ mình và muôn loài ñều ñồng có Phật tính như nhau: Khi nghĩ ñến nỗi khổ ñau của muôn loài, lòng Từ bi trong ta phát khởi rồi, chúng ta lại tiếp tục tư duy, suy gẫm, thấy tất cả muôn loài cùng ta ñều ñồng có Phật tính như nhau Nghĩa là cùng có tính chân thật, có tính giác ngộ như nhau Từ sự cảm nhận ñó, cho nên khi thấy muôn người, muôn vật ñau khổ là mình ñau khổ; thấy nỗi khổ ñau của mọi người, mọi vật cũng giống như khổ ñau của mình Vì vậy mà ta khởi lòng Từ bi ban vui, cứu khổ cho tất
cả muôn loài Khi cứu khổ, chúng ta không cần biết ñó là ai và khi làm, không cố chấp vào việc mình ñã làm Muôn loài có khổ thì ta có Bi Sự ñồng cảm tự nhiên, sâu sắc ấy như tình thiêng liêng giữa mẹ và con, hễ có cảm là
có ứng:
Như tấm lòng người mẹ ðối với con của mình Trọn ñời luôn che chở Con ñộc nhất mình sanh Cũng vậy ñối tất cả
Trang 29Các hữu tình chúng sinh Hãy tu tập tâm ý
Không hạn lượng rộng lớn Hãy tu tập từ tâm
Trong tất cả thế giới … [29]
1.2.3- Lòng Từ bi phát khởi một cách vô tư:
Khi chúng ta ñã có ñược lòng Từ bi do tư duy, suy gẫm theo hai bước trên, thì ñến ñây, Từ bi sẽ tự nhiên hiện bày, không còn dụng công tư duy, suy gẫm, ñối ñãi giữa mình với người, mình với vật Lòng Từ bi này tự khởi
ra bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào, cũng như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cả gần xa, không phân biệt thấp cao, không chú ý một phương nào, chiếu soi tất cả một cách vô tư
Nhìn chung, dù tư duy, suy gẫm ñể huân tập lòng Từ bi dưới hình thức nào, chúng ta cũng cần hiểu rằng, ta không thể “mở tắt” tình cảm, lý trí của mình như “tắt mở” một bóng ñèn, mà cần tập luyện có phương pháp một cách kiên nhẫn và với lòng quyết tâm Trái tim ta cần ñược rèn luyện ñể yêu thương vì nó không phải ñược tạo ra ñể lúc nào cũng tràn ñầy lòng thương yêu Nó có thể yêu mà cũng có thể ghét Nó chứa ñầy ý xấu xa, tội lỗi, sân si,
sợ hãi cũng như thương yêu, ñùm bọc, che chở Cho nên, nếu như ta không
có cách làm giảm bớt sự hận thù và phát triển thêm tình thương, qua lối ứng
xử của ta trong ñời sống hằng ngày, thì tâm ta sẽ không thể an lạc, sự an lạc
mà tâm Từ bi có thể mang ñến cho ta
Quả thật, Từ bi vừa thể hiện cái tâm tốt, là một sự nhận thức ñể hành ñộng, mang ñến lợi ích cho tha nhân; vừa là lẽ sống cao ñẹp, hạnh phúc cho mọi người Chúng ta có thể huân tập ñể ñạt ñến sự thành tựu tâm Từ bi rộng lớn, nếu biết thực hiện ñúng theo những phương pháp nêu trên
Trang 301.3- Mối quan hệ giữa tinh thần Từ bi Phật giáo với yếu tố tình thương trong dân gian:
1.3.1 Nét tương ựồng và dị biệt giữa tinh thần Từ bi Phật giáo với yếu
tố Tình thương trong dân gian:
Mục ựắch ra ựời của đạo Phật là hướng con người ựến một ựời sống lương thiện, an lạc ngay trong cuộc sống hiện thực, luôn lấy chất liệu tình thương làm lẽ sống Giáo lý của đạo Phật không mang tắnh cao siêu hay xa rời thực tế Tắnh thiết thực và gần gũi của Giáo lý đạo Phật giúp con người nhận rõ chân tướng của những suy nghĩ, hành ựộng thiện hay bất thiện, từ ựó
có thái ựộ nhận thức ựúng ựắn về cuộc sống ựang diễn ra quanh mình Do vậy, tinh thần cốt lõi của giáo lý đạo Phật chỉ nhằm vào một mục ựắch duy nhất là khuyến cáo con người xa lìa các ựiều ác, thực hành các việc thiện, ựược thâu tóm qua bài kệ:
Không làm mọi ựiều ác Thành tựu các hạnh lành Giữ tâm ý trong sạch Chắnh lời chư Phật dạy
Kệ 183 [5, tr.106]
đó cũng chắnh là nói lên ý nghĩa cao quý của tinh thần Từ bi Phật giáo, ựược thể hiện trong cuộc sống một cách thiết thực và ựem lại lợi ắch cho muôn loài
Có thể nói, trong dân gian từ ngàn xưa ựến hôm nay, cuộc sống luôn ựược duy trì và phát triển là nhờ con người biết yêu thương và giúp ựỡ lẫn nhau Tư tưởng ựoàn kết, yêu thương ựó của người dân Việt, ngoài cái tình nhân loại chung, dân tộc ta còn có một triết lý ứng xử, xem mọi người ựều là ruột thịt của nhau, ựều là con rồng cháu tiên Triết lý này, thể hiện qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ: ỘTrải qua hàng ngàn năm, các vua Hùng,
Trang 31con cháu của Âu cơ và Lạc Long Quân với trí thông minh và lòng dũng cảm
ñã dẫn dắt người Âu Lạc chinh phục thiên nhiên, mở rộng bờ cõi… Ngày nay, các dân tộc sống trên dãi ñất Việt Nam từ miền núi ñền miền xuôi ñều tự hào
là con rồng cháu tiên Trong gian lao cũng như lúc yên bình, họ luôn sát cánh bên nhau, cùng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam yêu dấu” [93, tr.16]
Quả thật, ñến với người Việt, chúng ta thấy bản chất của người Việt vốn rất hiền lành, yêu chuộng hòa bình, luôn biết bảo tồn và phát huy tư tưởng yêu thương lẫn nhau: “Có hàng loạt những truyền thống ñạo ñức hình thành trong sinh hoạt cộng ñồng và ñấu tranh xã hội ñể duy trì những mối quan hệ tốt ñẹp giữa con người với nhau, như tình ñồng loại, ñồng bào: “Chị ngã em nâng”, “Một con ngựa ñau cả tàu không ăn cỏ”… ” [19, tr.269]
Sức thu hút của ca dao, tục ngữ dân gian chính là do sự kết tinh từ những sự kiện có thật trong cuộc sống Từ ñó, nó tác ñộng ñến tình cảm và suy nghĩ của con người Chúng ta thật sự hạnh phúc khi sống trong cộng ñồng mà ông cha ta ngày xưa ñã truyền lại những bài học về tình thương, thể hiện qua những câu ca dao, dân ca mộc mạc: “Thương người như thể thương thân”, “Chị ngã em nâng” biết bao ý nghĩa
Từ tình thương yêu cao quý ấy, nhân dân ta còn luôn trải lòng giúp ñỡ lẫn nhau lúc khó khăn:
“Lá lành ñùm lá rách”
[Tục ngữ - 45, tr.1504]
“Một miếng khi ñói bằng một gói khi no”
[Tục ngữ - 46, tr.1838]
Trang 32Phải chăng sức sống của lòng Từ bi Phật giáo từ khi du nhập, ựã cộng hưởng với tư tưởng thương yêu vốn có của con nguời Việt Nam, tạo thành những mỹ tục rất nhân bản trong ựời sống người dân Việt:
ỘBầu ơi thương lấy bắ cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giànỢ
1.3.1.1- Tình tương thân tương ái:
đó là lòng tốt ựối ựãi qua lại với nhau, là ựiều không thể thiếu ựể giúp con người tồn tại và phát triển Bởi trong cuộc sống này, con người lệ thuộc vào nhau rất nhiều, như cậy nhờ người ựưa thư giúp ta có thông tin, nhờ người trồng trọt giúp ta có cơm ăn, nhờ người may vá giúp ta có áo mặcẦ Có thể nói, nhờ biết tương thân tương ái, mà cuộc sống con người ựược tồn tại lâu dài và nó cũng không nằm ngoài phạm vi của yếu tố tình thương
1.3.1.2- Tình thân thiện:
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta cảm thấy rất thân thiện, gần gũi với bạn bè, hàng xóm hay những người quen biết khác ựã giúp ựỡ chúng ta Chắnh tình thân thiện ấy là bước nhảy ựưa chúng ta ựến gần với lòng Từ bi
Trang 33Tuy nhiên thông thường, tình thương trong dân gian ñược bắt nguồn từ
sự cảm thông với những người có liên hệ gì ñó với họ, như người cùng nhóm bạn, ñồng quê hương, láng giềng Thể hiện qua những câu tục ngữ:
“Nhiễu ñiều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng”
[Tục ngữ - 46, tr.2084]
“Khôn ngoan ñối ñáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài ñá nhau”
[Tục ngữ - 45, tr.1462] Thế nhưng, theo tinh thần Từ bi của ðạo Phật, dù tình thương ñó có ñem lại lợi ích cho cuộc sống con người, nhưng nó sẽ không lâu bền, vì chỉ có
sự cảm thông với người thân thì sẽ khiến ta tạo ra sự lựa chọn, phân biệt Chính sự lựa chọn này ñẩy con người càng xa nhau, bất hòa nhau ðây là ñiểm khác biệt của tinh thần Từ bi với yếu tố tình thương trong dân gian
Nói chung, yếu tố tình thương trong dân gian cùng với khái niệm Từ bi của Phật giáo vẫn có ñiểm tương ñồng, là trải lòng yêu thương giúp ñỡ mọi người, nhưng tình thương của dân gian là tình thương có ñiều kiện Cho nên nói tình thương ñó chỉ là một thuộc tính nhỏ của Từ bi Con người biết ứng dụng tình thương ấy ñể ñối ñãi với nhau thì cuộc sống vẫn ñược an vui, hạnh phúc, nhưng sẽ không lâu dài Nếu chúng ta biết mở rộng và phát triển tình thương ấy một cách sâu xa hơn theo tinh thần Từ bi, vì mọi người, không vụ lợi, không ích kỷ… thì sẽ tạo dựng ñược cuộc sống tràn ñầy hạnh phúc và có
ý nghĩa Tức là vẫn thấy và hiểu rằng, tình thương của con người trong cuộc sống ñời thường cũng chính là nét biểu hiện cơ bản của Từ bi Rồi từ trong chất liệu ấy, chúng ta biết nuôi dưỡng và nâng cao lên, biết thương người, thương vật và thương tất cả mọi loài, thì cuộc ñời sẽ ñong ñầy tình thương, xã hội bớt khổ ñau và con người luôn an cư lạc nghiệp
Trang 341.3.2- Ảnh hưởng của tinh thần Từ bi Phật giáo trong cuộc sống ựời thường:
Trong dân gian, chữ Từ bi thường ựược hiểu là lòng thương người, là
sự cứu khổ ban vui và nhất là hay giúp ựỡ người khác lúc khó khăn Cho nên ựối với nhân dân ta, khi gặp phải những cảnh khổ, họ thường mong ước có ông Bụt hay bà Tiên nào ựó với lòng Từ bi bao la hiện ra giúp ựỡ Do vậy, từ xưa ựến nay, hình ảnh cửa chùa ựã ựược con người gọi là Ộcửa Từ biỢ, bóng dáng của một vị sư ựược xem là Ộbóng Từ biỢ, lòng hiền từ hay giúp ựỡ người khác gọi là Ộlòng Từ biỢ Thậm chắ khi thấy ai hiền lành, tốt bụng với ựôi mắt hiền từ, bàn tay từ ái cứu giúp họ, thì họ ựều cho người ấy có ựôi mắt
Từ bi, bàn tay Từ bi Nói chung, những hành ựộng, cử chỉ nào có tắnh năng giúp ựỡ hoặc ựem niềm vui ựến cho người khác ựều ựược dân gian gọi là Từ
bi Từ bi chắnh là nét tiêu biểu, nét thuần túy của Phật giáo và ựược ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp vào tâm thức của con người trong cuộc sống ựời thường đó là niềm tin, là một ựiều gì ựó mang tắnh hiền lành, thân thiện, giúp con người thêm nghị lực vươn lên
Thế cho nên, ựã từ lâu, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam dường như ựã biết thể hiện Từ bi trong quá trình ựối nhân xử thế Xem ựó như một nếp sống ựạo ựức ựược thiết lập từ trong gia ựình cho ựến ngoài xã hội, thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ rất thuần túy:
ỘDẫu bà lắm gạo nhiều tiền
Bà ở chẳng hiền thì cũng như khôngỢ
[Ca dao Ờ 27, tr.84]
Lòng nhân ấy, tinh thần yêu thương ấy phù hợp với bản chất con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, một dân tộc vốn hiền hòa, dễ mến đồng thời, tinh thần Từ bi lại ựược người dân Việt cụ thể hóa vào thực tiễn bằng sự ựoàn kết, yêu thương lẫn nhau:
Trang 35Hơn thế nữa, theo Phật giáo, tinh thần hiếu hạnh xuất phát bởi lòng Từ
bi, là Bồ Tát hạnh Trên cơ sở ñó, người bình dân ñã biết thể hiện lòng hiếu kính ñối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, xem ñó như là một nền luân lý ñạo ñức thiết yếu mà bổn phận làm con phải chu toàn:
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là ñạo con”
[Ca dao – 27, tr.357]
Phật trời ñối với con người là hình ảnh tinh khiết, tượng trưng cho tình yêu thương, có sự cảm ứng thiêng liêng, chứng giám cho lòng thành của người con hiếu thảo:
“Mỗi ñêm mỗi thắp ñèn trời Cầu cho cha mẹ sống ñời với con”
[Ca dao – 27, tr.351]
Trang 36Sự tôn kính ñức Từ bi ñã quy chiếu vào mô hình tôn kính ông bà, tổ tiên và cầu mong sự ñộ trì của họ Từ sự ảnh hưởng ñó, người Việt ñã biết coi trọng và rất tôn kính những người ñã khuất ðây là nhân tố, là tiền ñề cho sự
ra ñời của tục lệ thờ cúng tổ tiên, ông bà sau này
Ngoài ra, ñiều luật nhà Phật dạy con người thể hiện tinh thần Từ bi của mình vào trong cuộc sống một cách nhẹ nhàng, biết tôn trọng và không gây tổn hại cho bất cứ ai:
“Như ong ñến với hoa Không hại sắc và hương Che chở hoa, lấy nhụy Bậc Thánh ñi vào làng.”
Kệ 49 [5, tr.36]
ðồng thời còn thể hiện tinh thần lấy tình thương xóa bỏ hận thù:
Với hận diệt hận thù ðời này không có ñược Không hận diệt hận thù
Là ñịnh luật ngàn thu
Kệ 5 [5, tr 13]
Sự ảnh hưởng của tinh thần “lấy từ bi diệt hận thù” và “không gây tổn hại cho bất cứ ai” của ðạo Phật khi ñi vào dân gian, ñược cụ thể hóa thành truyện tích Quan Âm Thị Kính, như Nguyễn ðăng Thục nhận ñịnh: “Phật hoàn toàn Việt hóa là sự tích Quan Âm Thị Kính, tượng trưng cho lòng tha thứ vô bờ, tha thứ cho xã hội bất công mà không oán hờn, tha thứ mà chịu ñựng, một lòng tin vào ñức Từ bi hiện thân ñể tuần ñạo” [96, tập 1, tr 388]
ðồng với tinh thần Từ bi bao la ñó, nhân dân ta còn nhắc nhở nhau:
“Cứu ñược một người, phúc ñẳng hà sa”
[Tục ngữ - 45, tr.864]
Trang 37Mức ảnh hưởng ấy cịn đi vào trong từng lối sống, lối cư xử của người dân Việt một cách thiết thực: “Ngày hội hè mùa xuân của nơng dân thường
cĩ một tinh thần thân ái, yêu sống, lạc quan và đồn kết tập thể… những kẻ ngày thường rất thù ốn, đố kỵ nhau mà đến ngày tết gặp nhau đều phải hỉ hả tha thứ cho nhau, giữ hịa khí vui vẻ với nhau để khỏi “xúi”: “Giận đến chết ngày tết cũng thơi” Tục kiêng kỵ này cĩ lẽ là dấu vết cộng đồng thân ái cịn lại trong phong tục ngày xuân” [96, tập 1, tr.143]
ðiều này, chúng ta lại dễ dàng nhận thấy sự ảnh hưởng trực tiếp, thơng qua những giá trị đạo đức chuẩn mực, như thể hiện tình thương trong lối hành
xử với nhau của người dân Việt nam:
Triết lý ấy thật dễ hiểu, dễ cảm nhận và cĩ lẽ điều đĩ đã dạy người dân Việt biết sống đời sống tốt đẹp, lương thiện:
“Giấy rách phải giữ lấy lề”
[Tục ngữ - 45, tr.1281]
“Sống đục sao bằng thác trong”
[Tục ngữ - 46, tr.2402]
Trang 38“Nghèo an phận nghèo”
[Tục ngữ - 46, tr.1968]
Hay như Nguyễn ðăng Thục ñã tự hỏi: “Tại sao tất cả thống khổ của
xã hội Việt Nam lại tìm hẹn hò ñến ngày hội chùa Hương ñể tụ tập cả ở ñây? Phải chăng ñể cảnh tỉnh lòng từ bi của khách mộ Phật? Phải chăng ñể thức tỉnh chút lòng bác ái của thập phương” [96, tập 1, tr 167]
Nương nhờ sự hộ trì của ðấng Từ bi, nên nhân dân ta thường quan niệm Phật trời không phụ lòng người tốt, hễ làm ñiều lành thì sẽ ñược quả lành, sẽ ñược Phật trời giúp ñỡ:
“Ở hiền thì lại gặp lành Những người nhân ñức trời dành phúc cho”
Trang 39Hầu như hình ảnh ông Bụt hiền từ, hay giúp ñỡ người hoạn nạn ấy ñã
ăn sâu vào tâm hồn người dân Việt và luôn ñồng hành trong nếp nghĩ, trong những biểu hiện của con người ðồng thời ñã trở thành hình bóng của lý tưởng Bồ Tát thường ban vui cứu khổ:
“Xin mở lòng Bồ Tát,
Tỏ ñức háo sanh ra tay cứu ñộ”
(Ca dao) ðặc biệt, ngôi chùa là nơi ñể người dân Việt gởi gắm những vui buồn, những mong ước cuộc sống, với tất cả lòng thành hướng về cầu xin ðấng Từ bi:
“Tay bưng quả nếp vào chùa Thắp nhang lạy Phật, xin bùa em ñeo”
(Ca dao)
“Lên chùa lễ Phật quy y Cầu cho tuổi nọ tuổi ni kết nguyền”
(Ca dao) TIỂU KẾT:
Qua việc tìm hiểu ý nghĩa cũng như sự biểu hiện Từ bi theo tinh thần giáo lý Phật giáo, ñủ ñể cho thấy tinh thần Từ bi ñóng vai trò quan trọng trong kho tàng giáo lý nhà Phật Nó như là ñiểm mấu chốt ñể thiết thực ñi vào ñời làm lợi ích cho tha nhân ðiều này ñã thể hiện rõ nét trong suốt quá trình tìm hiểu về sự ảnh hưởng của tinh thần Từ bi trong cuộc sống ñời thường
Dù chỉ ñiểm qua một số câu ca dao, tục ngữ ñiển hình cũng như một vài hình ảnh nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam, song ñã cho ta thấy hầu như triết lý Từ bi của ñạo Phật ñã bám rễ ăn sâu vào ñời sống nhân dân Việt Nam từ lâu ñời Sự tiếp nhận ấy ñược biểu hiện qua cử chỉ và hành ñộng, lời nói và việc làm ñầy tính vị tha, hiếu khách, hiền hòa nhưng bất khuất của
Trang 40người Việt Nam, ñồng thời còn biết thể hiện qua hành ñộng hiếu kính với tổ tiên, ông bà cha mẹ và biết tôn sư trọng ñạo Hay nói cách khác, qua những thể hiện trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ñã cho ta thấy rõ mức ñộ ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Từ bi trong lối sống của người dân Việt, nó gắn
bó mật thiết với con người, với cuộc sống Rõ ràng, ông cha ta vừa tiếp thu tư tưởng Từ bi Phật giáo ñể làm kim chỉ nam, vừa tạo nền luân lý ñạo ñức nhân bản cho cuộc sống