1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa qua địa danh ở sài gòn thành phố hồ chí minh

192 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Qua Địa Danh Ở Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Phúc Bình
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Trung Hoa
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (10)
  • 3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ (10)
    • 3.1 Nghiên cứu địa danh ở nước ngoài (10)
    • 3.2 Nghiên cứu địa danh Việt Nam (0)
    • 3.3 Nghiên cứu địa danh ở Tp. Hồ Chí Minh (0)
  • 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (15)
  • 5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN (15)
  • 6. PHƯƠNG PHÁP, NGUYÊN TẮC VÀ NGUỒN TÀI LIỆU (15)
    • 6.1 Phương pháp nghiên cứu (15)
    • 6.2 Nguyên tắc nghiên cứu (17)
    • 6.3 Nguồn tài liệu nghiên cứu (17)
  • 7. BỐ CỤC LUẬN VĂN (18)
  • CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN (18)
    • 1.1.1. Địa danh (20)
      • 1.1.1.1 Khái niệm địa danh (20)
      • 1.1.1.2 Phân loại địa danh (22)
      • 1.1.1.3 Các phương thức đặt địa danh (25)
    • 1.1.2. Văn hóa (29)
      • 1.1.2.1. Khái niệm văn hóa (29)
      • 1.1.2.2. Khái niệm địa văn hóa (31)
      • 1.1.2.3. Giao l ưu văn hóa (32)
      • 1.1.2.4. Tính đa tầng và hội nhập của văn hóa (33)
      • 1.1.2.5. Quan hệ giữa địa danh và văn hóa (33)
      • 1.1.2.6. Mối quan hệ giữa địa văn hóa và địa danh (34)
    • 1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH (36)
      • 1.2.1. Giai đoạn buổi đầu khai hoang (36)
      • 1.2.2. Giai đoạn vua chúa nhà Nguyễn (1698 – 1862) (0)
      • 1.2.3. Giai đoạn thuộc Pháp (1862 – 1945) (38)
      • 1.2.4. Giai đoạn chế độ Việt Nam Cộng hòa (1945 – 1975) (39)
      • 1.2.5. Giai đoạn thống nhất (sau 1975) (42)
    • 1.3. ĐỊA LÝ (42)
      • 1.3.1. Vị trí (42)
      • 1.3.2. Địa hình (43)
      • 1.3.3. Giao thông (44)
      • 1.3.4. Khí hậu (0)
      • 1.3.5. Tài nguyên thiên nhiên (46)
    • 1.4. XÃ HỘI (47)
      • 1.4.1. Dân t ộc (47)
      • 1.4.2. Văn hóa cư dân thành phố Hồ Chí Minh (49)
    • 1.5. KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH SG – TP.HCM (54)
      • 1.5.1. Kết quả thu thập địa danh (54)
      • 1.5.2. Kết quả phân loại địa danh (54)
      • 2.1.1. Địa hình (57)
      • 2.1.2. Thủy văn (58)
      • 2.1.3. Động vật (60)
      • 2.1.4. Thực vật (61)
      • 2.1.5. Nguyên vật liệu (63)
      • 2.1.6. Màu sắc, ánh sáng (63)
      • 2.1.7. Vị Trí (64)
    • 2.2. ĐỊA DANH SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH DƯỚI GÓC NHÌN THỜI GIAN VĂN HÓA (65)
      • 2.2.1. Địa danh phản ánh các giai đoạn lịch sử (65)
      • 2.2.2. Địa danh phản ánh các thay đổi về hành chính (67)
    • 2.3. ĐỊA DANH SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH DƯỚI GÓC NHÌN CHỦ THỂ VĂN HÓA (68)
      • 2.3.1. Địa danh phản ánh tên người (68)
        • 2.3.1.1. Địa danh phản ánh các dân tộc cư trú trên địa bàn (68)
        • 2.3.1.2. Địa danh phản ánh tên danh nhân (72)
      • 2.3.2. Địa danh phản ánh tâm lý (73)
        • 2.3.2.1. Ước vọng giàu có (0)
        • 2.3.2.2. Ước vọng an bình, thịnh vượng (74)
        • 2.3.2.3. Ước vọng đổi đời (76)
        • 2.3.2.4. Ước vọng cuộc sống tươi đẹp (0)
        • 2.3.2.5. Tâm lý kiêng kỵ (78)
        • 2.3.2.6. Sở thích dùng số thứ tự (79)
  • Chương 3: VĂN HÓA THỂ HIỆN QUA ĐỊA DANH Ở SÀI GÒN – TP. HỒ CHÍ (18)
    • 3.1.1. Tên chợ (82)
    • 3.1.2. Nghề nghiệp và sản phẩm (82)
    • 3.1.3. Chức năng (84)
    • 3.2. ĐỊA DANH PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG (85)
      • 3.2.1. Tên các công trình giao thông (85)
      • 3.2.2. Tên đường phố (87)
        • 3.2.2.1. Tên đường đặt trước 1954 (87)
        • 3.2.2.2. Tên đường từ 1954 đến 1975 (88)
        • 3.2.2.3. Tên đường từ sau tháng 4/1975 (88)
      • 3.2.3. Tên Cầu (89)
    • 3.3. ĐỊA DANH PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC (89)
      • 3.3.1. Ngôn ngữ (89)
        • 3.3.1.1. Tiếng dân tộc (0)
        • 3.3.1.2. Từ biến âm (91)
      • 3.3.2. Văn học (92)
        • 3.3.2.1. Cổ tích, truyền thuyết về địa danh (92)
        • 3.3.2.2. Ca dao dân ca có địa danh (92)
      • 3.3.3. Aâm nhạc (98)
    • 3.4. ĐỊA DANH PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VÀ VUI CHƠI GIẢI TRÍ (99)
      • 3.4.1. Địa danh phản ánh hoạt động giáo dục (99)
      • 3.4.2. Địa danh phản ánh hoạt động vui chơi giải trí (99)
    • 3.5. ĐỊA DANH PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG (100)
    • 3.6. ĐỊA DANH PHẢN ÁNH CÁC HOAT ĐỘNG QUÂN SỰ (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (107)
  • PHỤ LỤC (172)

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu địa danh từ góc độ văn hóa giúp chúng ta hiểu rõ mối quan hệ giữa địa danh và các yếu tố như địa hình, lịch sử, dân cư và tiếng địa phương.

Dựa trên kết quả khảo sát và tài liệu thu thập từ điều tra điền dã, luận văn này khám phá địa danh từ góc nhìn văn hóa học Tác giả phân tích phương thức đặt địa danh, nguồn gốc, ý nghĩa, và quá trình hình thành, biến đổi của chúng tại khu vực Qua đó, bài viết đưa ra nhận xét về sự phát triển văn hóa và giao lưu văn hóa, ngôn ngữ ở một trong những vùng đất đông dân nhất Việt Nam.

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu địa danh ở nước ngoài

Nghiên cứu địa danh đã được chú trọng từ lâu ở nước ngoài, đặc biệt là từ giữa thế kỷ XX với nhiều công trình nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa địa danh Một số tác giả nổi tiếng như Kopenco, E.M Murzaev và A.I Popov đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này Đặc biệt, A.V Superanskaja trong công trình “Địa danh học là gì?” đã chỉ ra rằng địa danh vừa có tính cụ thể vừa có tính khái quát, đồng thời mang tính tổng hợp cao.

3.2 Nghiên c ứ u đị a danh ở Vi ệ t Nam

Từ những thập niên đầu thế kỷ XIII và XIV, Việt Nam đã xuất hiện nhiều bộ sách sử và địa chí quan trọng như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, và Đại Nam nhất thống chí Những tác phẩm này ghi chép và giải thích một số địa danh, tuy nhiên, phần thông tin về địa danh vẫn chỉ là phụ và chưa được đề cập một cách sâu sắc.

Vào những năm 60 của thế kỷ XIX, nghiên cứu địa danh trở nên nổi bật hơn qua một số công trình, đặc biệt là ghi chép của Đào Duy Anh trong tác phẩm "Đất nước Việt Nam qua các đời" (1964) Tác phẩm này đã làm rõ quá trình xác lập và phân định lãnh thổ từng khu vực, trong đó địa danh được coi là một trong những chứng cứ quan trọng.

Hoàng Thị Châu (1964) đã có bài viết “Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông,” đánh dấu công trình nghiên cứu địa danh đầu tiên từ góc độ ngôn ngữ học Tiếp đó, Trần Thanh Tâm trong bài “Thử bàn về địa danh Việt Nam” (1976) đã trình bày những vấn đề cơ bản về địa danh và địa danh học tại Việt Nam Năm 1991, Lê Trung Hoa cho ra mắt cuốn sách “Địa danh ở thành phố,” tiếp tục góp phần vào nghiên cứu địa danh trong khu vực.

Chuyên khảo đầu tiên về địa danh ở Việt Nam là "Hồ Chí Minh", được công bố vào năm 1996 bởi tác giả Nguyễn Kiên Trường, với tác phẩm "Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng", đã khái quát những đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh này, đồng thời so sánh với các địa danh khác Nhiều nghiên cứu khác như “Địa danh Cửa Lò” của Trần Trí Dõi (2000), “Một số vấn đề địa danh học” của Nguyễn Văn Aâu (2000), và “Lược sử nguồn gốc địa danh Nam Bộ” của Bùi Đức Tịnh (1999) đã tiếp cận địa danh từ góc độ địa lý, lịch sử và văn hóa Tác phẩm “Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết” của Nguyễn Hữu Hiếu (2004) nêu bật ảnh hưởng của vùng đất đến sự hình thành địa danh thông qua các truyện cổ tích và truyền thuyết Đặc biệt, hai cuốn "Sổ tay địa danh Việt Nam" của Đinh Xuân Vịnh và Nguyễn Dược – Trung Hải đã cung cấp những giải thích cụ thể về các địa danh ở Việt Nam.

3.3 Nghiên c ứ u đị a danh ở Sài Gòn – thành ph ố H ồ Chí Minh Địa bàn của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông giáp tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, tây giáp tỉnh Long An, nam ăn thông ra biển Như vậy là thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm Sài Gòn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn cũ; nó rộng lớn nhưng hẹp hơn “xứ” Sài Gòn – Bến Nghé – Đồng Nai – Gia Định trước kia Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay ra đời từ thế kỷ 17, lần lượt mang các địa danh Bến nghé, Sài Gòn, Sài nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh Đầu tiên phải kể đến tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) có ghi chép và giải thích một số địa danh, nhưng không nhiều lắm, nó chỉ là phần phụ của công trình

Đất Gia Định, theo thư tịch cổ Việt Nam, được coi là vùng đất trù phú với nhiều ưu đãi từ thiên nhiên Trong tác phẩm "Phủ biên tạp lục" (1776), một trong những cuốn sách đầu tiên viết về Gia Định, có ghi lại câu tục ngữ phản ánh sự phong phú của vùng đất này.

Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang

Cơm xứ Đồng Nai và Bà Rịa nổi tiếng với hương vị thơm ngon, trong khi cá Phan Rí và Phan Rang được xem là đặc sản không thể bỏ qua Người dân nơi đây thường nói về sản phẩm đất Gia Định với niềm tự hào.

Lúa nhiều mà cau cũng lắm Gia Định là nơi có gạo trắng cá tươi, nơi cảnh làm ăn tương đối dễ dàng:

Ai về Gia Định thì về Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn

Nhà Bè nước chảy chia hai

Vào năm 1987, công trình Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh được ra đời, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu văn hóa địa phương Dự án này được thực hiện bởi các Giáo sư và nhà nghiên cứu nổi bật như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, và Nguyễn Công Bình, cùng với sự đóng góp của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội tại thành phố Công trình được chia thành 4 tập, mỗi tập bao gồm từ năm đến mười chuyên đề, phản ánh sự đa dạng và phong phú của văn hóa thành phố Hồ Chí Minh.

Tập I bao gồm các nghiên cứu sâu về lịch sử, từ tiền sử và sơ sử đến địa lý lịch sử, cùng với lược sử về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tại thành phố Sài Gòn trước đây.

Tập II bao gồm các tiểu luận nghiên cứu về văn học dân gian, văn học Hán Nôm, và văn học chữ quốc ngữ tại Sài Gòn trong các thế kỷ 17, 18, 19 Nội dung tập trung vào sự phát triển từ tiếng nói Sài Gòn đến tiếng nói thành phố Hồ Chí Minh, cũng như sự hình thành của văn học chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Ngoài ra, tập còn đề cập đến thơ văn yêu nước trong 30 năm cách mạng và kháng chiến từ 1945 đến 1975.

- Tập III có các tiển luận về nghệ thuật như hát bội, cải lương, kịch nói, điêu khắc, hội họa, kiến trúc, âm nhạc …

Tập IV trình bày các nghiên cứu sâu sắc về đạo lý và ứng xử của người dân thành phố, khám phá đấu tranh tư tưởng qua các thời kỳ, và giao lưu văn hóa phong phú tại Sài Gòn Bên cạnh đó, tập này còn đề cập đến tín ngưỡng tôn giáo và chủ nghĩa vô thần, lịch sử giáo dục, sự phát triển mạnh mẽ của Sài Gòn, cũng như văn hóa vật chất và các lễ nghi phong tục đặc sắc.

Năm 1993, tác giả Nguyễn Đình Đầu đã công bố tác phẩm "Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Gia Định", góp phần quan trọng vào nghiên cứu lịch sử địa lý Cùng năm, tác giả Nguyễn Đình Tư cho ra mắt tác phẩm "Đường phố nội thành thành phố Hồ Chí Minh", chia thành hai phần: phần đầu nghiên cứu lịch sử các con đường nội thành và phần hai cung cấp thông tin chi tiết về tên đường, vị trí, lịch sử, tiểu dẫn về địa danh cùng các địa chỉ đáng nhớ trong thành phố.

Vào năm 2001 (lần đầu in vào năm 1973), Huỳnh Minh tái bản tác phẩm Gia Định xưa bao gồm 8 chương 416 trang:

- Chương I: Lược khảo lịch sử Gia Định

- Chương II: Địa lý – Vị trí – Địa giới – Diện tích

- Chương III: Di tích lịch sử – Đền thờ, Lăng mộ, Nhân vật

- Chương IV: Nhân vật xưa

- Chương V: Huyền thoại giai thoại và địa danh

- Chương VI: Tôn giáo và Gia Định chùa miếu mạo chùa Kim cương ngôi chùa xưa nhất của Phiên An Trấn

- Chương VII: Văn hóa nghệ thuật

- Chương VIII: Gia Định qua các nẻo phố phường ngày xưa

Tác phẩm cung cấp cái nhìn tổng quát về Gia Định xưa, với một chương đặc biệt khám phá địa danh Gia Định và các tỉnh miền Nam thông qua huyền thoại và giai thoại Những câu chuyện này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh quan trọng ở Gia Định, đặc biệt là tại Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.

Trong công trình “Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Lê Trung Hoa đã đưa ra một số nguyên tắc quan trọng khi nghiên cứu địa danh Đặc biệt, cuốn Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh là một tài liệu tiêu biểu do ông chủ biên vào năm 2023.

2003, và vào năm 2008 tái bản cuốn Từ điển Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh – Kỷ niệm 310 năm Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh Hình thành và phát triển

(1698 - 2008) của hai tác giả Thạch Phương – Lê Trung Hoa gồm 13 chương:

- Chương VII: Văn hóa – Nghệ thuật

- Chương VIII: Giáo dục – Khoa học

- Chương IX: Báo chí - Xuất bản

- Chương XI: Thể dục – Thể thao

Nghiên cứu địa danh ở Tp Hồ Chí Minh

Nghiên cứu “Khía cạnh văn hóa qua địa danh ở Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh” mang lại giá trị quan trọng trong việc khám phá vùng đất và con người nơi đây Nó góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa văn hóa, môi trường, tâm lý cư dân và lịch sử hình thành cũng như phát triển của thành phố này.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Mặc dù đã có bốn luận án Tiến sĩ và nhiều luận văn Thạc sĩ nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ, nhưng chưa có nghiên cứu nào về khía cạnh văn hóa của địa danh tại khu vực này.

Nghiên cứu văn hóa của các địa danh sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc về mọi khía cạnh trong đời sống của con người, đặc biệt là ở Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh.

PHƯƠNG PHÁP, NGUYÊN TẮC VÀ NGUỒN TÀI LIỆU

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê giúp tổng hợp thông tin về các loại và bộ phận trong hệ thống địa danh tại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh Việc phân loại theo danh pháp này cho phép làm nổi bật những đặc điểm riêng và chung của địa danh trên toàn thành phố.

Phương pháp khảo sát bản đồ giúp chúng tôi phát hiện các loại địa danh thường xuất hiện tại một địa bàn cụ thể, từ đó xác định nguồn gốc và ý nghĩa của từng nhóm địa danh đó Đồng thời, việc khảo sát theo diện lịch đại cũng cho phép chúng tôi nhận biết những thay đổi và chuyển hóa của các địa danh trong khu vực.

Phương pháp điền dã cho phép chúng tôi nghiên cứu và tìm hiểu địa danh không chỉ qua tài liệu sách vở mà còn thông qua việc thực địa Phương pháp này giúp làm rõ nguồn gốc hình thành, ý nghĩa và sự biến đổi theo thời gian của địa danh một cách chính xác Đồng thời, việc áp dụng phương pháp này cũng giúp chúng tôi ghi chép, đối chiếu và so sánh để đưa ra những lý giải hợp lý hơn về địa danh đó.

Phương pháp sử học được thực hiện thông qua việc khảo sát tài liệu sử học và các di tích lịch sử Mục đích của phương pháp này là giải thích nguồn gốc, ý nghĩa và cách đặt tên địa danh liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lịch sử của một vùng đất.

Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về đặc trưng văn hóa thông qua địa danh Phương pháp này thực hiện ở nhiều góc độ khác nhau, như so sánh địa danh trong một vùng để làm nổi bật tính đặc thù của vùng đó, hoặc so sánh địa danh của vùng nghiên cứu với địa danh của vùng khác để nhận diện nét tương đồng hay dị biệt Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành so sánh các cách gọi địa danh đã được chuyển hóa, các địa danh đã biến mất, những địa danh mới được thêm vào, cũng như xác định nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh.

Phương pháp ngôn ngữ học là công cụ cần thiết khi nghiên cứu địa danh, giúp chúng ta nhận diện nguồn gốc và ý nghĩa vốn có của các địa danh thông qua việc áp dụng phương pháp từ nguyên học.

Mỗi vùng đất và lãnh thổ đều có sự tương tác giữa các ngôn ngữ dân tộc và từ địa phương, tạo nên dấu ấn đặc trưng trong địa danh Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc giúp làm rõ những vấn đề liên quan đến cách đặt tên địa danh trong khu vực đó.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học cho phép chúng tôi khắc họa bức tranh toàn cảnh của một vùng đất thông qua nhiều lĩnh vực như kinh tế, lịch sử, chính trị, xã hội và văn hóa, dựa trên địa danh của vùng đất đó.

Mỗi phương pháp nghiên cứu mang lại giá trị riêng, và trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi luôn linh hoạt kết hợp các phương pháp này tùy theo từng giai đoạn nghiên cứu cụ thể.

Nguyên tắc nghiên cứu

Trong nghiên cứu địa danh, chúng tôi áp dụng năm nguyên tắc cơ bản của Lê Trung Hoa, được trình bày trong tác phẩm "Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh" liên quan đến địa danh thành phố Hồ Chí Minh.

- Phải am hiểu lịch sử của địa bàn mình nghiên cứu

- Phải am hiểu địa hình của địa bàn

- Phải tìm các hình thức cổ của địa danh

- Phải nắm vững các đặc điểm về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp của phương ngữ tại địa bàn

- Phải thận trọng trong việc vận dụng các phương pháp ngôn ngữ học khi phân tích địa danh [ Lê Trung Hoa 2003, 15 - 19].

Nguồn tài liệu nghiên cứu

Bao gồm hai loại tài liệu thành văn và tư liệu từ điền dã thực tế

Tài liệu thành văn, bao gồm sách, báo, và các công trình nghiên cứu khoa học, cung cấp thông tin quan trọng về địa danh, văn hóa và sự hình thành, phát triển của Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.

Tư liệu điền dã thực tế: thông qua những ghi chép trong dân chúng, phỏng vấn các chuyên gia, các nhà nghiên cứu khoa học ( tài liệu chưa thành

BỐ CỤC LUẬN VĂN

Dựa trên mục đích và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đã thiết kế bố cục luận văn bao gồm phần dẫn luận và kết luận, cùng với các chương mục chính được trình bày rõ ràng.

NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

Địa danh

Cuộc sống con người luôn liên quan mật thiết đến môi trường tự nhiên và xã hội, trong đó môi trường địa lý đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thực tiễn.

Khái niệm địa danh không chỉ đơn thuần là tên gọi của một vùng đất, mà còn là một đối tượng nghiên cứu trong ngành địa danh học, đòi hỏi sự hiểu biết rộng hơn Địa danh bao gồm tên gọi của tất cả các đối tượng địa lý trên trái đất, từ địa hình tự nhiên, nơi cư trú cho đến các công trình do con người xây dựng.

Khái niệm địa danh có nhiều quan điểm và hướng nghiên cứu khác nhau Theo nhà ngôn ngữ học Nga A.V Superanskaja, địa danh là những từ riêng biểu thị tên gọi các địa điểm, với đặc điểm là những vật thể tự nhiên hoặc nhân tạo có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Ông cho rằng mọi đối tượng địa lý, từ lớn đến nhỏ, đều có tên gọi riêng Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học chia thành hai nhóm: nghiên cứu theo góc độ địa lý – văn hóa và nghiên cứu theo góc độ ngôn ngữ học.

Theo Nguyễn Văn Âu, địa danh được định nghĩa là tên gọi của các vùng đất, bao gồm tên sông, núi, làng mạc và các địa phương của các dân tộc.

Lê Trung Hoa, một nhà ngôn ngữ học, đã nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học và định nghĩa rằng địa danh là những từ hoặc ngữ được sử dụng làm tên riêng cho các địa hình thiên nhiên, công trình xây dựng có không gian hai chiều, đơn vị hành chính và các vùng lãnh thổ.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên Trường định nghĩa địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn, có vị trí xác định trên bề mặt trái đất.

Trong tác phẩm "Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ", Bùi Đức Tịnh định nghĩa địa danh là danh từ tổng quát chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên trong sinh hoạt xã hội cùng với các đơn vị hành chính và quân sự Ông không chỉ tập trung vào những địa danh liên quan đến yếu tố địa lý mà còn mở rộng nghiên cứu đến các địa danh gắn liền với hành chính và quân sự.

Nguyễn Hữu Hiếu trong bài viết “Tìm hiểu ngưồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết” cho rằng địa danh không chỉ là danh từ riêng để chỉ tên một vùng đất, mà còn bao gồm tên gọi cho nhiều đối tượng khác nhau như địa hình tự nhiên (sông, rạch, núi, đồi), công trình xây dựng (cầu, đường, chợ), và các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, quận, tổng, làng, xã).

…), các vùng, xóm, xứ …” [Nguyễn Hữu Hiếu 2004: 71]

Trần Ngọc Thêm, nhà nghiên cứu văn hóa, nhấn mạnh rằng con người đã để lại nhiều dấu ấn trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên Sự tác động này không chỉ mang tính vật chất, như luyện quặng hay đẽo gỗ, mà còn thể hiện qua các yếu tố tinh thần, như việc đặt tên và tạo truyền thuyết cho các danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long hay núi Ngũ Hành.

Địa danh là sản phẩm do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội Chúng không chỉ phản ánh hoạt động thực tiễn mà còn mang đậm dấu ấn văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất.

1.1.1.2 Phân lo ạ i đị a danh Định nghĩa địa danh là vấn đề phức tạp, phân loại địa danh thì lại càng phức tạp hơn Tuỳ vào cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu, đối trượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu khác nhau mà mỗi nhà địa danh học đã đưa ra nhiều cách phân loại địa danh cụ thể cho phù hợp với việc nghiên cứu của mình

Nhà ngôn ngữ học A.V Superanskaja đã phân loại địa danh thành bảy loại chính: phương danh (tên địa phương), thủy danh (tên các dòng chảy, hồ, vũng), sơn danh (tên núi, đồi, gò), phố danh (tên các công trình trong thành phố), viên danh (tên quảng trường, công viên), lộ danh (tên đường phố) và đạo danh (tên các tuyến giao thông trên mặt đất, dưới nước, trên nước, trên không) [Superanskaja A.V 1985: 8].

Trong quá trình nghiên cứu, các nhà địa danh học ở Việt Nam đã đưa ra những tiêu chí theo cách lập luận của mình để phân loại địa danh

Nguyễn Văn Aâu đã phân loại địa danh thành ba cấp: loại địa danh, kiểu địa danh và dạng địa danh, dựa trên các đặc tính địa lý và xã hội Ông chia địa danh thành hai loại chính: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế – xã hội Trong đó, có bảy kiểu địa danh bao gồm thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố và quốc gia Đối với dạng địa danh, ông xác định có 12 dạng như sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố và quốc gia Mặc dù cách phân loại của Nguyễn Văn Aâu khá bao quát và cụ thể, nhưng nó cũng được cho là quá phức tạp.

Trong tác phẩm "Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí Minh)", Lê Trung Hoa đã phân loại địa danh tại thành phố Hồ Chí Minh thành hai nhóm lớn dựa trên tiêu chí "tự nhiên - không tự nhiên".

1) Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo, trong đó có bốn nhóm nhỏ:

- Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên (tên sông, rạch, núi, đồi, …)

- Địa danh chỉ các đơn vị hành chánh (tên ấp, xã, huyện, tỉnh, …)

- Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng (các xóm, khu, vùng, …)

- Địa danh chỉ các công trình xây dựng (cầu, đường, công viên, sân vận động, …)

2) Dưới góc độ về ngôn ngữ học, dựa vào ngữ nguyên tác giả chia làm bốn nhóm:

- Địa danh gốc Hán Việt

- Địa danh gốc Pháp [Lê Trung Hoa 2003, 17 - 21]

Nguyễn Kiên Trường trong luận án Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng đã đưa ra ba tiêu chí và phân loại địa danh như sau:

1) Tiêu chí dựa vào đối tượng địa lý, trong đó tác giả chia thành hai nhóm:

Nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên

Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn

Văn hóa

Theo Đào Duy Anh, văn hóa không chỉ là những học thuật tư tưởng cao quý của nhân loại mà còn bao gồm ba bộ phận chính: Kinh tế sinh hoạt, Xã hội sinh hoạt và Tri thức sinh hoạt Điều này cho thấy văn hóa có tính đa dạng và phong phú hơn nhiều so với những gì người ta thường nghĩ.

Văn hóa được định nghĩa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra qua lịch sử Theo Phan Ngọc, văn hóa không chỉ là sản phẩm của quá trình sáng tạo mà còn phản ánh bản sắc và tâm hồn của mỗi dân tộc.

Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong tâm trí cá nhân hoặc tộc người và thực tại mà họ đã mô hình hóa Mối quan hệ này được thể hiện rõ qua các lựa chọn riêng biệt của cá nhân hoặc tộc người, tạo nên sự khác biệt so với các lựa chọn của những cá nhân hay tộc người khác.

UNESCO phân chia di sản văn hóa thành hai loại: văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể Văn hóa phi vật thể bao gồm các biểu hiện tinh thần như truyền thống, âm nhạc, phong tục tập quán và tín ngưỡng lễ hội, được lưu truyền và biến đổi qua các thế hệ Ngược lại, văn hóa vật thể tồn tại dưới dạng vật chất như đình, miếu, đền, chùa, lăng và mộ Mặc dù hai loại hình văn hóa này khác nhau, nhưng chúng luôn có mối quan hệ mật thiết và tương hỗ với nhau.

Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa có 4 đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Chức năng cơ bản của văn hóa bao gồm tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giao tiếp xã hội và giáo dục Để định nghĩa văn hóa, cần nắm vững các đặc trưng và chức năng này Ông đã định nghĩa văn hóa là "một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội." [Trần Ngọc Thêm 2001: 25].

Các nhà nghiên cứu văn hóa thống nhất rằng văn hóa là một tổng thể bao gồm sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn và qua các thời kỳ lịch sử Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra rằng vị trí của một nền văn hóa trong xã hội cần được xác định qua ba hệ tọa độ: Thời gian văn hóa, Không gian văn hóa và Chủ thể văn hóa Chúng tôi đồng ý với định nghĩa này và trong luận văn này, sẽ xem xét văn hóa qua địa danh ở Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ không gian, thời gian, chủ thể văn hóa và các hoạt động liên quan.

Văn hóa phản ánh sự tồn tại, tương tác và phát triển của con người với môi trường tự nhiên Đào Duy Anh nhấn mạnh rằng để nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, cần xem xét điều kiện địa lý nơi dân tộc đó sinh trưởng Điều này cho thấy rằng địa lý tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, giúp hiểu rõ sự hình thành và phát triển văn hóa cũng như tâm lý của người dân trong khu vực Địa văn hóa là khái niệm định vị văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời là phương pháp lý giải các đặc điểm văn hóa dựa vào điều kiện tự nhiên, từ đó tạo ra sự khác biệt văn hóa giữa các dân tộc ở các vùng khác nhau Trong tác phẩm "Đại cương văn hóa Việt Nam," Phạm Thái Việt đã nêu rõ cơ sở khoa học cho phương pháp định vị văn hóa này.

Bản thân con người cũng là bộ phận của tự nhiên Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi chất với môi

Quá trình trao đổi chất diễn ra theo hai hướng chính: thích nghi với tự nhiên và cải tạo tự nhiên, từ đó hình thành các yếu tố văn hóa.

Như vậy, có thể khẳng định rằng môi trường tự nhiên chi phối quá trình hình thành và phát triển của văn hóa

Trong tác phẩm "Bản sắc văn hóa Việt Nam," Phan Ngọc nhấn mạnh rằng văn hóa phát triển theo quy luật riêng, và giao lưu là yếu tố then chốt trong quá trình này Giao lưu không chỉ giúp các nền văn hóa điều chỉnh và mở rộng ảnh hưởng về nội dung lẫn hình thức, mà còn thúc đẩy sự đổi mới cần thiết để tạo sức lôi cuốn mạnh mẽ.

Giao lưu văn hóa là phương pháp định vị văn hóa dựa trên lý thuyết về sự lan tỏa văn hóa, hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hóa Đây là quá trình vận động thường xuyên của văn hóa, trong đó giao lưu văn hóa là yếu tố sống còn cho sự tồn tại của bản chất xã hội con người Khi những nhóm người có văn hóa khác nhau tiếp xúc lâu dài, sẽ xảy ra sự biến đổi văn hóa giữa các bên Sự giao lưu này diễn ra trong mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa nội sinh và văn hóa ngoại sinh.

Trong quá trình giao lưu văn hóa, yếu tố ngoại sinh có thể trở thành yếu tố nội sinh khi yếu tố nội sinh mạnh mẽ, và ngược lại, yếu tố ngoại sinh có thể làm triệt tiêu yếu tố nội sinh khi nó vượt trội hơn Tuy nhiên, khi hai yếu tố này thích nghi với nhau, sẽ xảy ra hiện tượng cộng sinh, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Hiện tượng này không chỉ giúp hòa nhập mà còn giữ gìn bản sắc riêng của văn hóa dân tộc.

1.1.2.4 Tính đ a t ầ ng và h ộ i nh ậ p c ủ a v ă n hóa

Vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, vùng đất Nam Bộ, đặc biệt là Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, đã chứng kiến sự phát triển của nhiều cộng đồng dân tộc như Khmer, Việt, Hoa, Chăm, Stiêng và Mạ Mỗi dân tộc mang đến những sắc thái văn hóa riêng, góp phần vào nền văn hóa chung phong phú và đa dạng của khu vực Sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng này đã tạo ra một bức tranh văn hóa đa dạng, thể hiện sự thống nhất trong sự đa dạng của các tộc người, đồng thời tạo nên tính đa tầng trong văn hóa vùng đất phương Nam.

Trong vùng đất này, tên các đơn vị hành chính thường sử dụng từ Hán Việt, phản ánh ước vọng của người dân về sự thịnh vượng và bình an Các yếu tố như Bình, An, Tân, Phú, Hưng, Mỹ thường xuất hiện, tương tự như nhiều nơi khác ở Việt Nam Bên cạnh địa danh thuần Việt, còn có sự hiện diện của các yếu tố Khmer, Chăm, và Pháp, cho thấy sự hòa hợp của nhiều tầng văn hóa, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú nơi Nguyễn Tất Thành khởi đầu hành trình cứu nước.

1.1.2.5 Quan h ệ gi ữ a đị a danh và v ă n hóa Địa danh là tên đất, tên một khu vực, tên một địa phương, tên một vùng địa lý Địa danh là một hiện tượng ngôn ngữ, về bản chất, nó còn là một hiện tượng văn hóa Địa danh được sinh ra cùng với văn hóa Địa danh có lịch sử lâu đời, từ khi xuất hiện nó đã trở thành một bộ phận của văn hóa, nó là kết quả tất nhiên của văn hóa, là một trong những thành quả đầu tiên và là một trong những tiêu chí của văn hóa nhân loại Địa danh phát triển cùng văn hóa Lịch sử văn hóa của con người trải qua gần đơn nhất đến phong phú Địa danh trong quá trình này cùng phát triển đồng hành với văn hóa Ví dụ trước khi có tín ngưỡng vật tổ, nhóm người nguyên thủy sống cuộc sống di cư, tức là không có tên gọi của quần thể, cũng không có tên gọi của địa danh Sau đó mỗi nhóm người biết lấy các loài động vật, thực vật làm vật tổ cho mình, từ đó nó trở thành tên của họ Khi có tín ngưỡng vật tổ, mỗi thị tộc có tên gọi vật tổ riêng, và khi họ định cư ở một nơi nào đó, người ta thường lấy tên của nhóm người hay thị tộc làm tên đất nơi họ ở Địa danh là một hiện tượng văn hóa Văn hóa đi vào mọi phương diện của cuộc sống con người Hầu hết các hiện tượng xã hội và hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Địa danh là kết quả của hành vi xã hội của con người, có liên quan mật thiết đến các yếu tố như tâm lý xã hội, đời sống xã hội, phong tục tập quán, Qua vô số các hiện tượng của địa danh có thể quan sát được nhiều vấn đề về văn hóa như tâm lý xã hội, đời sống xã hội, phong tục tập quán, v.v Địa danh là vật dẫn của văn hóa Cũng như một số hiện tượng ngôn ngữ khác, trong quá trình phát triển của văn hóa, địa danh là công cụ vận chuyển và truyền bá tích cực Chẳng hạn như qua địa danh, chúng ta có thể tìm hiểu văn hóa thời thượng cổ mà bằng con đường khác chúng ta khó tìm hiểu được do thời gian quá xa, bởi địa danh còn lưu lại không ít dấu vết văn hóa thời thượng cổ

Nghiên cứu địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn văn hóa giúp khám phá mối liên hệ giữa địa danh và văn hóa, đồng thời làm rõ cách thức mà văn hóa được thể hiện qua các địa danh trong thành phố.

1.1.2.6 M ố i quan h ệ gi ữ a đị a v ă n hóa và đị a danh

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH

1.2.1 Giai đoạn buổi đầu khai hoang

Con người đã xuất hiện tại khu vực Sài Gòn từ rất sớm, với các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy nhiều nền văn hóa tồn tại từ thời kỳ đồ đá đến thời kỳ kim khí Những cư dân cổ đại đã phát triển kỹ thuật canh tác nông nghiệp từ hàng thiên niên kỷ trước Văn hóa Sa Huỳnh từng hiện diện tại đây với những đặc trưng riêng biệt Trong thời kỳ văn hóa Ốc Eo, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ 7, miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc, và Sài Gòn khi đó là vùng đất có mối quan hệ với các vương quốc này.

Trước thế kỷ 16, Sài Gòn đã trở thành điểm giao thoa của nhiều cộng đồng dân cư nhờ vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ Tuy nhiên, những cuộc tranh chấp đã khiến vùng đất Sài Gòn - Gia Định vẫn là miền đất hoang, thuộc về một số nhóm dân cư cổ cho đến khi người Việt xuất hiện.

Những người Việt đầu tiên đã tự ý vượt biển để khai thác vùng đất Sài Gòn, Đồng Nai mà không có sự tổ chức từ nhà Nguyễn Mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp được cải thiện nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn và vua Chey Chetta II vào năm 1620, cho phép cư dân hai nước tự do di chuyển và sinh sống Trước đó, khu vực này đã có sự hiện diện của người Chăm và các dân tộc thiểu số khác từ lâu đời.

Giai đoạn từ 1623 đến 1698 được coi là thời kỳ hình thành Sài Gòn Vào năm 1623, chúa Nguyễn đã cử phái bộ yêu cầu vua Chey Chettha II cho phép lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé) Mặc dù khu vực này là rừng rậm hoang vắng, nhưng lại nằm trên tuyến đường giao thương quan trọng của các thương nhân Việt Nam với Campuchia và Xiêm Hai sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn, cùng với việc thành lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay) Có thể nói, Sài Gòn đã hình thành từ ba cơ quan chính quyền này.

Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu giao nhiệm vụ vào Nam kinh lược, trong đó ông đã thành lập phủ Gia Định từ đất Nơng Nại, huyện Phước Long từ đất Đồng Nai, dựng dinh Trấn Biên, và huyện Tân Bình từ đất Sài Gòn, đồng thời xây dựng Phiên Trấn.

Vào thời điểm ban đầu, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu Cơng cuộc khai hoang được tiến hành bằng những phương thức mới, mang lại hiệu quả cao hơn Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn miền Nam, thực hiện các công trình kênh đào như Rạch Giá - Hà Tiên, Vĩnh Tế Sau 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển xung quanh những đô thị sầm uất đã được hình thành.

Năm 1788, Nguyễn Ánh tái chiếm Sài Gòn làm căn cứ chống Tây Sơn Đến năm 1790, với sự hỗ trợ của hai sĩ quan Pháp, ông xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở chính quyền mới, đổi Gia Định thành Gia Định kinh Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế và chia miền Nam thành 5 trấn; sáu năm sau, Gia Định trấn được đổi thành Gia Định thành Từ 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống nhà Nguyễn, khiến Thành Bát Quái trở thành căn cứ Sau khi dập tắt cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng ra lệnh phá Thành Bát Quái và xây dựng Phụng thành thay thế.

Sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, người Pháp nhanh chóng quy hoạch Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ khai thác thuộc địa, bao gồm cả khu vực Chợ Lớn Tuy nhiên, đến năm 1864, do lo ngại về an ninh, chính quyền Pháp đã tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn Các công trình quan trọng như dinh Thống đốc Nam Kỳ và Dinh Tồn quyền được xây dựng, khiến bộ mặt Sài Gòn hoàn toàn thay đổi, thiết kế theo mô hình châu Âu với nhiều cơ quan công quyền Đến năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn Năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban thành phố Đến giữa thập niên 1870, Sài Gòn vẫn thuộc tỉnh Gia Định, cho đến khi Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn vào ngày 15 tháng 3 năm 1874.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn đã phát triển thành trung tâm quan trọng không chỉ về hành chính mà còn về kinh tế, văn hóa và giáo dục của toàn Liên bang Đông Dương.

1.2.4 Giai đoạn chế độ Việt Nam Cộng hòa (1945 - 1975)

Từ năm 1949, Sài Gịn đã là thủ đơ của Quốc gia Việt Nam Đến năm

Năm 1954, Việt Nam Cộng hòa được thành lập, với Sài Gòn trở thành thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia non trẻ này Cùng năm, thành phố đã tiếp nhận một lượng dân cư mới từ miền Bắc Việt Nam Theo nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Sài Gòn đã được chia từ 6 quận thành 8 quận, với tổng cộng 41 phường.

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam Cộng hòa cùng với viện trợ từ Chính phủ Hoa Kỳ đã biến Sài Gòn thành một thành phố rực rỡ, được biết đến với tên gọi Hòn ngọc Viễn Đông Sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam đã tạo ra nhiều xáo trộn cho thành phố, với nhiều cao ốc và công trình quân sự được xây dựng Văn hóa Âu Mỹ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống của giới trẻ Sài Gòn, đưa thành phố trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giải trí.

Cuối những năm của cuộc chiến tranh Việt Nam, nền kinh tế miền Nam rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, với lạm phát gia tăng đáng kể Hệ lụy và hậu quả của tình hình này đã ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống người dân và sự phát triển của khu vực.

Bản đồ 1.2 (Aûnh: Sài Gịn Gia Định Xưa – 1996)

1.2.5 Giai đoạn thống nhất (sau 1975)

Sau năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quản lý miền Nam Đầu năm 1976, Đảng bộ và Ủy ban Nhân dân thành phố bắt đầu hoạt động Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh, mang tên Chủ tịch nước đầu tiên, Hồ Chí Minh.

Với diện tích 1.295,5 km², thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt Nam Trước đây, 11 quận nội thành Sài Gòn được chia lại thành 8 quận, trong đó có 4 quận mới là Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh và Tân Bình Khu vực ngoại thành bao gồm 5 huyện: Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh và Nhà Bè Năm 1978, thành phố tiếp nhận thêm hai huyện từ tỉnh Đồng Nai Đến năm 1979, các đơn vị hành chính được phân chia lại, tạo thành 261 phường và 86 xã Sau điều chỉnh năm 1989, thành phố có 182 phường và 100 xã, thị trấn Đến năm 1997, phân chia hành chính của thành phố được thay đổi một lần nữa, bao gồm 17 quận và 5 huyện với tổng cộng 303 phường, xã và thị trấn.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, với tổng diện tích 2.093 km² Khu vực nội thành có 19 quận, bao gồm các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú (nội thành cũ) và 2, 7, 9, 12, Bình Tân, Thủ Đức (nội thành mở rộng), chiếm diện tích 492,22 km² và 254 phường Khu vực ngoại thành gồm 5 huyện: Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, với diện tích 1.601,48 km², bao gồm 5 thị trấn và 58 xã.

ĐỊA LÝ

Thành phố Hồ Chí Minh cĩ tọa độ 10° 10’ – 10° 38 vĩ độ Bắc và 106° 22’ – 106° 54 ’ kinh độ Đơng, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh

Thành phố Hồ Chí Minh có hình dáng dài và thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với diện tích hơn 2000 km2 và chiều dài 150 km từ Củ Chi đến Cần Giờ Nơi rộng nhất là quận 9 đến Bình Chánh với 50 km, trong khi nơi hẹp nhất là Nhà Bè chỉ 6,5 km Đây là vùng đất đặc biệt, đóng vai trò là ranh giới giữa miền Đông Nam bộ và miền Tây Nam bộ, với địa hình chuyển tiếp từ vùng đất cao phù sa cổ sang đồng bằng phù sa mới Về mặt địa chất, khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chu kỳ V trong thời kỳ Pleistocene, khi khối núi cực Nam Trung bộ bị tác động bởi hoạt động nâng lên của sơn khối Tây Campuchia và sự sụp võng của đồng bằng sông Cửu Long.

Do vậy địa hình thành phố có ba dạng chính:

- Dạng đồi gò lượn sóng thuộc thềm phù sa cũ bị bào mòn, độ cao từ

10 – 30m, từ Củ Chi đến quận 9

- Dạng đồng bằng có độ cao 5 – 10m gồm Hóc Môn và các quận nội thành

Khu vực đất thấp mới hình thành ở Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ có độ cao từ 0,5 – 2m, thường xuyên bị sông rạch chia cắt và ngập mặn Đây là khu vực cửa sông và vịnh biển của hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn.

Dấu tích của khảo cổ học cho biết cách nay khoảng 3000 năm, khu vực

Cách đây khoảng 2000 năm, cư dân cổ đã mở rộng khu vực sinh sống xuống vùng đất thấp ven cửa sông và vịnh biển, hình thành một “cảng thị sơ khai” và đặt nền móng cho sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh sau này.

Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở miền Đông Nam Bộ, không chỉ có giá trị địa chất – địa lý mà còn mang ý nghĩa quan trọng về mặt Địa – Văn hóa và Địa – Lịch sử Vùng đất này thể hiện sự chuyển biến rõ nét từ thời tiền sử sang thời kỳ lịch sử trong những thế kỷ đầu Công nguyên.

Thành phố Hồ Chí Minh, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, đã trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Khác với Hà Nội, vận tải thủy tại đây đóng vai trò lớn, với vận tải hàng hóa đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông chiếm 20% tổng khối lượng thông qua Trong khi đó, vận tải đường bộ chỉ chiếm 44% hàng hóa nhưng lại chiếm tới 85,6% vận tải hành khách.

Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất Việt Nam, nổi bật với diện tích và công suất nhà ga vượt trội Năm 2006, sân bay đã phục vụ 239 triệu lượt hành khách và vận chuyển 73.743 tấn hàng hóa, cùng với 44.341 tấn hàng được bốc xếp Hiện tại, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 340.000 ô tô và 3,5 triệu xe máy, gấp đôi so với Hà Nội.

Giao thông đường sắt tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận do Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, cùng với tuyến Bắc - Nam và một số đoạn đường chuyên dụng hiện đã ngừng khai thác Thành phố có hai nhà ga chính là Sĩng Thần và Sài Gòn, bên cạnh một số ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, và Gò Vấp Tuy nhiên, do mạng lưới đường sắt không kết nối trực tiếp với các cảng và cơ sở hạ tầng cũ kỹ, giao thông đường sắt ở đây không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.

Về giao thơng đường bộ, thành phố cĩ 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đơng, Văn Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn,

Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè và Tân Cảng, cùng với nhiều cảng sông như Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi và Bình Phước Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% tổng khối lượng hàng hóa qua các cảng biển cả nước Cảng Bến Nghé, rộng 32 ha với cầu cảng dài 528 m, có khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn Mặc dù năng lực của các cảng tại Thành phố Hồ Chí Minh lớn, nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và đường sông vẫn gặp khó khăn do thiếu thiết bị, dẫn đến việc bốc dỡ hàng hóa chủ yếu phải thực hiện thủ công.

Giao thông nội đô thành phố Hồ Chí Minh đang gặp nhiều thách thức do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu kém và hệ thống đường xá chật hẹp, dẫn đến tình trạng ùn tắc thường xuyên Thành phố có 239 cây cầu, nhưng phần lớn có chiều rộng nhỏ hơn đường, gây khó khăn cho phương tiện giao thông; nhiều cầu còn có trọng tải thấp hoặc đang xuống cấp Tại các huyện ngoại thành, nhiều tuyến đường vẫn là đường đất đá, trong khi hệ thống đường nhựa đã trở nên quá tải và cần sửa chữa Để cải thiện tình hình giao thông, thành phố đang đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống giao thông công cộng với 3.250 xe buýt và 8.000 taxi, nhưng chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu di chuyển Hệ thống xe buýt hiện tại chưa hiệu quả, với 65% tuyến trùng lặp Bên cạnh đó, dự án tàu điện ngầm với bốn tuyến, tổng chiều dài 54 km và 22 nhà ga cũng đang được triển khai, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động hai tuyến đầu tiên vào cuối năm 2010.

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới cận xích đạo, có nhiệt độ cao quanh năm với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trung bình, thành phố nhận được 160 đến 270 giờ nắng mỗi tháng, với nhiệt độ trung bình khoảng 27°C, có thể lên tới 40°C và xuống thấp nhất là 13,8°C Hàng năm, thành phố có khoảng 330 ngày với nhiệt độ trung bình từ 25 đến 28°C Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.949 mm, với mức cao nhất ghi nhận là 2.718 mm vào năm 1908 và thấp nhất là 1.392 mm vào năm 1958.

159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các thàng từ 5 tới 11, chiếm khoảng

Khoảng 90% lượng mưa tập trung vào hai tháng 6 và 9, với sự phân bố không đều trên toàn thành phố Lượng mưa có xu hướng tăng từ Tây Nam đến Đông Bắc, đặc biệt các quận nội thành và huyện phía Bắc nhận được lượng mưa cao hơn so với các khu vực khác.

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính: gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Đông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương có tốc độ trung bình 3,6 m/s vào mùa mưa, trong khi gió Bắc – Đông Bắc từ biển Đông có tốc độ trung bình 2,4 m/s vào mùa khô Ngoài ra, còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam từ tháng 3 đến tháng 5 với tốc độ trung bình 3,7 m/s Thành phố Hồ Chí Minh không có gió bão và có lượng mưa cùng độ ẩm không khí cao vào mùa mưa (80%) và thấp vào mùa khô (74,5%) Trung bình, độ ẩm không khí hàng năm đạt 79,5%.

Thành phố không có khoáng sản quý hiếm, chủ yếu chỉ có một số khoáng sản phi kim loại như sét, cát sỏi, và đất đá phục vụ cho xây dựng, tập trung chủ yếu ở Long Bình (quận 9) Ngoài ra, còn có sét trắng dùng để làm đồ gốm tại Nhuận Đức và An Nhơn (huyện Củ Chi), Vĩnh Lộc (huyện Bình Chánh), cùng với một số vật liệu phụ gia như phiến đất sét và sét có tính trương nở cao.

Thành phố Hồ Chí Minh có ba hệ sinh thái rừng tiêu biểu: rừng nhiệt đới ẩm, rừng úng phèn và rừng ngập mặn Rừng nhiệt đới ẩm chủ yếu nằm ở Củ Chi và Thủ Đức, trong khi rừng úng phèn bao gồm các cánh rừng tràm tự nhiên ở tây nam Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn và Nhà Bè Rừng ngập mặn tập trung tại Cần Giờ, phía nam thành phố, với sự đa dạng phong phú của hệ thực vật, có 104 loài thuộc 48 họ Rừng phòng hộ Cần Giờ đã trở thành lá phổi xanh khổng lồ của thành phố, với diện tích lên đến 30.000 ha.

Động vật của thành phố xưa kia rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loài trên cạn như cọp, nai, gấu, heo rừng và khỉ vượn, cùng với các loại bò sát như trăn, rắn, rùa, kỳ đà Dưới nước, có nhiều rái cá, cá sấu, tôm, cá, cua và ốc Hệ thống chim cũng phong phú với các loài như le le, cị, vạc, vịt trời, chàng bè, mỏ nhác, chim sẻ, áo già, két và én Hiện nay, nhiều địa danh như Bến Nghé, rạch Sấu, Bàu Nai, Hĩc Hươu, Rỏng Tượng và Láng Le – Bàu Cị vẫn lưu giữ dấu ấn của sự đa dạng động vật này.

… [Thạch Phương – Lê Trung Hoa 2008: 20].

XÃ HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số khoảng 6.239.938 người, là thành phố đông dân nhất Việt Nam và có tỷ lệ tăng dân số cao, chủ yếu do di cư Vào đầu thế kỷ XVIII, người Việt từ Thuận Hóa và Quảng Nam đã di cư đến khai phá vùng đất ven sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, tạo nên những thôn làng đầu tiên Họ chủ yếu là nông dân và thợ thủ công, rời bỏ quê hương do chiến tranh Trịnh Nguyễn và áp bức phong kiến, tìm kiếm cơ hội sống mới Đến cuối thế kỷ XVII, số lượng lưu dân đã tăng lên khoảng 40.000 hộ, tương đương với khoảng 200.000 người.

Vào thế kỷ 17, khu vực này đã có sự hiện diện của các nhóm dân tộc như Khmer, Stiêng, Mạ và Chăm Năm 1679, một nhóm di dân người Hoa gồm 3.000 người, do hai tướng Minh Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn đầu, đã được chúa Nguyễn cho phép khai phá cù lao Phố (Biên Hòa) và Mỹ Tho Đến năm 1698, dân số khu vực này đã gia tăng đáng kể.

10.000 người Từ Gia Định phủ đến Gia Định trấn (1802), rồi Gia Định thành

Vùng đất ngày nay là thành phố Hồ Chí Minh đã nhanh chóng phát triển với việc xây dựng thành, đào kênh, mở phố chợ và lập bến sông, thu hút đông đảo dân cư Sự tấp nập của tàu thuyền từ trong và ngoài nước cùng với sự đa dạng của thương nhân và hàng hóa đã tạo nên một không khí sôi động Trong suốt thế kỷ XVIII, dân số khu vực này gia tăng đáng kể nhờ vào sự phát triển sản xuất, mở rộng quy mô và nâng cấp trung tâm, bên cạnh những biến cố lịch sử.

Năm 1778, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, dẫn đến hàng ngàn người Hoa di cư vào Sài Gòn, khu vực hiện nay là Chợ Lớn Đến năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, thiết lập kinh đô tại Huế và đổi Gia Định thành Gia Định trấn Sau khi cuộc chiến kết thúc và đất nước thống nhất, số lượng người từ khắp nơi đổ về Sài Gòn sinh sống ngày càng đông.

Trong bối cảnh lịch sử của vùng Nam Bộ, Sài Gòn – Gia Định nổi bật với sự đa dạng dân tộc, với hơn 40 dân tộc sinh sống Dân tộc Kinh chiếm ưu thế nhất, với 91,2% dân số thành phố, tiếp theo là các dân tộc Hoa, Chăm, Khmer, Tày, Nùng, Mường và Thái.

Người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu có nguồn gốc từ các tỉnh phía nam Trung Quốc, đặc biệt là Quảng Đông và Phúc Kiến Các nhóm ngôn ngữ phổ biến trong cộng đồng người Hoa bao gồm Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ Hiện nay, người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 50% tổng số người Hoa trên toàn quốc.

Sự hiện diện của người Khmer trên vùng đất này đã được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử hơn 300 năm trước Vào thời điểm đó, cộng đồng người Việt đã di cư và sống chung với người Khmer, tạo nên sự giao thoa văn hóa đặc sắc trong khu vực.

Trong thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 23 địa danh mang nguồn gốc Khmer, như Xoài Rạp, Cần Giờ và Prei Nokor (Sài Gòn) Dân tộc Khmer tại khu vực này có khoảng 4.684 người, chủ yếu sinh sống tại các quận 3, 6, 8, 10, Tân Bình, Bình Thạnh và Thủ Đức.

Người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu di cư từ Châu Đốc trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1970 Hiện nay, dân tộc Chăm tại đây có khoảng 5.173 người, phân bố chủ yếu ở 12 quận nội thành Các khu vực cư trú của người Chăm khá rõ nét, với các địa điểm như Nancy (quận 1), phường 15, 17 (quận Phú Nhuận), cầu Bình Đông, và Cầu Rạch Ông Quận 8 là nơi có số lượng người Chăm đông nhất trong thành phố.

1.4.2 Văn hóa cư dân thành phố Hồ Chí Minh

Vào cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này đã trở thành nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc như Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, tạo nên một thành phố đa tộc đa văn hóa Sự cộng cư này dẫn đến sự phong phú về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán, đồng thời hình thành những đặc điểm văn hóa tốt đẹp Những giá trị văn hóa này cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến cách đặt địa danh của vùng đất.

Hơn 300 năm trước, người Việt từ miền Bắc và miền Trung (Thuận Hóa, Quảng Nam) đã di cư đến vùng đất mới, mang theo tên đất, tên làng, cùng với hình ảnh “cây đa, bến nước, sân đình” Họ không chỉ mang theo mô thức tổ chức làng xã và kinh nghiệm trồng lúa nước, mà còn giữ gìn những phong tục, tập quán đặc trưng Dù đã rời xa quê hương về cả không gian lẫn thời gian, nhưng trong tâm thức họ vẫn luôn nhớ về quê cũ với nỗi niềm hoài niệm sâu sắc.

Từ độ mang gươm đi mở cõi, Trời nam thương nhớ đất Thăng Long

(Huỳnh Văn Nghệ – Nhớ Bắc)

Trong quá trình sinh sống tại vùng đất mới, các cộng đồng người Việt, Hoa, Khmer và Chăm dù có nguồn gốc tộc người khác nhau nhưng đều chung hoàn cảnh là những nông dân nghèo bị phá sản, buộc phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm cuộc sống mới Chính vì vậy, lịch sử phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, đã trở thành nơi giao thoa của một nền văn hóa đa dạng với sự hiện diện của nhiều tộc người khác nhau.

Cấu trúc làng Việt đặc trưng với những ngôi chùa cổ Khmer, miếu thờ Bà Thiên Hậu, cùng các làn điệu dân ca và trò chơi dân gian phong phú.

Thành phố Hồ Chí Minh, một phần của văn hóa Việt Nam và đặc biệt là của Nam Bộ, đã bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có nhiều tôn giáo đa dạng, bao gồm Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, đạo Islam và đạo Hindu.

Và các hoạt động về tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh cũng khá đa dạng và phong phú, hàng năm có tổ chức các lễ hội như sau:

KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH SG – TP.HCM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.5.1 Kết quả thu thập địa danh

Dựa trên phạm vi, đối tượng, nguyên tắc và tiêu chí thu thập địa danh đã đề cập, chúng tôi đã thu thập được ít nhất 5.290 địa danh Các địa danh này được phân loại theo không gian và thời gian, bao gồm tất cả các quận, huyện và thị trấn trong thành phố.

STT Loại hình địa danh Số lượng Tỷ lệ %

01 Địa danh địa hình tự nhiên 1.652 31,22

02 Địa danh chỉ các đơn vị hành chánh

03 Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ 413 7,80

04 Địa danh chỉ các cơng trình xây dựng

Bảng 1.1: Kết quả thu thập địa danh ở Sài Gịn – thành phố Hồ Chí Minh

1.5.2 Kết quả phân loại địa danh Địa danh tự nhiên

Trong đĩ, sơn danh cĩ 23 địa danh, chiếm 0,44 %; thủy danh gồm 1.455 địa danh, chiếm 27,50 %; các vùng đất phi dân cư cĩ 174 địa danh, chiếm

Trong tổng số 5.295 địa danh, có 3,28% là địa danh không tự nhiên Địa danh hành chính chiếm 17,10% với 905 địa danh, trong khi địa danh công trình xây dựng, bao gồm các công trình giao thông, chiếm 39,01% với 2.064 địa danh Số địa danh còn lại là 256, chiếm 4,83% Ngoài ra, có 413 địa danh chỉ vùng, chiếm 7,80%.

Các loại địa danh được phân loại theo tiêu chí tự nhiên và khơng tự nhiên, được thể hiện trong bảng thống kê phân loại sau đây:

Tiêu chí Loại hình địa danh Số lượng Tỷ lệ

Tự nhiên Địa hình tự nhiên

Vùng đất phi dân cư

Các cơng trình nhân tạo Cơng trình xây dựng

Bảng 1.2: Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên và khơng tự nhiên

VĂN HÓA THỂ HIỆN QUA ĐỊA DANH Ở SÀI GÒN – TP.HCM DƯỚI GÓC NHÌN KHÔNG GIAN, THỜI

GIAN VÀ CHỦ THỂ VĂN HÓA

2.1 ĐỊA DANH SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH DƯỚI GÓC NHÌN KHÔNG GIAN VĂN HÓA

Theo Nguyễn Hữu Danh, địa hình thành phố có ba dạng chính: đồi gò lượn sóng với độ cao trung bình 10-25m (Củ Chi – Thủ Đức), đồng bằng có độ cao 5-10m (Hóc Môn và các quận nội thành), và đất thấp với độ cao trung bình 1m (Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Địa hình này cho thấy vùng đất ở đây, giống như nhiều tỉnh miền Nam Việt Nam, từng là khu vực ngập lụt quanh năm, sau đó được phù sa bồi đắp thành rừng rậm và sình lầy, nơi mà người Việt trong cuộc Nam tiến đã khai thác và xây dựng nên những làng mạc trù phú như hiện nay.

Sự chênh lệch về độ cao giữa hai huyện Củ Chi và Thủ Đức được thể hiện rõ qua các địa danh, với nhiều suối chiếm 29/31 tên suối trong tổng số 18 quận, huyện của thành phố, như suối Ba Sa, Bé, Bà Cả Bảy (Củ Chi) và Cái, Chà, Cầu Đá (Thủ Đức) Ngoài ra, có 28/35 tên ngọn như Bàu Năn, Bến Bà Thủ, Ông Câu (Củ Chi) và Bà Hiện, Bảy Xi, Cỏ Chỉ (Thủ Đức) Các địa danh khác cũng bao gồm 18/35 rỏng như rỏng Sau, Dài, Trâu Trên (Củ Chi), 3/4 trảng như trảng Lắm, Bàu Ôn (Củ Chi), và 12/35 gò như gò Bắc, Gió, Nổi, Xoài, Quéo, Phèn Cuối cùng, có 23/47 địa danh bàu như bàu Cạp, Chứa, Đưng, Cụt, Rái, Trích.

Địa hình thiên nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến các địa danh hành chính và công trình xây dựng tại thành phố Các quận nội thành, như Hóc Môn, nổi bật với nhiều địa danh mang tên các công trình như thành phố (13/14 địa danh như Phụng, Gia Định, kinh Vòng Thành), lũy (5/6 địa danh như Ông Dầm, Bán Bích, Ông Công), và đường (1.498 tên đường như Lê Thánh Tông, Hồ Xuân Hương) Ngoài ra, các bót (8/8 địa danh như Bà Hòa, Hàng Keo, Bình Tây) và vườn (24/25 địa danh như Vườn Lài, Vườn Xoài, Vườn Chuối, Vườn Mít) cũng rất phổ biến Trong khi đó, các khu vực như Bình Chánh, Nhà Bè và đặc biệt là Cần Giờ lại có địa hình thấp, góp phần tạo nên nhiều địa danh đặc trưng.

- Sông (48/78 địa danh : các sông Ngã Bảy, Lòng Tàu, Cái Mép, Cần Giuộc,…);

Rạch, một thuật ngữ có nguồn gốc từ từ Khmer "prêk", chỉ những nhánh sông lớn mà ghe thuyền có thể di chuyển qua lại Theo Lê Trung Hoa (2003), có nhiều địa danh nổi bật liên quan đến rạch như Ba Đáy, Tắt Rổi, và Bần Bộng.

- Tắt (69/72 địa danh : các tắt Ăn Chè, Ăn Thịt, Bà Kiên, Chàng Hảng,…);

- Cù lao (7/12 địa danh : các cù lao Cà Xúc, Ông Gò, Vàm Tượng,…);

- Giồng (10/15 địa danh : các giồng Am, Cháy, Chùa,…);

- Doi (3/3 địa danh : các doi Cá Bông Lầu, Tiều ở CG);

- Gành (2/2 địa danh : Gành Hào, Gành Rái – CG)

Địa hình và các địa danh ở Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh không chỉ mang nét đặc trưng mà còn phản ánh văn hóa nhận thức sâu sắc của người dân Những tên gọi gần gũi với đời sống không chỉ thể hiện tính chất của đối tượng mà còn bộc lộ tình yêu và sự gắn bó của con người nơi đây với thiên nhiên.

Sài Gòn, hay thành phố Hồ Chí Minh, nổi bật với hệ thống sông rạch dày đặc, không chỉ thuận lợi cho giao thông mà còn cung cấp nguồn nước phong phú phục vụ cho sinh hoạt và nông nghiệp Những con sông và rạch ở đây đã trở thành biểu tượng văn hóa, gắn liền với nhiều truyền thuyết và huyền thoại, như câu chuyện về rạch Thị Nghè, thể hiện nét đặc trưng của nền văn minh sông nước tại khu vực.

Thành phố có nhiều địa danh liên quan đến thủy văn, phản ánh đặc điểm và sinh hoạt của nước, như vàm Nước lên, rạch Nước Lớn ở Quận 8, rạch Nước Ngọt, kinh Nước Ngọt tại miền Nam, rạch Nước Mặn, mũi và bắc Nước Vận ở Cần Giờ, rạch Nước Trong tại Cần Giờ và Tân Định, cùng với Gò Phèn và Đồng Phèn ở Cần Chánh.

- Con lươn : đường nước tự nhiên, nhỏ và dài như hình con lươn (có khi gọi tắt là lươn) : con lươn Quyền, rạch Lươn Giữa (BC), rạch Lươn (HM)

- Cổ cò : khúc sông cong và “ốm” như cổ con cò Có hai rạch Cổ Cò, một ở Cần Giờ, một ở Nhà Bè

- Cổ hũ : khúc sông cong như cổ cái hũ, tức là có chỗ eo chỗ phình Kinh Tàu Hủ chính là nói chệch của từ ngữ Cổ Hũ này

- Cù lao : do từ Mã Lai pulaw, là cồn đất to nổi lên giữa sông, giữa biển : xóm

Cù Lao (PN), ấp Cù Lao (TĐ), cù lao Xép (CG),…

- Động : có lẽ do đụn đọc chệch, chỉ khối vật rời được chất lên cao : động cát Ở Cần Giờ có sông Động Hàn, cầu Ba Động

Đường là lối đi từ nơi này đến nơi khác, một từ phổ thông trong tiếng Việt Tại Nam Bộ, từ "đường" kết hợp với nhiều từ khác tạo thành các thuật ngữ địa phương như đường xuồng (đường cho xuồng đi), đường đò (đường cho thuyền đi), đường khai (đường nước được đào), và đường trâu (đường cho trâu đi) Những từ ngữ này đã trở thành tên gọi cho nhiều rạch ở thành phố, như rạch Đường Đò, Đường Khai, Đường Thép, Đường Xuồng, xóm Đường Trâu Nhỏ, sông Đường Đá, và ngọn Bến Đường Cát.

Gành là khu vực bờ biển hoặc bờ sông cao, cứng và nhô ra phía trước, khác với ghềnh, là vùng nước sâu có xoáy trên dòng sông Tại Cần Giờ, có hai rạch nổi bật là Gành Hào (Hàu) Bé và Gành Hào (Hàu) Lớn.

Giồng là thuật ngữ chỉ vùng đất cao hơn ruộng, thường có nhiều cát và ít nước, rất phù hợp cho việc trồng khoai đậu và cây ăn quả Tại Nam Bộ, giồng thường xuất hiện ở các vùng ven biển như Cần Giờ, Bến Tre, và Gò Công Một số giồng nổi bật bao gồm giồng Ông Tố ở Thủ Đức và các giồng Am, Ao ở Cần Giờ Từ "giồng" còn được coi là âm trại của từ "vồng", thể hiện sự phong phú trong ngôn ngữ địa phương.

Hàn là vật chắn ngang sông rạch, gây cản trở lưu thông, có thể là đá hoặc lòng cầu Nhiều người thường nhầm lẫn viết thành hàng Tại Cần Giờ, có sông Đá Hàn và sông Động Hàn; ở Củ Chi có cầu và rạch Đá Hàn; còn ở Nhà Bè có cầu Hàn và ở Bình Chánh có rạch Cầu Hàn.

Láng là những cánh đồng thấp, thường xuyên bị ngập nước do gần các con đường nước chảy Tại quận Tư, có láng Thọ; ở Củ Chi, có láng Đỉa và láng Thé; Hóc Môn nổi bật với láng Cát và láng Chà, cùng rạch Láng; trong khi Bình Chánh có láng Le và láng Mặn Ở Bình Thạnh, có láng Voi, và khu vực Duyên Hải có láng Bãi và láng Bần.

Thông qua các địa danh, chúng ta có thể thấy sự phong phú và đa dạng trong chăn nuôi và sản vật của vùng đất này Trên cạn, có nhiều loài động vật như cọp, nai, gấu, heo rừng, khỉ và vượn Dưới nước, hệ sinh thái cũng rất phong phú với rái cá, cá sấu, cùng các loại tôm, cua, sò, ốc Đặc biệt, các loài chim như le le, cò, vạc và vịt trời cũng góp phần làm nên sự đa dạng sinh học của khu vực Nhiều địa danh như Bến Nghé, rạch Sấu, Bàu Nai, Hóc Hươu, Rõng Tượng, Láng Le và Bàu Cò vẫn còn lưu giữ những đặc trưng này.

ĐỊA DANH SÀI GÒN – TP.HỒ CHÍ MINH DƯỚI GÓC NHÌN THỜI GIAN VĂN HÓA

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò quan trọng là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục của cả nước Nằm giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long, thành phố này được hình thành từ công cuộc khai phá miền Nam dưới triều đại nhà Nguyễn Sự ra đời của phủ Gia Định vào năm 1698 do Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập đã đánh dấu bước khởi đầu cho sự phát triển của thành phố cho đến ngày nay.

300 năm, Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm đáng nhớ

2.2.1 Địa danh phản ánh các giai đoạn lịch sử Để hiểu, biết về lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, thường thì chúng ta tiếp thu các kiến thức đó từ trong các bài giảng của thầy cô ở nhà trường, hoặc từ sách vở, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng hoặc từ các bài viết của các nhà nghiên cứu

Sử học là một lĩnh vực thú vị, và việc tham quan, khảo sát thực tế các địa danh mang lại trải nghiệm học tập độc đáo Những địa danh không chỉ đơn thuần là tên gọi, mà còn chứa đựng những câu chuyện lịch sử, phản ánh các thời đại và sự kiện quan trọng Thông qua việc tìm hiểu các địa điểm này, chúng ta có thể khám phá sâu hơn về quá khứ và ý nghĩa lịch sử của chúng.

Trước hết là đường Bạch Đằng nằm trên địa bàn các phương2, 3, 14,

Đường Bạch Đằng, tọa lạc tại quận Bình Thạnh, từng mang tên Avenue de l’Inspection trong thời kỳ Pháp thuộc Từ ngày 8/2/1955, tên đường được đổi thành Bạch Đằng, lấy cảm hứng từ con sông Bạch Đằng ở tỉnh Quảng Ninh, nơi diễn ra hai trận chiến lịch sử quan trọng: Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán năm 938 và Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Nguyên Mông năm 1288.

Năm 1772, sau khi đánh thắng quân Xiêm, Nguyễn Cửu Đàm đã xây dựng lũy Bán Bích để bảo vệ Sài Gòn, với chiều dài 15 dặm, bao quanh đồn dinh và ngăn ngừa bất trắc Trịnh Hoài Đức trong Gia định thành thông chí nhấn mạnh vị trí chiến lược của thành phố xưa, được thể hiện qua bản đồ Trần Văn Học năm 1815 Lũy Bán Bích không chỉ là công trình quân sự mà còn là một quy hoạch thành phố tầm nhìn lớn, tạo ra một hòn đảo biệt lập giữa sông Bến Nghé và rạch Thị Nghè Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, một trong những con đường cổ và quan trọng nhất Sài Gòn, đã trải qua nhiều lần đổi tên từ đường số 26, Impératrice, đến Công Lý, trước khi được đặt tên như hiện nay vào năm 1975, nhằm tưởng nhớ đến những người đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa 23/11/1940.

25, 26, 27 quận Bình Thạnh Đường này có từ thời Đàng Cựu, gọi là Thiên Lý

Cù là con đường mang tên phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh từ ngày 14/8/1975, được Chính phủ cách mạng lâm thời đặt để kỷ niệm sự kiện lịch sử này Mặc dù phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thực dân đàn áp một cách tàn bạo, nhưng ngọn lửa của phong trào vẫn tồn tại và góp phần bùng lên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đường 30 Tháng 4 (TB) được đặt tên để kỷ niệm ngày giải phóng Sài Gòn, đánh dấu thời điểm đất nước hoàn toàn giải phóng Trong khi đó, đường Cách mạng tháng Tám (quận 1, 3 và Tân Bình) ghi nhận sự kiện nhân dân nổi dậy giành độc lập từ thực dân Pháp.

2.2.2 Địa danh phản ánh các thay đổi về hành chính

Tên gọi của các thôn, làng, xã không chỉ là đơn vị hành chính mà còn mang giá trị ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử Trong quá trình hình thành và phát triển của Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, nhiều tên gọi địa danh đã thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Hiện nay, thành phố có khoảng 60 tên gọi đơn vị hành chính khác nhau, trong đó nhiều tên gọi như tổng, ấp, lân, trấn, và các tên đường đã trải qua nhiều lần biến đổi và không còn được sử dụng Những tên gọi cũ như am, bãi, châu, và dinh đã dần chìm vào quên lãng, phản ánh sự thay đổi của cơ cấu tổ chức hành chính qua các thời kỳ.

Vào các năm 1955, 1959 và 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện ba lần đổi tên các con đường lớn Những tên mới được đặt cho các con đường này đều là những nhân vật hoặc địa danh nổi tiếng, đã ghi dấu ấn trong lịch sử và thường được nhắc đến trong sách báo cũng như trong chương trình giảng dạy tại các trường học.

Nhiều địa danh và tên đường cũ vẫn được lưu giữ, như An Bình, Hòa Hưng, Hòa Mỹ, và Tân Khai Các cầu như An Lạc, An Lộc, Bình Tây, và Bình Tiên cũng mang dấu ấn lịch sử Đường Tân Hóa, thuộc quận 11, có nguồn gốc từ một thôn của tổng Tân Phong, huyện Tân Long, đã xuất hiện từ triều Gia Long Sau khi người Pháp mở rộng thành phố Chợ Lớn, Tân Hóa không còn là một đơn vị hành chính, nhưng tên gọi của nó vẫn được duy trì qua con đường cho đến ngày nay.

VĂN HÓA THỂ HIỆN QUA ĐỊA DANH Ở SÀI GÒN – TP HỒ CHÍ

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w