1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gốm trung quốc thế kỷ xix xuất khẩu sang việt nam và tác động của nó

186 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 6,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo cổ học đã phát hiện rất nhiều đồ gốm thời Đông Hán trong các ngôi mộ cổ ở miền Bắc Việt Nam và các thời đại sau đó từ Lục triều, Tùy - Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh … Đặc biệt từ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

(o(

NGUYỄN KHẮC XUÂN THI

GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX

XUẤT KHẨU SANG VIỆT NAM

Trang 2

-2-Lời cám ơn

Luận văn này là kết quả quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

của tác giả tại khoa Đông Phương học - Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn:

- TS Đặng Văn Thắng đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho chúng tôi

trong suốt quá trình thực hiện luận văn

- Các Giảng viên và Thầy Cô khoa Đơng Phương học và phòng Sau

Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Thành phố Hồ Chí

Minh đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

- Các Bảo tàng, nhà sưu tập tư nhân và tác giả những tư liệu, bài

viết, hình ảnh mà chúng tôi sử dụng trong luận văn

- Ban Giám Đốc và các đồng nghiệp Bảo tàng Lịch sử Việt Nam -

Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình và bạn bè thân hữu đã giúp đỡ, hỗ trợ

chúng tôi về mặt tư liệu, vật chất lẫn tinh thần để hoàn thành luận văn này

Nguyễn Khắc Xuân Thi

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 14

Chương 1: GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX 14

1.1 Gốm Trung Quốc trước thế kỷ XIX 14

1.2 Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX và các thị trường xuất khẩu 21

1.2.1 Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX 21

1.2.2 Các thị trường xuất khẩu của gốm Trung Quốc thế kỷ XIX 23

1.3 Sản xuất gốm theo đơn đặt hàng 25

1.4 Một số sai sót của các lò gốm Trung Quốc trong việc thực hiện theo đơn đặt hàng 29

Chương 2 : GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX XUẤT KHẨU SANG

THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 36

2.1 Vấn đề “Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam” 36

2.2 Các loại gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam 37

2.2.1 Hiệu đề do người Trung Quốc đặt 39

2.2.2 Hiệu đề do phía Việt Nam yêu cầu 41

2.3 Các trung tâm gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam 49

2.4 Đặc điểm cơ bản của gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam 56

2.4.1 Loại hình và màu men 56

2.4.1.1 Loại hình 56

2.4.1.2 Màu men 56

2.4.2 Đề tài trang trí 57

2.4.2.1 Đề tài có nguồn gốc Trung Quốc 57

2.4.2.2 Đề tài Việt Nam 66

2.4.3 Văn, thơ chữ Hán và chữ Nôm 67

2.4.3.1 Văn, thơ chữ Hán 68

2.4.3.2 Thơ chữ Nôm 94

Trang 4

Chương 3: MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ

XIX XUẤT KHẨU SANG VIỆT NAM 100

3.1 Tác động trên lĩnh vực kinh tế, đặc biệt đối với nghề gốm Việt Nam 100

3.1.1 Tình hình các nghề thủ công và nghề gốm thời Nguyễn thế kỷ XIX100 3.1.2 Những tác động đến nghề gốm Việt Nam của đồ gốm nhập khẩu từ Trung Quốc 103

3.1.3 Hình thành “hệ thống” cung cấp, phân phối hàng gốm nhập khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam thế kỷ XIX 106

3.2 Tác động trên lĩnh vực văn hóa - xã hội của gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam 108

3.2.1 Mỹ thuật trên đồ gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam 108

3.2.2 Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam và mỹ thuật Nguyễn 111

3.2.3 Góp phần quảng bá văn hóa Trung Quốc trong xã hội Việt Nam 112

3.2.4 Góp phần cổ vũ tâm lý chuộng hàng ngoại trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam 116

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 134

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam - Trung Quốc là hai quốc gia có chung đường biên giới, vì vậy mà từ lâu trong lịch sử đã có sự trao đổi buôn bán kinh tế cũng như giao lưu văn hóa giữa hai nước Trên lĩnh vực kinh tế, sự trao đổi, mua bán hàng hóa đã diễn ra liên tục Trong gia đình người Trung Quốc có thể thấy hàng hóa Việt Nam và ngược lại, trong gia đình người Việt Nam hay trong các công trình khảo cổ học, cũng thấy hàng hóa Trung Quốc Có thể nói, hàng hóa

có nguồn gốc từ Trung Quốc được tìm thấy nhiều nơi trên đất nước Việt Nam

mà niên đại có thể trên 2.000 năm hoặc xa hơn nữa

Hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Việt Nam là một đề tài lý thú, nghiên cứu chúng sẽ đem lại một số hiểu biết về kinh tế, văn hóa Trung Quốc, mối quan hệ giao lưu thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử cũng như tác động của hàng hóa Trung Quốc đối với kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam

Trong các loại hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam, gốm là loại thông dụng nhất và cũng là loại hàng hóa có mặt lâu đời nhất từ những thế kỷ đầu công nguyên cho đến ngày nay Khảo cổ học đã phát hiện rất nhiều

đồ gốm thời Đông Hán trong các ngôi mộ cổ ở miền Bắc Việt Nam và các thời đại sau đó từ Lục triều, Tùy - Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh … Đặc biệt từ khoảng thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỷ XX, bên cạnh loại gốm thường được xuất khẩu sang Việt Nam còn xuất hiện một loại đồ gốm mới: loại sản xuất theo sự đặt hàng của vua quan và tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam Mặc dù vậy, như những loại hàng hóa Trung Quốc nói chung, gốm Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam có một bề dầy lịch sử và là một đề tài

Trang 6

khoa học cần tìm hiểu nhưng cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vấn đề này dưới góc nhìn kinh tế - văn hóa - xã hội

Trong một lĩnh vực rộng lớn là nghiên cứu về Trung Quốc, đề tài

“Gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam” tuy là một vấn đề nhỏ nhưng

được tiếp cận từ góc độ kinh tế, văn hóa, trên cơ sở sử dụng những thành tựu của khảo cổ học Đề tài này nằm trong bộ môn Trung Quốc của chuyên ngành Châu Á học có tính thực tiễn cao vì đã góp phần cụ thể cho việc hiểu thêm về kinh tế, văn hóa Trung Quốc, phương thức kinh doanh của người Trung Quốc, ảnh hưởng của đồ gốm xuất khẩu Trung Quốc đối với Việt Nam trong một số lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng như tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc Để hoàn thành đề tài này cần có nhiều thời gian, nhiều cuộc khảo sát để có điều kiện tiếp xúc tư liệu, hiện vật trong thực tế Với giới hạn một luận văn cao học, tác giả chỉ có thể chọn một giai đoạn trong quá trình dài 20 thế kỷ đã qua của đồ gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam Đó là thế kỷ XIX, giai đoạn phát triển cao của dòng đồ gốm này với hai loại hàng: loại thường xuất sang Việt Nam gồm đồ gốm cao cấp,

đồ gốm “bình dân” và loại gốm do Việt Nam đặt hàng Chính vì những lý do

đó, tác giả đã chọn đề tài “Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt

Nam và tác động của nó”

- Đề tài đã được xác định từ năm 1998 khi tác giả nhận công tác tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh và sau đó được chính thức phân công nghiên cứu về gốm Trung Quốc Được lãnh đạo cơ quan tạo điều kiện về mọi mặt, bản thân đã có một thời gian tích lũy tư liệu, tìm hiểu nguyên nhân vì sao gốm Trung Quốc xuất hiện nhiều ở đất nước Việt Nam trong thế kỷ XIX, tìm hiểu hai loại hàng từ Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam, dần dần nắm được phần lớn các vấn đề liên quan đến gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam mà hiện nay còn lại khá nhiều không chỉ

Trang 7

trên đất nước Việt Nam như trong các bảo tàng, các sưu tập tư nhân, các cửa hàng bán đồ mỹ nghệ mà còn có ở nước ngoài Đây chính là những thuận lợi

để tác giả hoàn thành công trình

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam - trong luận văn đề cập gồm hai loại: loại gốm hàng hóa của Trung Quốc (gốm cao cấp, gốm “bình dân”) và loại làm theo Việt Nam đặt hàng Ngoài những giá trị là

cổ vật chúng còn là nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc, sự phát triển nghề gốm tại Trung Quốc, sự giao lưu kinh tế văn hóa Việt Nam - Trung Quốc, sự tác động trong thị trường Việt Nam ở thời kỳ này Nghiên cứu chúng có thể góp phần làm rõ nhiều vấn đề về gốm xuất khẩu của Trung Quốc, những lò gốm chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, cách thức và con đường xuất khẩu gốm Trung Quốc sang Việt Nam, về văn hóa Trung Quốc, một phần văn hóa Việt Nam qua các loại hoa văn, đồ án, tích truyện, phong cảnh, văn bản, thơ văn thể hiện trên sản phẩm Từ đó, thấy được trình độ kỹ thuật, mỹ thuật của nghệ nhân và nghề gốm Trung Quốc, đặc biệt là tầm nhìn

và ý tưởng kinh doanh của người Trung Quốc, sự khéo léo của họ trong việc truyền bá văn hóa Trung Quốc ra nước ngoài Cạnh đó là tâm lý ưa chuộng gốm Trung Quốc ở Việt Nam cũng như góp phần lý giải sự yếu thế của gốm Việt Nam trong giai đoạn thế kỷ XIX

Luận văn có những nội dung chính như sau:

- Tìm hiểu về gốm xuất khẩu Trung Quốc trong thế kỷ XIX cũng như tình hình xuất khẩu của gốm Trung Quốc sang Việt Nam thế kỷ XIX

- Tìm hiểu văn hóa Trung Quốc thông qua các hoa văn, họa tiết, đồ án, tích truyện, văn thơ trên các sản phẩm gốm xuất khẩu sang Việt Nam thế kỷ

Trang 8

XIX đồng thời cũng tìm hiểu những yếu tố văn hóa Việt Nam thể hiện trên các sản phẩm đó

- Làm rõ sự tác động của sản phẩm gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ thế kỷ XX, loại hình gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau đặc biệt trong lĩnh vực cổ vật và khía cạnh hàng Việt Nam đặt làm Có thể kể đến một số tác phẩm:

- “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” của tác giả Vương Hồng Sển xuất bản

năm 1971 Đây là một công trình chủ yếu biên dịch từ một tác phẩm của một học giả người Pháp, bà Daisy Lion Goldschmidt, giới thiệu về lịch sử gốm Trung Quốc với kỹ thuật chế tác, hình dáng, hoa văn, công dụng… và một số thị trường xuất khẩu của gốm Trung Quốc

- Bộ 3 cuốn “Khảo về đồ sứ men lam Huế” (tập thượng, tập trung, tập

hạ) cũng của tác giả Vương Hồng Sển viết về những đồ gốm mà ông gọi là đồ

ký kiểu do Trung Quốc sản xuất theo đặt hàng của Việt Nam và ông đặt tên

sách là “Đồ sứ men lam Huế” và giới thiệu những đồ gốm có ghi hiệu lò

Trung Quốc hoặc các loại gốm ngự dụng, quan dụng, dân dụng do Trung Quốc sản xuất… xuất khẩu sang Việt Nam từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn ở Việt Nam

- Sách “Đồ sứ men lam Huế - Những trao đổi học thuật” bao gồm các

bài viết của nhiều tác giả bàn luận về loại hình gốm sản xuất tại Trung Quốc được Việt Nam đặt làm vào thời Nguyễn do Trần Đức Anh Sơn tập hợp xuất bản năm 1997

Trang 9

- Luận án Tiến sĩ của Trần Đức Anh Sơn “Đồ sứ Việt Nam ký kiểu tại

Trung Hoa từ 1804 đến 1924 hiện tàng trữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế” bảo vệ năm 2002 và được xuất bản thành sách “Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn” năm 2008, tập trung nghiên cứu về những sản phẩm gốm sản xuất tại

Trung Quốc được Việt Nam đặt hàng đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế

- “Cổ vật gốm Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa” của Phạm Hy Tùng

xuất bản năm 2006 chủ yếu đề cập đến dòng đồ gốm do Việt Nam đặt làm tại Trung Quốc với nhiều loại khác nhau trong tiến trình lịch sử Việt Nam thời

kỳ trước và sau năm 1802

- “Những nét đan thanh - Thơ văn điển tích trên đồ sứ ký kiểu thế kỷ

XVIII - XIX” của Trần Đình Sơn, xuất bản năm 2007, giải thích những hoa

văn, cảnh vật, con người và phiên âm, dịch nghĩa, chú thích chữ Hán, chữ Nôm trên đồ gốm Trung Quốc sản xuất theo Việt Nam đặt hàng xuất khẩu sang Việt Nam

Ở nhiều góc độ, một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến gốm Trung Quốc sản xuất theo Việt Nam đặt làm trong các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Khảo cổ học, Thông báo khoa học (của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh), tạp chí Dân tộc học … đó là các tác giả Phạm Hữu Công

“Sưu tập Vương Hồng Sển - Những vấn đề tiếp nối” (Thông báo khoa học số

2 - Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000), Đặng

Văn Thắng “Từ khóa tập huấn ở Hà Nội nghĩ về đồ Pháp lam và Huế lam”

(trong sách “Nghĩ về Thăng Long Hà Nội” của Hội Khoa học Lịch sử Thành

phố Hồ Chí Minh - 2002) và “Gốm thời Nguyễn” (tạp chí Khảo cổ học số 2 năm 2005), Nguyễn Khắc Xuân Thi “Một cặp chóe gốm Trung Quốc tại Bảo

tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh” (Thông báo khoa học số 3 -

Trang 10

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh), “Về một chiếc chóe

gốm Trung Quốc thuộc sưu tập Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh” (Thông báo khoa học số 5 - Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh ), “Về 3 chóe gốm ghi thơ Đường tại

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh” (Những phát hiện mới

về Khảo cổ học năm 2006), “Gốm men màu Trung Quốc trong sưu tập

Nguyễn Đức Tùng tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh”

(Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2007)

Ở nước ngoài, có nhiều tác giả nghiên cứu về gốm Trung Quốc xuất khẩu trong giai đoạn thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX Bao gồm những tác phẩm sau:

- “Đồ gốm và đồ sứ Trung Quốc” (Les poteries et porcelaines Chinoises) do Presses Universitaires de France, Paris xuất bản của bà Daisy

Lion Goldschmidt Tác phẩm được viết vào năm 1957 nhưng đến nay vẫn có giá trị cao, nhất là về kỹ thuật sản xuất của gốm Trung Quốc và sự xuất khẩu của gốm Trung Quốc sang các nước Châu Âu, sản phẩm gốm Trung Quốc làm theo các nước Châu Âu đặt hàng

- “Gốm thương mại của Đông Nam Á và Trung Quốc” (Southeast Asian

and Chinese trade pottery) xuất bản năm 1979 của Bảo tàng Nghệ thuật Hong Kong chủ yếu viết về các lò gốm ở phía Nam Trung Quốc, loại gốm Trung Quốc có mặt tại các nước Đông Nam Á và một số sản phẩm gốm của các nước Đông Nam Á

- “Gốm thời Thanh” (La porcelaine des Qing) - xuất bản năm 1986, của

Michel Beurdeley và Guy Raindre cũng nhắc đến đồ gốm Trung Quốc do Việt Nam đặt làm xuất khẩu qua Việt Nam

Trang 11

- Thomas Ulbrich, trường Đại học Inha (Hàn Quốc) công bố bài nghiên

cứu bằng tiếng Đức “Về gốm men xanh trắng Trung Quốc xuất khẩu do Việt

Nam đặt làm” (Chinoisches blau-weiB exportpoizellan fur Viet Nam)

- Các nhà nghiên cứu gốc Việt sống ở nước ngoài như Hà Thúc Cần với

bài “Gốm men lam Huế, đồ gốm Trung Quốc làm theo đặt hàng của triều đình

Việt Nam” (Bleu de Hue, Chinese porcelains for the Vietnamese court) bàn về

gốm Trung Quốc sản xuất cho triều đình Việt Nam; Loan de Fontbrune cũng

có sự quan tâm tương tự với bài “Gốm men lam Huế - sản phẩm của triều

đình Việt Nam” (Les bleus de Hue - le Vietnam de Royaumes), Philippe

Trương cũng có một bài viết “Gốm men lam Huế” (Bleu de Hue) trong sách

“Gốm Việt Nam - Một truyền thống riêng biệt” (Vietnamese ceramics - A

separate tradition”)

- Trong cuộc triển lãm ở Nhật năm 1990 về gốm mậu dịch có trưng bày

đồ gốm Đông Nam Á trong đó có giới thiệu gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam… Và một số cuộc đấu giá ở Anh, Đức, Pháp tiến hành trong những năm 1991 đến năm 1999 bán gốm Trung Quốc sản xuất do triều đình Việt Nam đặt làm

Điểm chung của các công trình nghiên cứu và các bài viết nói trên là đề cập đến một phần đối tượng nghiên cứu của luận văn nhưng không hoàn toàn

đề cập trực tiếp đến đề tài luận văn Tuy nhiên, đây cũng là một nguồn tài liệu

có giá trị hỗ trợ tác giả trong việc xác định loại hình gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam cũng như thu thập các thông tin quan trọng về

đề tài trang trí, thơ văn minh họa

Đặc biệt, có những tác giả người Trung Quốc nghiên cứu về gốm Trung Quốc xuất khẩu như tác giả Phùng Tiên Minh (馮 先 銘)- nhà nghiên cứu tại

Viện Bảo tàng Cố Cung Trung Quốc với bài viết “Gốm cổ Trung Quốc truyền

Trang 12

ra nước ngoài và những ảnh hưởng ngoại lai” (中 國 古 陶 瓷 對 外 傳

播 与 外 來 影 晌); hay tác giả Diệp Văn Trình (葉 文 程), La Lập Hoa (羅 立 華) với bài “Sự giao lưu nước ngoài của gốm xanh trắng Trung

Quốc” (中 國 青 花 瓷 器 的 對 外 交 流) và tác giả Lý Khánh Tân

(李 慶 新) với tác phẩm “Con đường tơ lụa trên biển” (海 上 絲 綢 之

路) nói về sự xuất khẩu của gốm Trung Quốc ra nước ngoài

Trong các công trình của các tác giả người Trung Quốc, gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam hoặc do người Việt Nam đặt hàng hầu như rất

ít được giới thiệu, mà chỉ tập trung về đồ gốm Châu Âu hoặc các nước Hồi giáo đặt hàng Trung Quốc Có thể là họ không có tư liệu cũng như hiện vật để nghiên cứu đề tài này thậm chí có tác giả còn không biết đến sự hiện diện của dòng gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam Chính điều này một lần nữa khiến tác giả luận văn theo đuổi đề tài của mình để góp phần làm rõ hơn một dòng gốm Trung Hoa đã từng gắn bó với người Việt Nam trong quá khứ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những vấn đề thuộc về dòng gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam Luận văn không nghiên cứu gốm của Trung Quốc được xuất khẩu sang Việt Nam thế kỷ XIX như là cổ vật hay dưới góc độ khảo cổ học mà là tìm hiểu qua loại gốm này để thấy được sự đa dạng của văn hóa Trung Quốc trên đồ gốm xuất khẩu, sự giao lưu kinh tế văn hóa Việt - Trung, sự phát triển của nghề làm gốm Trung Quốc với trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao đáp ứng được yêu cầu của nhiều đối tượng trên thế giới, sự nắm bắt thời cơ kinh doanh và phương pháp kinh doanh của người Trung Quốc, tư duy sẵn sàng phục vụ những yêu cầu của khách hàng

Trang 13

trong việc sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt qua các đề tài trang trí trên gốm xuất khẩu sang Việt Nam thấy được lợi thế của đồ gốm trong việc truyền bá văn hóa Trung Quốc sang Việt Nam, từ đó tìm hiểu tâm lý và xu hướng ưa chuộng gốm Trung Quốc trong các tầng lớp nhân dân cũng như những tác động của gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam Vì vậy trong luận văn sẽ không mô tả cụ thể một hiện vật nào cũng như không nghiên cứu chức năng hoặc phân loại các hiện vật mà chỉ nói về tất cả các hiện vật với một từ GỐM chung nhất

- Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian, luận văn nghiên cứu gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam dưới các hình thức nhưng giới hạn ở thế kỷ XIX, tuy nhiên thời gian trước thế kỷ XIX vẫn được đề cập trong luận văn để so sánh, đối chiếu cũng như đảm bảo được tính liên tục và tính hệ thống

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chủ yếu

- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn chủ yếu là

phân tích, tổng hợp, suy luận, loại suy, so sánh đối chiếu và các thao tác kỹ thuật - nghiệp vụ như phân loại, thống kê, chụp ảnh, khảo tả … Song song đó

là việc vận dụng các kiến thức liên ngành lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội học, khảo cổ học, mỹ thuật… nhằm tìm hiểu đầy đủ các mặt về gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam và tác động của nó Để luận văn có thêm nhiều chứng cứ, tác giả còn nghiên cứu trực tiếp hiện vật tại một số Bảo tàng khác, trong các sưu tập tư nhân hoặc qua các ấn bản phẩm chuyên ngành trong và ngoài nước nhằm minh họa một số nội dung cần thiết Mặt khác, trong việc xử lý tư liệu, nhất là những bài thơ, văn chữ Hán đã được các tác giả đi trước như Trần Đình Sơn, Phạm Hy Tùng (Phạm Hy Bách), Trần Đức

Trang 14

Anh Sơn dịch sang chữ Việt, chủ yếu là tác giả thống kê, tổng hợp và trích lại nguyên văn nhưng cũng có nhiều chỗ dịch theo ý hiểu của tác giả

Phương pháp tư duy là phép biện chứng duy vật lịch sử được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài

- Nguồn tư liệu chủ yếu được khai thác là các thư tịch về gốm Trung

Quốc xuất khẩu đã xuất bản hiện lưu trữ tại thư viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Thành phố Hồ Chí Minh … trong đó có các tư liệu khảo cổ học được công bố hàng năm của ngành Khảo cổ và nguồn tài liệu bằng tiếng nước ngoài chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Hoa Một trong những nguồn tài liệu được quan tâm thu thập là các thông tin về gốm Trung Quốc xuất khẩu được tham khảo trên Websites

Nguồn tư liệu thuộc di sản vật thể là các hiện vật gốm Trung Quốc thế

kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam đang lưu giữ tại các Bảo tàng, trong các sưu tập tư nhân hoặc trong các cửa hàng bán đồ mỹ nghệ là phần quan trọng để

hoàn thành luận văn này

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn cung cấp tư liệu nghiên cứu về đồ gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam một cách tổng thể, từ đó góp phần vào việc xây dựng một đề tài lớn hơn trong việc nghiên cứu Trung Quốc thế kỷ XIX

- Kết quả của luận văn sẽ góp phần đặt đúng chỗ vai trò của “Gốm

Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam” trong hệ thống di sản vật

thể và phi vật thể Việt Nam, cho thấy sự trân trọng đối với các di sản nước ngoài còn tồn tại ở Việt Nam trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản dân tộc

Trang 15

- Luận văn sẽ giúp ích cho các Bảo tàng có sưu tập về gốm Trung Quốc thế kỷ XIX trong công tác trưng bày, công tác giáo dục và sắp xếp hiện vật trong kho

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX

Chương 2: Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang thị trường Việt Nam Chương 3: Một số tác động của gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang

Việt Nam

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1: GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX

1.1 Gốm Trung Quốc trước thế kỷ XIX

Đồ gốm ban đầu chủ yếu là các loại đồ đựng bằng các loại đất có tính chất kết dính và trở nên rắn chắc khi được nung trong lửa có nhiệt độ cao Trong thời kỳ đồ đá, việc tìm ra và chế tác đồ đựng bằng gốm là một phát minh lớn của loài người vì đồ gốm đảm bảo việc lưu trữ đồ ăn thức uống chống sự hư hỏng và sự phá hoại của các loài vật khác, đồ gốm cũng đảm bảo việc giữ gìn các loại thức ăn thức uống luôn được sạch sẽ, tiện lợi trong việc

sử dụng, giải phóng con người khỏi các nguy cơ tìm kiếm lương thực hàng ngày để có thể tập trung vào những công việc khác

Người cổ Trung Quốc đã phát hiện ra vai trò quan trọng của đồ gốm qua hiện tượng ngẫu nhiên về tính rắn chắc lại bền vững của đất sét khi gặp lửa có nhiệt độ cao để sản xuất ra đồ đựng bằng gốm từ rất sớm Những phát hiện khảo cổ học cho biết vào cuối thời đá cũ - đầu thời đá mới, người cổ Trung Quốc đã sử dụng đồ đựng bằng đất nung với kỹ thuật nắn bằng tay Trong văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao culture) có niên đại khoảng 5.000 - 3.000 năm trước CN phát triển dọc theo sông Hoàng Hà chủ yếu ở các tỉnh

Hà Nam, Thiểm Tây và Sơn Tây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy đồ gốm xưa nhất của Trung Quốc Gốm Ngưỡng Thiều nổi tiếng với loại hình đồ đựng như: chum, hũ được vẽ màu trắng, đỏ, đen được trang trí hình mặt người, hình thú và các đường nét hình học Một số chum, hũ được dùng làm quan tài chôn trẻ em [100] Còn ở Cam Túc - Tây Bắc Trung Quốc trong khu mộ táng thuộc văn hóa Bản Sơn, niên đại muộn hơn khoảng 2.600 năm trước CN, đã tìm thấy các loại đồ đựng được làm từ đất sét màu vàng sẫm hoặc nâu đỏ trên

vẽ những đường văn hình học màu đỏ, màu đen hình tam giác, hình thoi mắt

Trang 17

võng, đường cong dạng trôn ốc hoặc hình người rất thô sơ [88, tr.1] Trong

“Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” tác giả Vương Hồng Sển cho rằng gốm Bản

Sơn có niên đại muộn hơn nữa, khoảng 1.900 năm trước CN [27, tr.181] Tuy nhiên, niên đại trên đây là tư liệu mới được tham khảo trên Website [88, tr.1] Một loại gốm thời tiền sử khác của Trung Quốc là gốm đen được tìm thấy ở nhiều nơi: Dương Châu, Sơn Đông, Chiết Giang, Mãn Châu, riêng ở Long Sơn (Longshan) thuộc tỉnh Sơn Đông, niên đại khoảng 3.000 - 2.000 năm trước CN đồ gốm có dấu vết của việc sử dụng bàn xoay [88, tr.1] Đặc biệt, lò nung gốm với cấu trúc đơn giản thuộc thời này cũng được tìm thấy Đồ gốm thời đại đá ở Trung Quốc còn được tìm thấy ở Dương Châu Tuyền (Hà Nam) với niên đại khoảng 2.200 - 1.700 năm trước CN chủ yếu là các loại mảnh gốm của chum, vò bằng đất xám, chén bát bằng đất đỏ có vẽ văn hình học, đặc biệt là một số chum, vò có đáy nhọn Sản phẩm gốm Trung Quốc thời đồ

đá rất đa dạng: đỉnh ba chân, bình rót, hũ đựng cốt, ly chân cao, cốc, vò

Gốm thời Thương (TK XVI - XI trước CN) tìm thấy ở Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây là các đồ đựng bằng đất nung gồm 4 loại cơ bản: gốm màu xám, đỏ hoặc vàng trang trí vạch nổi có con dấu hay các đường hình học theo truyền thống thời đồ đá, gốm màu xám sẫm theo kiểu đồ đựng bằng đồng, đặc biệt là gốm màu trắng có hoa văn giống với các loại đồ đồng đương thời Cuối thời Thương đã có đồ đất nung tráng men khởi đầu của các loại gốm men Thời Chu (TK XI - III trước CN) đồ gốm cũng chủ yếu mô phỏng đồ đồng, gốm men phát triển loại men chì và nâu nhạt trong giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc [88, tr.1-2]

Gốm thời Tần (221 - 206 trước CN) đã mang một sắc thái mới, đồ đất nung có nhiệt độ cao và đầy tính hiện thực, thể hiện trong đội quân hơn 6.000 tượng người và ngựa trong mộ Tần Thủy Hoàng ở Tây An (Thiểm Tây) Các tượng có kích thước bằng người thật khác nhau từng chi tiết về trang phục,

Trang 18

được chế tạo từ sét xám thô, đầu và tay tượng là những bộ phận làm riêng, nung riêng vẽ màu riêng nhưng lắp ráp thật khít với thân tượng, chứng tỏ một trình độ cao trong chế tác [88, tr.2]

Sau đó là thời Hán (206 trước CN - 220 sau CN), việc mô phỏng hình dạng và hoa văn các loại đồ đồng trong chế tạo đồ gốm vẫn được duy trì, phong cách hiện thực của thời Tần được tiếp nối với những mô hình trang viện và những hoạt động của con người thể hiện trên đồ gốm Gốm men thời Hán thường có lớp men mỏng màu vàng sậm hoặc xanh lá cây trên vẽ cảnh đi săn hay chiến đấu, bắt đầu có mặt hổ phù do chịu ảnh hưởng đạo Lão Gốm thời Hán tìm thấy chủ yếu ở Thiểm Tây, Hồng Công, Trường Sa, Việt Châu… đặc biệt cũng được tìm thấy rất nhiều ở Việt Nam và Malaysia Có lẽ đây là thời kỳ xuất khẩu gốm đầu tiên của Trung Quốc [87, tr.5-8], [88, tr.2]

Thời Lục Triều (220 - 589) gốm men ngọc đầu tiên được sản xuất ở các

lò phủ Thiệu Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang Loại này có tên là Việt Diêu, ít nhiều còn chịu ảnh hưởng hình dạng đồ đồng và hoa văn Hán nhưng đã mảnh mai hơn và bền hơn Loại hình thường gặp của gốm Việt Diêu là các loại bát,

hũ có quai, bình rót có vòi hình đầu chim Gốm Việt Diêu đã được xuất khẩu sang Ai Cập, Philippin… Ngoài ra, cũng tại tỉnh Chiết Giang còn có loại gốm Hàng Châu men đen… [87, tr.5-8], [88, tr.2]

Thời Đường (618 - 907) xuất hiện gốm men nhiều màu với kiểu dáng ảnh hưởng đồ đựng kim loại của Ba tư (Iran), loại này thường có hoa văn vằn vện màu vàng xen lẫn màu xanh lốm đốm Đồ gốm Đường phát triển mạnh với kỹ thuật nung mới tạo nhiệt độ rất cao vì vậy sản phẩm gốm mỏng nhưng xương cứng hơn Các vùng sản xuất gốm nổi tiếng là: gốm men ngọc Việt Diêu (Chiết Giang), gốm men màu Trường Sa (Hồ Nam), gốm men ngọc Tân Hội, Tam Thủy, Mai Huyện (Quảng Đông), gốm men trắng Định Diêu và

Trang 19

Hình Diêu (Hà Bắc), gốm tam thái Củng Huyện (Hà Nam) Đến thế kỷ VIII, xuất hiện gốm tam thái (sancai) nổi tiếng và được sản xuất với số lượng nhiều

để xuất khẩu ra nước ngoài [82, tr.3] Loại đồ gốm đặc biệt đẹp tốt sản xuất

cho tầng lớp trên sử dụng thường có ghi chữ “Quan” trên sản phẩm [87, tr.13]

Năm 1975 Học viện Sư phạm Dương Châu phát hiện phế phẩm của một chiếc gối bằng gốm men xanh trắng thuộc thời Đường ở Trường An (kinh

đô thời Đường) Hoa văn trên chiếc gối vẽ đường viền hình quả trám, 4 góc

có bông hoa trong vòng tròn, giữa vẽ hoa văn hình lá không theo quy tắc Loại hoa văn này không giống với hoa văn truyền thống thời Đường mà lại có quan hệ với khu vực Tây Á Sau đó, một loạt các cuộc khai quật ở Trường An đều phát hiện khá nhiều gốm men xanh trắng Theo các báo cáo khai quật, cùng với gốm xanh trắng còn có gốm men ngọc lò Việt Diêu, gốm men màu

lò Trường Sa, gốm men trắng lò Định Diêu, gốm men vàng lò Thọ Châu và các mảnh gốm Ba Tư nền vàng men xanh lục… đều là loại gốm bán ra nước ngoài thuộc thời Đường Gốm xanh trắng thời Đường đến nay mới chỉ tìm thấy tại Dương Châu, cạnh đó trên thế giới chưa có tiêu bản gốm xanh trắng

thời Đường được tìm thấy nên vấn đề vẫn còn trong giả thiết [84, tr.105]

Từ thời Đường, gốm miền Nam Trung Quốc bắt đầu có vai trò trong việc cung cấp các vật dụng đồ đựng và đồ trang trí cho hoàng cung Sản phẩm gốm thời Đường đã được xuất khẩu đến nhiều nước như: Iran, Iraq, Ai cập, Sudan, Ấn độ, Pakistan, Oman, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippin, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam Cụ thể là: gốm Việt Diêu tìm thấy ở Nhật Bản, Triều Tiên, Philippin, Indonesia, Pakistan, Iran; gốm Định Diêu, Hình Diêu tìm thấy

ở Nhật Bản, Pakistan, Iran, Iraq, Ai cập; gốm Củng Huyện tìm thấy ở Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Iraq, Ai Cập; gốm Mai Huyện, Tân Hội, Tam Thủy tìm thấy ở Nam Thái Lan [82, tr.1] Từ cuối thời Đường, trên biển Nam Thái Bình Dương bắt đầu hình thành “Con đường gốm sứ” xuất phát từ

Trang 20

4 cảng biển chính Dương Châu, Minh Châu, Quảng Châu, Giao Châu của Trung Quốc [84, tr.105]

Đến thời Tống (960 - 1279), đồ gốm bước vào giai đoạn phát triển mới,

lò gốm được xây dựng khắp nơi theo từng đặc điểm khu vực: ở phía Bắc là gốm Định Châu (Hà Bắc) mang phong cách cổ điển chủ yếu với màu men trắng ngà Hoa văn chủ đạo là hoa sen, hoa mẫu đơn, rồng, cá in khuôn, chạm khắc hay vẽ Sản phẩm là các loại đồ đựng, đồ gia dụng, đồ thờ cúng Gốm Định Châu được tầng lớp quyền quý ưa dùng Gốm Kiến Diêu (Phúc Kiến) là loại có màu men xanh đen, xám nhạt với các đường rạn huyền ảo Gốm Quân Diêu là loại gốm xương dầy, men nhiều màu nền xanh trên có hoa văn màu đỏ hay màu tía chủ yếu được dùng trong hoàng cung, và gốm Giao Châu ngày càng được sử dụng nhiều hơn Đặc biệt miền ven biển Đông Nam Trung Quốc xuất hiện nhiều lò nung chuyên sản xuất gốm xuất khẩu Từ thế

kỷ XII, gốm men ngọc đạt đến trình độ cao cả ở miền Bắc và Nam Trung Quốc với các lò Việt Diêu, lò Long Tuyền (Chiết Giang), lò Đồng An (Phúc Kiến), lò Diệu Châu (Thiểm Tây) Gốm Từ Châu (Hà Bắc) bắt đầu trở nên phổ biến trong các tầng lớp xã hội với kỹ thuật khá đa dạng: chạm, vẽ trên men, phủ men nhiều màu Nổi bật nhất là gốm men ngọc Long Tuyền có chất lượng cao thường được tầng lớp trên sử dụng Vào thời Tống, đã xuất hiện các lò gốm tại trấn Cảnh Đức (Giang Tây) sản xuất gốm men xanh trắng [82, tr.2], [87, tr.12-13], [88, tr.3]

Gốm Tống rất được ưa thích trong các nghi thức Trà đạo của Nhật Bản, chén trà kiểu màu sẫm đen thường được các tu sĩ Nhật Bản dùng làm giải thưởng trong Thiền (Zen) học, còn gốm các loại men ngọc, men màu, men xanh trắng, men đen thì được xuất khẩu sang Ấn Độ, Iran, Ai cập, Philippin, Indonesia, Myanma, Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác [87, tr.13]

Trang 21

Cuộc xâm lược của Mông Cổ vào Trung Quốc đã đánh đổ nhà Tống, thành lập nhà Nguyên (1279 - 1368) Dưới thời Nguyên một phát minh quan trọng của nghề gốm Trung Quốc là gốm men xanh trắng với độ nung cao và

kỹ thuật vẽ dưới men bằng màu cobalt nhập khẩu từ Ba Tư ra đời tại trấn Cảnh Đức [87, tr.16] Phát minh này bắt đầu một thời kỳ cực thịnh kéo dài hơn 5 thế kỷ của gốm xanh trắng Trung Quốc, trong đó trấn Cảnh Đức nhanh chóng vươn lên trở thành trung tâm chế tạo đồ gốm Bắt đầu từ đây những sản phẩm gốm men xanh trắng sản xuất tại Cảnh Đức, Đức Hóa, Tuyền Châu nhanh chóng chinh phục thị trường và lan tỏa khắp thế giới: tại Châu Á gồm các quốc gia Nhật Bản, Thái Lan, Philippin, Việt Nam, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó Philippin là nơi tìm thấy rất nhiều tiêu bản gốm men xanh trắng thời Nguyên, tại Châu Phi là các nước ven bờ Đông [82, tr.2] Một tác phẩm nổi

tiếng là cuốn “Đảo Di Chí Lược” (島 夷 志 略) của Uông Đại Nguyên viết

vào năm 1351 (Chí Chính thứ 11) cho biết gốm xanh trắng Trung Quốc đã được xuất khẩu sang Philipin [84, tr.107] Đến nay khảo cổ học Trung Quốc

đã phát hiện nhiều di chỉ các lò sản xuất gốm men xanh trắng ở Giang Tây, Chiết Giang, Vân Nam… Loại gốm đặc biệt khởi đầu cho gốm men xanh trắng do trấn Cảnh Đức sản xuất bấy giờ là gốm men trắng hoa nâu đỏ trên có đóng chữ “Xu Phủ” (樞 府) Gốm Xu Phủ được đánh giá là sản phẩm loại tốt

và chủ yếu phục vụ tầng lớp trên trong xã hội Trung Quốc

Dưới thời Nguyên, lò Long Tuyền (Chiết Giang) là lò có sản phẩm được tiêu thụ ở nước ngoài nhiều nhất với các sản phẩm có kích thước lớn, tuy nhiên vì thiếu hàng xuất khẩu nên một số nơi như Phúc Kiến, Quảng Đông, thậm chí ngay tại Chiết Giang đã sản xuất đồ men ngọc phỏng theo gốm lò Long Tuyền Năm 1977, tại vùng biển Nam Triều Tiên, đã tìm thấy một con thuyền thời Nguyên bị đắm, trong thuyền chứa hàng ngàn sản phẩm gốm men ngọc Long Tuyền Một sáng chế lớn được ghi nhận dưới thời

Trang 22

Nguyên là lần đầu tiên niên hiệu và năm chế tạo được ghi rõ trên hiện vật men ngọc Đó là chiếc lục bình men ngọc có kích thước lớn của Bảo tàng Percival David Foundation of Chinese Art ở Luân Đôn (Anh) trên được ghi hàng chữ

Hán: “Đinh Mão Thái Định đế” (丁 卯 太 定 帝) tức là vào năm 1327

(Đinh Mão) vua Thái Định (thời Nguyên) [27, tr.243]

Gốm men màu lò Cát Châu thời Nguyên cũng được xuất khẩu ra nước ngoài: tại một số nước Đông Nam Á đã tìm thấy nhiều tiêu bản gốm Cát Châu

Dưới thời Minh (1368 - 1644) việc tìm ra oxit cobalt tại Trung Quốc

và việc cải tiến kỹ thuật sản xuất, trang trí đã làm cho sản phẩm có mẫu mã đa dạng, hoa văn phong phú hơn, chất lượng ngày càng cao, giá thành hạ [88, tr.4] Tuy nhiên chất lượng cobalt Trung Quốc không bằng cobalt ngoại nhập nên sản phẩm xấu tốt khác nhau Đặc biệt trong giai đoạn này, một số lò gốm

ở trấn Cảnh Đức được chọn sản xuất đồ chuyên dùng trong hoàng cung tức các lò Ngự Diêu hoặc cho các quan tức các lò Quan Diêu Sản phẩm dùng cho hoàng tộc được ghi niên hiệu vua đang trị vì đã làm tôn cao giá trị của đồ gốm men xanh trắng Chính vì thế mà gốm men xanh trắng được sản xuất ngày càng nhiều không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu với

số lượng lớn cho toàn thế giới vào khoảng cuối thế kỷ XV Dưới thời Gia Tĩnh (1522 - 1567) lần đầu tiên các sản phẩm dùng để xuất khẩu được sản xuất riêng biệt và bắt đầu tạo ra nhiều dòng gốm đặt hàng theo yêu cầu của khách [67, tr.4] Gốm độc sắc và gốm nhiều màu thời Minh được sản xuất với một số lượng khiêm tốn hơn, đặc biệt gốm ngũ thái với kỹ thuật nung hai lần cho ra những sản phẩm nhiều màu sắc như ý muốn làm cho đồ gốm Trung Quốc càng được ưa chuộng

Hàng xuất khẩu gốm thời Minh không chỉ ở thị trường truyền thống Châu Á với loại gốm Swatow (Sán Đầu - Quảng Đông), Đức Hóa (Phúc Kiến)

Trang 23

xuất qua Nhật Bản, Indonesia, Philippin, Việt Nam mà bắt đầu xuất qua Châu Âu: Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Anh với loại gốm xanh trắng của trấn Cảnh Đức thời Vạn Lịch (1573 - 1620), tài liệu thống kê cho biết chỉ trong 80 năm từ 1602 - 1682, công ty Đông Ấn Hà Lan đã mang

về Châu Âu một khối lượng lớn là 12 triệu sản phẩm gốm men màu, men

xanh trắng [84, tr.108]

Các cuộc chiến tranh cuối thời Minh đầu thời Thanh đã ảnh hưởng lớn đến các lò gốm, có những lò bị tàn phá và xây dựng lại nhiều lần Phải đợi đến thời Khang Hy (1662 - 1722) gốm Trung Quốc mới đi vào sự phát triển toàn diện với kiểu dáng, nghệ thuật trang trí, độ nung đều đạt trình độ cao Các lò Ngự diêu của thời Minh được tái lập phục vụ triều đại mới, sản xuất những siêu phẩm độc đáo liên tục trong hai thế kỷ XVII - XVIII, đặc biệt do

sự giao lưu với các nước phương Tây ngày càng mở rộng với yêu cầu ngày càng cao nên các loại đồ gốm đẹp sản xuất trong thế kỷ XVII - XVIII hầu hết được xuất khẩu sang Châu Âu, một ít sang Châu Á với hai dạng: hàng theo kiểu mẫu Trung Quốc hoặc theo kiểu mẫu của người mua Điều đáng chú ý là lúc này gốm Châu Âu cũng có sự tiến bộ kỹ thuật, thu hút được một số khách hàng nên đã làm giảm bớt số lượng hàng gốm xuất khẩu Trung Quốc sang Châu Âu Tuy nhiên bên cạnh Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, đến lượt Châu

Mỹ cũng trở thành thị trường đáng kể của gốm Trung Quốc thế kỷ XVII - XVIII [87, tr.19-20]

1.2 Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX và các thị trường xuất khẩu

1.2.1 Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX

Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX thuộc trục phát triển của thời Thanh, là giai đoạn cuối của thời này, hầu như không có sự thay đổi lớn trong những vấn đề cơ bản về sản xuất Tuy nhiên tình hình chính trị đầu thế kỷ XIX cho

Trang 24

thấy nghề gốm Trung Quốc bị ảnh hưởng nghiêm trọng: từ thời Gia Khánh (1796 - 1820), do công quỹ thiếu hụt trầm trọng, triều đình nhà Thanh liên tục cắt giảm các khoản chi tiêu, việc đầu tư kinh phí cho sản xuất đồ gốm tại Ngự Diêu xưởng - trấn Cảnh Đức được xem là không cần thiết bởi hầu như đã quá

dư thừa đồ gốm của các triều đại trước, vì vậy Ngự Diêu xưởng là một trong nhiều cơ quan bị cắt những khoản kinh phí Thiếu sự đặt hàng của nhà nước, Ngự Diêu xưởng nhanh chóng bị thu hẹp sản xuất và bước vào thời kỳ suy thoái Nhưng vấn đề chưa dừng lại ở đó, năm 1856, Ngự Diêu xưởng bị giáng một đòn quyết liệt khi quân Thái Bình Thiên Quốc tràn qua, hầu như toàn bộ khu vực sản xuất và kho tàng của Ngự Diêu xưởng bị đốt cháy và đập phá, thợ thủ công phần bị bắt, phần bị giết tan hoang tản mát Phải đợi đến 10 năm sau, tức năm 1866, khi Lý Hồng Chương được lệnh tái lập Ngự Diêu xưởng, nơi đây mới bắt đầu hồi phục, nhưng không còn được như xưa nữa [30, tr.102 -103]

Tình hình sản xuất của các lò gốm khác trên đất nước Trung Quốc vào

thế kỷ XIX cũng ở tình trạng tương tự Bản đồ “Các khu vực sản xuất gốm sứ

Trung Hoa thời Thanh” thể hiện trong luận án Tiến sĩ của Trần Đức Anh Sơn

[30, PL 3.1, tr.XLIV] cho biết đến thời Càn Long (1736 - 1796) tức cuối thế

kỷ XVIII có 83 khu vực tại 15 tỉnh sản xuất đồ gốm Còn trong “Cảnh Đức

trấn đào lục” của Vương Hồng Sển thì con số ít hơn, chỉ có 13/18 tỉnh của

Trung Quốc sản xuất gốm trong thời Càn Long [26, tr.37] Qua các con số thống kê này, có thể thấy được quy mô sản xuất gốm cuối thế kỷ XVIII của Trung Quốc và có thể tình trạng này cũng không thay đổi gì nhiều khi bước sang đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, trong 100 năm của thế kỷ XIX tình hình đã

có sự thay đổi: sự biến động của nghề gốm Trung Quốc là rất lớn, một phần chịu ảnh hưởng của chính trị và các cuộc chiến tranh như đã trình bày ở trên - nhất là chiến tranh với các nước Châu Âu, một phần nghề gốm Trung Quốc

Trang 25

cũng không có được bước tiến lớn nên không thể giữ được sự tăng trưởng nếu không muốn nói là thụt lùi Những công trình nghiên cứu về gốm Trung Quốc thường đề cập, đánh giá về giai đoạn này không phát triển bằng giai đoạn thế

kỷ XVII - XVIII Về kỹ thuật vẫn như giai đoạn trước nhưng quy mô sản xuất

đã bị thu hẹp rất nhiều, không có những siêu phẩm mà phần lớn là các loại bình thường kể cả hàng trong nước và hàng xuất khẩu Các khu vực sản xuất cũng vẫn là những nơi trước đây làm nên danh tiếng của gốm Trung Quốc như khu vực trấn Cảnh Đức ở Giang Tây chuyên sản xuất gốm men xanh trắng, men nhiều màu; khu vực Đức Hóa ở Phúc Kiến chuyên sản xuất gốm men trắng và xanh trắng, khu vực Nghi Hưng ở Giang Tô chuyên sản xuất gốm đất nung, khu vực Từ Châu ở Hà Bắc chuyên sản xuất gốm men ngọc, khu vực Định Châu ở Hà Bắc làm gốm men trắng và men màu, khu vực Sán Đầu ở Quảng Đông làm gốm men màu và men xanh trắng và nhiều khu vực khác ở Bắc Kinh, An Huy, Sơn Đông, Sơn Tây, Triều Châu, Vân Nam Nguyên vật liệu của các khu vực nói trên là nguyên liệu địa phương với phương pháp và kỹ thuật chế tạo không thay đổi mấy so với thế kỷ XVIII

1.2.2 Các thị trường xuất khẩu của gốm Trung Quốc thế kỷ XIX

Từ thời Minh, thị trường gốm xuất khẩu Trung Quốc được mở rộng nhiều nơi trên thế giới, thời kỳ đầu chủ yếu xuất khẩu sang các nước ở châu Á, châu Phi, từ thế kỷ XVI khi Trung Quốc thiết lập trạm giao thương Áo Môn buôn bán với Bồ Đào Nha thì đồ gốm bắt đầu chuyển sang một giai đoạn đặc biệt: xuất khẩu sang các nước Châu Âu Đến thời Thanh, vai trò thương mại của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha tại Trung Quốc giảm sút, nhưng thị trường đồ gốm của Trung Quốc vẫn được mở rộng trên phạm vi thế giới Sang thế kỷ XIX, Trung Quốc dần suy yếu về chính trị nhưng trên lĩnh vực xuất khẩu đồ gốm nhìn chung vẫn giữ được các thị trường truyền thống thậm chí có thêm

Trang 26

khách hàng mới Thị trường gốm Trung Quốc vào thế kỷ XIX có một khu vực rất rộng hầu như quan hệ với toàn thế giới, bao gồm những vùng sau:

- Châu Âu: các thị trường tiêu thụ gốm Trung Quốc chủ yếu là Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Áo, Thụy Điển, Nga Hải trình của 1 con

tàu Anh mang tên “Thập tự giá bùng cháy” (燃 燒 的 十 字 架) ghi chép

cuộc hành trình từ Phúc Châu về Anh vào năm 1866 chở một số lượng lớn đồ

gốm men xanh trắng Trung Quốc

- Châu Đại Dương: Úc lập thương điếm tại Trung Quốc khá muộn, khoảng cuối thế kỷ XVIII nhưng cũng mau chóng trở thành khách hàng quen thuộc của ngành sản xuất gốm nước sở tại

- Châu Mỹ: so với các nước, Hoa Kỳ mở công ty thương mại ở Trung Quốc khá muộn vào năm 1784 nhưng đã tích cực tham gia việc mua bán đồ gốm Trung Quốc

- Châu Á: khách hàng truyền thống mua gốm Trung Quốc là Nhật Bản, Triều Tiên, Philippin, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Brunei, Ấn Độ, Iran, Iraq, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ trong thế kỷ XIX tiếp tục nhập hàng gốm Trung Quốc

- Châu Phi: các nước Ai Cập, Somali, Ethiopia, Kenya, Tanzania, Zimbabue, Mozambique, Zaia, Zambia, Malawi, Botswana, Madagasca trong thế kỷ XIX vẫn là bạn hàng thân thiết của gốm Trung Quốc [84, tr.108]

Hàng xuất khẩu sang các nước ban đầu có thể là hàng làm sẵn được chế tạo theo mẫu Trung Quốc, dần dần do thị hiếu khách hàng mẫu mã được thay đổi cho phù hợp với từng loại khách và sau đó là sản xuất theo mẫu khách yêu cầu với các đặc điểm sau:

Trang 27

- Loại chuyên xuất khẩu sang các nước phương Đông cùng một văn hóa với Trung Quốc như: Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên Đặc điểm của loại này là có hoa văn tương tự như hàng làm tiêu thụ trong nội địa Tuy nhiên cũng có loại hoàn toàn làm theo mẫu của người đặt hàng

- Loại chuyên xuất khẩu cho các nước Châu Âu, Tây Á, thế giới Ả rập thường sản xuất theo mẫu của người đặt hàng [84, tr.110-111]

1.3 Sản xuất gốm theo đơn đặt hàng

Do có được thế mạnh về chất lượng hàng hóa cộng thêm gốm cao cấp

là mặt hàng khá thân thiết của tầng lớp trên trong thời phong kiến và đầu thời

tư bản khi mà đồ đựng bằng các loại chất liệu không đạt yêu cầu về bảo quản thức ăn, khả năng tái sử dụng, độ bền và trình độ mỹ thuật thì gốm Trung Quốc hầu như thỏa mãn được tất cả các yêu cầu đó Con người không thể dùng kim loại sắt để chế tạo làm đồ đựng thức ăn, kim loại đồng cũng vậy, nhất là chì Thực tế đã cho thấy các kim loại này mà được chế tạo thành đồ để chứa thức ăn thức uống thì sẽ nhanh chóng bị oxy hóa, thức ăn thức uống dễ

bị hư thối còn bản thân đồ đựng thì ngoài việc mau bị hư hỏng, bị thủng còn lên ten xanh, ten đỏ rất mất thẩm mỹ và điều đáng nói là dùng những thức ăn thức uống đó sẽ rất có hại cho sức khỏe, nhiều vụ ngộ độc thức ăn bí hiểm khi dùng thức ăn đồ uống trong các loại đồ đựng bằng kim loại đã xảy ra Để cải tiến tình hình, con người cũng đã dùng kim loại bạc để chế tạo đồ đựng nhưng kết quả cũng không tốt hơn, đồ bạc rất mau bị oxy hóa vừa mất thẩm mỹ vừa không tốt cho sức khỏe Kim loại vàng cũng được thử nghiệm trong việc làm

đồ đựng, kết quả có khả quan hơn vì vàng ít bị oxy hóa nhưng giá thành lại quá cao Và cho đến thế kỷ XIV ở Châu Âu, khi người ta không tìm ra một chất liệu nào để làm đồ đựng tốt hơn đồ gốm, mặc dù đồ gốm Châu Âu trong thời kỳ đó cũng đã được sản xuất nhiều nhưng không đạt các yêu cầu về độ

Trang 28

chống thấm, vẫn giữ mùi cũ khi đựng đồ mới, hay bị trầy xước và cả trên thế giới hầu như tất cả các quốc gia đều sản xuất được đồ gốm với nhiều kỹ thuật khác nhau, nhưng đặc biệt là không quốc gia nào sản xuất được đồ gốm đảm bảo những yêu cầu vừa không thấm nước, không giữ mùi cũ, ít bị trầy xước, lúc nào cũng sáng bóng như mới, lại vừa có thể tái sử dụng lâu dài, vừa bền vừa đẹp, có trọng lượng nhẹ, kiểu dáng sang trọng như Trung Quốc Với các tính năng vượt trội, đồ gốm Trung Quốc mau chóng nổi tiếng và được các nước trên thế giới ưa chuộng Khi gặp và sử dụng đồ gốm Trung Quốc người tiêu dùng các nước đã bị chinh phục và lần lượt trở thành khách hàng quen thuộc của ngành gốm nước này, kể cả những nước thuộc loại khó tính trong việc lựa chọn hàng nhập khẩu Chính những ưu thế về nguyên liệu, về kỹ thuật và cả về mỹ thuật đã làm cho Trung Quốc trở thành nhà cung cấp đồ gốm cho toàn thế giới mà không ai cạnh tranh nổi Đó chính là lý do giải thích

vì sao gốm Trung Quốc có mặt tại phần lớn các nước trên thế giới và đó cũng

là lý do vì sao ở châu Âu từ “China” vừa là tên nước Trung Hoa vừa có nghĩa

có rất nhiều đối tác thuộc các nước Châu Âu, các nước Hồi giáo, Thái Lan, Việt Nam đặt hàng Riêng khách hàng châu Âu lúc bấy giờ các sản phẩm được ưa thích đặt hàng là các loại đĩa ăn, chén trà, chén cà phê, tách có quai,

Trang 29

hũ đựng muối, đựng tiêu, mù tạt…mà mẫu mã Trung Quốc không có Ngoài

ra họ còn đặt những món hàng chuyên dùng ở châu Âu như thau rửa mặt, chân đèn cầy nhiều nhánh, phin lọc nước, hũ có nắp đựng thuốc hút bằng tẩu… Điều đáng lưu ý là trong giai đoạn đầu người thợ Trung Quốc thường trang trí hình ảnh trên hiện vật theo quán tính nên đã vẽ hình tượng người châu Âu mang nét nhân chủng châu Á: ví dụ hình Chúa, nữ thần Vénus lại được vẽ có cặp “mắt phụng” [27, tr.419]

Cho đến nay đã có rất nhiều tiêu bản gốm Trung Quốc sản xuất theo đặt hàng của các nước trên thế giới được phát hiện:

- Tại Bồ Đào Nha, trong sưu tập Ulmar có một bầu rượu sản xuất tại Trung Quốc vẽ huy hiệu của vua Bồ Đào Nha Manuel I (1495 - 1521)

- Tại Ý, Bảo tàng Durca di Martina (Naples) có 2 cái bát do Trung Quốc sản xuất vẽ quốc huy và viết chữ Bồ Đào Nha ghi năm 1541, Bảo tàng Civico (Bologna) cũng có một cái bát giống với Bảo tàng Durca di Martina ghi năm sản xuất 1554

- Tại Pháp, vua Charles Quint (1500 - 1558) có một bộ đĩa ăn do Trung Quốc sản xuất riêng cho vua chúa phương Tây

- Từ thế kỷ XVII phương Tây rộ lên phong trào đặt hàng gốm Trung Quốc - chủ yếu là giai cấp quý tộc, lúc đầu họ đặt hàng theo kiểu dáng phương Tây mà không chú ý đến hoa văn, về sau họ đề nghị vẽ trên đồ đặt hàng hoa văn của nước họ như các kiểu Louis của nước Pháp Nhìn chung, đồ phương Tây đặt Trung Quốc sản xuất rất đa dạng, từ hình dáng đến hoa văn Các nước đặt hàng gốm Trung Quốc phải kể đến là: Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha, Anh, Bỉ, Tây Ban Nha Hoa văn Châu Âu trên các đồ gốm Châu Âu đặt hàng Trung Quốc thường là các loại quốc huy, gia huy, tích truyện Thiên chúa giáo, Tin lành, lịch sử, các chuyện ngụ ngôn, tiểu thuyết, thậm chí chép

Trang 30

tranh của các họa sĩ và những cảnh sinh hoạt đương thời ở Châu Âu [27, tr.409-425]

Chiếc tàu cổ chở đầy gốm men xanh trắng Trung Quốc thời Ung Chính (1723 - 1735) chìm tại vùng biển Cà Mau (Việt Nam) tìm thấy năm 1998 được xác định là tàu chở hàng của lò Đức Hóa (Phúc Kiến) sang Châu Âu có nhiều tiêu bản vẽ phong cảnh Hà Lan là một minh chứng rõ nét [9, 108-109]

Đặc biệt là người Châu Âu thường ưa chuộng hàng gốm xanh trắng, nhiều màu hoặc hàng mạ vàng nên trấn Cảnh Đức thường được họ chọn để đặt hàng Vì quá nhiều bạn hàng, trấn Cảnh Đức thường xuyên bị quá tải, phải liên kết với các lò Quảng Đông trong việc sản xuất thậm chí cả trong việc chuyển hàng ra nước ngoài Đây chính là cơ hội để hàng sao chép, hàng mất phẩm chất xuất hiện và chúng tồn tại đến ngày nay [27, tr.422]

- Từ thế kỷ XVI - XVII các nước Hồi giáo thường đặt hàng các loại cốc men xanh trắng chuyên dùng trong việc hành lễ của các tín đồ Islam

- Điều trùng hợp là đúng trong thời điểm cuối thế kỷ XVII, ở Việt Nam cũng có phong trào đặt hàng gốm Trung Quốc với các loại hiệu đề Nội Phủ, Khánh Xuân…

- Cuối thế kỷ XVIII, Mỹ gia nhập hàng ngũ các nước đặt hàng gốm Trung Quốc, phần lớn đồ gốm Mỹ đặt hàng vẽ quốc huy Mỹ và huy hiệu công

Trang 31

Có thể nói nghề gốm Trung Quốc do được thiên nhiên ưu đãi, lại có kỹ thuật sản xuất tiến bộ nên phát triển tột bực và khi có một cơ hội lớn là được thế giới tin dùng, dù phải trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng người Trung Quốc đã kịp thời đáp ứng, nắm bắt thời cơ tạo được uy tín kinh doanh,

uy tín sản phẩm, tạo nên được những danh tiếng một thời cũng như những sản phẩm bất hủ với thời gian

1.4 Một số sai sót của các lò gốm Trung Quốc trong việc thực hiện theo đơn đặt hàng

Tuy nhiên không phải vì thế mà nghề gốm xuất khẩu của Trung Quốc

là hoàn hảo, họ cũng có những sơ xuất trong quá trình sản xuất và đặc biệt vì

lý do cạnh tranh hoặc lợi nhuận cũng không tránh khỏi việc sản xuất thêm hàng ngoài hợp đồng, thậm chí làm hàng “sao chép” Sau đây là vài thí dụ:

™ Tình trạng “sao chép”, làm phỏng:

Trong thế kỷ XIX, gốm men xanh trắng Trung Quốc được đặt hàng rất nhiều, khách hàng trên thế giới hầu như chỉ lựa chọn trấn Cảnh Đức để đặt hàng, dẫn đến trường hợp cung không đủ cầu Trấn Cảnh Đức buộc phải mở rộng sản xuất đồng thời liên kết với một số khu vực khác hình thành mạng lưới sản xuất và kinh doanh đảm bảo cung cấp hàng đầy đủ, kịp thời nhưng vẫn không thể thỏa mãn yêu cầu quá lớn của khách hàng Một số lò gốm đã nhân cơ hội sản xuất ra hàng làm phỏng, hàng “sao chép” để tung ra thị trường, điển hình là các lò tại Quảng Đông Các loại hàng làm phỏng thường

có chất lượng xấu: cốt gốm dầy hơn, cao lanh không được tinh chất nên trông hơi thô, men cũng không phải oxyt cobalt nên không lên được màu xanh cobalt, đôi khi men bị pha loãng để tiết kiệm vật tư nguyên liệu nên bị nhòe, họa tiết do bắt chước gò ép mà vẽ nên không chuẩn, trông rất ngô nghê cẩu thả, đôi khi hoa văn được vẽ sơ sài lấy lệ chủ yếu làm cho hơi giống là được

Trang 32

Đến nay, loại hàng làm phỏng này vẫn còn tồn tại nhưng vì phẩm chất kém nên so với hàng trấn Cảnh Đứccùng thời càng thấy rõ Loại hàng làm phỏng thường được đem bán cho những người ít tiền nhưng thích hàng của trấn

Cảnh Đức.Như vậy chủ yếu là nhằm vào thị trường cấp thấp hơn Đối với thị trường Việt Nam những chủng loại sản phẩm vẽ long ám, chữ song hỷ thường bị làm phỏng nhiều nhất, sau đó là các tích như Mai hạc, Gia Long tẩu quốc Tuy nhiên cũng có loại hàng làm phỏng có chất lượng cao hơn, tiêu biểu cho loại này là các sản phẩm Nội Phủ “sao chép” hàng thế kỷ XVIII [51, tr.189-193]

™ Tình trạng thiếu kiến thức làm sai ý khách hàng:

Đây là tình trạng khá ngộ nghĩnh chủ yếu xảy ra trong khâu người thợ

vẽ hoặc viết trên đồ đặt hàng, hoặc không hiểu tính năng của đồ đặt hàng nên tuy sản xuất rất đúng kiểu mẫu nhưng lại không sử dụng được

Š Về đồ Châu Âu đặt hàng lỗi chủ yếu là chép những chữ Âu Châu không cần thiết phải chép mà người đặt hàng ghi trên mẫu dùng để dặn dò lên sản phẩm Người đặt hàng ghi trên mẫu một hàng chữ Anh hoặc chữ Pháp dặn người thợ làm điều mình muốn, nhưng khi đốc công đưa mẫu vẫn để nguyên câu ghi chép dặn dò của khách hàng và khi truyền đạt lại ý chủ hàng không rõ ràng, khi thi công người thợ thấy mẫu có câu ghi chép thì cho rằng phải làm đúng như thế trên đồ gốm nên họ chép nguyên văn câu đó trên sản phẩm

Hiện nay ở châu Âu vẫn còn những hiện vật mang những dòng chữ

Pháp như: “Ici c’est le milieu” nghĩa là “Đây là trung tâm” ở ngay vị trí quan

trọng của hiện vật [27, tr.421] Câu này có thể người đặt hàng muốn nhấn mạnh khu vực giữa của đồ đặt hàng nên viết trên mẫu để nhắc nhở thợ, nhưng người thợ thì cho rằng đó là chữ phải viết lên sản phẩm, phải làm cho đúng nên đồ lại nguyên văn trên sản phẩm Lúc bấy giờ nếu kiểm soát kỹ thì sản

Trang 33

phẩm này không đạt yêu cầu nhưng vì có lẽ đã lỡ sản xuất nguyên một lô hàng, nếu hủy đi thì tiếc nên chủ lò cứ cho giao hàng, khi nhận hàng, người đặt hàng phát hiện sản phẩm có lỗi nhưng do đường đất xa xôi các khiếu nại khó mà giải quyết nhanh chóng, lại đang cần hàng sử dụng nên đành phải cho qua, vì vậy hàng lỗi như trên mới còn lại đến ngày nay Tương tự, trên đồ gốm Châu Âu đặt Trung Quốc sản xuất có những lỗi chép chữ Châu Âu không đáng chép khác mà hiện nay vẫn còn hiện vật chứng minh nhưng tác giả chưa có điều kiện tiếp cận

Š Về đồ gốm người Việt Nam đặt hàng cũng có những lỗi tương tự: Chép nhầm: Phạm Hy Bách giới thiệu một trường hợp mà ông gọi là

“lỗi morasse” khi trên một chiếc tô chép bài thơ chữ Nôm ngũ ngôn bát cú:

“Một thức nước in trời” và kết thúc với 2 chữ “Cẩn bái” (gồm 5 chữ x 8 dòng

+ 2 chữ cẩn bái = 42 chữ) được người thợ Trung Quốc trình bày theo kiểu thất ngôn bát cú thành 6 dòng thơ (42 chữ = 7 chữ x 6 dòng ) Đó mới chỉ là một cái sai người thợ hiểu lầm khi đếm và sắp chữ Cái sai thứ hai trầm trọng hơn khi sắp chữ xong 6 dòng rồi viết trên hiện vật, người thợ lơ đãng bỏ dòng thứ hai chép nhảy sang dòng thứ ba, và sau đó dòng thứ ba vẫn được chép một cách bình thường vào vị trí của nó, như vậy vẫn đủ 6 dòng thơ nhưng bài thơ thiếu mất dòng thứ hai mà lại có đến 2 dòng thứ ba Xin được giới thiệu như sau:

Nguyên mẫu bài thơ: (5 chữ x 8 dòng = 40 chữ + 2 chữ “Cẩn bái” = 42 chữ)

Một thức nước in trời

Đò ai chiếc lá khơi Non xanh xem vọi vọi

Trang 34

Dòng nước thấy vơi vơi Mắng khúc Thương Lang gẩy

Ưa tình lữ khách chơi Mong chờ yên sóng gió Qua lại mặc người đời

Lẽ ra chép theo bố cục mới (42 chữ chia ra 6 dòng mỗi dòng 7 chữ) do người thợ tưởng là thơ thất ngôn như sau:

Một thức nước in trời đò ai Chiếc lá khơi non xanh cao vọi Vọi dòng biếc thấy vơi vơi mắng Khúc Thương Lang gẩy ưa tình lữ Khách chơi mong chờ yên sóng gió Qua lại mặc người đời cẩn bái

Nhưng do lơ đãng người thợ bỏ dòng thứ 2 chép dòng thứ 3 lên trước

và tiếp tục chép dòng thứ 3 vào đúng vị trí của nó vì vậy bài thơ thiếu dòng thứ 2 nhưng lại có 2 dòng thứ 3 như sau :

Một thức nước in trời đò ai Vọi dòng biếc thấy vơi vơi mắng Vọi dòng biếc thấy vơi vơi mắng Khúc Thương Lang gẩy ưa tình lữ Khách chơi mong chờ yên sóng gió

Trang 35

Qua lại mặc người đời cẩn bái

Như vậy rõ ràng là đã mất 7 chữ của 2 câu: (Đò ai) chiếc lá khơi non xanh cao vọi (vọi) [2, tr.116-123]

¾ Từ lỗi sắp xếp lại bố cục như trên, có một vấn đề thú vị mà người thợ Trung Quốc khi trang trí đồ đặt hàng đã thể hiện: tự ý sắp xếp lại bố cục của bài thơ hoặc một hình họa nào đó Ví dụ, Vương Hồng Sển đã phát hiện

ra 4 cách trình bày của hai câu thơ lục bát vẽ cảnh Mai hạc:

Cách 1: trình bày 2 dòng (một dòng 6 chữ, một dòng 8 chữ)

Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Cách 2: trình bày 3 dòng (hai dòng 6 chữ hai bên và một dòng 2 chữ ở giữa)

Nghêu ngao vui thú yên hà

bạn cũ hạc là người quen

Cách 3: trình bày 4 dòng (hai dòng 4 chữ, hai dòng 3 chữ xen kẽ nhau)

Nghêu ngao vui thú

yên hà Mai

là bạn cũ hạc

Cách 4: trình bày 4 dòng (hai dòng 5 chữ, hai dòng 2 chữ xen kẽ nhau)

Nghêu ngao vui thú yên

hà Mai

là bạn cũ hạc là

Trang 36

người quen

[xem thêm 29, 120-125]

Có lẽ khi thể hiện điều này người thợ nhằm mục đích tạo bố cục đẹp hơn theo diện tích cho phép trên đồ gốm vì họ nghĩ rằng bố cục theo mẫu không được đẹp Và như vậy người thợ không cần để ý đến nội dung bài thơ,

vì thực tế trong văn thơ chữ Hán trang trí trên đồ gốm thời xưa không có ngắt câu, người xem phải tự ngắt câu [41, tr.60-68]

™ Hàng đúng mẫu về hình thức nhưng không có chức năng sử dụng: Một lô bình điếu thuốc lào do quan lại Việt Nam đặt hàng trong một kỳ đi sứ dưới thời Minh Mạng tại trấn Cảnh Đức Do không chuẩn bị mẫu mã trước,

và không truyền đạt rõ ràng về cách sử dụng bình điếu cho bên sản xuất hiểu, nên cuối cùng người đặt hàng đã nhận được một lô hàng tuy có hình dạng

giống bình điếu như đã đặt nhưng ruột đặc không sử dụng được [27,

tr.362-363]

Những lỗi này có lẽ đã tạo ra một số rắc rối trong việc thanh lý hợp đồng đương thời nhưng chắc chắn là không ảnh hưởng gì đến uy tín lớn của ngành gốm xuất khẩu của Trung Quốc và sự tồn tại của chúng đến nay lại là một hiện tượng khá lý thú được nhiều người sưu tập cho là “quý hiếm”

Trang 37

Tiểu kết chương 1

- Tóm lược sự phát triển của đồ gốm Trung Quốc từ khi xuất hiện đến hết thế kỷ XVIII từ đồ đất nung đến đồ gốm men và đồ gốm cao cấp trải qua các thời đại: từ thời đồ đá bắt đầu có đồ đất nung, thời Hán xuất hiện gốm men, thời Minh bắt đầu phát triển đồ gốm men Hồi, men xanh trắng

- Giới thiệu chung về gốm Trung Quốc thế kỷ XIX với một số đặc điểm như ít có sự thay đổi về phương pháp sản xuất, kỹ thuật sản xuất và nguyên vật liệu nhưng tình hình chính trị, quân sự nửa cuối thế kỷ XIX đã làm cho ngành gốm Trung Quốc bị ảnh hưởng nặng nề

- Tuy bị thiệt hại nặng nhưng ngành gốm Trung Quốc vẫn giữ được thị trường xuất khẩu ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc và lại có thêm bạn hàng mới như Brazil…

- Điểm mạnh của ngành gốm Trung Quốc không chỉ là hàng hóa có chất lượng và trình độ mỹ thuật cao mà còn chú ý đến việc làm hài lòng thị hiếu của từng loại khách hàng, sản xuất theo yêu cầu của khách từ kiểu cách, loại hình cho đến trang trí mỹ thuật

- Trong quá trình thực hiện hợp đồng sản xuất gốm cho khách hàng, các

lò gốm Trung Quốc cũng có những sai sót trong việc trang trí sản phẩm như: viết những chữ không cần thiết, viết sai chính tả, hiểu lầm và bố cục sai bài thơ, chép sót và chép dư câu thơ, tự ý thay đổi bố cục hình họa hoặc các chữ viết… Đặc biệt có tình trạng sản xuất thêm hàng ngoài hợp đồng hoặc hàng

“sao chép” tung ra thị trường

Trang 38

Chương 2 : GỐM TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX XUẤT KHẨU

SANG THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 2.1 Vấn đề “Gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam”

Có quan niệm cho rằng gốm Trung Quốc có niên đại thế kỷ XIX hiện nay tồn tại trên đất nước Việt Nam là đồ xuất khẩu của Trung Quốc Quan niệm này chưa thuyết phục vì vấn đề không chỉ hiểu một cách đơn giản như vậy Trước hết mọi sự vật đều phải có tiêu chí, ví dụ khi nói đến gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam phải đảm bảo ít nhất hai tiêu chí:

thứ nhất đó phải là gốm Trung Quốc sản xuất vào thế kỷ XIX, thứ hai đó là

các loại gốm Trung Quốc thế kỷ XIX được xuất khẩu sang Việt Nam Có thể nói gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam chỉ là một phần nhỏ chứ không phải là toàn bộ đồ gốm xuất khẩu mà Trung Quốc sản xuất trong thế kỷ XIX Vậy gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam gồm những loại nào?

Để giải quyết vấn đề này phải căn cứ vào các tư liệu buôn bán, hợp đồng, hóa đơn mua bán, đặt hàng gốm hoặc biên bản, danh mục giao hàng giữa người Trung Quốc và Việt Nam vào thế kỷ XIX Tuy nhiên, hiện nay các loại giấy tờ trên có thể không còn tồn tại mà nếu có cũng không thể đầy đủ để

có thể xác minh toàn bộ hàng gốm Trung Quốc đã xuất khẩu sang Việt Nam

Vì vậy để xác định loại gốm nào đã được xuất khẩu sang Việt Nam thì phải căn cứ vào các tư liệu lịch sử Việt Nam, Trung Quốc, các công trình khảo cổ học đặc biệt là khảo cổ học các cảng biển cũng như thực tế đồ gốm Trung Quốc thế kỷ XIX hiện đang được lưu giữ tại Việt Nam Đây là một công việc khá phức tạp vì gốm Trung Quốc thế kỷ XIX có mặt ở Việt Nam rất nhiều, thực chất cũng có những loại hàng quà biếu hoặc là loại hàng người Trung

Trang 39

Quốc mang sang Việt Nam để sử dụng với mục đích cá nhân, vậy vấn đề là có nên phân biệt loại nào là hàng xuất khẩu, loại nào không phải hàng xuất khẩu hay không? Đã có một số công trình xác định vấn đề này, chẳng hạn như công

trình “Gốm thương mại Đông Nam Á và Trung Quốc” (Southeast Asian and

chinese trade pottery), hoặc các công trình về loại gốm Trung Quốc sản xuất theo Việt Nam đặt hàng (của các tác giả Trần Đức Anh Sơn, Phạm Hy Tùng, Trần Đình Sơn) Trong luận văn, do tính chất chủ yếu là nghiên cứu chung về

“Gốm Trung Quốc xuất khẩu” sang Việt Nam vào thế kỷ XIX nên tác giả không chú trọng vấn đề này mà chủ yếu chứng minh rằng “Gốm Trung Quốc

xuất khẩu” đến Việt Nam bằng hai cách: từ Trung Quốc mang sang bán tại

Việt Nam (hoặc từ Việt Nam sang mua về) và từ Việt Nam sang Trung Quốc đặt hàng

2.2 Các loại gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam

Như phần mở đầu tác giả đã cho rằng gốm Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam chia làm 2 loại như sau:

- Loại gốm hàng hoá thường xuất sang Việt Nam: loại này do các lò gốm Trung Quốc sản xuất theo mẫu mã Trung Quốc rồi mang bán sang Việt Nam Chất lượng của loại hàng này rất khác nhau từ rất tốt cho tới rất xấu tùy theo nguyên liệu sản xuất của các lò gốm Sở dĩ chúng có chất lượng khác nhau là vì theo quy luật thị trường khi khách hàng Việt Nam có nhiều tầng lớp

có khả năng mua sắm khác nhau, với hàng tốt tác giả gọi là hàng cao cấp, với hàng chất lượng xấu, tác giả gọi là đồ “bình dân” Điều đáng lưu ý là dù tốt hay xấu loại hàng sản xuất theo mẫu mã Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam, một số có ghi hiệu đề hay hiệu lò chủ yếu dưới trôn hiện vật, và một số các sản phẩm được để trơn

Trang 40

- Loại thứ hai cũng do các lò gốm Trung Quốc sản xuất rồi xuất khẩu sang Việt Nam nhưng lại theo hợp đồng Loại này cũng có hai dạng: dạng người Việt Nam hay Trung Quốc đặt hàng rồi mang về Việt Nam bán, mẫu

mã của dạng này không nhất định, có thể là mẫu mã Trung Quốc và cũng có thể là mẫu mã do người đặt hàng nghĩ ra với mong muốn có thể bán được trên thị trường; dạng thứ hai là dạng do vua quan và tầng lớp trên của Việt Nam đặt hàng sử dụng cho riêng mình mà không có ý định buôn bán Đây là hàng đặc biệt nên kiểu thức trang trí cũng khác biệt, thường thì theo ý tưởng của người Việt Nam đặt hàng Dưới trôn dạng thứ hai này cũng được ghi những hiệu đề hoàn toàn khác với các hiệu đề Trung Quốc đương thời như ghi niên hiệu vua triều Nguyễn, ghi chữ Nhật (日)… Về chất lượng thì dạng thứ nhất

có thể có tốt có xấu nhưng chất lượng của dạng thứ hai thì toàn bộ đều là hàng tốt vì tính chất đặc biệt của nó

Ngoài ra còn có loại sản xuất thêm hàng ngoài hợp đồng và loại hàng

“sao chép” tức là loại hàng làm phỏng theo kiểu vua quan và tầng lớp trên của Việt Nam đặt hàng Loại này thường chất lượng không tốt Sở dĩ có loại hàng này là vì hàng của vua quan và tầng lớp trên Việt Nam đặt là loại đặc biệt, ít

có trên thị trường nên các lò gốm Trung Quốc sản xuất thêm để bán kiếm lợi hoặc phỏng theo mẫu để sản xuất rồi tung ra thị trường (gọi là hàng làm phỏng hoặc “sao chép”)

Để nhận dạng gốm Trung Quốc thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam ngoài việc xem xét chất lượng cốt gốm và màu men còn có thể căn cứ vào ký hiệu, hiệu đề, hoa văn Các yếu tố trên cũng được dùng không những để phân biệt gốm Trung Quốc do người Việt Nam đặt hàng với gốm do người Trung Quốc bán sang Việt Nam mà còn để phân biệt với gốm các thời khác nhau của Trung Quốc

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thuận An (1994), Kiến trúc cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cố đô Huế
Tác giả: Phan Thuận An
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1994
2. Phạm Hy Bách (1996), “Chung quanh một tô sứ cổ có lỗi morasse”, Mùa Thu lịch sử, Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, tr.116-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chung quanh một tô sứ cổ có lỗi "morasse"”, "Mùa Thu lịch sử
Tác giả: Phạm Hy Bách
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1996
3. Phạm Hy Bách (2000), “Động Phong Nha trên đồ sứ cổ”, Tạp chí Xưa và Nay số 71, tr.27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động Phong Nha trên đồ sứ cổ”, "Tạp chí Xưa và Nay
Tác giả: Phạm Hy Bách
Năm: 2000
4. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai (1998), Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành & phát triển, Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành & phát triển
Tác giả: Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1998
6. Nguyễn Tiến Cảnh (cb) (1992), Mỹ thuật Huế, Viện Mỹ Thuật - Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Huế
Tác giả: Nguyễn Tiến Cảnh (cb)
Năm: 1992
7. Nguyễn Đình Chiến (1995), “Sưu tập gốm men có ghi niên hiệu Gia Long tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam”, Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.206-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tập gốm men có ghi niên hiệu Gia Long tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam”, "Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1995
8. Nguyễn Đình Chiến (1999), Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ XV - XIX, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Nxb. Bản đồ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ XV - XIX
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Nxb. Bản đồ Hà Nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Đình Chiến (2002), Tàu cổ Cà Mau (1723 - 1735), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tàu cổ Cà Mau
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Năm: 2002
10. Phạm Hữu Công (2000), “Sưu tập Vương Hồng Sển - Những vấn đề tiếp nối”, Thông báo khoa học số 2, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tập Vương Hồng Sển - Những vấn đề tiếp nối”, "Thông báo khoa học số 2
Tác giả: Phạm Hữu Công
Năm: 2000
11. Trần Anh Dũng - Hà Văn Cẩn (2004), “Điều tra, thám sát khảo cổ học cảng thị Ba Vát (Bến Tre)”, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.381-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thám sát khảo cổ học cảng thị Ba Vát (Bến Tre)”, "Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003
Tác giả: Trần Anh Dũng - Hà Văn Cẩn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2004
12. Đinh Văn Hạnh (2001), “Những trung tâm buôn bán thương mại xưa ở Bà Rịa - Vũng Tàu”, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2000, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.573-577 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trung tâm buôn bán thương mại xưa ở Bà Rịa - Vũng Tàu”, "Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2000
Tác giả: Đinh Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2001
13. Tô Hoài - Nguyễn Vinh Phúc (2000), Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Nxb. Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Tác giả: Tô Hoài - Nguyễn Vinh Phúc
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2000
14. Nguyễn Phi Hoanh (1970), Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phi Hoanh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1970
16. Đàm Gia Kiện (cb) (1999), Lịch sử Văn hóa Trung Quốc, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện (cb)
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1999
17. Trần Trọng Kim (2005), Việt Nam sử lược, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
18. Nhất Như - Phạm Cao Hoàn (biên dịch) (2003), Đồ điển Mỹ thuật Trung Quốc, Nxb. Mỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ điển Mỹ thuật Trung Quốc
Tác giả: Nhất Như - Phạm Cao Hoàn (biên dịch)
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 2003
19. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1993
20. Lê Đình Phụng - Tống Trung Tín - Đỗ Hữu Hà (1998), “Điều tra thám sát cảng Thanh Hà (Thừa Thiên Huế)”, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.548-549 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thám sát cảng Thanh Hà (Thừa Thiên Huế)”, "Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997
Tác giả: Lê Đình Phụng - Tống Trung Tín - Đỗ Hữu Hà
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
21. Quốc sử quán triều Nguyễn (1972), Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1972
22. Trương Hữu Quýnh - Phan Đại Doãn - Nguyễn Cảnh Minh (1997), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1
Tác giả: Trương Hữu Quýnh - Phan Đại Doãn - Nguyễn Cảnh Minh
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w