Khu vực hưởng lợi của dự án thuỷ lợi BL-CS được bao bọc bởi các sông lớn, cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt nên trong các tháng mùa khô hầu như nước mặn xâm nhập vào sâu trong nội đồng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS.TS HOÀNG HƯNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
MỤC LỤC
Trang
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
VII CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NC 16
Chương II TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
III ĐẶC ĐIỂM VỀ THỦY VĂN NGUỒN NƯỚC 21
1 Đặc điểm mạng lưới sông rạch 21
3 Tài nguyên sinh vật và sinh thái 44
4 Tài nguyên khóang sản 45
B ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 48
III QUY HỌACH THỦY LỢI NÔNG LÂM NGƯ 49
1 Hiện trạng quy họach thủy lợi tỉnh Bến Tre 49
2 Tình hình sản xuất nông lâm thủy sản 50
Trang 3GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
2.3 Thủy sản 51 2.4 Tình hình phát triển lâm nghiệp 53 2.5 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 53
IV TÌNH HÌNH GIAO THÔNG NÔNG THÔN 54
Chương III DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG SAU KHI XÂY DỰNG HỆ
I HIỆN TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH HỌAT ĐỘNG CỦA HỆ
1 Hiện trạng các công trình thủy lợi 60
1.1 Hiện trạng công trình tưới 60 1.2 Hiện trạng công trình tiêu 60 1.3 Hiện trạng công trình ngăn mặn 60
2 Vận hành của hệ thống các công trình thủy lợi 63
1 Tổng hợp kết qủa điều tra 64
1.1 Kết quả điều tra, đo đạc 64
2.4 Diễn biến chất rắn lơ lững 75
2.6 Diễn biến Ca2+, Mg2+ 77
2.15 Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật 86
3 Kết quả điều tra chất lượng môi trường nước năm
3.1 Chất lượng nước các sông, kênh rạch chính
88 3.2 Chất lượng nước cửa sông ven biển 92 3.3 Chất lượng nước nuôi trồng thủy sản 95 3.4 Chất lượng nước kênh rạch nội đồng 98
Trang 4GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
4.3 Độc tố sắt trong đất Fe2 102 4.4 Độc tố nhôm trong đất Al 3+ 102
5 Diễn biến môi trường sinh thái 104
1 Đối với nước mặt 109
2 Đối với nước ngầm 113
1 Hệ địa sinh thái trong vùng dự án 113
2 Hệ địa sinh thái ngòai vùng dự án 114
3 Hệ thủy sinh trong vùng dự án 114
4 Hệ thủy sinh ngòai vùng dự án 115
V TÁC ĐỘNG ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 122
1 Tác động đến y tế cộng đồng 124
2 Tác động đến cấp nước sinh họat 124
4 Tác động do chuyển đổi cơ cấu sản xuất 125
5 Tác động do đầu tư xây dựng 125
6 Tác động do phát triển hạ tầng 126 Chương V DỰ BÁO DIỂN BIẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT
1 Dự báo diễn biến nguồn nước 127
2 Dự báo diễn biến môi trường sinh thái 129
3 Dự báo diễn biến lòng dẫn 131
II ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU 133
Trang 5GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 6GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
QLMT Quản lý môi trường
Trang 7GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
8 Hình 2.8: Hiện trạng thủy lợi Bến Tre 50
9 Hình 3.1: Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi vùng dự án ngọt
10 Hình 3.2: Hiện trạng thủy lợi Cầu Sập 59
11 Hình 3.3: Sơ đồ vị trí lấy mẩu nước 66
12 Hình 3.4: Kết quả phân tích và biểu đồ pH 68-69
13 Hình 3.5: Kết qủa phân tích và biểu đồ diễn biến mặn 71-72
14 Hình 3.6: Kết qủa phân tích và biểu đồ sắt tổng 73-74
15 Hình 3.7: Kết qủa phân tích và biểu đồ chất rắn lơ lững 75-76
20 Hình 3.12: Kết qủa phân tích và biểu đồ BOD5 79-80
22 Hình 3.14: Kết qủa phân tích và biểu đồ N-NO3- 81-83
24 Hình 3.16: Diễn biến Photphat 84
25 Hình 3.17: Kết quả phân tích và biểu đồ Coliforms 85
26 Biểu đồ pH nước sông rạch chính 2007-2008 89
27 Biểu đồ SS nước sông rạch chính 2007-2008 89
28 Biểu đồ Fe nước sông rạch chính 2007-2008 90
29 Biểu đồ Mn nước sông rạch chính 2007-2008 90
30 Biểu đồ NH4+ nước sông rạch chính 2007-2008 90
31 Biểu đồ NO3- nước sông rạch chính 2007-2008 91
32 Biểu đồ BOD5 nước sông rạch chính 2007-2008 91
33 Biểu đồ Coliforms nước sông rạch chính 2007-2008 92
34 Biểu đồ pH nước cửa song ven biển 2007-2008 92
35 Biểu đồ SS nước cửa song ven biển 2007-2008 92
36 Biểu đồ Fe nước cửa song ven biển 2007-2008 93
37 Biểu đồ Mn nước cửa song ven biển 2007-2008 93
Trang 8GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
38 Biểu đồ NH4+ nước cửa song ven biển 2007-2008 94
39 Biểu đồ dầu mở nước cửa song ven biển 2007-2008 94
40 Biểu đồ BOD5 nước cửa song ven biển 2007-2008 94
41 Biểu đồ Coliforms nước cửa song ven biển 2007-2008 95
42 Biểu đồ pH nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 95
43 Biểu đồ SS nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 96
44 Biểu đồ Fe nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 96
45 Biểu đồ Mn nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 96
46 Biểu đồ NH4+ nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 97
47 Biểu đồ BOD5 nước cửa nuôi trồng thủy sản 2007-2008 97
48 Biểu đồ dầu mở nước cửa nuôi thủy sản 2007-2008 98
49 Biểu đồ Coliforms nước cửa nuôi thủy sản 2007-2008 98
50 Biểu đồ pH nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 99
51 Biểu đồ SS nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 99
52 Biểu đồ Fe nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 99
53 Biểu đồ Mn nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 100
54 Biểu đồ NH4+ nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 100
55 Biểu đồ NO3- nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 100
56 Biểu đồ BOD5 nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 101
57 Biểu đồ Coliforms nước kênh rạch nội đồng 2007-2008 101
58 Một số hình ảnh về mô hình sản xuất 145-147
Trang 9GVHD:PGS.TS HOÀNG HƯNG HVTH: ĐOÀN VĂN PHÚC
5 Bảng 2.5: Mực nước cao nhất theo thiết kế 22
6 Bảng 2.6: Biên độ triều tại một số vị trí trên sông Tiền 23
7 Bảng 2.7: Kết quả các đợt đo lưu lượng 23
8 Bảng 2.8: Phân bổ diện tích theo các cấp cao độ 31
9 Bảng 2.9: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất ven sông HL 35
10 Bảng 2.10: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất ven sông Tiền 39
11 Bảng 2.11: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất ven sông BT 40
12 Bảng 2.12: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất ven cầu An Hóa 41
13 Bảng 2.12: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất ven cống Ba Lai 41
14 Bảng 2.14: Tình hình sử dụng các lọai đất 43
15 Bảng 2.15: Trử lượng cát cấp C2 thượng nguồn 45
16 Bảng 2.16: Trử lượng cát cấp P1 thượng nguồn 45
17 Bảng 2.17: Trử lượng cát cấp P1 hạ nguồn 45
18 Bảng 2.18: Trử lượng cát cấp P2 hạ nguồn 45
19 Bảng 2.19: Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 52
20 Bảng 3.1: Tình hình các cống trong vùng 61-63
21 Bảng 3.2: Kết quả phân tích dầu 86
22 Bảng 3.3: Kết quả phân tích thuốc bảo vệ thực vật 87
23 Bảng 3.4: Kết quả phân tích môi trường đất 103
24 Bảng 3.5: Độ sâu, thể tích đất bị xói của kênh dẫn thượng lưu
25 Bảng 3.6: Độ sâu, thể tích đất bị xói của kênh dẫn hạ lưu 107
26 Bảng 3.7: Độ sâu, thể tích đất bị xói của kênh dẫn thượng lưu
27 Bảng 3.8: Độ sâu, thể tích đất bị xói của kênh dẫn hạ lưu cống
Trang 10CHƯƠNG I:
PHẦN MỞ ĐẦU
- Cũng như các quốc gia trên thế giới, môi trường sinh thái ở nước ta đã
và đang là vấn đề nóng bỏng, là quốc sách hàng đầu của Nhà nước Trong những năm gần đây, sự khai thác bất hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước ta đã làm cho tại nhiều nơi một số nguồn tài nguyên bị cạn kiệt đe dọa nghiêm trọng môi trường sinh thái
Riêng tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do tình hình xâm nhập mặn đang có nguy cơ lan rộng làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt đã đặt ra một vấn đề hết sức cấp bách đòi hỏi ngành thuỷ lợi cần phải xây dựng nhiều hệ thống công trình thủy lợi, trong đó cống đập và hệ thống
đê ngăn mặn nhằm: kiểm soát mặn; tích trữ nguồn nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt , sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Trong thời gian qua nhiều dự án thủy lợi đã được thực hiện để cải tạo hệ sinh thái tự nhiên của ĐBSCL, trong đó hệ thống công trình thuỷ lợi Ba Lai và Cầu Sập (BL-CS) thuộc tỉnh Bến Tre (BT) là một trong số rất ít hệ thống có qui mô và tầm cỡ lớn nhất ở khu vực ĐBSCL với mục đích đáp ứng được việc cung cấp nguồn nước ngọt cho các nhu cầu về sản xuất lương thực, thực phẩm và dân sinh kinh tế
Trong vòng 10 năm trở lại đây, có nhiều công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ đã được xây dựng ở vùng BL-CS để phục vụ cho phát triển nông nghiệp và cải thiện điều kiện sinh hoạt của nhân dân các huyện Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm, Châu Thành và thị xã BT Khu vực hưởng lợi của dự án thuỷ lợi BL-CS được bao bọc bởi các sông lớn, cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt nên trong các tháng mùa khô hầu như nước mặn xâm nhập vào sâu trong nội đồng làm cho nhiều vùng bị thiếu nước ngọt trầm trọng, tình trạng hạn hán xảy ra thường xuyên nhất là thời kì từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm khi các con sông BT - Chẹt Sậy - Giao Hòa bị mặn xâm nhập làm cho toàn bộ phía Đông của các sông nói trên không có đủ nước để sản xuất và sinh hoạt, sản lượng cây trồng
và năng suất đều thấp Chất lượng nước trên hệ thống kênh rạch cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm bởi vì, do tập quán của người dân từ lâu đời sinh sống dọc bờ sông, các hoạt động giao thông thủy, các hoạt động nuôi trồng và chế biến hải sản, các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, trong đó rất đáng chú ý
là trong những năm gần đây tình trạng sử dụng bừa bãi các loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ đã làm nguồn đất và hầu như nguồn nước mặt của các sông rạch trong tỉnh nói chung bị ô nhiễm nặng nề Thêm vào đó là nguồn nước ven biển cũng như trong các vùng nuôi trồng thủy sản cũng bị ô nhiễm do quá trình khai thác và nuôi trồng không tuân thủ theo các quy định cũng như luật bảo vệ môi trường Ngoài ra, nước thải của các cơ sở sản xuất, lò mổ súc vật đều thải ra sông, rạch cũng như hiện tượng sạt lở, gây nhiễm mặn v.v… đã
Trang 11và đang làm cho môi trường nước và hệ sinh thái ngày càng có xu hướng xấu
đi
Mặt khác, một số vùng rộng lớn ven biển trên địa bàn tỉnh BT đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa một vụ sang nuôi tôm hay kết hợp cả trồng lúa và nuôi tôm đã làm cho tình hình xâm nhập mặn diễn biến rất phức tạp Nếu như không có các biện pháp kiểm soát thì trong tương lai có thể mang lại những hậu quả không lường trước được Thực tế cho thấy, mô hình trồng lúa một vụ, nuôi tôm một vụ hay trồng lúa và nuôi tôm kết hợp trong thời gian vừa qua đã mang lại những kết quả tích cực, tuy nhiên mức độ rủi ro cũng rất lớn làm cho nhiều cơ sở kể cả của Nhà nước và tư nhân gặp rất nhiều khó khăn Hơn nữa, nhiều nơi đã dẫn nước mặn vào trong nội đồng để nuôi tôm, hay khai thác nguồn tài nguyên nước bộc phát không theo quy hoạch đã góp phần làm cho không những nguồn nước bị nhiễm mặn mà cả đất cũng bị nhiễm chua, nhiễm phèn không thể canh tác được Tất cả những vấn đề trên
đã làm cho hệ sinh thái và môi trường có những biến đổi tiêu cực và có nguy
cơ đe dọa môi trường ở các vùng ven biển
Thực hiện quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính phủ trong chiến lược phát triển toàn diện ĐBSCL gồm ba vấn đề lớn về chống lũ cấp bách, phát triển các vùng ngọt hoá và xây dựng các tuyến giao thông cũng như khu dân cư, Dự án thủy lợi ngọt hóa Bắc tỉnh BT bao gồm cống đập BL và 1 số hạng mục hệ thống thủy lợi CS đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, đặc biệt cống đập BL được đưa vào vận hành tháng 9 năm 2002
Sau khi cống đập BL và một số công trình thuỷ lợi khác đi vào hoạt động trong lúc dự án BL-CS chưa hoàn chỉnh sẽ có phát sinh diễn biến phèn, tiêu chua, xâm nhập mặn ô nhiễm môi trường đất, nước, hệ sinh thái, hiện tượng phú dưỡng hoá có tác động đến sản xuất, đời sống và hệ sinh thái khu vực dự án Để đánh giá một cách khách quan cái được và những tồn tại, cần thiết điều tra diễn biến tác động của môi trường sau khi xây dựng hệ thống cống đập BL-CS , từ đó định hướng các giải pháp tổng hợp để khai thác hợp
lý tối ưu vùng dự án và hạn chế diễn biến môi trường các vùng nhạy cảm là vấn đề cần thiết tất yếu hình thành đề tài
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
ĐBSCL là một hệ thống hở, thấp chịu tác động của chế độ thủy văn bán nhật triều biển Đông và nhật triều biển Tây Toàn bộ diện tích của 8 tỉnh ven biển ĐBSCL là 2,86 triệu ha Trước đây diện tích bị xâm nhập mặn ở vùng ven biển ở mức 1g/l là 2,1 triệu ha, mức 4g/l là 1,7 triệu ha, hiện nay đã giảm
và đang biến đổi nhiều do sự phát triển hạ tầng thủy lợi và thay đổi mô hình canh tác Các hệ thống thủy lợi được xây dựng đã đóng góp khá nhiều cho việc phát triển nền kinh tế xã hội, gia tăng các sản phẩm nông nghiệp cho vùng hưởng lợi Tuy nhiên, sau khi các hệ thống thủy lợi (HTTL) xuất hiện cũng tồn tại nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu giải quyết, trong đó
Trang 12việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước là một vấn đề rất cần quan tâm khi chuyển đổi từ hệ sinh thái nước mặn, lợ sang hệ sinh thái nước ngọt của một khu vực
Đánh giá được thực trạng nguồn nước, đề xuất giải pháp phù hợp cho việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước cho tương lai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường trong tình hình hiện nay của cả nước nói chung
HTTL Ba Lai đã được vận hành cũng là một trong các HTTL lớn của tỉnh Bến Tre cũng sẽ mang lại hiệu quả thấp nếu giải pháp sử dụng và bảo vệ nguồn nước tại đây không được chú trọng Luận văn này nhằm nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển, bảo vệ nguồn nước HTTL
Ba Lai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường trong vùng nghiên cứu
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI :
- Đánh giá đầy đủ, chính xác diễn biến môi trường nước trong vùng sau khi các công trình của hai hệ thống BL-CS đưa vào sử dụng
- Kiến nghị các giải pháp kỹ thuật để khai thác các mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực để bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững trong vùng nghiên cứu
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là diễn biến chất lượng môi trường nước và sinh thái cũng như các vấn đề ô nhiễm nguồn nước, suy giảm môi trường
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài này ngoài khu vực nghiên cứu là hệ thống thủy lợi Ba Lai - Cầu sập còn xem xét đến các khu vực lân cận có liên quan, ảnh hưởng đến vùng hưởng lợi của hệ thống Ba Lai - Cầu Sập
VI TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU:
1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Từ những năm cuối thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, điều tra, đánh giá tác động môi trường Môi trường đã là mối quan tâm của quốc tế bởi vì suy thoái môi trường ngày càng gia tăng trên thế giới Đánh giá tác động môi trường đã phát triển rất sớm tại các nước có nền khoa học phát triển như Pháp, Mỹ, Nga … và sau đó là các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc … Ngoài ra, lĩnh vực này cũng được các tổ chức tài chính lớn như Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) quan tâm trong việc ra quyết định hỗ trợ tài chính cho các nước trong quá trình phát triển kinh tế
Trang 13Tại châu Mỹ La Tinh: báo cáo quy hoạch tổng hợp phát triển vùng được thực hiện bởi cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (năm 1984) Báo cáo này chỉ rõ sự cần thiết phải kết hợp quản lý môi trường (QLMT) vào trong phát triển bền vững (PTBV) kinh tế vùng ngay từ đầu
Tại châu Á: trong khoảng thời gian trùng với các dự án QLMT tại Châu
Mỹ La Tinh cũng nổi lên mối quan tâm về việc kết hợp các khía cạnh kinh tế
và môi trường Các dự án tương đối khác nhau về mức độ kết hợp kinh tế – môi trường đã diễn ra tại Indonesia, Hàn Quốc, Philipin, Malaysia và Thái Lan
Bảng: Tóm tắt một số dự án nghiên cứu vùng tại Châu Á
Năm hoàn thành
Diện tích (km 2 )
Dân số (1.000 người)
Nghiên cứu quy
Dự án cải thiện môi
Trang 141987 890 700
Thiếu về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước
Nguồn: ADB, Guidelines for Intergrated Regional
Economic-cum-Environmental Development Planning- A Review of Regional Economic-cum-Environmental
Development Planning Studies in Asia,1991
Tại thời điểm thập niên 80, có 8 dự án QHMT, đánh giá tác động môi trường tại châu Á thì đã có 5 dự án vùng; 02 dự án lồng ghép trong phát triển kinh tế và 01 dự án quy hoạch cải thiện chất lượng môi trường vùng Nhìn chung mỗi nghiên cứu đều có một số thiếu sót nhất định, nhất là chưa đề cập một cách đầy đủ các khía cạnh môi trường, thể chế và kinh tế của vùng quy hoạch
2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
Tại Việt Nam nói chung còn tương đối mới mặc dù vấn đề này đã được quan tâm từ lâu Kể từ năm 1998, 1999, Cục Môi trường (nay là Tổng cục Môi trường) đã tổ chức thực hiện những nghiên cứu đầu tiên về Đánh giá tác động môi trường:
- ĐTM các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, huyện Đức Hòa - tỉnh Long An cũng đã được Trung tâm Kỹ thuật Môi trường thực hiện và hoàn thành trong năm 2007
Trang 15- Và nhiều các nghiên cứu khác về ĐTM các dự án, các lưu vực sông như Sông Nhuệ, Sông Đáy, Sông Đồng Nai, Sông Cữu Long
Nhìn chung các nghiên cứu trên chỉ chú trọng nghiên cứu về mặt môi trường tự nhiên mà còn yếu về phân tích kinh tế, chưa làm rõ mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và bảo vệ môi trường (BVMT)
Đặc biệt là mới đây có 2 đề tài thuộc chương trình "Bảo vệ Môi trường
và Phòng tránh thiên tai" (KC-08) và 1 nhiệm vụ trọng điểm cấp Nhà nước đã được nghiệm thu cấp cơ sở và cấp Nhà nước là:
- Đề tài: Nghiên cứu xây dựng ĐTM phục vụ phát triển KTXH vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) (KC.08.02) do cố GS.TS Lê Quý An làm chủ nhiệm đề tài
- Đề tài: Nghiên cứu xây dựng QHMT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT) (TP Đà Nẵng, các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi) (KC.08.03) do PGS.TS Phùng Chí Sỹ làm chủ nhiệm đề tài
- Nhiệm vụ trọng điểm: Nghiên cứu xây dựng QHMT phục vụ PTBV vùng Đông Nam Bộ do GS.TS Lâm Minh Triết làm chủ nhiệm đề tài
Đây là ba đề tài lớn và toàn diện về nghiên cứu QHMT, ĐTM Trong
đó, mỗi đề tài tiếp cận theo mỗi hướng tương đối khác nhau nhưng về cơ bản
đã thống nhất về khái niệm, mục tiêu, nội dung và các kỹ thuật, công cụ sử dụng để xây dựng QHMT, ĐTM
Trong thời gian qua, Bến Tre có khá nhiều đề tài nghiên cứu đánh giá diễn biến chất lượng tài nguyên, môi trường và đề xuất các biện pháp bảo vệ, trong đó có các đề tài như: Đề tài nghiên cứu điều tra diễn biến môi trường sau khi xây dựng hệ thống Quới Điền - kiến nghị các giải pháp tổng hợp cải thiện tình hình ô nhiễm do Viện Tài nguyên và Môi trường, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện năm 2005; Đề tài điều tra diễn biến lòng dẫn trên các sông chính tỉnh Bến Tre do Viện kỹ thuật Nhiệt đới thực hiện, các đề tài do ngành Khoa học và Công nghệ thực hiện và quản lý Hàng năm, Ngành Tài nguyên và Môi trường đều thực hiện việc đánh giá diễn biến môi trường trên toàn tỉnh Trong đó, vấn đề môi trường nước được đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, các đề tài trước đây nghiên cứu một cách tổng quát, nhiều lĩnh vực như đất, nước, không khí, đa dạng sinh học, sạt lỡ, bồi tụ Chưa chuyên sâu về diễn biến môi trường nước do công trình thủy lợi tác động đến các yếu tố về kinh tế, xã hội trong vùng Đề tài này sẽ đi sâu vào hướng nghiên cứu diễn biến chất lượng môi trường nước sau khi xây dựng xong một công trình cống đập, phân tích mặt lợi hại của công trình và đề xuất giảm thiểu các tác động tiêu cực, nhằm phát triển bền vững khu vực dự án
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện địa lý, khí tượng địa chất và thủy văn, cơ sở hạ tầng, điều kiện dân sinh kinh tế xã hội trong vùng nghiên cứu
Trang 16- Thu thập các tài liệu về tình hình hoạt động của các công trình của hai
hệ thống
- Điều tra khảo sát đánh giá chất lượng môi trường nước trong vùng nghiên cứu
- Điều tra về tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái vùng nghiên cứu
- Điều tra về hiện trạng kinh tế xã hội như các hoạt động sản xuất (nông nghiệp, chăn nuôi, khai thác tài nguyên, công nghiệp…) đời sống dân sinh và tình hình sử dụng nguồn nước và sinh hoạt trong vùng
- Điều tra khảo sát đánh giá tình hình hoạt động của các công trình của hai hệ thống trong vùng nghiên cứu
- Điều tra khảo sát đánh giá tình hình thủy văn dòng chảy của vùng nghiên cứu
- Đánh giá tác động của các hoạt động công trình thủy lợi, sản xuất, dân sinh tới chất lượng nước cũng như tác động của môi trường đến các hoạt động sản xuất dân sinh, nuôi trồng thủy sản
- Đưa ra dự báo diễn biến về chất lượng môi trường nước trong vùng
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến diễn biến môi trường trong vùng nghiên cứu
- Đề xuất phướng hướng phát triển cần thiết để cải thiện nhằm khai thác
và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng
VI Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1 Về mặt khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài cho ta một bức tranh
tổng hợp diễn biến môi trường, các tác động môi trường từ xây dựng công trình của dự án BL-CS , đây là cơ sở khoa học bước đầu cho việc đề xuất các nhiệm vụ nghiên cứu trong giai đoạn sau cũng như các bước trong hoạch định đầu tư dự án, quy hoạch sử dụng đất, nước
2 Về mặt kinh tế - xã hội: Kết quả đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý có
cách tiếp cận và cách nhìn đúng hơn về thực trạng môi trường và các nghiên cứu tác động môi trường để quy hoạch và phát triển hợp lý các tiểu vùng cho phù hợp thực tế, tránh quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng bất hợp lý
3 Về môi trường sinh thái:
- Từ kết quả đánh giá thực trạng chất lượng môi trường khu vực nghiên cứu qua đó có cách nhìn tổng quát và thực tế hơn
- Các kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở cải tạo, hạn chế các tác động môi trường xấu trong thời gian tới
- Cảnh báo các hiện tượng, các nguồn gốc ô nhiễm môi trường, từ đó góp phần nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái chung
Trang 17VII CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Cách tiếp cận
Cách tiếp cận vấn đề để thực hiện đề tài được thể hiện qua các bước sau:
1.1 Tiếp cận toàn diện, hệ thống, thực tiễn và tổng hợp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài này ngoài khu vực nghiên cứu còn xem xét đến các khu vực lân cận có liên quan, ảnh hưởng đến vùng hưởng lợi của
1.3 Tiếp cận quan điểm phát triển bền vững
Vấn đề quản lý, khai thác phát triển bền vững khu vực hưởng lợi được xem xét đồng thời cả hai khía cạnh: thời gian và lãnh thổ Nhưng diễn biến có lợi này hiện nay không được mâu thuẫn phát triển về sau Phát triển bền vững khu vực hưởng lợi không được ảnh hưởng đến phát triển lâu dài về sau của các khu vực xung quanh
2 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp sau sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài:
- Phương pháp hồi cứu các tài liệu liên quan đến địa hình khí tượng thủy văn, chất lượng nước, nông hoá thổ nhưỡng, các tài liệu về hiện trạng các công trình thủy lợi thuộc vùng nghiên cứu đã có tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre và các cơ quan quản lý trong và ngoài tỉnh
- Phương pháp thống kê nhằm thu thập, xử lý các số liệu về khí tượng, thuỷ văn, dòng chảy, kinh tế xã hội trong vùng
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa:
Trang 18+ Điều tra hiện trạng về tình hình sử dụng nước sinh hoạt nông thôn, hiện trạng sản xuất nông ngư thủy hải sản, hiệu quả của các công trình thủy lợi được thực hiện
+ Thu thập số liệu, điều tra thực tế
+ Quan trắc trực tiếp lấy mẫu
- Phương pháp Bản đồ
- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp phân tích đánh giá số lượng, dự báo và lập báo cáo
- Phương pháp chuyên gia
Trang 19tự nhiên là 136.250 ha Phạm vi dự án được xác định bởi: phía Đông Bắc giáp sông
Mỹ Tho, sông cửa Đại; phía Tây Nam giáp sông Hàm Luông; phía Đông Nam giáp biển Đông
Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu
Trang 20II ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU KHÍ TƯỢNG:
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu điều hòa theo năm và có các đặc trưng sau:
1 Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm giữa các khu vực trong vùng biến đổi tương đối ổn định, bình quân nhiệt độ cả năm 27,09oC; nóng nhất vào tháng IV: 29,1oC, mát nhất vào tháng XII: 25,2oC
Kết quả quan trắc trong thời kỳ 1991 - 2002, xu thế biến động nhiệt độ ở BT bình quân 0,085oC/năm, diễn ra không đồng nhất giữa các mùa (mùa khô và mùa mưa) Nền nhiệt độ vào mùa mưa và mùa khô có xu thế tăng cao từ 0,3 - 1,9oC Trong mùa mưa, nền nhiệt độ tăng đột biến vào tháng VII, VIII khoảng 1,2 - 1,9oC Vào mùa khô nền nhiệt độ tăng tương đối đều
Trong kỳ khảo sát 1996 - 2003, nền nhiệt độ ở BT trong 5 năm (1997, 1998,
1999, 2000, 2001 và 2002) có nhiệt độ trung bình cả năm vượt trên trung bình nhiều năm, các năm còn lại ở mức dưới trung bình nhiều năm trở xuống Dự báo đến năm 2010, nền nhiệt độ BT sẽ tăng lên 0,85oC, tức nhiệt độ trung bình cả năm vào năm 2010 đạt 28,43oC
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình (oC) tháng trạm Bến Tre
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
I 24,1 26,7 26,0 26,1 26,0 25,4 25,3 25,6 24,7
II 26,3 26,6 25,8 26,2 26,0 25,7 26,4 25,1 26,1 III 26,7 28,2 27,8 27,5 27,8 27,1 27,8 27,1 27,0
IV 28,1 29,2 27,5 28,2 29,3 29,3 29,1 29,2 28,8
V 28,7 30,1 27,7 28,1 28,4 29,1 28.0 28,7 29,0
VI 28,3 28,5 27,2 27,6 27,3 27,9 28.3 27,4 28,1 VII 27,0 28,1 26,8 27,1 27,6 25,2 26.9 27,3 26,6 VIII 27,2 27,4 27,0 27,2 27,0 26,8 27.3 27,0 27,4
IX 27,4 27,2 27,4 27,3 27,6 27,3 27,0 27,2 27,1
X 27,1 27,0 26,7 26,6 27,1 27,0 26.6 26,6 27,2
XI 27,0 26,4 26,7 26,7 25,9 27,2 27,1 27,5 26,8 XII 26,6 25,3 24,6 26,2 25,9 27,1 25.2 25,2 25,4
Trang 212 Lượng mưa:
Trong kỳ khảo sát 1991 - 2002, lượng mưa trung bình năm của toàn tỉnh
không cao so với cả nước, biến động từ 966mm - 2.084,6mm, phân bố thành 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng V đến XI và mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau
Trong các năm 2001 và 2002, mùa mưa đến sớm hơn trung bình nhiều năm vào
khoảng 5 - 20 ngày Trong suốt mùa khô lượng mưa chỉ đạt 1,5 - 5,7% tổng lượng
mưa cả năm Mùa mưa năm 2008 đến sớm hơn mọi năm gần 1,5 tháng và lượng
mưa đầu mùa cũng nhiều hơn Có nơi trong tháng IV lượng mưa rất cao như: Thị
xã là 421,5mm, gấp 10 lần so với cùng kỳ hàng năm và cao nhất trong suốt 21 năm
qua Lượng mưa trung bình 24 giờ có xuất hiện đến 144mm vào ngày 04/04/1999
tại Thị xã BT Nguyên nhân theo đánh giá của Trung tâm Dự báo phục vụ khí
tượng thủy văn BT, là do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina Lượng mưa hàng
năm có xu thế cao, mật độ mưa dày hơn
3 Gió:
Trong mùa mưa, từ tháng V - XI, gió hình thành theo hướng Tây - Tây Nam
chiếm 60 - 70%, tốc độ trung bình 2 - 3,9m/s, tối đa 20m/s Trong mùa khô có gió
Chướng, hướng gió thống trị là Đông - Đông Bắc xảy ra từ tháng XII - IV năm sau
Mặc dù tỉnh BT không bị ảnh hưởng trực tiếp các cơn bão và áp thấp nhiệt đới toàn
khu vực Bắc biển Đông (ngoại trừ cơn bão số 5 xảy ra vào năm 1997) nhưng cũng
làm thay đổi đáng kể tình hình thời tiết Những tháng có nhiều bão và áp thấp nhiệt
đới ảnh hưởng đến BT có xu thế lùi gần về cuối mùa mưa bão, từ tháng IX đến XI
Vào các thời điểm giao mùa mùa khô với mùa mưa và ngược lại xuất hiện các cơn
gió xoáy làm nước biển dâng cao, tần xuất xuất hiện ngày càng cao và đã gây thiệt
hại lớn đối với cây trồng và vật nuôi
4 Chế độ ẩm:
Độ ẩm trung bình hàng năm ít thay đổi Thống kê qua nhiều năm cho thấy
độ ẩm trung bình là 80% Tháng IV là tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm (74,8%),
tháng VIII có độ ẩm lớn nhất trong năm (83%) Nhìn chung, không có sự chênh
lệch lớn về độ ẩm, độ ẩm của các tháng mùa khô thấp hơn từ 5 - 10% độ ẩm của
các tháng mùa mưa
Bảng 2.2: Độ ẩm trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm đo bằng ống Piche tại Mỹ Tho là
1.117mm, bình quân là 3,3mm/ngày Tháng III có lượng bốc hơi lớn nhất là
133mm, bình quân là 4mm/ngày Tháng X có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 72mm,
trung bình là 2,5mm/ngày
Trang 22Bảng 2.3: Bốc hơi trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Bốc hơi
(mm/tháng)
111 126 133 129 93 87 90 90 75 72 81 90 1.117
III ĐẶC ĐIỂM VỀ THỦY VĂN NGUỒN NƯỚC:
1 Đặc điểm mạng lưới sông rạch
* Sông lớn: khu vực nghiên cứu đề tài có 3 sông lớn nằm trong hạ lưu sông Cửu Long chảy ra biển Đông là: Sông Mỹ Tho, sông BL, sông Hàm Luông với tổng chiều dài 232 km và sông Giao Hòa - Chẹt Sậy dài khoảng 18 km Các sông này nối với hệ thống kênh rạch nội đồng khá phát triển Thông số của các sông lớn như sau:
- Sông Mỹ Tho - Cửa Đại: Là phân giới phía Bắc của vùng dự án có chiều dài 90 km, lòng sông rộng từ 550m đến 2300 m, cao trình đáy sông từ (-7.0) đến (-14.0) m
- Sông Ba Lai: Chảy theo hướng Tây - Đông qua trung tâm vùng BL có chiều dài 70 km, lòng sông bị thoái hóa rất nhanh sau khi có kênh đào Giao Hoà - Chẹt Sậy cắt ngang qua, từ ngã tư An Hóa đến thượng nguồn lòng sông hẹp và nông, độ rộng trung bình là 18 - 20 m, cao trình đáy sông từ (-4) đến (+0.4) m ở phía đông lòng sông mở rộng từ 400 đến 1200 m, cao độ đáy sông từ (-5.0) đến (-8.0) m
- Sông Hàm Luông: Là giới hạn phía Nam vùng dự án có chiều dài 72 km, lòng sông rộng và sâu, rộng trung bình từ 500 - 700 m, cao trình đáy sông từ (-9.0) đến (-13.0) m
- Sông BT- Giao Hòa - Chẹt Sậy: Là sông đào nối giữa sông Hàm Luông với sông Mỹ Tho và cắt ngang qua sông BL theo hướng Bắc Nam thành trục gia thông thủy Quốc gia, chiều dài sông là 18 km, lòng sông rộng trung bình từ 200 đến 300
m, cao trình đáy sông từ (-5.0) đến (-6.0) m, chỗ sâu nhất tới (-12.0) m
* Hệ thống kênh rạch nội đồng: phần lớn chảy theo hướng Bắc - Nam, trung bình cứ 1 km có 1 cửa rạch rộng từ 30 đến 60 m và thu hẹp nhanh về phía nội đồng, độ sâu trung bình từ 2.5 đến 3.0m, tổng chiều dài gần 300 km
BT là tỉnh duy nhất ở ĐBSCL có rất nhiều cửa sông lớn như cửa Đại, cửa BL, Hàm Luông, Cổ Chiên - Cung Hầu Với hệ thống nhiều cửa như thế kết hợp với địa hình bằng phẳng, cho nên vào mùa gió chướng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa tỉnh Vào mùa khô, lượng mưa trong tỉnh hầu như không có hoặc rất thấp, lượng nước thượng nguồn về ít thì hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh bị nhiễm mặn cho nên các chế độ về thủy văn của tỉnh BT là khá phức tạp so với các tỉnh khác
Thủy triều biển Đông với chế độ bán nhật triều không đều tác động vào khu vực dự án có hai dạng:
Trang 23Chế độ thuỷ triều Biển Đông có dạng bán nhật triều không đều với chu
kỳ 24h50’, chu kỳ nửa tháng 13 -14 ngày Ngày có 2 đỉnh, 2 chân, chênh lệch giữa 2 đỉnh triều khoảng 0.2 - 0.3m, chênh lệch giữa 2 chân triều khá lớn 1 - 2m
Thuỷ triều Biển Đông tác động mạnh quanh năm trên phạm vi toàn vùng dự án ngay cả trong mùa lũ, tháng X và tháng XI (thời kỳ đỉnh lũ sông
Mê Kông) ảnh hưởng mạnh nhất của lũ sông Mê Kông, biên độ thuỷ triều tại
Mỹ Tho, Mỹ Thuận, Chợ Lách đạt trị số lớn nhất vào tháng IX và X nhưng các trạm ở phía đông Bình Đại, Vàm Kênh, Bến Trại đạt trị số mực nước lớn nhất tháng XII, tháng I và thấp nhất vào tháng VI và VII Trị số mực nước lớn nhất năm và tần suất như bảng sau:
Bảng 2.4 : Mực nước bình quân tháng lũ lớn nhất
Tr¹m
§Æc tr−ng
Mü Tho
Mü ThuËn
Chî L¸ch
B×nh
§¹i
Vµm Kªnh
T©n Thuû
BÕn Tr¹i Zmax (cm)
Trang 24Mực nước đỉnh triều bỡnh quõn ngày của hầu hết cỏc thỏng trong năm thường đạt trị số lớn hơn +1.0 m, tạo điều kiện tưới tự chảy thuận lợi cho cỏc khu vực đất cú cao độ thấp hơn +0.7 m
Mực nước chõn triều bỡnh quõn ngày cỏc thỏng IX, X ở Mỹ Tho thường đạt trị số lớn nhất trong năm, chỉ cú Hmin < -50 cm, thỏng IX cú Hmin < -93cm, thỏng X cú Hmin < -80 cm, nờn vựng dự ỏn hầu như tiờu tự chảy quanh năm
Bảng 2.6: Biờn độ triều tại một số vị trớ trờn sụng Tiền (đơn vị: cm)
Nguồn: Sở Tài nguyờn và Mụi trường Bến Tre Biờn độ triều giảm nhanh từ cửa sụng lờn thượng lưu, từ mựa kiệt sang mựa lũ
Xu thế mực nước Hbqmax, Hbqmin, Hbq trờn sụng Mỹ Tho (ngang từ
Mỹ Tho sang Mỹ Hoỏ) thường cao hơn phớa sụng Hàm Luụng, điều này chứng tỏ trờn sụng Mỹ tho ngoài lượng dũng chảy 10.5% 8.6% trờn sụng Hàm Luụng, cũn một phần lượng dũng chảy từ cỏc kờnh rạch vựng Đồng Thỏp Mười bổ sung thờm Mặt khỏc, khi triều lờn dũng chảy theo cỏc kờnh rạch từ sụng Mỹ Tho vào sụng BL mạnh hơn và chõn triều ở Mỹ Hoỏ thấp hơn lại gần biển nờn phần lớn rỳt theo hướng này khi triều xuống, phần cũn lại rỳt ra sụng Mỹ Tho, cửa Đại Đợt đo 5-10/III-1990 và 21/V-5/VI-1999, như bảng sau sẽ thể hiện nội dung trờn
Bảng 2.7 : Kết quả cỏc đợt đo lưu lượng
Thời gian Vị trí Qmax(+) Qmax (-) Qbq Hướng chảy
5-10/III-1990
An Hóa
Ba Lai Chẹt Sậy
594
699
1727
-752 -794 -1360
22.2 31.2 6.2
Từ sông Cửa Đại về Ba Lai ra biển
Về phía sông Ba Lai 21/V đến
29.1 53.4 10.6
Từ sông Cửa Đại về Ba Lai ra biển
Từ sông Cửa Đại về
BL Nguồn: Sở Tài nguyờn và Mụi trường Bến Tre
Ta thấy tuy Qmax (+) nhỏ hơn Qmax (-) nhưng thời gian lưu lượng chảy từ sụng Cửa Đại và sụng Hàm Luụng về phớa sụng BL nhiều hơn Tại
Trang 25Chẹt Sậy có lưu lượng chảy xuôi 1727m³/s và chảy ngược -1360m³/s khá lớn
do khi triều lên dòng chảy từ sông Cửa Đại và sông BL vào khu vực rộng lớn của lưu vực sông Giồng Trôm, khi triều xuống lượng dòng chảy của sông Giồng Trôm rút ra còn lượng dòng chảy từ sông Hàm Luông rút theo sông BL (độ sâu lớn và gần biển hơn), địa hình thấp hơn Do khoảng cách từ sông Mỹ Tho đến sông BL gần hơn từ sông Hàm Luông đến sông BL, sông Cửa Đại có dòng chảy lớn hơn lại được bổ sung thêm nên lưu lượng từ phía sông Mỹ Tho và sông Cửa Đại chảy vào sông BL gấp 3 - 4 lần từ sông Hàm Luông vào sông BL
Thống kê tài liệu thủy văn cho thấy trong mùa cạn, sông Tiền được phân phối 52% tổng lượng nước từ thương nguồn đổ về Tài liệu thực đo mùa kiệt cho thấy lưu lượng chảy vào đồng bằng là 5.920m3/s, trong đó sông Tiền nhận được một lưu lượng là 3.078m3/s, tương đương với 52% và được phân phối vào các sông như sau:
* Phân phối dòng chảy vào mùa cạn:
- Sông Mỹ Tho: 710,4 m3/s tương đương với 12%
+ Sông Cửa Tiểu: 236,8 m3/s tương đương với 4%
+ Sông Cửa Đại: 473,6 m3/s tương đương với 8%
- Sông Ba Lai: 59,0 m3/s tương đương với 1%
- Sông Hàm Luông: 828,8 m3/s tương đương với 14%
- Sông Cổ Chiên: 1480, 0 m3/s tương đương với 25%
+ Cửa Cổ Chiên: 710,0 m3/s tương đương với 12%
+ Cửa Cung Hầu: 769,6 m3/s tương đương với 13%
* Phân phối dòng chảy vào mùa lũ:
Vào mùa lũ thì lưu lượng nước của toàn ĐBSCL là 24.000m3/s, trong
đó lưu lượng sông Tiền là 12.480m3/s và được phân phối vào các sông như sau:
- Sông Mỹ Tho: 2.880m3/s tương đương với 12%
+ Sông Cửa Tiểu: 960m3/s tương đương với 4%
+ Sông Cửa Đại: 1.920m3/s tương đương với 8%
- Sông Ba Lai: 240m3/s tương đương với 1%
- Sông Hàm Luông: 3.360m3/s tương đương với 14%
- Sông Cổ Chiên: 6.000m3/s tương đương với 25%
+ Cửa Cổ Chiên: 2.880m3/s tương đương với 12%
+ Cửa Cung Hầu: 3.120m3/s tương đương với 13%
Trang 26Khối lượng nước trên đây là nước ngọt, còn khi có tác động của thủy triều thì sẽ tạo thành nước từ mặn cho đến lợ
* Phân phối dòng chảy vào tháng cạn nhất:
Tháng IV là tháng có lưu lượng chảy vào ĐBSCL thấp nhất, chỉ có 1.795m3/s, trong đó sông Tiền là 933m3/s và các sông được phân phối như sau:
- Sông Mỹ Tho: 215,4m3/s tương đương với 12%
+ Sông Cửa Tiểu: 71,8m3/s tương đương với 4%
+ Sông Cửa Đại: 143,6m3/s tương đương với 8%
- Sông Ba Lai: 17,9m3/s tương đương với 1%
- Sông Hàm Luông: 251,3m3/s tương đương với 14%
- Sông Cổ Chiên: 44,8,m3/s tương đương với 25%
+ Cửa Cổ Chiên: 215,4 m3/s tương đương với 12%
+ Cửa Cung Hầu: 233,4m3/s tương đương với 13%
* Phân phối dòng chảy vào tháng có lũ lớn nhất:
Tháng IX là tháng có lưu lượng chảy vào đồng bằng lớn nhất, đạt 30.080m3/s, trong đó sông Tiền là 15.600m3/s và các sông được phân phối như sau:
- Sông Mỹ Tho: 3.600m3/s tương đương với 12%
+ Sông Cửa Tiểu: 1.200m3/s tương đương với 4%
+ Sông Cửa Đại: 2.400m3/s tương đương với 8%
- Sông Ba Lai : 300m3/s tương đương với 1%
- Sông Hàm Luông: 4.200m3/s tương đương với 14%
- Sông Cổ Chiên: 7.500m3/s tương đương với 25%
+ Cửa Cổ Chiên: 3.600m3/s tương đương với 12%
+ Cửa Cung Hầu: 3.900m3/s tương đương với 13%
* Phân phối dòng chảy năm:
Theo tài liệu đo đạc, ở ĐBSCL trung bình hàng năm nhận được một lượng nước chảy vào từ Campuchia là 13.500m3/s, trong đó sông Tiền nhận được một lượng nước là 7.020m3/s và các sông được phân phối như sau:
- Sông Mỹ Tho: 1.620m3/s tương đương với 12%
+ Sông Cửa Tiểu: 540m3/s tương đương với 4%
+ Sông Cửa Đại: 1.080m3/s tương đương với 8%
- Sông Ba lai: 135m3/s tương đương với 1%
Trang 27- Sông Hàm Luông: 1.890m3/s tương đương với 14%
- Sông Cổ Chiên: 3.375m3/s tương đương với 25%
+ Cửa Cổ Chiên: 1.620 m3/s tương đương với 12%
+ Cửa Cung Hầu: 1.755m3/s tương đương với 13%
Qua các kết quả đo đạc trên thì tỉnh BT thiếu nước ngọt trầm trọng, kể cả nước mưa tại chỗ và nước nguồn
• Nguồn nước mặt:
Nguồn nước mặt ở vùng dự án được xem là khá dồi dào do được bao bọc bởi sông Hàm Luông về phía Tây và Tây - Nam với tổng chiều dài là 22,5km (thuộc phạm vi vùng dự án) và phía Đông - Bắc, cách vùng dự án 10 - 15km
là sông BL Tuy nhiên, chất lượng nước lại rất kém do nhiễm mặn nên khả năng khai thác nước mặt phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt lại rất hạn chế Nước mưa là lượng nước mặt quan trọng bổ sung cho khu vực
Về mùa khô, độ mặn 4g/l đã ảnh hưởng từ tháng II và tăng dần nồng độ cũng như phạm vi ảnh hưởng lên vượt khỏi ranh giới phía Tây - Bắc vùng dự
án Do đó chất lượng nước của sông Hàm Luông chỉ có thể sử dụng cho nông nghiệp bắt đầu từ cuối tháng VI đến đầu tháng I, nên hầu hết diện tích canh tác dọc theo sông Hàm Luông của vùng dự án chỉ canh tác được một vụ lúa mùa mưa
Vùng dự án còn được hưởng nguồn nước mặt dẫn từ sông BL qua rạch Cây Da (dự án thủy lợi Cây Da) nên đã có một số diện tích canh tác 2 - 3 vụ lúa/năm song cũng không ổn định do lượng nước hạn chế
Xét về tổng quan, vùng dự án có mật độ sông rạch tự nhiên và kênh mương khá dày đặc Diện tích đất sông rạch lên đến 1.728ha (chiếm 15,79% diện tích tự nhiên), đặc biệt chỉ trong phần huyện Ba Tri thuộc vùng dự án, tỷ
lệ đất sông rạch lên đến 20,16% diện tích tự nhiên, song nguồn nước có chất lượng để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt rất thiếu Muốn tận dụng khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn nước ngọt phải tiến hành xây dựng đồng bộ hệ thống công trình thủy lợi mà quan trọng hàng đầu là cống lấy nước kết hợp ngăn mặn và hệ thống kênh mương nội đồng hoàn chỉnh, căn cứ vào chất lượng nước của từng chu kỳ hoạt động của thủy triều mà mở cống dẫn nước vào nội đồng
• Đặc điểm nước mặn:
Nước mặn có quan hệ chặt chẽ với chế độ dòng chảy trên sông Tiền, khi lưu lượng sông Mê Kông chuyển về nhiều thì độ mặn giảm và ngược lại Ngoài ra, độ mặn lại quan hệ chặt chẽ với thuỷ triều và gió chướng, thời gian gió chướng mạnh thì độ mặn vùng cửa sông và trong kênh rạch gia tăng
Hàng năm, mặn bắt đầu từ tháng XII và tháng I khi mà lưu lượng sông
Mê Kông chuyển về giảm và ảnh hưởng của triều trong các sông mạnh Độ
Trang 28mặn tăng dần và xuất hiện lớn nhất vào các tháng IV trên sông Hàm Luông, tháng II, III, IV trên sông Mỹ Tho Độ mặn giảm và đến tháng VI, VII thì giảm khá nhỏ Độ mặn giảm dần từ cửa sông vào trong và giảm nhanh khi có lưu lượng thượng nguồn chuyển về đủ lớn để pha loãng và đẩy mặn lùi ra phía cửa sông
* Trên sông Mỹ Tho, sông Cửa Đại và sông Cửa Tiểu:
Độ mặn kéo dài từ tháng XII đến tháng VII ở vùng cửa sông, từ tháng I đến tháng VI, VII ở An Hoá và Hoà Bình, từ tháng I đến tháng V, VI ở Mỹ Tho Độ mặn lớn nhất ở cửa sông (Vàm Kênh) 32.4g/l (tháng III/1993), Bình Đại 34.1 g/l (tháng I/1993), Hoà Bình 20.2 g/l (tháng III/1993), An Hoá 12.7 g/l (tháng III/1994), đến Mỹ Tho chỉ còn 5.8 g/l Như vậy, độ triết giảm độ mặn chậm, càng vào sâu thì càng nhanh Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng III, IV, ở cửa sông có xuất hiện vào tháng I (gió chướng), đến tháng
VI giảm nhanh: ở Vàm Kênh còn 17.0 g/l (tháng VI/1994), Bình Đại 27.0 g/l (tháng VI/1992, Hoà Bình 8 g/l (tháng VI/1992), An Hoá 2.8 g/l (VI/1996),
Mỹ Tho không còn mặn Thời gian duy trì độ mặn 2 g/l và 4 g/l gần như từ tháng I đến tháng VI ở vùng cửa sông: Hoà Bình từ cuối tháng II đến cuối tháng V, khoảng 70 - 90 ngày, Mỹ Tho từ cuối tháng III đến đầu tháng V khoảng 30 - 40ngày An Hoá xuất hiện theo thời kỳ triều cừơng tháng II, IV
và V, khoảng trên 1 tháng, Mỹ Tho xuất hiện vào cuối tháng II đầu IV 10 - 15 ngày
* Chi tiết tại An Hoá và Mỹ Tho cho ta thấy:
- An Hoá: Độ mặn độ mặn 2g/l từ tháng II đến đầu tháng VI khoảng 4 tháng Độ mặn 4g/l từ tháng II đến đầu tháng V khoảng 2 tháng
- Trên sông Hàm Luông:
Mặn bắt đầu từ tháng XII và kết thúc vào tháng VII ở vùng cửa sông, bắt đầu tháng I và kết thúc vào khoảng trung tuần tháng VI ở Phú Khánh, bắt đầu từ tháng II và kết thúc vào tháng VI ở Mỹ Hoá, độ mặn lớn nhất ở Tân Thuỷ 31.4g/l (tháng III/1994) và đến tháng VI còn 23.0g/l (tháng VI/1992),
độ mặn nhỏ nhất 3g/l (tháng VI/1996), mặn 2g/l và 4g/l kéo dài suốt mùa cạn (XII-VV, VII) ở Phú Khánh độ mặn lớn nhất 23.8g/l (tháng IV/1990), đến tháng VI còn 11.5g/l (tháng VI/1993), mặn 2g/l và 4g/l kéo dài đầu tháng I và kết thúc vào trung tuần tháng VI, mặn 2g/l nhỏ nhất ngay từ đầu tháng II và kết thúc trung tuần tháng VI
Ở Mỹ Hoá mặn vào đầu tháng IV, trung tuần tháng V, đến tháng VI độ mặn giảm còn 1.8g/l (tháng VI/1993), ngay trong tháng IV-V độ mặn nhỏ nhất bằng 0g/l nhiều giờ Mặn 2g/l từ 15/IV đến 18/VI (hơn 2 tháng) Mặn 4g/l từ cuối tháng IV đến cuối tháng V (1 tháng), nhiều năm hầu như không xuất hiện độ mặn 4g/l
* Trên sông BL và các kênh rạch nội đồng:
Trang 29Khi triều lên mặn theo các sông Hàm Luông, sông Mỹ Tho, sông BL vào các kênh rạch nội đồng Ta thấy mặn xâm nhập theo sông Cửa Đại, Cửa Tiểu vào sâu hơn sông Hàm Luông Mặt khác, lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn vào sông BL nhỏ nên mặn từ 3 phía xâm nhập vào các kênh rạch nối với sông BL rất mạnh Cùng ngày tại Lộc Thuận (sông Cửa Đại) 10.9g/l (tháng IV/1998) nhưng vào An Hoá lên 11.1g/l (tháng IV/1998) Vào đợt đo tháng III/1990, độ mặn tại Bình Đại 28.7g/l, Tân Thuỷ 19.7g/l, Thủ Ba Lai 27.2g/l, An Hoá còn 6g/l, Chẹt Sậy 8.5g/l đến cầu Ba Lai 1.7g/l, Mỹ Tho 1.9g/l, Mỹ Hoá 0.6g/l, Chợ Lách 0.02g/l Như vậy, độ mặn giảm chậm dần đến kênh Giao Hoà và giảm rất nhanh từ kênh Giao Hoà trở lên Từ tài liệu
độ mặn (tháng III/1990) cho thấy sự khác biệt giữa độ mặn bờ và giữa sông khác nhau: Tại An Hoá sát bờ là 5.6g/l, giữa sông là 6.7g/l, Chẹt Sậy sát bờ là 4.1g/l, giữa sông là 5.5g/l, BL sát bờ là 8.5g/l còn giữa sông là 9.8g/l
Ranh giới mặn:
Qua các phân tích trên, có thể đưa ra ranh giới mặn 4g/l như sau:
Trên sông Mỹ Tho đến cửa kênh Sơn Mỹ, trên sông BL đến trên cầu
BL, trên sông Hàm Luông đến cửa kênh Sơn Mỹ
Độ mặn 2 g/l lên rất cao so với độ mặn 4 g/l nên ranh giới mặn 2g/l rất khó thể hiện và hầu như bao trùm hết toàn vùng nghiên cứu
Do đó nhiệm vụ của dự án BL để ngọt hoá bắc BT với các hệ thống công trình thuỷ lợi: đê, cống, đập hoàn chỉnh từ ven sông lớn đến các kênh rạch nội đồng là hoàn toàn cần thiết
• Nguồn nước ngầm:
Theo tài liệu nước ngầm của Liên đoàn Địa chất - Thủy văn (Bản đồ tỷ lệ 1/250.000) và kết quả khoan khai thác của chương trình nước sạch nông thôn, trong vùng dự án nước ngầm được chia ra 2 loại: nước ngầm Pleistocen trên đất cát giồng có số lượng và chất lượng tốt, đảm bảo cho sinh hoạt Nước ngầm tầng sâu khoan ở các vùng đất mặn có chất lượng rất kém, độ khoáng hóa cao, không sử dụng được cho sinh hoạt và trồng trọt
Trong khu vực nghiên cứu, nước dưới đất được tồn tại trong các tầng chứa nước khác nhau Chất lượng nước trong các tầng chứa nước này biến đổi rất phức tạp theo cả diện rộng cũng như theo độ sâu Dưới đây là những tóm tắt về điều kiện địa chất và chất lượng nước ngầm ở trong vùng nghiên cứu
* Phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holoxen (QIV) Phức hợp chứa nước này phân bố ở toàn vùng nghiên cứu Chúng được cấu tạo bởi các trầm tích Haloxen QIV1-2, QIV2-3, QIV3 bề dày biến đổi từ
20 đến 70m Thành phần thạch học: ngoại trừ diện phân bố các giồng cát ở trên mặt, phần trên của phức hệ chứa nước Holoxen (QIV), có thành phần hạt mịn: sét, sét bột, bột, bột sét, bùn sét bề dày từ vai mét đến 60m Một số nơi dưới lớp cát mịn là cát mịn đến thô, đôi khi lẫn sạn Sự phân bố của lớp cát
Trang 30khác nhau ở các vùng Độ khoáng hầu hết lớn hơn 4g/l, loại hình hóa học chủ yếu của nước trong phức hệ này là Cl - Na
* Tầng chứa nước Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước Pleistocen phân bố rộng ở khắp vùng nghiên cứu nhưng không lộ ra trên mặt, nó hoàn toàn bị trầm tích halocen phủ lên trên và nằm trực tiếp lên tầng chứa nước pliocen (m²4) Bề mặt của trầm tích Pleistocen được phát hiện ở độ sâu từ 19- 33m Bề mặt của trầm tích có xu thế chìm dần ở phía Bắc, đáy của tầng kết thúc ở độ sâu từ 160- 182m
Thành phần thạch học chủ yếu của tầng: Phần trên cùng là lớp đất sét, sét bột màu xám tầng loang lổ, bị laterit hóa, chứa vỏ sò, cứng chắc, tầng chứa này phân bố rộng khắp vùng có bề dày thay đổi từ 7 đến 32 m Phần dưới là lớp hạt cát mịn đến thô chứa sạn, sỏi thạch anh xen kẹp các thấu kính bột, bột sét với chiều dày thay đổi từ 116 đến 144 m Chiều dày trung bình
134 m
Mực nước tĩnh thường từ 0.87 đến 1.58 m, có độ giàu nước trung bình Lưu lượng biến đổi từ 8.03 đến 10.53 l/s, tỷ lưu lượng Q = 1.44 - 4.71 l/s, mực nước hạ thấp S = 2.24 m Chất lượng nước: Kết quả phân tích thành phần hoá học nước tại các hố khoan UNICEF cho kết quả nước thuộc loại từ
lợ đến mặn, tổng độ khoáng hoá M = 1.14 - 24.14 g/l, độ mặn tăng dần theo hướng từ Châu Thành xuống Ba Tri Loại hình hoá học thường là Clorua, Natri, Mange hay Clorua, Canci, Mangie
Ngoài ra, các kết quả đo sâu Karota tại các hố khoan sâu trong vùng thấy tổng độ khoáng hoá trong tầng chứa nước Pleistocen tính theo điện trở suất trung bình từ 5-16 g/l Điều này chứng tỏ nước trong tầng này bị nhiễm mặn
* Tầng chứa nước Pliocen (m 42)
Tại vùng nghiên cứu ta gặp tầng này ở độ sâu 160-182m, đáy của tầng chứa nước kết thúc ở độ sâu từ 326.8-370 m, theo mặt cắt từ trên xuống dưới tầng chứa nước Pliocen (m 42) được cấu thành bởi hai thành tạo địa chất: trên cùng là các thành tạo rất nghèo nước, thực tế có thể coi như tầng cách nước và phần dưới là các thành tạo hạt thô chứa nước, có xen kẹp các lớp hay thấu kính mỏng bột sét cách nước
Các thành tạo địa chất cách nước bao gồm các thành tạo hạt rất mịn như sét màu xám vàng xám trắng loang lổ lẫn sạn, sỏi laterít, sét bột chứa các
ổ Carbonat, bột sét chứa thực vật hoá than Lớp sét bột này có kết cấu cứng chắc, phân bố liên tục toàn vùng nghiên cứu tạo thành lớp cách nước rất tốt với độ dày trung bình 24 m
Các thành tạo địa chất chứa nước nằm dưới tầng cách nước bao gồm nhiều cỡ hạt từ mịn đến trung, thô, đôi nơi xen kẹp các lớp mỏng hay thấu bột không liên tục Bề dày trung bình các thành toạ này khoảng 130 m Tầng chứa nước Pliocen (m 42) có mức độ giàu nước khá phong phú: lưu lượng biến đổi
Trang 31từ 6.65-16.65 l/s Nước trong tầng này là nước có áp, mực nước tĩnh thường
từ 0.3-1.5 m Hầu hết các lỗ khoan trong tầng này đều tự chảy, chiều cao áp lực trung bình của tầng là 180 m
Chất lượng nước biến đổi phức tạp, tổng độ khoáng hoá biến đổi trong khoảng 0.45-7.93g/l Nước ngọt (M < 1g/l) có ở khu vực huyện Châu Thành
và phía tây bắc Thị xã Bến Tre, độ mặn tăng dần theo hướng tây bắc - đông nam Loại hình hoá học chủ yếu: Clorua Bicarbonat Natri và Clorua Natri, độ
pH = 8
* Tầng chứa nước Pliocen dưới (m 41)
Nằm dưới tầng chứa nước Pliocen trên (m 42) là tầng chứa nước Pliocen dưới (m 41), tầng này được phát hiện ở độ sâu 346-370m Đáy của tầng chứa nước kết thúc ở độ sâu từ 435m đến 450m, độ dày trung bình 19.6 m Thành tạo thạch học được cấu thành bởi hai thành tạo riêng biệt: Phía trên - lớp cách nước - bao gồm các hạt mịn gồm sét, bột chứa sạn, sỏi laterit màu xám vàng xám trắng loang lổ, là lớp cách nước tốt giữa hai tầng Pliocen trên và Pliocen dưới và phần chứa nước: gồm lớp cát mịn đến trung lẫn bột sạn thạch anh, xen kẹp các thấu kính mỏng sét - cát - bột chứa Carbonat Qua quan sát động thái, chúng tôi nhận định nước trong tầng này chịu ảnh hưởng tuyến áp của biển Đông
Qua tài liệu phân tích thành phần hoá học nước cho thấy phần lớn diện tích nước bị nhiễm mặn (phía Đông Nam), nước nhạt tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Tây Bắc Tổng độ khoáng hoá thay đổi từ 1.89-2.58 g/l Loại hình hoá học nước là từ Clorua Bicarbonat Natri sang Clorua Natri
* Tầng chứa nước Miocen (m 3)
Bề mặt của tầng chứa nước Miocen (m 3) gặp ở độ sâu 654 m vẫn chưa hết bề dày của chúng Thành tạo thạch học trên cùng là sét, bột, bột màu vàng loang lổ, gắn kết chắc, tạo thành lớp cách nước rất tốt, liên tục, ngăn cách giữa hai tầng Miocen (m 3) và Pliocen dưới (m 41) bề dày là 4.5m đến 19 m
và lớp dưới là thành tạo chứa nước gồm các hạt mịn lẫn bột sét, cát bột xen kẹp các thấu kính mỏng sét - bột Mực nước tĩnh 0.7 ÷ -4.3m, lưu lượng
Q = 9.9 l/s, mực nước hạ thấp S = 29m, tỷ lưu lượng q = 0.366 l/sm
Tổng độ khoáng hoá biến đổi từ 0.71g/l ở khu vực huyện Châu Thành, 7.0g/l ở khu vực thị xã BT và tăng lên đến 16.32g/l ở khu vực Ba Tri Độ pH biến đổi từ 6.10 ÷ 8.34
Trong vùng dự án: nước nhạt (M < 1.0g/l) chỉ phân bố chủ yếu ở huyện Châu Thành và phần phía Bắc, Tây Bắc thị xã BT được tồn tại trong 3 tầng: Pliocen trên (m 42) , Pliocen dưới (m 32) và Miocen (m 3) , các khu vực khác nước ngầm đều bị nhiễm mặn Tuy nhiên, nước ở cả ba tầng đều bị nhiễm sắt
Trang 32IV ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO:
Khu vực nghiên cứu có địa hình khá bằng phẳng, độ cao từ 0,5 - 1,5m, chiếm 75% diện tích tự nhiên có xu thế địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Khu vực giáp biển có xu thế nhô cao lên rồi thoải dần ra biển làm cho địa hình toàn khu vực có dạng yên ngựa Vùng trũng nhất là 2 huyện Bình Đại và Ba Tri với cao độ bình quân 0,5 - 0,75m, vùng cao nhất là địa phận huyện Châu Thành, thị xã BT, vùng Tây Bình Đại và Tây Giồng Trôm có cao
độ trung bình từ 1.25 đến 1.75 m Vùng ven biển có cao độ từ 1.00 đến 1.25
m địa hình thấp nhất, khu vực xã Đại Hòa Lộc và Bình Thắng của huyện Bình Đại, khu vực Lạc Địa huyện Ba Tri có cao độ 0.3 - 0.5 m Tỷ lệ địa hình phân theo cao độ được thể hiện trong bảng 2.8
Bảng 2.8: Phân bố diện tích theo các cấp cao độ (đơn vị ha)
Trang 33Hình 2.3: Địa hình tỉnh Bến Tre
Trang 34
Hình 2.4: Địa mạo tỉnh Bến Tre
Trang 35Sông Mỹ Tho - Cửa Đại và Hàm Luông là hai dòng chính chuyển một lưu lượng khá lớn của sông Tiền vào vùng dự án Ngày nay, do đoạn đầu nguồn của sông BL đã bị thoái hóa nên việc chuyển nước ngọt từ sông Tiền vào hầu như không đáng kể, cho nên lượng nước ngọt sông Tiền chỉ còn đổ vào sông BL từ sông Mỹ Tho qua kênh Giao Hòa và một phần từ sông Hàm Luông qua sông BT Dưới tác động của thủy triều biển Đông thông qua hai dòng chính là sông Mỹ Tho và Hàm Luông, trong vùng dự án đã hình thành một mạng lưới kênh, rạch dày đặc
Xu hướng phát triển của các kênh rạch là chạy theo hướng Bắc Nam, chia vùng dự án thành nhiều khu vực nhỏ Nối liền hai sông lớn Mỹ Tho và Hàm Luông là kênh Giao Hòa (từ sông Mỹ Tho đến kênh Chẹt Sậy) và đoạn nối tiếp là sông BT (từ kênh Chẹt Sậy qua thị xã BT ra sông Hàm Luông) Đây không những là tuyến giao thông thủy quan trọng trong vùng mà còn là tuyến dẫn nước ngọt chính từ sông Tiền qua các sông Mỹ Tho và Hàm Luông vào vùng đồng bằng các huyện Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri và thị xã BT, bởi vì vùng đầu nguồn sông BL đã bị thoái hóa Dọc theo chiều dài hơn 200km có 23 kênh rạch lớn nhỏ, trong đó có những rạch lớn với chiều rộng hơn 200m và chiều dài trung bình của các kênh rạch là từ 8 - 15km Do kênh, rạch phát triển theo chiều ngang (hướng Bắc Nam) nên vùng đất đai trong khu
dự án bị chia cắt thành nhiều khu vực nhỏ làm cho việc ngăn mặn và dẫn ngọt gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong mùa kiệt
Do kiến tạo của hệ thống sông Mêkông mà trực tiếp là sông Hàm Luông nên vùng dự án thủy lợi CS là vùng đồng bằng thấp, khá bằng phẳng, cao trình mặt ruộng trung bình 0,7m, vùng thấp có cao độ từ 0,4 - 0,6m (chiếm khoảng 40% diện tích), vùng cao có cao độ từ 0,8 - 0,9m (chiếm khoảng 30% diện tích) dọc theo sông Hàm Luông ra biển Xu thế địa hình cao
ở ven sông và thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc Với địa hình như trên thuận lợi cho cơ giới hóa nông nghiệp Song, để tận dụng tưới tiêu tự chảy nhờ thủy triều cần phải phân khu và tổ chức vận hành bằng các biện pháp thích hợp
Vùng đất thấp thường là đất mặn trung bình, đất có độ cao từ 0,5 - 0,7m, chủ yếu là đất mặn ít Đất cát giồng và đất xáo trộn ở địa hình cao do lập líp làm vườn, trồng hoa màu
Kết hợp địa hình với xây dựng thủy lợi, có thể chia làm 3 khu vực:
- Khu vực 1 nằm ở phía Tây rạch Ba Tri tới rạch Sơn Đốc
- Khu vực 2 nằm ở phía Tây rạch Sơn Đốc đến đầu rạch Cái Mít
- Khu vực 3 nằm ở đầu rạch Cái Mít đến phía Tây rạch Ba Tri
Trang 36V ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, THỔ NHƯỠNG:
1 Địa chất:
Vùng dự án nằm trong vùng trầm tích Holocen (Q4) có nguồn gốc sông đầm lầy hỗn hợp, lớp trên là trầm tích, đầm lầy có có thành phần sét lẫn bụi mày xám đen chúa nhiều xác thực vật phân hủy và bán phân hủy Lớp dưới là trầm tích sông có thành phần sét pha, ít cát, hạt mịn, màu xám đen, cát có màu nâu vàng trắng, chủ yếu là thạch anh Bề dày của trầm tích chưa xác định chính xác
Đặc điểm địa chất của từng khu vực như sau:
* Điều kiện địa chất khu vực ven sông Hàm Luông:
Hệ thống công trình ven sông Hàm Luông bao gồm các tuyến đê, cống
và đập nhỏ, trong đó cống đập Sơn Đốc là lớn nhất, có chiều rộng B = 15m (7.5 x 2) cao trình đáy cống -3.00, lấy cấu tạo địa chất tuyến này làm đại biểu cho toàn hệ thống, các trầm tích dọc theo tuyến này được phân thành 7 lớp, chỉ tiêu cơ lý của các lớp này được thể hiện trong bảng 2.9
Bảng 2.9: Tổng hợp chỉ tiêu cơ lý các lớp đất tuyến ven sông Hàm Luông
1.61 1.68 1.67 1.68 2.1 1.89
1.01 1.14 1.12 1.29 1.77 1.53
1.49 2.72 1.08 2.11 0.79 0.22
3.43 5.42 4.07 8.37 21.57 15.46
0.60 0.90 0.60 0.90 0.60 2.80
Trang 37Hình 2.5: Địa Chất tỉnh Bến Tre
Trang 38Hình 2.6: Thổ nhưỡng tỉnh Bến Tre
Trang 39Hình 2.7: Đất đai tỉnh Bến Tre
Trang 40- Lớp 1: Đây là lớp mặt, có chiều dày thay đổi từ 0.9 - 1.6m, thành phần: cát sét bụi cát lẫn các sản phẩm laterit hoá
- Lớp 2: Lớp này nằm dưới lớp 1, phân bố đến độ sâu 5.8 - 6.3m, chiều dày trung bình khoảng 5m Đây là lớp bùn sét màu xám nâu, đen có chứa hữu
cơ
- Lớp 3: Chiều sâu phân bố đến 17.3m, chiều dày trung bình lớp này là 13m Thành phần thạch học: bùn á cát và cát màu xám đen, xen kẹp nhiều lớp bùn sét mỏng
- Lớp 4: Chiều dày trung bình lớp khoảng 5m Thành phần bao gồm bùn sét màu xám nâu đen và sét xám xanh
- Lớp 5: chiều dày trung bình lớp khoảng 7m Thành phần thạch học: á cát màu xám đen xen kẹp các lớp bùn
- Lớp 6: Đây là lớp cát, sạn sỏi có màu xám nâu đến xám trắng, kết cấu chặt
- Lớp 7: Đây là lớp trầm tích cổ pleistocen có màu vàng loang lổ xám trắng, phớt xanh, trạng thái cứng Phân bố ở độ sâu từ 28.5m, lỗ khoan sâu 30m chưa khoan qua lớp này
* Điều kiện địa chất khu vực ven sông Mỹ Tho
Trong dự án đường giao thông nông thôn tỉnh BT, một số vị trí cầu nằm trên tuyến lộ ven sông Mỹ Tho đến Bình Đại, đã được tiến hành khoan khảo sát địa chất công trình với độ sâu hố khoan đến 30m Qua tổng hợp tài liệu địa chất các cầu này, sơ bộ phân chia địa tầng dọc theo hệ thống ven sông Mỹ Tho ra làm 6 lớp Chỉ tiêu cơ lý các lớp này được thể hiện trong bảng 2.10
Bảng 2.10: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý các lớp đất tuyến ven sông Mỹ Tho
27.8 0.814 1.869
17.43 0.27
31.1 0.862 2.68 1.866 0.028 23.27 0.075
26.4 0.759 0.58 1.969 0.021 15.38 0.275
24.5 0.754 0.46 1.926 0.03 18.53 0.173
Nguồn: Sở khoa học và Công nghệ Bến Tre
- Lớp 1: Lớp sét màu đỏ, trạng thái dẻo mềm Chiều dày trung bình 1.0m phân bố từ độ sâu 0.0 đến 1.0 m Đây là lớp bồi tích
- Lớp 2: Lớp bùn cát màu xanh, trạng thái chảy Chiều dày trung bình 5.0m phân bố từ độ sâu 0.0 đến 6.0m