Do đó, việc nhận diện sự vận động của tư duy tiểu thuyết về chiến tranh là cần thiết đối với công việc nghiên cứu lịch sử văn học, là một trong những nhu cầu của ý thức văn học hiện đại,
Trang 1ĐÀO DUY LỰC
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TƯ DUY TIỂU THUYẾT
VỀ CHIẾN TRANH (QUA SÁNG TÁC CỦA PHAN TỨ,
NGUYỄN MINH CHÂU, BẢO NINH)
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60.22.01.21
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN ĐẤU
Trang 2Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Đóng góp của luận văn 15
6 Cấu trúc của luận văn 15
Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HIỆN THỰC CHIẾN TRANH 17
1.1 Chiến tranh – từ góc nhìn sử thi đến góc nhìn đời tư 17
1.1.1 Chiến tranh dưới góc nhìn sử thi 17
1.1.2 Chiến tranh dưới góc nhìn đời tư 21
1.2 Chiến tranh – từ chiến công người anh hùng đến nỗi đau con người 25
1.2.1 Chiến công người anh hùng trong chiến tranh 25
1.2.2 Nỗi đau con người trong chiến tranh 30
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH 41
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người và yêu cầu đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người 41
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 41
2.1.2 Yêu cầu đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người 42
Trang 42.2.1 Con người cộng đồng, truyền thống 44
2.2.2 Con người cá nhân, đa diện với bản sắc riêng 48
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3: NHỮNG TÌM TÒI, CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH 64
3.1 Nghệ thuật kết cấu 64
3.1.1 Kết cấu đồng hiện 64
3.1.2 Kết cấu lồng ghép, phần mảnh đan xen 67
3.2 Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật 71
3.2.1 Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật 71
3.2.2 Đa dạng hóa giọng điệu trần thuật 74
3.3 Ngôn ngữ độc thoại và đối thoại 79
3.3.1 Ngôn ngữ độc thoại 79
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại 81
3.4 Phương thức huyền thoại hoá 84
3.4.1 Huyền thoại và phương thức huyền thoại hoá 84
3.4.2 Sự phối trộn giữa cõi thực và cõi mơ, “khả tín” và “bất khả tín” 85
3.4.3 Yếu tố biểu tượng, huyền tích và sự mở rộng biên độ nghĩa 87
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Tiểu thuyết là thể loại văn học chiếm vị trí hàng đầu trong mỗi nền văn học Trong suốt chiều dài của lịch sử văn học nhân loại cũng như lịch sử văn học mỗi dân tộc, tiểu thuyết luôn là một sản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất
cho thời đại mới, là “máy cái”, là thể loại “chúa tể”, là thành quả có giá trị
như một bước nhảy vọt của văn chương Nó mang trong mình những đặc tính chung, bao trùm của tư duy văn học hiện đại
Tư duy tiểu thuyết là bộ phận cực kỳ quan trọng của ý thức về văn học
Nó đánh dấu sự trưởng thành và phát triển ý thức văn học của mỗi nền văn học dân tộc Đó chính là cách nhìn, cách tiếp cận với thế giới và con người một cách hết sức tỉnh táo, thực tế, không thành kính cũng không thiên vị Nó cảm thụ cuộc sống một cách sống động trong tính phức tạp và biến động không ngừng nghỉ của cuộc đời Con người trong tiểu thuyết là vô cùng phức tạp, nhiều chiều kích, nhiều gương mặt không ai giống ai và cũng chẳng trùng khít với chính mình
Văn xuôi hiện đại không thể không đi trên con đường lớn này, con đường tiểu thuyết
1.2.Văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975, ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt Nó phải gánh trên vai trọng trách nặng nề mà hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ giao phó: Tuyên truyền và cổ vũ chiến đấu chống ngoại xâm Khi chiến tranh chống Mĩ kết thúc, tuy không còn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu như giai đoạn trước đó nhưng đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục là niềm cảm hứng sáng tác của các nhà văn Họ đã tạo
ra nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng người đọc Trong suốt 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm, tiểu thuyết chiến tranh đã có đóng góp rất lớn trong việc hình thành diện mạo của nền
Trang 6văn học dân tộc
Sau 1975, trên tinh thần đổi mới tư duy nghệ thuật, tiểu thuyết chiến tranh tiếp tục phát triển, đạt được những thành tựu mới, góp phần không nhỏ vào sự đổi mới thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết về chiến tranh nói chung và chiến tranh chống Mĩ nói riêng khá phong phú về số lượng tác phẩm, đa dạng
về khuynh hướng thẩm mĩ với nhiều cách tân nghệ thuật táo bạo và đặc sắc
Do đó, việc nhận diện sự vận động của tư duy tiểu thuyết về chiến tranh là cần thiết đối với công việc nghiên cứu lịch sử văn học, là một trong những nhu cầu của ý thức văn học hiện đại, góp phần thể hiện đầy đủ hơn diện mạo của văn học giai đoạn chống Mĩ và giai đoạn đổi mới sau chiến tranh
Đối với sự vận động và phát triển của tư duy tiểu thuyết về chiến tranh, việc nghiên cứu, tổng kết là quan trọng và cần thiết Nó góp phần phát triển lí luận tiểu thuyết, sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết ở Việt Nam hiện tại cũng như trong tương lai
1.3 Chúng tôi nhận thấy Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh là những cây bút tiểu thuyết tiêu biểu về đề tài chiến tranh chống Mĩ, ở họ vừa
có sự tiếp nối của tư duy tiểu thuyết truyền thống vừa có sự cách tân mạnh mẽ
và táo bạo, thể hiện tư duy mới đối với tiểu thuyết chiến tranh Nó thể hiện những quan niệm mới về hiện thực chiến tranh, về con người và lập trường sáng tác của các nhà văn Điều đó dẫn tới những tìm tòi, thể nghiệm, cách tân nghệ thuật, những kĩ thuật viết mới, mang lại hiệu quả nghệ thuật cao Đồng thời nó cũng thể hiện tinh thần dân chủ, ý thức vượt thoát khỏi những quan niệm cũ về tiểu thuyết và tiểu thuyết chiến tranh đã từng tồn tại từ lâu
Đó là những lí do để chúng tôi chọn đề tài Sự vận động của tư duy tiểu
thuyết về chiến tranh (Qua sáng tác của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh)
Trang 72 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh chống Mĩ
Cho đến nay đã có khá nhiều bài báo và công trình khoa học nghiên cứu
về tiểu thuyết chiến tranh chống Mĩ Về cơ bản, có thể thấy việc nghiên cứu này diễn ra theo hai chặng: Từ 1975 đến khoảng cuối những năm 80 của thế
phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh cách mạng, đã “đánh giá sự kiện và
con người một cách sâu sắc hơn, nhìn cuộc chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc hơn” [41,108-113].“Khuynh hướng phân tích hiện thực chiến tranh,
mối quan hệ của nó với con người là dễ nhận thấy trong các tiểu thuyết Đất
trắng, Cửa gió, Năm 1975 họ đã sống như thế, Họ cùng thời với những ai, Đất không dấu mặt… Chính việc phân tích sự kiện lịch sử và tâm lí con
người trong chiến tranh, mối quan hệ giữa con người và chiến tranh làm cho tiểu thuyết sau 1975 có một diện mạo mới”[130, 118-122]
Ngoài việc ghi nhận những thành tựu ban đầu, một số nhà văn, nhà viết phê bình, tiểu luận còn chỉ ra mặt hạn chế của tiểu thuyết về chiến tranh:
“Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh, các nhân vật thường khi có
Trang 8khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực” [22, 57]
“Ở nhiều cuốn tiểu thuyết thiên về chiều rộng trong văn học ta, nhiều trường
hợp có thể thấy cốt truyện đa tuyến chưa được triển khai đến mức cần thiết đã
bị teo lại, bị thu vào cốt truyện đơn tuyến, bút pháp tự sự khách quan bị lấn át bởi bút pháp biểu hiện trữ tình, những mảng đời sống được dàn ra (do ý đồ tạo nên chiều rộng của bức tranh toàn cảnh hoành tráng) thiếu sự kết dính vào một chỉnh thể, trở nên chơi vơi, gây cảm quan về sự hời hợt, vụn vặt, làm hại đến chính tính hoành tráng của tác phẩm” [6,116-127] “Các tác phẩm viết về chiến trường thực ra chỉ phô bày sự hiểu biết về chiến trường, kể chuyện chiến trường hơn là thể hiện một thái độ rất tôi của tác giả Không có
cá tính, đúng hơn là chối bỏ cá tính, chối bỏ quan niệm riêng của mình trước hiện thực là một trong những nguyên nhân tạo nên tình trạng yếu kém của các tác phẩm văn học của ta” [35,128-130]
Tóm lại, trong khoảng hơn mười năm từ sau 1975, việc nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh chưa có thành tựu nổi bật Nguyên nhân của tình trạng trên là do tiểu thuyết về chiến tranh chưa đạt được thành tựu nổi bật, một phần cũng còn do đặc điểm chung trong tiếp nhận văn học ở giai đoạn đó còn khá dễ dãi, xuôi chiều
2.1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết chiến tranh từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX đến nay
Từ đầu thập kỉ 90 trở đi, đề tài chiến tranh tiếp tục được các nhà văn khai thác, thể hiện với những tìm tòi, thể nghiệm mới mẻ Cùng với đó, thành tựu của lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học cũng thật sự khởi sắc Việc nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh đã chú ý nhiều hơn tới giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân bản và chức năng thẩm mĩ của tác phẩm
Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Thiệu Vũ, Tôn Phương Lan, Nguyễn Thanh Tú, Đinh Xuân Dũng… đã đưa ra nhiều nhận xét, đánh giá cả về thành
Trang 9tựu cũng như hạn chế của tiểu thuyết chiến tranh mang tầm khái quát cao
“Sau 1975 các nhà tiểu thuyết đã nỗ lực mở rộng phạm vi hiện thực
phản ánh nhưng chưa có đủ sự táo bạo cần thiết cho việc phát huy trí tưởng tượng và giải phóng những mãnh lực hư cấu nghệ thuật”… “Cố gắng tạo dựng những tính cách, những số phận độc đáo, đặc biệt nhưng còn tự giam mình trong những quan niệm nghệ thuật giản đơn, nhất phiến”… “Đã ưu tiên cho việc phân tích tâm lí nhưng chưa thực sự dám đối diện với những bí ẩn của tâm hồn con người” [150, 104-108]
“Như vậy, với điểm nhìn mới, những sáng tác viết về chiến tranh trong
những năm gần đây cho chúng ta thấy được sự đổi mới của nó: cái ác liệt của chiến tranh đã được nhìn sâu vào bản chất Chúng ta dễ nhận ra việc đổi mới
tư duy nghệ thuật, đổi mới cách nhìn là cơ sở quan trọng để có được sự đa dạng về phong cách và giọng điệu với nhiều phương thức biểu hiện mới mà trước đó chưa có, như sử dụng hiện thực tâm linh, yếu tố kì ảo, dòng ý thức… Nhưng trong văn xuôi viết về chiến tranh, kĩ thuật đó chưa được áp dụng nhiều” [90, 15]
“Có thể hình dung quá trình phát triển của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ
1945 đến nay như một giao động hình sin, điểm bắt đầu là Xung kích, Con
trâu, Vùng mỏ… lên cao với Đất nước đứng lên và cực đại là Dấu chân người lính… Rồi đi xuống đến cực tiểu là Nỗi buồn chiến tranh… Sự hình
dung này chỉ căn cứ vào tín h chất thể loại xem xét chất sử thi đậm nhạt khác nhau chứ không căn cứ vào giá trị của tác phẩm” [146, 99-101]
“Một số tác giả, đặc biệt những nhà văn đã quen và nhiều năm viết về
chiến tranh trong chiến tranh, vẫn giữ lại tạng viết của mình, ít có sự đổi mới”… “Một số nhà văn khác đã cho ra đời những tác phẩm viết về chiến tranh theo khuynh hướng nhìn méo hiện thực, chỉ tập trung đi tìm những cái mất mát, đau thương, bi thảm éo le, độc ác, lố bịch xảy ra trong chiến tranh,
Trang 10để từ đó, cho là toàn bộ hiện thực chiến tranh” “Khuynh hướng chính của
sự phát triển, đó là khả năng phân tích, bình giá và mổ xẻ hiện thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệ cực kì phức tạp giữa số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đó là năng lực khám phá và đặt ra những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sau chiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và của toàn
xã hội” [34, 91-95]
Nghiên cứu về tiểu thuyết chiến tranh còn là đề tài của nhiều luận án, luận văn ở các học viện, trường đại học, của các nghiên cứu sinh, học viên cao học Vấn đề chiến tranh chống Mĩ trong tiểu thuyết được các tác giả nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá, nhận xét khá sâu sắc, toàn diện Có những công trình nghiên cứu về từng tác phẩm, từng tác giả, có những đề tài nghiên cứu cả một giai đoạn, một khuynh hướng Ở đó, các tác giả đã có những nhận xét , kết luận góp phần làm rõ hơn diện mạo của dòng tiểu thuyết về chiến tranh
Tóm lại, việc nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh đã đạt được nhiều thành tựu Đó là nhờ có sự đổi mới của cả lĩnh vực sáng tác và phê bình trong
sự nỗ lực tiếp thu, cập nhật những thành tựu của lí luận, phê bình hiện đại
2.2 Tình hình nghiên cứu về Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh
2.2.1 Về Phan Tứ
Phan Tứ là một trong những nhà văn xuất sắc của thế hệ nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta: kháng Pháp và kháng
Mĩ Ông gắn bó cả cuộc đời mình với đề tài chiến tranh cách mạng Ông viết:
“Cuộc đời của tôi từ hồi 14 tuổi, cho đến nay 64 tuổi toàn là sống trong chiến
tranh, cho nên tôi rất tha thiết viết về chiến tranh Viết ra, hay dở còn tùy bạn đọc” Với hàng ngàn trang viết tâm huyết, Phan Tứ đã đóng góp một phần
không nhỏ cho thành tựu của nền văn học cách mạng nước ta Ông được trao
Trang 11nhiều giải thưởng: Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu, giải thưởng Hồ
Chí Minh, giải thưởng sách hay của Hội nhà văn…
Tuy nhiên, chưa có nhiều bài đánh giá của các nhà phê bình, các học giả về sáng tác của Phan Tứ Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy đánh giá khá sâu sắc và toàn diện về tiểu thuyết chiến tranh của Phan Tứ là PGS.TS Mai
Hương Trong bài viết “Lê Khâm - Phan Tứ - Nhà văn chiến sĩ”, Mai Hương
đã có những đánh giá xác đáng về cả thành công cũng như hạn chế trong sáng
tác của Phan Tứ: “Là một trong những cây bút xuất sắc của thế hệ nhà văn
trưởng thành trong hai cuộc chiến tranh cách mạng vĩ đại của dân tộc: chống Pháp và chống Mĩ [152, 13]
Đánh giá tổng thể tư duy tiểu thuyết chiến tranh của Phan Tứ, nhà
nghiên cứu Mai Hương khẳng định: “Xuất phát từ một quan niệm chuẩn xác
về hiện thực đời sống: Bức tranh cần cả màu sáng lẫn màu tối, bản nhạc cần
cả nốt thanh lẫn nốt trầm, Phan Tứ luôn có cách nhìn nhận và phản ánh hiện thực tỉnh táo và khách quan với cả gam màu sáng tối của nó trong quá trình vận động, phát triển biện chứng, hợp lí” [152, 27] “Vấn đề trung tâm của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng là vấn đề nhân vật Thành công của Phan Tứ trong việc lựa chọn và khắc hoạ rõ nét số phận nhân vật thể hiện năng lực và sự già dặn trong tư duy tiểu thuyết của nhà văn” [152, 37]
Bên cạnh việc khẳng định những thành công, đóng góp của Phan Tứ,
Mai Hương cũng chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của ông: “Sáng tác của
Phan Tứ không khỏi không có những hạn chế, khiếm khuyết: Sự sa đà hoặc chưa thật nhuần chín trong cảm xúc, sự rậm rạp, nặng nề của những sự kiện, chi tiết, chất phóng sự ở một đôi chỗ còn đậm, một vài tính cách nhân vật còn chưa thật đầy đặn… Quả là, từ góc độ tiếp nhận văn học, người đọc còn có quyền mong mỏi và đòi hỏi nhiều hơn nữa ở nhà văn” [152, 40]
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng về khuynh hướng tư duy, Phan Tứ thiên
Trang 12về lối tư duy của tiểu thuyết truyền thống mà người ta thường gọi là “tư duy
sử thi” Tiểu thuyết viết về chiến tranh của ông chú trọng khẳng định chính
nghĩa của dân tộc, củng cố niềm tin cho con người, là ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập tự do, là niềm tự hào về sự nghiệp đấu tranh cách mạng, là niểm tin vào chiến thắng, chính nghĩa Nhân vật của ông sống và chiến đấu chủ yếu với tư cách con người chính trị, con người công dân Họ là những người anh hùng lí tưởng Mối quan hệ giữa các tuyến nhân vật thường
là quan hệ đối lập: địch – ta; cốt truyện được kết cấu theo mô hình này Khi miêu tả nhân vật chính diện tác giả chủ yếu sử dụng điểm nhìn bên ngoài bằng ngôn ngữ thi vị mang sắc thái ngợi ca với giọng điệu chính là giọng điệu hào hùng, thành kính
Tóm lại, tiểu thuyết của Phan Tứ viết theo khuôn mẫu chung của loại hình tiểu thuyết sử thi Nó chú trọng và thiên về việc thực hiện sứ mệnh tuyên truyền, minh họa, cổ vũ chiến đấu, chưa đầu tư nhiều cho nghệ thuật nên không tránh khỏi sự đơn điệu nhất định
2.2.2 Về Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX Cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông
là một đề tài đầy lý thú đối với đông đảo người đọc và các nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Châu không bắt đầu sự nghiệp viết văn bằng thể loại tiểu thuyết nhưng những bài nghiên cứu về những sáng tác văn học của ông lại bắt đầu
từ thể loại này Đã có hàng trăm công trình nghiên cứu, bài viết về Nguyễn Minh Châu và sự nghiệp sáng tác của ông Có thể khái quát ở các phương diện chính sau:
Ở góc độ nhà văn, Nguyễn Minh Châu là một nhà văn có tư chất nghệ sĩ luôn khát khao đổi mới tư duy nghệ thuật Ông là một đại diện sớm, kiên định
và uy tín cao của trào lưu văn học đổi mới
Trang 13Ở góc độ tác phẩm, tiểu thuyết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu luôn tạo được sự hấp dẫn trong nền văn xuôi đương đại Ông được đánh giá cao trong việc phản ánh hiện thực anh hùng, truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Đồng thời, nhất là ở thập kỉ 80 của thế kỉ
XX, Nguyễn Minh Châu đã có những sáng tác mang tính đổi mới, mở đường
Về khuynh hướng đổi mới tư duy trong sáng tác, các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long, Phan Cự Đệ, Song Thành…
đều khẳng định Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn đi tìm “Hạt ngọc ẩn dấu
trong bề sâu tâm hồn con người”
Các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Trần Trọng Đăng Đàn, Song Thành, Lại Nguyên Ân… đều có những nhận xét, đánh giá xác đáng về cả những thành công và hạn chế trong tiểu thuyết chiến tranh của
Nguyễn Minh Châu: “Rõ ràng thời đại chúng ta đã sản sinh ra những điển
hình xã hội to lớn và toàn vẹn Tạo cho được những điển hình văn học đúng với tầm vóc đó của thời đại là một trong những nhiệm vụ chủ yếu đối với
những nhà văn muốn xây dựng những tác phẩm lớn Có thể xem tác giả Dấu
chân người lính là một trong số những nhà văn đã đạt được những kết quả
bước đầu đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ chủ yếu đó” [38, 25-27]
“Chưa có một thành tựu nào thật tài hoa xuất sắc Nhưng bước đi của
anh - dù sao cũng đã mười năm rồi – nói chung là chắc chắn” “Nguyễn Minh Châu biết tránh lối biểu hiện công thức tô hồng, không phải bằng cách giả tạo nào đó giữa cái xấu và cái tốt Truyện của anh hầu như chỉ tập trung vào phía tốt, vào mặt sáng của hiện thực, của lòng người, và anh tin rằng sự chân thật của những điều anh mô tả sẽ quyết định sức thuyết phục nghệ thuật của
nó Nhưng, phải nói rằng, ngòi bút Nguyễn Minh Châu chân thực và chưa thật sâu” [101, 52]
Nhiều nhà nghiên cứu nhận định những tiểu thuyết sáng tác trong giai
Trang 14đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu như Cửa sông, Dấu chân người lính cũng
đã kế thừa và tiếp nối tư duy tiểu thuyết sử thi truyền thống Song, đến giai
đoạn sau, với Miền cháy, Cỏ lau, Nguyễn Minh châu đã dần chuyển sang một
hệ hình tư duy mới, thể hiện trong quan niệm mới về thể loại tiểu thuyết, về con người và hiện thực chiến tranh Ông quan niệm cần đổi mới tiểu thuyết theo hướng nắm bắt cả những hành động, toan tính, tâm trạng, ham muốn rất đời thường của con người Những sự kiện, biến cố của lịch sử chiến tranh được nhận thức lại, khai thác lại Nó không còn là mục tiêu phản ánh nữa mà trở thành đối tượng sáng tạo, là phương tiện nghệ thuật để thể hiện cách suy nghĩ, cách đánh giá, cách cảm nhận của riêng nhà văn về con người, về cuộc đời Và do đó con người trở thành trung tâm điểm, là hệ qui chiếu để soi rọi những vấn đề của chiến tranh và cuộc sống hậu chiến
Có thể nói tiểu thuyết chiến tranh của Nguyễn Minh Châu được đánh giá
là đã bước những bước vững chắc và đầy hứa hẹn; từ khẳng định vẻ đẹp hoành tráng của những thế hệ người lính trong chiến đấu đến khẳng định vẻ đẹp bề sâu của phẩm giá con người Việt Nam; từ chủ nghĩa hiện thực đậm chất lãng mạn cách mạng trong màu sắc sử thi sang chủ nghĩa hiện thực đậm chất tỉnh táo, giàu chất suy tư
2.2.3 Về Bảo Ninh
Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh, đến nay, duy nhất
chỉ có tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh Tác phẩm có một số phận đặc biệt,
được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1991 và là trường hợp bị tranh cãi nhiều nhất trong số các giải thưởng văn chương có uy tín Đây cũng
là cuốn tiểu thuyết chiến tranh được chuyển ngữ và giới thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới, được giải thưởng Châu Á (Nikkei Asia Prizes) 2011
Nhìn chung, có hai khuynh hướng đánh giá cuốn tiểu thuyết này: khuynh hướng khẳng định, đề cao, ca ngợi và khuynh hướng phê phán, bài xích Ở
Trang 15nước ngoài, có nhiều tài liệu, bài viết thiên về đề cao, ca ngợi tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh “Cuốn tiểu thuyết này, của một nhà văn cựu
chiến binh quân đội Bắc Việt Nam, đã rất thành công trong việc tôn vinh tầm nhân văn của dân tộc mình, một dân tộc mà trước đây thường bị ngộ nhận là
vô cảm như những Rô bốt” (Sunday Times) “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã
in dấu trong tâm trí của chúng ta qua vô số tác phẩm điện ảnh và văn học, nhưng chưa tác phẩm nào có thể gửi đến chúng ta một thông điệp đầy ám ảnh như là cuốn tiểu thuyết này của Bảo Ninh” ( Yorkshire Post) “Một minh chứng vô song về chiến tranh nói chung và chiến tranh Việt Nam nói riêng”
(Labour Briefing) “Một tác phẩm có tầm cỡ quốc tế: mang tính văn học cao,
rất dễ đọc và đầy uy lực” (The List) “Đây là một tác phẩm cực kỳ tương phản với dòng văn học của Mĩ về cuộc chiến tranh Việt nam Trong vai trò chuyển
tải thông điệp, Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết vô cùng giá trị Trôi
dạt giữa thời gian và không gian, chuyển dịch nhuần nhuyễn giữa những kí
ức của những ngày tháng trước chiến tranh với những mô tả về các trận đánh, cuốn tiểu thuyết mang trong mình sự bình yên và nỗi đau buồn, chất thơ của văn học lãng mạn, sự sâu sắc của văn học hiện thực” (Times Literari
Supplement) “Liệt kê đầy đủ các phẩm chất của sách này ở đây là không thể
Liên quan đến văn học Việt Nam, đây là một tác phẩm ngoại hạng so với tất
cả các tác phẩm khác cùng lĩnh vực Liên quan đến văn học chiến tranh thì
chỉ có Phía tây không có gì lạ là may ra có thể so sánh được Bảo Ninh đã
viết nên bản tụng ca đẹp đẽ đầy ám ảnh về sự trong trắng bị mất đi trong dòng xoáy chiến tranh Tuổi trẻ, tình yêu và nghệ thuật đều được mô tả kĩ lưỡng dưới ánh của ẩn dụ tối hậu đối với cuộc sống là chiến tranh”
“Hỗ trợ cho cách trình bày chủ đề không gì so sánh nổi của cuốn sách là
thứ văn xuôi tuyệt vời của tác giả Cuốn sách được viết bằng một văn phong nên thơ nhưng súc tích, nó là một mô hình tiết kiệm Mỗi dòng của cuốn tiểu
Trang 16thuyết tương đối ngắn này chất chứa vẻ đẹp thẩm mĩ và chiều sâu tinh thần Cuốn sách tràn đầy những suy tư thấu suốt về Việt Nam cũng như về tâm hồn con người Đây là một trải nghiệm đọc không thể bỏ qua” (Leif A
Torkelsen, Columbus, OH United States)
Ở trong nước, cũng có rất nhiều bài viết có khuynh hướng khẳng định
giá trị của tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh “Nỗi buồn chiến
tranh đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại – đó là câu chuyện của thân
phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh… Chỉ có những tác phẩm như vậy mới thực sự được đón nhận và sẻ chia” (Nguyễn Quang Thiều) “Cái may
của Nỗi buồn chiến tranh là ở chỗ nó ra đời vào thời hội nhập Nhiều khách
phương xa đặt chân đến đây với cuốn truyện của Bảo Ninh Trong chừng mực
mà ở nhiều nơi, hai tiếng Việt Nam mới có nghĩa một cuộc chiến tranh – Nó
đã trở thành người đại sứ duy nhất của văn học mời gọi người ta đến với xứ
sở này để khám phá tiếp” (Vương Trí Nhàn)
Cùng với khuynh hướng đó, Nguyễn Phan Hách cho rằng Nỗi buồn
chiến tranh là: “một tác phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực kì
đẹp, những chi tiết tuyệt vời gây ấn tượng không thể nào quên, gợi bóng dáng một tác phẩm lớn” Từ Sơn khẳng định đó là “cuốn sách hay nhất trong những năm gần đây, có giá trị văn chương đích thực” Bích Thu ca ngợi:
“Nỗi buồn chiến tranh là cuốn tiểu thuyết tình yêu xót thương nhất, đã trở
thành tác phẩm hay nhất viết về chiến tranh, xứng đáng với giải thưởng Hội nhà văn 1991” Giáo sư Trần Đình Sử, một chuyên gia hàng đầu của giới
nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam đánh giá rất cao: “Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh đã mang lại một cái nhìn mới về chiến tranh bổ sung cho
cách nhìn đã quen Tác giả đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta được nhìn vào cái phía trong bị che khuất, lấp chỗ trống chưa được lấp” Có rất nhiều
nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu khác có cùng khuynh hướng như vậy:
Trang 17Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Long, Đặng Anh Đào, Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Thạch, Đỗ Đức Hiểu, Đào Duy Hiệp, Nguyễn Văn Kha…
Về mặt nghệ thuật, các tác giả trên đều khẳng định Nỗi buồn chiến
tranh là một hiện tượng nghệ thuật mới mẻ của nền văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới Tác phẩm là một cuộc phiêu lưu muốn hòa nhập với văn học hiện đại thế giới; là một tác phẩm đi xa hơn cả trên con đường hiện đại hóa
và đổi mới tiểu thuyết đương đại Việt Nam Đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới
Bên cạnh khuynh hướng khẳng định giá trị tác phẩm về cả nội dung lẫn nghệ thuật là khuynh hướng phê phán Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả Đỗ Minh Tuấn, Vũ Hạnh, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Phong Nam Các nhà phê bình này đã từ tác phẩm văn chương nâng lên thành quan điểm
chính trị, lập trường giai cấp, dân tộc Họ cho rằng Bảo Ninh “tìm cách xuyên
tạc quá khứ”, tự đặt mình “ra ngoài dân tộc, trên cả dân tộc” để phán xét
cuộc chiến tranh, không phân biệt cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa; cuốn tiểu thuyết là một cái nhìn lệch lạc đối với người lính cách mạng Đây là
một tác phẩm “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện thực”…
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một hiện tượng văn học độc đáo,
bởi những giá trị về nội dung và nghệ thuật tự thân của mình Nó trở thành cái phong vũ biểu, thành một phép thử đối với sáng tác tiểu thuyết chiến tranh và đối với cả nền lí luận và phê bình văn học nước ta trong thời gian qua và đến tận hôm nay
Nhìn chung, các tiểu thuyết viết về cuộc chiến tranh chống Mĩ của Phan
Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh được đánh giá khá đa dạng, phong phú, phức tạp, mang tính phản quang của hiện thực cuộc chiến Trên cái nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu, bài viết đều mới tập trung ở từng tác giả, từng tác phẩm hoặc những khía cạnh đơn lẻ của tác phẩm Chưa có một công trình
Trang 18nào nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh chống Mĩ của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh trong mối tương quan để tìm ra sự vận động tư duy tiểu thuyết về chiến tranh của các nhà văn này
Luận văn của chúng tôi kế thừa sự gợi mở của các nhà nghiên cứu, phê bình, đồng thời tiếp tục triển khai nghiên cứu các tiểu thuyết về chiến tranh chống Mĩ của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh trong mối tương quan
so sánh để tìm ra sự vận động tư duy theo xu hướng hiện đại hóa của tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về chiến tranh nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề sự vận động tư duy tiểu thuyết về chiến tranh qua sáng tác của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh Đó vừa là hướng tiếp cận vừa là giới hạn mục tiêu cần đạt tới của đề tài
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh chống Mĩ của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh để đánh giá, nhận định, hệ thống, tìm ra sự kế thừa, phát triển, đổi mới tư duy của họ trong sáng tác tiểu thuyết chiến tranh Những sáng tác của Phan Tứ về kháng chiến
chống Pháp không nằm trong diện khảo sát của đề tài Riêng tác phẩm Cỏ lau
của Nguyễn Minh Châu, qua những lần xuất bản và tái bản, việc xác định thể loại không thống nhất; có khi được xếp vào thể loại tiểu thuyết, có khi được xếp vào thể loại truyện vừa, có khi được xếp vào thể loại truyện ngắn Để phục
vụ cho mục đích của đề tài, chúng tôi đưa tác phẩm này vào diện khảo sát
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp, trong đó
có các phương pháp chính sau:
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Với phạm vi tư liệu trong suốt hơn
Trang 19hai mươi năm chúng tôi luôn có ý thức đặt đối tượng nghiên cứu trong cả cái nhìn đồng đại lẫn lịch đại; dùng các thao tác phân tích, tổng hợp, sắp xếp tạo thành hệ thống để làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện
4.2 Phương pháp loại hình: Phương pháp này dùng để nhận diện các
khuynh hướng tiểu thuyết về chiến tranh của các tác giả và phân tích sự đổi mới nghệ thuật của nó theo đặc trưng thể loại
4.3 Phương pháp so sánh: Phương pháp này đặc biệt quan trọng đối với đề
tài Chúng tôi luôn luôn đặt đối tượng nghiên cứu trong mối tương quan với nhau để chỉ ra những điểm tương đồng, sự kế thừa, những điểm mới, chiều hướng vận động của tư duy tiểu thuyết về chiến tranh qua những tác phẩm của các tác giả mà đề tài khảo sát
4.4 Phương pháp liên ngành: Trong luận văn này, chúng tôi luôn có ý thức
vận dụng những thành tựu nghiên cứu của lí luận văn học, triết học, mĩ học, phân tâm học, tự sự học, ngôn ngữ học và lịch sử để đạt được mục tiêu nghiên cứu của mình
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở cái nhìn bao quát, từ việc phân tích, so sánh sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh của Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, tìm ra sự vận động, đổi mới theo chiều hướng đa dạng, hiện đại trong tư duy sáng tác của các nhà văn này Từ một bộ phận tiểu thuyết về chiến tranh, chúng tôi hi vọng góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tư duy thể loại tiểu thuyết trong quá trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại Từ đó góp phần phát triển lí luận tiểu thuyết, sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành ba chương:
Trang 20Chương 1: Sự vận động của quan niệm nghệ thuật về hiện thực
chiến tranh
Chương 2: Sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết chiến tranh
Chương 3: Những tìm tòi, cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết
chiến tranh
Trang 21Chương 1
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ HIỆN THỰC CHIẾN TRANH 1.1 Chiến tranh – từ góc nhìn sử thi đến góc nhìn đời tư
1.1.1 Chiến tranh dưới góc nhìn sử thi
Cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta kéo dài hơn hai mươi năm Chúng ta đã phải đương đầu với một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt và kéo dài như vậy, con người buộc phải thích nghi với cuộc sống bất bình thường và một nền văn hóa, văn học thời chiến dần định hình
Đây là một giai đoạn lịch sử đã in dấu những biến động vô cùng to lớn của dân tộc Chiến tranh cách mạng là một hiện thực hào hùng, sôi động, hoành tráng nhất trong lịch sử chiến tranh vệ quốc Chưa bao giờ tinh thần cộng đồng, lòng yêu nước lại được khơi dậy mạnh mẽ trong mỗi con người Việt Nam như vậy Trước vấn đề sinh tử của cả dân tộc, nhiều thế hệ con người đất Việt đã sẵn sàng hi sinh tất cả, nối tiếp nhau lên đường ra trận Tinh thần quyết chiến quyết thắng, không ngại khó khăn gian khổ, không tiếc thân
mình đã thôi thúc bao lớp thanh niên “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Nhân
dân miền Nam – thành đồng Tổ Quốc – bất khuất, can trường vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang chống lại sự đàn áp của đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai
Về mặt văn hóa, đặc điểm nổi bật và bao trùm của nền văn hóa Việt Nam giai đoạn này là được phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta ngày càng quan tâm đến công tác chỉ đạo văn hóa, văn nghệ Tư tưởng chỉ đạo đường lối văn nghệ được thể hiện qua những văn kiện của Đảng, những bức thư của Trung ương Đảng gửi văn nghệ sĩ, trong những bài viết của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng cũng như lãnh đạo văn nghệ
Trang 22Để chiến thắng được đế quốc Mĩ, một kẻ thù hùng mạnh, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực, trong đó có văn học Trong đời sống văn học, tiểu thuyết chiến tranh được đón nhận nhiệt tình vì nó trực tiếp khẳng định chính nghĩa dân tộc, củng cố niềm tin cho con người Đó là những lí do quan trọng khiến tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này phát triển theo khuynh hướng sử thi Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Phan Tứ và những tiểu thuyết viết trong giai đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu là ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, là khát vọng độc lập tự do, là niềm tự hào về sự nghiệp đấu tranh chống
Mĩ hào hùng, vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng
Cảm hứng sử thi lãng mạn bao trùm khiến hiện thực trong tác phẩm luôn được thi vị hóa Ở hậu phương là những người phụ nữ ba đảm đang, hoàn thành mọi công việc, ngày đêm thi đua với tiền tuyến Còn ở tiền tuyến, người chiến sĩ anh dũng giết giặc với một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, vào hòa bình, chính nghĩa Lí tưởng chiến đấu, tình yêu đôi lứa, tình hậu phương – tiền tuyến đã làm nên sức mạnh và chiến thắng của chúng ta cũng như thất bại thảm hại của kẻ thù
Những nhân vật trong Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Dấu chân người
lính phản ánh xu thế của cuộc kháng chiến chống Mĩ Những người như Tư
Sỏi, Út Sâm, Mẫn, cụ Phang, Xiêm được lột xác, đổi đời nhờ cách mạng và kháng chiến Ở trong họ, đời sống ý thức, nhãn quan chính trị luôn được tô đậm Ngay cả trong tình yêu đôi lứa, một lĩnh vực rất riêng tư cũng trở thành nơi kết tinh những phẩm chất đẹp đẽ của cộng đồng, thời đại, lí tưởng Đây là
cảm nhận của Thiêm về Mẫn, cô du kích can trường của làng Cá: “Qua đôi
mắt rất đen còn hay khóc, những ngàn năm trước đang cùng em nhìn giặc Mĩ, cùng làm nên cái tia chớp gan và khôn lạ lùng lóe giữa đôi hàng mi dày khi
em sắp đánh một đòn chưa ai nghĩ ra.”… “Chỉ cần nghe em vuốt ve mấy tiếng “anh chủ lực” là anh nhận ra ngay chút hương riêng của tình yêu,
Trang 23không lẫn được trong câu chuyện đánh Mĩ đầy khói thuốc nổ đêm nay” [151,
519-520] Tình yêu của Sâm cũng vậy: “Dạ, em thương ảnh Hễ em còn nghĩ
đến Đảng là em còn chờ ảnh Đối với Sâm, đó là lời hứa cao nhất của tình yêu” [152, 917] Tình yêu của họ luôn gắn liền với vận mệnh của cộng đồng,
của Đảng, của dân tộc
Tuy được phân biệt rạch ròi thành hai tuyến địch – ta, chính diện – phản diện nhưng tâm huyết và dụng công nhất của nhà văn luôn dành cho các nhân vật chính diện Họ có thể là một bà má miền Nam trong vùng địch chiếm, là
cô du kích, là anh bộ đội… họ là những người anh hùng bách chiến bách thắng Họ sống và chiến đấu chủ yếu trong tư cách con người chính trị, con người công dân Những người anh hùng ấy là những nhân vật được lí tưởng hóa một chiều, họ hầu như không có tì vết, không phạm sai lầm Người đọc hầu như ít thấy họ buồn bã, cô đơn, chán nản hay thất vọng, tuyệt vọng Chúng ta ít gặp những trăn trở đời thường trong tâm hồn họ vì những cảm xúc, suy nghĩ của họ đều luôn gắn với lí tưởng, với cộng đồng, đoàn thể Nhân vật chủ yếu được xây dựng từ góc nhìn bên ngoài chứ không phải từ góc nhìn bên trong nên những chiều sâu, những góc mờ, khuất, tối trong tâm hồn nhân vật không được soi rọi tới Cảm hứng sử thi bao trùm theo khuynh hướng mô tả nhân vật quá tốt, chỉ có tốt một chiều như thế là một hạn chế của tiểu thuyết chiến tranh Có thể hiểu là trong cuộc chiến với kẻ thù hung mạnh
là đế quốc Mĩ, chúng ta buộc phải chiến thắng bằng bất cứ giá nào vì sự sống còn của dân tộc Do đó, các nhà văn buộc phải gác sang một bên những gì không góp phần trực tiếp cho chiến thắng như những mất mát, đau buồn, những thất vọng, cô đơn của nhân vật, của con người
Tuy nhiên, nếu nhìn kĩ lại, trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh
Châu, “người mở đường tinh anh và tài hoa”, chúng ta đã thấy thấp thoáng
đây đó những dấu hiệu của con người đời tư, con người số phận Đó là cuộc
Trang 24hôn nhân bất hạnh giữa Xiêm, cô gái đồng rừng xinh đẹp và Kiếm, tên lính biệt kích ngụy Đó là cụ Phang dằn vặt khổ đau giữa một bên là tình cảm với cách mạng và một bên là thằng con biệt kích ngụy Đó là bi kịch cá nhân của mối tình ngang trái giữa Xiêm và Lượng, người con gái đã có chồng và anh
bộ đội giải phóng chưa vợ… Đây có thể được coi là tín hiệu cho sự xuất hiện
kiểu nhân vật bi kịch trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
sau này
Mối quan hệ giữa các tuyến nhân vật thường là quan hệ đối lập: địch –
ta, cốt truyện được tổ chức theo kết cấu mô hình này Trong những tiểu thuyết
như Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Dấu chân người lính, những sự kiện và
biến cố lịch sử thường lấn át sự miêu tả con người Sự kiện được tổ chức thành chuỗi, có trước có sau, cái trước làm nảy sinh cái sau theo quy luật nhân quả Có khi tác giả viết như hoạch định của các nhà quân sự: chuẩn bị, hành
quân, tấn công, thu quân Dấu chân người lính viết về chiến dịch Khe Sanh
theo kiểu như vậy: Hành quân, Chiến dịch bao vây, Đất giải phóng Khi đọc, cảm giác thời gian chảy trôi trong tác phẩm gần gần giống như trong tiểu thuyết chương hồi
Do cảm hứng sử thi tràn ngập, hiện thực lịch sử lớn lao luôn được đặt trong cái nhìn thành kính, tầm vóc của sự kiện, của nhân vật chính luôn cao hơn người kể chuyện Khi miêu tả nhân vật, các tác giả chủ yếu sử dụng điểm nhìn bên ngoài Ngôn ngữ thi vị, mang sắc thái ngợi ca Giọng điệu hào hùng, thành kính là chất giọng chủ đạo Tính chất chính nghĩa và vẻ đẹp của cuộc kháng chiến chống Mĩ là điều mà tác giả luôn chú ý khẳng định
Tóm lại: tiểu thuyết chiến tranh của Phan Tứ và những tiểu thuyết viết trong chiến tranh của Nguyễn Minh Châu được viết theo khuôn mẫu chung của loại hình tiểu thuyết sử thi, được nhìn từ góc nhìn sử thi Nó chú trọng và
cơ bản hoàn thành sứ mệnh tuyên truyền cổ vũ chiến đấu Phan Tứ, Nguyễn
Trang 25Minh Châu giai đoạn này coi trọng viết cái gì hơn là viết như thế nào, tuyệt đối hóa nội dung và chưa đầu tư nhiều cho nghệ thuật nên không tránh khỏi
sự đơn điệu và chưa cho thấy sự tìm tòi đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết
1.1.2 Chiến tranh dưới góc nhìn đời tư
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi và kéo dài đến khoảng mười năm tiếp theo, văn học nước ta nói chung, tiểu thuyết và tiểu
thuyết chiến tranh nói riêng rơi vào tình trạng “mất hẳn độc giả” Tình trạng
ấy là một thách thức lớn đối với các nhà văn và nhu cầu tất yếu là phải đổi mới Tiến trình vận động và đổi mới ấy bắt đầu từ sự vận động và đổi mới tư duy tiểu thuyết Nó nằm trong tiến trình vận động và đổi mới của cả nền văn học Việt Nam sau 1975
Từ giữa thập kỉ tám mươi, trong không khí chung của phong trào đổi mới, các nhà văn đã đưa ra những quan niệm hết sức phong phú về sứ mệnh của nhà văn, của văn chương nói chung, sứ mệnh của tiểu thuyết và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng
Đó là bước đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Trong bầu không khí dân chủ ấy, các nhà văn đã nhận thức lại thiên chức của mình, ý thức về tư cách nghệ sĩ được tự giác hơn và trở thành
nhu cầu cần được khẳng định cấp thiết Văn nghệ sĩ là những “con chim báo
bão”, là “người đi trước”, là người mổ xẻ những ung nhọt của xã hội, của con
người, là giúp con người tự nhận thức về thói xấu của mình “Nhà văn là gì?
Chẳng là gì cả Nó chỉ là một linh hồn nhỏ đầy lỗi lầm và luôn tìm cách sám hối vượt khỏi những lỗi lầm ấy, là con vật nhạy cảm hết sức đáng thương với các thói xấu của cả bầy đoàn Nó viết không phải vì nó, nó viết để cả bầy đoàn rút ra từ đấy một lợi ích công cộng, một lợi ích văn hóa”[137, 25]
Nguyễn Minh Châu đã lên tiếng từ rất sớm: “Nhà văn tồn tại trên đời để bênh
vực cho những con người không còn có ai để bênh vực.” Ông kêu gọi Hãy
Trang 26đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa và nêu vấn đề “khuyến
khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri các nhà văn” [22, 138]
Quan niệm về sứ mệnh của văn chương nói chung và về thể loại tiểu thuyết và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng cũng hết sức đa dạng Đã có một thời chúng ta coi văn nghệ như là một công cụ, một vũ khí của chính trị, do
đó văn nghệ phải phụ thuộc vào chính trị, chịu sự chi phối, quyết định của chính trị Giờ đây văn chương được quan niệm, được nhấn mạnh ở vai trò xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người theo cách hướng mĩ, hướng thiện, dự báo tương lai, cả dự báo âm
tính và dự báo dương tính, là một thứ trò chơi giải trí, thậm chí là “trò chơi vô
tăm tích” Nhà văn Nguyễn Minh Châu, trong bài viết Vài suy nghĩ về tiểu
thuyết đã nêu quan điểm tiểu thuyết không nên tiếp tục thể hiện những hình
tượng con người “Đặt cả cuộc đời vào việc đánh giặc”, “Như một siêu nhân
khiến cho người đọc chán ngán” [23, 5] Những quan niệm mới như vậy đã
phản ánh một nhu cầu đổi mới tư duy văn học, tư duy tiểu thuyết, một sự chuyển đổi cách nhìn, từ góc nhìn sử thi sang góc nhìn đời tư
Sự vận động tư duy tiểu thuyết về chiến tranh theo khuynh hướng như nêu trên đã được Nguyễn Minh Châu và sau này là Bảo Ninh tìm đến những mảng hiện thực mới về con người Đó là sự quan tâm đến những cuộc đời riêng tư với những bộn bề, phức tạp, những nỗi niềm, ngóc ngách thầm kín của những người lính thời hậu chiến Những sự kiện, biến cố của lịch sử chiến tranh giờ được nhận thức lại, khai thác lại theo một khuynh hướng khác, lấy lịch sử - quá khứ chiến tranh làm đối tượng phân tích Nhiều khi nó chỉ còn
đóng vai trò là những yếu tố ngoại cảnh, là những “đường viền” hoặc là
những cái cớ ban đầu, là phương tiện để nhà văn nói về số phận con người
Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là hai
Trang 27tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng tư duy này Chiến tranh giờ không còn
là mục đích phản ánh, biểu đạt nữa mà trở thành đối tượng sáng tạo, là phương tiện nghệ thuật để thể hiện cách suy nghĩ, cách cảm, cách đánh giá của riêng nhà văn về cuộc đời, về con người, về nhân tính
Với góc nhìn đó, từ cái nhìn lý tưởng hóa một chiều, Nguyễn Minh Châu
đã đề xuất một cái nhìn đa diện, phức tạp và sâu sắc hơn về con người, về chiến tranh và Bảo Ninh đã đẩy nó lên một tầm cao mới, hứa hẹn một cuộc bứt phá mãnh liệt
Nguyễn Minh Châu và Bảo Ninh đều đã từng ít nhiều kinh qua chiến tranh Khi cuộc chiến dần lùi xa, họ đem vào trang văn những trải nghiệm từ chiến hào của mình, từ chiến trường đầy máu lửa của thế hệ mình Món nợ ân tình, món nợ mạng sống đối với sự hi sinh lớn lao và nghĩa tình đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để cho họ còn được sống và cầm bút, khiến nhà văn phải viết về những người đồng chí đồng đội ấy với một cảm quan khác, một nhãn quan khác, một tâm thế khác, như một món nợ ân tình mà lương tâm phải trả
Vẫn coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng Mĩ vĩ đại, khẳng định
chính nghĩa, phẩm giá dân tộc, nhưng ở Cỏ lau và Nỗi buồn chiến tranh,
Nguyễn Minh Châu và Bảo Ninh không bằng lòng với cái hiện thực được lý tưởng hóa một chiều như những cuốn tiểu thuyết sử thi truyền thống trước kia Dưới góc nhìn đời tư, góc nhìn lấy số phận con người đầy tính nhân bản làm hệ qui chiếu, tác giả đã nói về chiến tranh khác hẳn với quan niệm truyền
thống: “Chiến tranh làm người ta hư đi hơn là làm người ta tốt hơn!” [25, 754] “Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và
phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”[113.tr.39]
Như vậy, lối tư duy mới này, quan niệm mới này lấy con người làm
Trang 28trung tâm điểm chứ không phải là để minh họa cho sự kiện hay một chủ trương, đường lối nào đó Sự kiện giờ đi theo tiếng gọi của nhân vật, nó không còn là tư liệu đơn thuần mà trở thành tư duy của nhân vật, thành hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã khẳng định chắc
nịch: “Rồi trước sau con người cũng leo lên trên các sự kiện để đòi quyền
sống” [22, 54]
Một khi lấy đời tư, số phận con người làm hệ qui chiếu, chiến tranh sẽ được soi rọi ở phía nỗi đau Chiến tranh là hi sinh mất mát của những người lính, những người trực tiếp và gián tiếp là nạn nhân của chiến tranh Những người anh hùng bước ra từ cuộc chiến khó lòng tìm được cuộc sống bình thường Họ bị những chấn thương tinh thần hành hạ, không thể xoa dịu,
những đổ vỡ không thể hàn gắn Lực trong Cỏ lau là một thân phận như vậy
Anh là một người anh hùng bước ra từ chiến tranh Khi quay về nhà thì hay
tin mình đã “anh dũng hi sinh”, vợ đã đi lấy chồng khác, anh dành thời gian
và công sức để đi tìm hài cốt đồng đội trên những vùng cỏ lau chiến trường
xưa “Đang nằm ngủ im sau lưng tôi là những đồng chí mình mà chúng tôi
phải mở không biết bao nhiêu chiến dịch vật lộn với cỏ lau trong vùng núi Đợi mới giành lại được” [25, 725] Và chung quanh cuộc đời còn lại của
người lính già này cũng có biết bao nhiêu là chuyện, cũng cần phủ lên nó những làn hương khói thiêng liêng may ra mới có thể xoa dịu những vết
thương mà chiến tranh đã để lại trong lòng anh “Và rồi cuối cùng giữa những
hình người đàn bà bằng đá đầy cô đơn giữa trời xanh đứng nhìn xuống một vùng thung lũng đất đai được tưới bón đã trở nên phì nhiêu có một người lính già sống suốt đời ở đấy cùng với một ông bố, trồng sắn, gieo lúa trên một vạt đất có một ngôi mộ”[25.tr.776]
Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh cũng trải qua cuộc chiến với bao gian
khổ, mất mát, đau thương, cũng bước ra khỏi chiến tranh, đi tìm hài cốt đồng
Trang 29đội, sống với những hồn ma thân thiết của quá khứ thương đau và những cô
đơn, lạc lõng của hiện tại phố phường: “Nhưng mà tâm hồn tôi thì đã ngưng
bước lại ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào mà đổi đời nổi như là bản thân đời sống của tôi… đêm đêm giữa chừng giấc ngủ tôi nghe thấy tiếng chân tôi từ những thưở nào đó rất xa rồi vang lên trên hè phố lát đá… ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của tôi! Suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung, bởi thương tiếc và cay đắng ngậm ngùi” [113, 56-57]
Cỏ lau và Nỗi buồn chiến tranh được bạn đọc không chỉ ở Việt Nam
mà ở cả nước ngoài đánh giá cao là nhờ đã tìm ra “mẫu số chung” về nhân
tính Nó mang tinh thần nhân văn đẹp đẽ Nói như Denis Mansker, thành viên của Hội cựu chiến binh vì hòa bình và Hội cựu chiến binh Việt Nam chống
chiến tranh: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc Đã
đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột.”
Dành mối quan tâm hàng đầu cho thân phận con người, Nguyễn Minh Châu và Bảo Ninh đã có sự gặp gỡ nhất định với văn học hiện đại thế giới, đã tạo ra bước chuyển mới cho tiểu thuyết chiến tranh Đề tài chiến tranh không còn thuần túy mang ý nghĩa là một đề tài văn học mà đã trở thành chất liệu thể hiện khả năng đổi mới tư duy của tác giả ở thể tài tiểu thuyết chiến tranh
1.2 Chiến tranh – từ chiến công người anh hùng đến nỗi đau con người
1.2.1 Chiến công người anh hùng trong chiến tranh
Căn cứ vào quan niệm về hiện thực chiến tranh và con người trong chiến tranh cùng với sự nhận thức lại, vận động và thay đổi từng bước những quan niệm đó, nên có những nhà văn vẫn chọn mục đích chính là miêu tả và phản ánh chiến tranh theo tinh thần minh họa các chân lí đã mặc định Song, cùng với thời gian, quan niệm này dần mất đi tính hấp dẫn của nó Vì thế, các nhà văn đã dần chuyển mối quan tâm hàng đầu cho việc khám phá con người Rõ
Trang 30ràng vấn đề trung tâm của tiểu thuyết về chiến tranh chính là con người Vấn
đề là phản ánh con người nào và phản ánh như thế nào mà thôi
Qua khảo sát, chúng tôi thấy tiểu thuyết của Phan Tứ với Gia đình má
Bảy, Mẫn và tôi, của Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính việc xây
dựng hình tượng người anh hùng thực chất vẫn thuộc thể tài lịch sử dân tộc
mà chúng ta quen gọi là tiểu thuyết sử thi Nó hướng tới miêu tả những con người tích cực tham gia vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Nó phản ánh những sự kiện hoành tráng, có tầm thời đại bằng cảm hứng anh hùng, cảm hứng dân tộc hoặc lịch sử Nhân vật trung tâm của những tác phẩm này là nhân vật anh hùng, những người anh hùng lí tưởng Đó là bà má, là cô du kích, là người cán bộ chỉ huy, là anh bộ đội…
Trong Gia đình má Bảy, nhân vật chính là má Bảy Má là người mẹ
miền Nam với nhiều phẩm chất cao quý: giàu tình cảm, nói ít làm nhiều, gan
góc dũng cảm, dẫu cũng có lúc “ngấm mệt” vì những tra tấn, kìm kẹp dã man
của kẻ thù nhưng vẫn vững vàng hòa vào dòng thác cách mạng dưới sự lãnh
đạo của Đảng Kết thúc tác phẩm, Phan Tứ viết: “Chính những người nghèo
khổ như má Bảy thức tỉnh trước hết, tự tay đốt lên từng ngọn lửa nhỏ trong đêm đen; Rồi những điểm sáng rải rác ấy họp lại làm nên ánh rạng đông đỏ chói, mở đầu cho ngày nắng đẹp trên trái đất và trong mỗi cuộc đời” [152,
342] Quá trình nhận thức, đấu tranh với địch và với chính mình với không ít giằng xé, trong hoàn cảnh khắc nghiệt và phức tạp, cuối cùng má Bảy đã trở thành một bà mẹ miền Nam anh hùng
Mẫn và tôi là cuốn tiểu thuyết có khuynh hướng mở rộng tầm vóc sử thi
Trong đó, Mẫn là nhân vật nữ anh hùng đầy đặn Hoàn cảnh của Mẫn: cha bị bắt đày đi Côn Đảo, mẹ mất sớm vì bom đạn địch, một mình Mẫn nuôi dạy đàn em thơ, mười bảy tuổi được kết nạp Đảng, hai mươi tuổi là một cán bộ chủ chốt của một xã vùng vành đai chiến sự ác liệt, làm xã đội trưởng du kích,
Trang 31bí thư chi bộ, đảng ủy viên khu vực gồm 12 xã…
Phan Tứ chú tâm miêu tả quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những con người bình thường Cảm quan ấy là cơ sở đem lại thành
công cho nhà văn khi xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng, “những con
người thép”, “những hạt gạo trên sàng” Ông miêu tả cuộc đời người anh
hùng trong sự gắn bó và trưởng thành của khối quần chúng cách mạng đông đảo Đặt nhân vật trong dòng chảy của đời sống kháng chiến đầy cam go, ác liệt và gian khổ, chú ý đến quá trình phát triển tính cách của nhân vật trong những thử thách, tác động nhiều mặt, nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết của Phan Tứ dần đậm nét, đầy đặn Điều đó thể hiện năng lực và sự già dặn trong
tư duy tiểu thuyết của nhà văn
Có thể nói nhân vật anh hùng trong chiến đấu chống Mĩ xuất hiện ngày
càng nhiều trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính
đã xây dựng hàng chục nhân vật anh hùng, cả một tập thể anh hùng Ông đã góp một phần quan trọng trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng trong tiểu thuyết mà công chúng đang mong đợi Trong suốt hơn 500 trang sách ấy, hầu như ở đâu ta cũng thấy những chiến công, kì tích vẻ vang của những người anh hùng mới Đó là những Kinh, Lượng, Lữ, Khuê, Cận, Vượng, Nết, Phát, Moan, Hiền, bác Đảo, cụ Phang… Họ ngời sáng trong những hoàn cảnh, môi trường hết sức điển hình cho cuộc kháng chiến chống Mĩ; đó là chiến dịch giải phóng Khe Sanh khốc liệt Ở đây, chúng ta dễ dàng
dẫn ra những mẫu mực của những nhân vật “anh hùng mà bình thường” Đó
là Lữ, một chiến sĩ trẻ hăng hái xông vào cuộc chiến đấu “lúc anh chưa kịp
bước vào đời” [21, 66] Khi quân địch tràn đến, anh đã không ngần ngại gọi
ngay pháo của ta bắn chụp vào đúng vị trí của mình để cùng quyết tử với kẻ
thù Đó là bác Đảo, người anh nuôi yêu thương chiến sĩ như con đẻ, “giữa
chốn bom đạn, bác lặn lội như một con vạc… vác thòng lọng vào tận hàng
Trang 32rào địch lùa dê lạc, vào khu nhà tôn bỏ trống bên cạnh hàng rào lấy thóc nếp về cải thiện cho anh em”, “Sau mỗi trận B52 bác lại vác bao tải lên vai vào rừng kiếm chồn hương và khỉ mới chết về nấu cháo bồi dưỡng cho bộ đội” [21, 16]
Những con người anh hùng ấy trong Dấu chân người lính không chỉ
mưu trí, dũng cảm mà còn có trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật, ý chí như một thứ thép đã tôi qua nhiều lửa và có lập trường kiên định Họ ý thức rất rõ
và lí giải sâu sắc về những việc làm của mình Đây là suy nghĩ của Lữ: “Anh
đã tự tìm thấy cho mình một ý nghĩa của sự tồn tại: Người ta thường ví tinh thần của người chiến sĩ cứng rắn như một chất thép – Lữ tự lí luận – nhưng
rõ ràng ở đây, hằng ngày, sắt thép đang xáo trộn và chực hủy bỏ con người Vậy con người muốn tồn tại phải cứng rắn hơn sắt thép Anh tự hỏi “Cái bản chất rắn hơn thép hiện có ở trong từng người đồng đội trẻ tuổi của anh là cái
gì vậy? Phải chăng là truyền thống đánh giặc của nhân dân và lập trường kiên định của Đảng đã được thấm nhuần trong máu thịt của từng người?”
[21, 448] Những người anh hùng như Lữ vừa mang đầy đủ những phẩm chất truyền thống của người anh hùng cách mạng Việt Nam vừa mang những sắc thái của con người Việt Nam trong thời đại mới, thời đại đánh Mĩ và thắng Mĩ oai hùng
Tuy nhiên, với ý thức về trách nhiệm của ngòi bút mình trước cách mạng, trước nhân dân và cuộc đời, với một nhân cách dũng cảm, trung thực, với một cảm quan nhạy bén của một nhà văn tài năng, Nguyễn Minh Châu đã nhận thức được sự tất yếu của tiến trình văn học, rằng không thể tiếp tục viết
về chiến tranh như vậy nữa, không thể viết về con người như vậy nữa Trong
Trang sổ tay viết văn, ngay từ năm 1971, Nguyễn Minh Châu đã dự cảm:
“Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và
thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó
Trang 33thấy mỏng manh, bé nhỏ và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực” [22,
33] Về thể loại tiểu thuyết, bằng những kinh nghiệm, nhận thức rút ra từ cuộc
đời cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Những cuốn tiểu thuyết
viết thành công bao giờ dường như cũng có xu hướng phá vỡ khuôn khổ đề tài
để tất cả cùng nhau đi đến một điểm chung – điều mà tất cả chúng ta đều gọi một cách cảm tính là “chất tiểu thuyết” - có phải chăng nó chính là những khám phá của chiều sâu tâm lí và tính cách, cũng như tầm khái quát xã hội của ngòi bút tiểu thuyết khi trình bày những số phận con người” [22, 341]
“Ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội người chiến sĩ nếu chỉ biết cái lúc
họ vác súng ra mặt trận với một tâm hồn phơi phới mà không biết cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc đói rét, những lúc nằm giữa đồng đội chết và bị thương, trong bùn lầy, trong mưa bom bão đạn… Ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội mọi người nếu nói rằng những người dân của chúng ta ở hậu phương hoàn toàn no ấm đầy đủ, những người mẹ tiễn con, những người
vợ tiễn chồng ra chiến trường với một nụ cười trên môi và trong lòng họ chẳng có điều gì buồn bã…” [22, 190-191]
Những chiêm nghiệm, những nhận xét, những dự cảm trên của Nguyễn Minh Châu là những báo hiệu về sự vận động, đổi mới tư duy tiểu thuyết chiến tranh của ông cũng như của nhiều nhà tiểu thuyết sau này Chiến tranh
sẽ được khám phá, thể hiện qua hình tượng người anh hùng lưỡng diện, đa diện, qua cái nhìn hiện thực từ nhiều chiều kích khác nhau với những cảm hứng nghệ thuật mới mẻ Chất tiểu thuyết sẽ đậm hơn, nhiều vấn đề của lịch
sử, của chiến tranh được nhìn lại, đánh giá lại Số phận con người sẽ bước lên
“đòi quyền sống” của mình Tư duy tiểu thuyết về chiến tranh theo khuynh
hướng đó được hiện thực hóa trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đặc biệt
là trong tác phẩm Cỏ lau và của Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh
Trang 341.2.2 Nỗi đau con người trong chiến tranh
Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh vệ
quốc vĩ đại Nó có bắt đầu nhưng chẳng biết bao giờ kết thúc Giờ đây, đến
tận những thập kỉ đầu của thể kỉ XXI, nó vẫn còn dai dẳng trên cơ thể tàn tật
của hàng triệu thương bệnh binh, trên hình hài dị dạng của những đứa trẻ bị di
chứng của chất độc da cam, trong dòng nước mắt của những bà mẹ, những
người vợ góa bụa, trên những vùng đất còn ô nhiễm bom mìn và chất độc
Con người Việt Nam vẫn phải đổ thêm máu vào mỗi nhát cuốc, luống cày
trên vùng chiến địa xưa và không biết đến bao giờ trong mỗi miếng cơm hàng
ngày, trong mỗi nén hương hàng đêm thắp lên bàn thờ, trên mộ chí nghĩa
trang khắp đất nước này hết được dư vị của thương đau
Bắt nguồn từ tâm thức hậu chiến, nằm trong mạch vận động chung là
dân chủ và đa dạng hóa nền văn học, cái bi và cảm hứng bi kịch dần trở thành
phạm trù chủ đạo của tiểu thuyết về chiến tranh Trong thực tế, từ những năm đầu hòa bình, cái giá mà nhân dân ta phải
trả trong cuộc chiến vừa qua đã được văn học nhắc đến nhiều hơn Trong
nhận thức và quan niệm của Nguyễn Minh Châu và Bảo Ninh, viết về nỗi
đau, về bi kịch của con người là để tố cáo chiến tranh, để nhận ra chân giá trị
của chiến thắng, để tri ân đồng bào, đồng chí, đồng đội Để lại ấn tượng sâu
sắc hơn cả là những hi sinh, mất mát xương máu và hội chứng chiến tranh của
những người lính, những người trực tiếp vùi số phận mình trong bom đạn tàn
nhẫn, vô tình
Theo chúng tôi, viết về sự khốc liệt của chiến tranh, về hi sinh mất mát
của người lính chiến, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ám ảnh hơn cả:
“Máu tung xối, chảy tóe, ồng ộc, nhoe nhoét Trên cái trảng hình thoi ở giữa
truông, cái trảng mà nghe nói đến ngày nay cỏ cây vẫn chưa lại hồn để mọc
lên nổi hồi đó la liệt xác người bị đốn, thân thể dập vỡ, tanh bành, phùn phụt
Trang 35phì hơi nóng” [113, 11]
Phản ánh, miêu tả về chiến tranh cho đúng hiện thực khách quan và hiện thực trong tâm hồn con người là một vấn đề nghiêm túc và phức tạp Trong
văn học trước 1975, chiến tranh đầy thi vị với một tâm thế hội hè: “Một cô du
kích, một quả mìn, một chiếc xe, thế là có chiến công Cô du kích chỉ cần chôn mìn ở một khúc đường vắng, đợi chiếc xe nhà binh lẻ nào chạy qua là bấm hay giật, mời nó xuống ruộng mà liên hoan với cá rô Sau đó cô còn thì giờ cuốn dây mìn và hát nghêu ngao trên đường về Chỗ vướng cuối cùng là
cô nên uống dừa nạo ở nhà nào và ăn cháo gà ở nhà nào khác, để bà con khỏi trách” [152, 847]
Với Bảo Ninh thì khác, chiến tranh không thể là một cái gì thơ mộng, mà
là một hiện thực bất thường, phi lí Chiến tranh là “thời buổi ác nghiệt… cuốn
đi mất bao nhiêu là người” [113, 57], là “sự đổ nát, sự thiêu hủy” [113, 155]
Không thể có cái chết nào ám ảnh đời hơn cái chết của Quảng, người tiểu đội
trưởng đầu tiên của Kiên: “Một trái cối 106 nổ tung gần như dưới chân, nhấc
Quảng lên, quăng bổng theo đường vòng cung rồi giáng quật xuống… Bụng rách trào ruột, xương xẩu gần như gãy hết, mạn rườn lõm vào, tay lủng liểng
và hai đùi tím ngắt” [113, 115]
Thể hiện nỗi đau con người trong tiểu thuyết của Bảo Ninh còn có sự nới rộng biên độ Ranh giới địch - ta dường như nhòe mờ, chỉ còn đó nỗi đau nhân tính Đây là một điểm khác biệt so với tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn
trước Trong Gia đình má Bảy, Dấu chân người lính, cả nhà văn và nhân vật
đều luôn rạch ròi lập trường, ý thức hệ, đều sung sướng trước cái chết của kẻ
thù: “Giữa hai tiếng nổ, Sâm nghe rõ những cây thịt đổ bịch, rống, giãy, kêu
cứu Hả vô cùng Sướng tay vô cùng” [152, 772] “Đội hình triển khai của địch đang bị vỡ ra, Moan đỏ mặt sung sướng quay lại nói với Cận: “Chưa bao giờ em được trông thấy chúng nó bị như thế này” [21, 470] Còn trong
Trang 36Nỗi buồn chiến tranh, nhân vật Phán khi chứng kiến cái chết của người lính
ngụy, anh thấy lòng mình đau đớn cuồng thắt: “Cứ tưởng tượng cái chết từ từ
man rợ không kém cái chết của người bị sa hố lầy đã đến với anh ta: Nước ngập bụng dâng lên vai, tới cổ, chấm cằm, chạm vào môi, rồi nhân trung, kề ngang hai lỗ mũi và bắt đầu sặc… Bao năm qua, cứ nhìn cảnh mưa lũ là tim tôi lại như bị thọc dùi” [113,115] Trong tâm thức của Phán, của Bảo
Ninh và cả chúng ta, người lính ngụy không hẳn như nhân vật kẻ thù mà chỉ như là một con người, một con người ở phía bên kia Xét về phương diện số phận con người, họ là những người bất hạnh, cũng là nạn nhân của chiến tranh Thông điệp ở đây là: Chiến tranh là bi kịch chung của toàn dân tộc Nỗi đau con người là nỗi đau nhân tính
Sau chiến tranh, không ít nhà văn tâm niệm phải viết về chiến tranh
“không chỉ đơn thuần là một đề tài văn chương, mà còn có gì đây? Có máu
thịt của mình Kẻ còn sống và người đã chết Có kỉ niệm, đồng đội, đồng chí của mình Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc” [22, 50] Từ quan niệm mới
mẻ đó, những nỗi đau của con người do hội chứng chiến tranh gây ra được các nhà văn đặc biệt chú ý thể hiện Đi tiên phong trong khuynh hướng này là Nguyễn Minh Châu và đỉnh cao là Bảo Ninh
Bối cảnh của tác phẩm Cỏ lau là thành cổ Quảng Trị mấy năm đầu sau
chiến tranh Truyện là lời tự thuật của nhân vật Lực -người lính đã chiến đấu
ở Thành Cổ, nay cùng với trung đoàn của mình về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội để qui tập về nghĩa trang liệt sĩ Nỗi đau của số phận Lực thật trớ trêu, nghiệt ngã 24 năm về trước, anh ngoài 20 tuổi, hạnh phúc bên Thai, người vợ trẻ, chưa đầy một tuần 24 năm sau, trở về từ chiến tranh, anh là
người lính già Trong suy nghĩ của cha và vợ, anh đã “anh dũng hi sinh”, không ai chờ đợi anh trở về: “Ông già tôi đã đi qua nỗi mất mát từ bao nhiêu
năm nay, giờ ông già tôi hẳn cũng đã quên tôi Thai cũng vậy, giờ Thai cũng
Trang 37đã có một cuộc đời khác, một người chồng khác với một lũ con cái, nỗi đau khổ ghê gớm vì mất tôi cũng đã qua đi từ lâu” [25, 703] Sau chiến tranh, họ
gặp lại nhau Dù vẫn còn yêu nhau tha thiết nhưng họ không thể về lại với
nhau trọn vẹn nữa Chiến tranh giống như “một nhát dao phạt ngang” chia
cuộc đời Lực làm hai nửa, không đứt hẳn cũng không thể gắn liền lại được như cũ Chiến tranh đã lấy đi tuổi trẻ của anh, hạnh phúc của anh, để lại trong anh một vết thương chẳng thể lành Và anh lặng lẽ chấp nhận số phận, vì anh
đã hiểu chỉ có Thai mới “có thể xoa dịu bao nhiêu vết thương mà chiến tranh
đã để lại trong lòng” và anh còn hiểu “cuộc sống đã an bài Thai chẳng dễ thay đổi được hoàn cảnh” Khi đã đi qua, chiến tranh vẫn để lại trong số phận
người lính nỗi đau âm ỉ, những day dứt trong tâm hồn người thân của họ và còn tiếp tục dai dẳng với nhiều thế hệ sau này Đó cũng chính là biểu hiện
nhân đạo trong Cỏ lau và trong những sáng tác khác của Nguyễn Minh Châu
viết sau chiến tranh
Cũng như Cỏ Lau, Nỗi buồn chiến tranh có mô típ đi tìm hài cốt đồng
đội sau chiến tranh Dường như Nguyễn Minh Châu đã hoá thân vào nhân vật Lực, Bảo Ninh đã hoá thân vào nhân vật Kiên để kể, để viết về chiến tranh như một món nợ ân tình phải trả, mà chưa trả được và không thể nào quên
Nhân vật nhà văn Kiên cũng vậy: “viết khổ viết sở, viết như đập đầu vào đá,
như là tự tay tước vụn trái tim mình, như là tự lộn trái con người mình ra”
[113, 171]… “Tay mỏi tê, run lên, tim như rách dần cả hai buồng phổi nghẹt
khói thuốc, miệng khô đắng, cổ tắc lại” [113, 93] Với quan niệm tri ân quá
khứ đó, Bảo Ninh chú trọng khắc họa nỗi đau con người trong và sau chiến tranh nhất là những chấn thương tinh thần của người lính bị hội chứng chiến tranh hành hạ, không tìm được trạng thái cân bằng để hoà nhập được vào cuộc sống thời bình, trở thành người lạc thời và rơi vào bi kịch bế tắc
Hầu như tất cả những người lính chiến còn may mắn sống sót trở về
Trang 38trong tác phẩm của Bảo Ninh đều bị những chấn thương tinh thần hành hạ
Ngày trở về, trên chuyến tàu, Kiên nghe tiếng còi tàu thành tiếng “Reo vui
lanh lảnh: Hạnh phúc, hạnh phúc… và các đầu dập nối toa rầm rầm nhắc lại: Hạnh phúc, hạnh phúc… càng về tới gần Hà Nội, đầu óc Kiên càng thêm choáng váng, đê mê một cơn sốt nhẹ nhàng, tim đập rộn lên bởi bao dự cảm
mơ hồ, dịu ngọt và khó tin Xúc cảm bình yên làm mắt anh mờ lệ” [113, 98]
Nhưng chẳng được bao lâu, câu hỏi: “Đi đâu bây giờ, làm gì bây giờ ?”
Những câu hỏi không lời đáp đã vang lên
Một năm sau chiến tranh, Trần Sơn, người lính lái xe đã cảnh báo Kiên:
“- Cái loại lính như ông ấy mà còn là vỡ mộng đau đớn với đời Nhưng ông
ơi, thời đại của cánh ta hết rồi Mà nói thật chứ sau chiến thắng oai hùng này những thằng lính chiến đấu như ông ấy mà, ông Kiên, chả trở lại thành người bình thường được nữa đâu Ngay cả giọng người, mẹ kiếp, xin nói là còn chán mới hòng có lại để giao tiếp với đời” [113, 53]
Lời tiên đoán ấy đã trở thành sự thật với Kiên và những đồng đội một thời của anh Qua vài nét phát họa đơn sơ của Bảo Ninh, diện mạo Kiên đã hé
lộ tâm hồn bi thương của anh: “Lầm lì, có ánh nhìn man rợ Da dẻ anh khô và
sạm, thủng lỗ chỗ, đét lại như thuộc, lốm đốm vệt thuốc súng Bên má, một vết đạn bắn thẳng cày một rãnh sát sạt vào xương” [113, 294]… “Cái nhìn của anh làm nản lòng người Một cái nhìn chằm chằm mà chẳng nhìn gì cả, trống rỗng, vô cảm” [113, 75]… khuôn mặt “Thô cứng, sớm dày nếp nhăn, thần thái mệt mỏi, rượi buồn” [113, 122]
Những chấn thương tinh thần sau chiến tranh bắt nguồn từ những chấn thương tinh thần trong chiến tranh Những cảnh bắn giết dã man, tàn bạo, quá nhiều xác chết, cảnh chết, kiểu chết, quá nhiều máu đổ, xương rơi, đã làm
biến dạng những tâm hồn lính chiến Đây là Vượng: “Biết rất rõ xe đang lướt
trên những thân người… như cái túi đẫy nước, thằng người vỡ đánh bép một
Trang 39cái và đẩy nhẹ băng xích lên… ở những rãnh xích đầy những thịt với tóc, giòi lúc nhúc” [113, 23] Đây là Kiên: “Lãnh đạm và ơ hờ với mọi người, với mọi
sự xung quanh, anh đang âm thầm vĩnh biệt chính mình Anh đón đợi cái chết, nhưng ngay cả nó, cái chết cũng tầm thường và vô vị Kiên thản nhiên nhìn nhận nó với đôi chút âu sầu, và đôi khi với cả niềm mỉa mai” [113, 23] Khi
đối mặt với bọn thám báo, khi tất cả các khẩu AR15 đang châu lại nã đạn về
phía anh: “Kiên chẳng buồn khom người xuống, thong thả đi tới, vẻ khinh thị
đầy uể oải…, súng kẹp bên sườn một cách hờ hững, ngực áo phanh rộng Không sợ hãi, không nổi hung lên Mệt mỏi âm thầm” [113, 24] Còn đây là
Can, anh lính trinh sát, không chịu nổi những cảnh bắn giết, đã đào ngũ: “Tôi
không sợ chết, nhưng cứ bắn giết mãi thế này thì chết hoại tình người Dạo này đêm nào tôi cũng mộng thấy mình chết và bơi ra khỏi xác biến thành con
ma cà rồng đi hút máu người” [113, 27-28] Dù đã phản bội đồng đội, chết
một cách thê thảm không được ai nhớ tới, không được ai khấn vái, trừ Kiên, nhưng Can vẫn đáng thương hơn đáng giận Anh không hèn nhát nhưng không chịu nổi cảm giác mình đang giết người, nhất là bằng dao và lê Ám ảnh về việc nhân tính bị huỷ hoại, bị méo mó, bị chai sạn ở Can vô cùng khủng khiếp Trong cuộc chiến này, cho dù cuối cùng chúng ta đã chiến thắng, chính nghĩa đã chiến thắng nhưng rồi cái ác, sự chết chóc, bạo lực phi nhân cũng đã chiến thắng Điều đó cũng là một ám ảnh không kém Tư duy mới đó ở đây cực kì mới mẻ, thông điệp đó ở đây cực kì mới mẻ Nó vượt thoát ra ngoài tầm vóc của một cuộc chiến tranh vệ quốc Nó vươn tới tầm
nhân loại Nó tôn vinh tầm nhân văn của cuộc chiến tranh ấy Nhờ nó mà Nỗi
buồn chiến tranh được ca ngợi là một tác phẩm tiểu thuyết về chiến tranh
“ngoại hạng” vượt lên trên tất cả các tiểu thuyết khác cùng lĩnh vực trong văn
học Việt Nam, mang tầm vóc thế giới “Chỉ có Phía tây không có gì lạ là may
ra có thể so sánh được” (Lef A TORKELSEN, Columbum, OH United
Trang 40States) Cái tài, cái tâm, cái tầm của Bảo Ninh ở chỗ ông như người cầm đèn,
đã rọi ánh sáng vào những góc khuất tối, thầm kín nhất, thấu những nỗi đau
âm thầm, dai dẳng nhất của người lính, để chúng ta, những người bạn đọc hôm nay được cùng rong ruổi vào dĩ vãng không điểm tận cùng, dĩ vãng vĩnh viễn thuỷ chung của tình bạn, tình anh em, tình đồng chí, đồng đội và nói
chung “bất diệt những tình người”
Nói về nỗi đau con người vì chiến tranh, không thể không nói đến nỗi đau và thân phận người phụ nữ Phụ nữ luôn luôn đặc biệt trong cuộc đời, là đối tượng đặc biệt của văn chương, nghệ thuật, là nơi hội tụ, ngưng đọng tư
tưởng nhân văn của người nghệ sĩ Phụ nữ được coi là “phái đẹp”, “phái yếu”
và vì thế mà luôn dễ bị tổn thương Từ xưa đến nay, những tác phẩm văn học bất hủ, mang tầm nhân văn cao rộng nhất, làm xúc động lòng người dài lâu nhất phần lớn đều hội tụ trong hình tượng nhân vật nữ
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh có nhiều nhân vật nữ Ai cũng bị
chiến tranh chà đạp, ai cũng bị mất mát, đau thương, ai cũng có số phận bất hạnh, dù ở phía bên này hay phía bên kia, dù ở trong hay sau chiến tranh, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù dai dẳng hay thoáng qua Họ như gánh trên vai nỗi đau cho cả loài người
Trong chiến tranh, họ bị hiếp, bị giết, bị hành hạ đến chết và cả đến sau khi chết Đó là HơBia, Mây, Thơm, ba cô gái giữ kho lương ở truông Gọi Hồn đã bị bảy tên lính viễn thám bắt, hiếp và giết bằng dao Đó là Hòa, cô giao liên vừa tròn hai mươi tuổi ở hồ Cá Sấu một mình một khẩu K59, bốn viên đạn, đối đầu với một con chó Becgiê to lớn và cả tốp lính Mĩ tàn ác, gian manh như một đàn sói Sau khi nhả cả bốn viên đạn vào con quái thú để đánh lạc hướng bọn Mĩ, để cứu Kiên và đoàn anh em thương binh, kết cục, Hoà bị
bắt “Không nghe thấy tiếng Hoà kêu nhưng mà có thể cảm thấy tiếng kêu
ấy… Bọn Mĩ dồn cục lại… Chúng không hò hét, không rống cười, không quát