Kinh nghiệm hội nhập của các quốc gia trên thế giới cũng như bài học từ lịch sử của Việt Nam đều cho thấy không giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc thì không những không thà
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH QUỐC CƯỜNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
W X
NGUYỄN ĐÌNH QUỐC CƯỜNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP
Chuyên ngành : CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số : 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN CHÍ MỸ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1; HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC VIỆT NAM 8 1.1 Quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế và bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam 8 1.1.1 Khái lược về hội nhập kinh tế quốc tế 8 1.1.2 Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam 10 1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế 30 1.2.1 Vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội
nhập 30 1.2.2 Ảnh hưởng của hội nhập đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam 36
Chương 2; THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN
SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 43 2.1 Quan niệm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam 43 2.1.1 Quan niệm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 43
2.1.2 Yêu cầu của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam trong quá trình hội nhập 45 2.2 Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong
những năm qua 47
Trang 42.2.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay 68 2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay 73 2.3.1 Làm chuyển biến, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nhiệm vụ giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập 73 2.3.2 Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong việc thúc đẩy những tác
động tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của quá trình hội nhập đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam .76 2.3.3 Tăng ngân sách nhà nước cho các hoạt động giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc 77 2.3.4 Phát động và huy động mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong
trào thi đua yêu nước 79
KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Chí Mỹ Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
NGUYỄN ĐÌNH QUỐC CƯỜNG
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là linh hồn, sức sống của mỗi quốc gia dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam là một thực thể, đồng thời hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam Nhờ vậy, nền văn hóa giàu bản sắc của nước ta đã không bị mai một và đồng hóa
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là: “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình - làng xã – Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…” [14, 56]
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đảm bảo cho dân tộc ta trường tồn, phát triển, lớn mạnh và chiến thắng trong lịch sử và là điểm tựa vững chắc để dân tộc Việt Nam hội nhập thành công với thế giới ngày nay
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế phổ biến của thế giới Nó đã mở ra khả năng to lớn để các dân tộc giao lưu văn hóa, khoa học, giáo dục với nhau trên phạm vi toàn cầu, tạo động lực cho quá trình đổi mới
và hiện đại hóa văn hóa của các dân tộc
Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển, nâng cao và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc của mình do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế cũng gây ra không ít những tác động tiêu cực đối với bản sắc văn
Trang 7hóa dân tộc Việt Nam Đó là bệnh sùng ngoại, coi thường giá trị dân tộc; chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ chỉ, coi trọng lợi ích vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân, coi nhẹ giá trị cộng đồng, coi trọng lợi ích trước mắt, ít chú ý đến lợi ích lâu dài; sự suy thoái về lối sống, đạo đức xã hội có nguy cơ ngày càng tăng, nhất là sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và nếp sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; mức độ trầm trọng của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, của các tệ nạn xã hội và các tiêu cực xã hội khác Các sách báo, tranh ảnh, băng nhạc, băng hình có nội dung kích động dâm ô, bạo lực nhập lậu ồ ạt gây tác động xấu đến nhiều thuần phong mỹ tục của dân tộc Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang bị xâm hại rất nghiêm trọng… Tình hình đó thật sự là một thách thức lớn đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay
Kinh nghiệm hội nhập của các quốc gia trên thế giới cũng như bài học
từ lịch sử của Việt Nam đều cho thấy không giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc thì không những không thành công trong hội nhập, mà còn có thể tự đánh mất dân tộc mình, trở thành bóng mờ của dân tộc khác
Do đó, nghiên cứu để nhận thức và xử lý đúng đắn, có hiệu quả vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay là một nhiệm vụ có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách, cả về lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong vài ba thập kỷ qua, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ
bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển được nhiều tổ chức, nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Ở nước ngoài, có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bản
sắc văn hóa dân tộc của Ủy ban văn hóa khoa học và giáo dục của Liên hiệp
Trang 8quốc (UNESCO) và của các nhà khoa học, các chuyên gia về văn hóa và phát
triển Trong đó có công trình: “Sự va chạm của các nen văn minh”, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2003, của Samuel Hungtington Trong công trình này, tác giả
đã cập đến một số vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc và các yêu tố để nhận biết bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, cũng như sự cần thiết phải giữ gìn và tôn vinh bản sắc văn hóa của các dân tộc
Ở Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc là một vấn đề được nhiều ngành
khoa học quan tâm, nghiên cứu Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu
liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc được công bố, như: “Bản sắc văn hóa
Việt Nam” của GS Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2006 Trong công trình này,
tác giả đã tập trung phân tích bản sắc văn hóa Việt Nam, đề xuất những giải pháp để bảo vệ bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới
Trong tác phẩm “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa” của
GS, VS Hoàng Trinh, Nxb Chính trị quốc gia, 2000, và tác phẩm “Tìm về
bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1997, các tác giả đã đề cập đến một số nội dung về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
Trong cuốn “Lãng du trong văn hóa Việt Nam” của Hữu Ngọc, Nxb
Thanh niên, 2008 Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến những giá trị của bản sắc dân tộc và vai trò của nó trong toàn cầu hóa
Trong tác phẩm “Văn hóa thời hội nhập”, Nxb Trẻ, 2006 Gồm nhiều
bài viết về vai trò, động lực của văn hóa, nghệ thuật trong phát triển kinh tế,
xã hội của nước ta và về vấn đề làm thế nào để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Từ đo, cảnh báo những quan niệm sai lệch dẫn đến nhiều giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa dân tộc bị mai một, mất mát nghiêm trọng
Trang 9Trong cuốn “Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại”, Nxb Giáo
dục, 2001, bao gồm nhiều bai viết của các nhà khoa học được Lê Quang Trang - Nguyễn Trọng Hoàn tuyển chọn và giới thiệu, trong đó có bài viết của
GS Phạm Xuân Nam “Bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu với
thế giới”, tác giả đã đề cập đến một số nét về bản sắc văn hóa dân tộc và phát
huy nó trong quá trình giao lưu với thế giới Hay bài viết của Ngọc Oanh
“Giao lưu, hội nhập văn hóa và giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc”, tác giả đã
phân tích một số tác động của giao lưu, hội nhập văn hóa đối với việc giữ gìn
và phát huy bản sắc dân tộc
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã đăng trên các báo, tạp chí khoa học như bài viết của Nguyễn
Mạnh Hưởng về “Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi trở thành thành viên tổ
chức Thương mại thế giới”, Tạp chí Cộng sản số 19 (163), 2008 Trong bài
viết này tác giả đã trình bày một cách khái quát về bản sắc văn hóa dân tộc và đưa ra những yêu cầu, nội dung nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi Việt Nam tham gia vào thị trường toàn cầu
Nhìn chung, cho đến nay, khối lượng các công trình nghiên cứu về bản sắc dân tộc cũng như bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam khá đồ sộ Mỗi công trình tiếp cận dưới một góc độ riêng Trên cơ sở tìm hiểu, tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên và xuất phát từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
hiện nay, tác giả chọn vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam trong quá trình hội nhập” để làm đề tài nghiên cứu va viết công
trình luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trang 10Trên cơ sở làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và mối quan hệ giữa nó và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực trạng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong những năm qua, luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về bản sắc văn hóa
dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và mối quan hệ giữa hội nhập kinh
tế quốc tế và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam, kiến nghị một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tập trung chủ yếu giai đoạn
từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của luận văn
Cở sở lý luận và phương pháp luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Luận văn vận dụng phương pháp kết hợp lôgích – lịch sử; quy nạp – diễn dịch;…
Nguồn tài liệu
Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Văn kiện Đảng; các công trình nghiên cứu khoa học; các tạp chí khoa học;…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy về vấn đề văn hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 12Chương 1 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ
DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1 QUAN NIỆM VE HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1.1 Khái lược hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế
giới là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau Theo cách hiểu này, hội nhập
kinh tế đã diễn ra hàng nghìn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết
mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau Nói rõ hơn, hội nhập
kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: “Một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực va toàn cầu” [35, 21 - 22] Hội nhập kinh tế có nhiều cấp độ khác nhau: hiệp định thương mại ưu đãi, hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn
Trang 13Hội nhập kinh tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy mô toàn thế giới
Các nền kinh tế khác nhau thực hiện sự hội nhập qua các hoạt động mậu dịch và hợp tác trong chính sách và biện pháp kinh tế Có những hình thức hội nhập sau đây :
Thứ nhất, hội nhập theo thị trường, là sự hội nhập kinh tế khu vực
thông qua hoặc thúc đẩy bằng các hoạt động kinh doanh Điều này có thể xảy
ra mà không cần đến một khuôn khổ hội nhập liên chính phủ
Thứ hai, hội nhập theo chính sách, là sự hội nhập kinh tế khu vực được
thúc đẩy thông qua một thỏa thuận chính thức, thường là thông qua một thỏa thuận thương mại khu vực ưu đãi
Tùy theo độ sâu, nông, có thể chia ra hội nhập sâu và hội nhập nông
Hội nhập sâu là sự kết hợp các hệ thống chính sách quốc gia của hai hay nhiều nước theo truyền thống các hệ thống đó hoàn toàn thuộc thẩm quyền của chính phủ quốc gia Hệ thống chính sách này, bao gồm chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấp, chính sách tài chính – tiền tệ, các quy chế
và giám sát tiêu chuẩn tài chính, các vấn đề môi trường, việc mua sắm của chính phủ và một số chính sách khác Cộng đồng châu Âu (EU) là khu vực tiến xa nhất trong quá trình hội nhập sâu; gần đây, cộng đồng châu Âu đã thông qua việc thành lập một thị trường thống nhất và thực hiện các biện pháp
đề ra trong Hiệp ước Maxtơrich Ngoài ra, NAFTA (New Zealand Australia Free Trade Agreement – Thỏa ước Mậu dịch Tự do Tân Tây Lan – Úc) cũng
là một ví dụ hội nhập sâu hiện nay Trái lại, hình thức hội nhập nông thể hiện trong các hình thức hội nhập từ khu vực thương mại tự do Trong hình thức hội nhập nông, mỗi nước thành viên vẫn tự do duy trì các chính sách khác của
Trang 14nuớc mình; tuy vậy, hội nhập này cũng có tác dụng thúc đẩy quá trình hợp tác hài hòa, cân đối chính sách
Như vậy, hội nhập kinh tế thường có nhiều mức độ từ nông đến sâu, từ vài nước đến nhiều nước Hội nhập kinh tế là xu hướng toàn cầu, cho nên có tác động đến mọi nước, ngay cả những nước chưa tham gia vào quá trình đó cũng bị ảnh hưởng tác động Kinh tế la nền tảng của quốc gia, nên hội nhập kinh tế sẽ tác động toàn diện đến các mặt chính trị, văn hóa xã hội của đất nước Bất kể nước nào đã qua hội nhập đều phải trải qua giai đoạn điều chỉnh pháp luật và các chính sach để hội nhập sâu hơn, thành công và hiệu quả hơn Tuy nhiên, để tiến tới hội nhập toàn cầu theo xu hướng toàn cầu hóa, vài thập
kỷ gần đây đã xuất hiện xu hướng phát triển hội nhập kinh tế khu vực song song với hội nhập kinh tế toàn cầu và cũng được định hướng theo các nguyên tắc tự do hóa và hội nhập toàn cầu
1.1.2 Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Để hiểu được bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, trước hết cần hiểu văn hóa là gì?
Thuật ngữ văn hoá xuất hiện từ lâu trong ngôn ngữ của dân tộc ta và
của nhân loại Qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm văn hoá được bổ sung thêm nhưng nội dung mới Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hoá Có người cho rằng, văn hóa gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; văn hóa
là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ va xúc cảm quyết định tính chất một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Cũng
có người cho rằng, văn hóa theo nghĩa rộng là toàn bộ đời sống tinh thần của
xã hội, gồm tám lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; giao dục đào tạo; khoa học công nghệ; văn hóa nghệ thuật; giao lưu văn hóa; thông tin đại chúng; thể chế văn hóa; đời sống văn hóa Nghĩa hẹp gồm: nếp sống, lối sống; văn học
Trang 15nghệ thuật; thông tin đại chúng; xuất bản bao chí; phong tục tập quán; đạo đức xã hội và chuyên ngành nghiệp vụ văn hóa
Trong cuộc sống hàng ngày, có khi khái niệm văn hoá thường được sử dụng đồng nhất với khái niệm học vấn và khái niệm văn minh Tuy nhiên, can lưu lý rằng, giữa văn hoá và học vấn có chỗ giống nhau và có chỗ khác nhau Trình độ học vấn có thể là chìa khoá để mở mang trí tuệ và tâm hồn, nghĩa là vươn đến trình độ văn hoá Nhưng đó cũng chỉ là điều kiện, là khả năng Trong thực tế vẫn tồn tại hiện tượng: có người đạt trình độ học vấn cao, nhưng trong lối sống, trong cách ứng xử vẫn có thể bị coi là thiếu văn hoá nếu như đó là lối sống, là cách ứng xử không đáp ứng được cái đúng, cái tốt, cái đẹp – những giá trị nền tảng và phổ quát của văn hóa
Về khái niệm văn minh cũng vậy Văn minh đồng nghĩa với văn hoá khi đối lập văn minh với bạo tàn Nhưng thông thường, văn minh được dùng
để chỉ trình độ phát triển của nhân loại đạt tới ở một thời kỳ lịch sử nào đó Thí dụ, người ta nói đến văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp…
Cũng có quan niệm cho rằng văn minh là sự thống nhất của xã hội và văn hoá, là sự thể hiện văn hoá trong lối sống, trong lao động và hành vi Như vậy, không thể đồng nhất văn minh với văn hoá trong mọi trường hợp
Nói tới văn hoá là nói tới con người, nói tới viec phát huy những năng lực, bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội theo hướng chân – thiện - mỹ Do đó, khái niệm văn hoá chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá là khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Có thể nói đó là ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hoá nhân loại
Cũng như mọi sinh thể khác trong vũ trụ, con người là một bộ phận của đại tự nhien, chịu sự quy định chặt chẽ của đại tự nhiên Nhưng khác với các
Trang 16sinh vật khác, con người có một “khoảng trời riêng”, một thiên nhiên thứ hai, thiên nhiên đó do con người tạo ra bằng lao động và tri thức của mình Thiên nhiên thứ hai đó chính là văn hoá Nếu đại tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hoá là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống của con người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển Con ngươi không thể tách rời đại tự nhiên, cũng như vậy, con người không thể trở thành con người nếu tách rời môi trường văn hoá
Như vậy, có thể nói văn hoá có nhiều cách tiếp cận và do đó có nhiều quan niệm khác nhau
Năm 1871, E.B.Tylor – người góp phần khẳng định ngành văn hóa học như một khoa học, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là phức thể bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen mà con người với tư cách là thành viên xã hội đạt được” [9, 265 – 266] Còn theo cách tiếp cận của Tổng thư ký UNESCO Federico Mayor,
“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo
ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [43, 23] Hay “Văn hóa
là tất cả những cái mà nhờ đó một cộng đồng con người tự nhận biết bản thân
và có thể được người khác nhận biết Đối với mọi cộng đồng con người, mọi người dân, không có bản sắc nào có thể có yêu sách và được thực hiện ngoài nền văn hóa của bản thân họ” [39, 13]
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức, cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [41, 7]
Trang 17Khi đề cập đến văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta đã nói : “Vì lẽ sinh tồn như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, van học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, 431]
Dựa trên những định nghĩa về văn hoá, dưới góc độ tiếp cận của chủ
nghĩa xã hội khoa học có thể quan niệm: Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng sức lao động của mình trên
cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần
Từ định nghĩa này chúng ta thấy rằng, văn hoá là do con người tạo ra bằng hoạt động tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện bản thân mình Chính quá trình con người làm ra văn hoá con người ngày càng trở thành Người hơn Văn hoá vì là sản phẩm của con người nen văn hoá là một hiện tượng xã hội, sản phẩm xã hội Một xã hội lại sống trong một môi trường, do đó văn hoá bao giờ cũng gắn với dân tộc, mang bản sắc dân tộc
Nói “dân tộc” là nói một dân tộc nhất định, có những đặc điểm chung
về lãnh thổ, kinh tế, quốc gia, tâm lý, quốc ngữ và nền văn hóa chung
Nói “bản sắc” theo cách hiểu nguyên nghĩa: “bản” là gốc, cái cốt thuộc
về phần mình như bản nguyên (bản gốc), cơ bản (nền gốc) “sắc” nghĩa là màu, vẻ, dung mạo, sắc thái Nói đến “bản sắc” là tính chất đặc biệt vốn có, là
cái riêng để phân biệt với những cái khác
“Bản sắc dân tộc” là những nét đặc biệt, đặc trưng làm nên bản lĩnh,
sắc thái, dấu ấn riêng của từng dân tộc Tức là cái thuộc về dân tộc đó, riêng
Trang 18dân tộc đó Tuy nhiên, hoàn toàn sai lầm nếu nghĩ rằng đó là cái riêng mà chỉ dân tộc này mới có, còn dân tộc khác không có
Đến nay, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa về khái niệm bản sắc dân tộc: Bản sắc dân tộc được hiểu là tổng thể những phẩm chất, đặc điểm, tính cách, cách thức để tồn tại và biểu hiện của một cộng đồng xã hội – dân tộc cụ thể, riêng biệt mà nhờ đó người ta mới có thể xác định được một dân tộc giữa quần thể các dân tộc trong cộng đồng nhân loại nói chung Hoặc bản sắc dân
tộc cũng có thể được hiểu đó là sự thể hiện phẩm chất của dân tộc trong tính
riêng biệt, đặc trưng của dân tộc đó, là cái làm cho mỗi dân tộc là mình, khác với dân tộc khác Bản sắc dân tộc “là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong quá trình phát triển Bản sắc dân tộc được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đơi sống, ý thức thuộc về một dân tộc, cách
tư duy, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo trong nền văn hóa khoa học” [40, 18 – 19] Hay bản sắc dân tộc là những yếu tố độc đáo, yếu tố đặc sắc của một nền văn hóa, biểu hiện “đặc tính dân tộc”, “cốt cách dân tộc” (Hồ Chí Minh) “Là cái căn cước, cái chứng chỉ của một dân tộc Nó chỉ rõ anh là ai, thiếu nó, anh không tồn tại như một giá trị” [37, 32] Bản sắc dân tộc tạo nên sức manh cố kết, duy trì và phát triển đời sống một cộng đồng với tư cách là một dân tộc, là bộ “gen” bảo tồn dân tộc Bản sắc dân tộc thể hiện ở truyền thống, bản lĩnh, tâm hồn, lối sống, cách nghĩ, cách suy tư và cả nhưng khác vọng, biểu tượng của một dân tộc
Bản sắc dân tộc là tập hợp những đặc trưng cho một quốc gia Tuy nhiên, khi nói bản sắc của một dân tộc thì chủ yếu là nói bản sắc văn hóa của dân tộc đó, hay bản sắc văn hóa dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc Bản sắc dân tộc không phải là cái trừu tượng, nhất thành bất biến mà nó được hình
Trang 19thành, phát triển gắn với từng bước phát triển của cộng đồng dân tộc, điều kiện địa ly tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng quốc gia dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc chủ yếu nằm trong cốt cách, tâm hồn của con người, thể hiện ra trong mọi mặt đời sống, cũng như trong mọi hoạt động, mọi quan hệ của con người và trong di sản văn hóa của cộng đồng dân tộc
Bản sắc dân tộc có thể bao gồm cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Nhưng nói bản sắc văn hóa dân tộc thì chỉ bao gồm mặt tích cực như hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc đó trong lịch sử cũng như trong hiện tại Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ giá trị của dân tộc được sáng tạo, được vun đắp và lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Dựa vào các quan niệm về bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc nêu trên, từ góc độ tiếp cận của chủ nghĩa xã hội khoa học, có thể quan niệm:
bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị đặc trưng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Những giá trị đó nằm chủ yếu trong tâm thức, trong cốt cách của con người và được thể hiện ra trong mọi mặt đời sống, cũng như trong mọi hoạt động, mọi quan hệ của con ngườivà trong di sản văn hóa mỗi dân tộc
Thế giới ngày nay có hơn 200 quốc gia nhưng không phải quốc gia dân tộc nào cũng có nền văn hóa với bản sắc riêng Nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee chuyên nghiên cứu các nền văn minh nhân loại đã nhận định: “Trên thế giới có hàng trăm quốc gia, hàng ngàn dân tộc nhưng chỉ có
34 nền văn minh khác biệt nhau, mang bản sắc độc đáo, rõ rệt, và nền văn minh Việt Nam là một trong 34 nền văn minh ấy” [34, 57] Đảng ta khang định: “Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân ta
đã xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn cua dân tộc Việt Nam” [14, 6]
Trang 20Vậy, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là gì ? Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) đã nêu rõ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam: “Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý
chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo
lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản
dị trong lối sống Bản sắc dân toc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [14, 56]
Hệ các giá trị trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tất yếu vừa về mặt địa lý, vừa về mặt lịch sử:
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc
Lòng yêu nước được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến hiện đại Ở đây bản chất Việt Nam biểu lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất của các mối quan hệ giữa người và tự nhiên, giữa người với người và giữa cá nhân với cộng đồng
Trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử dân tộc Việt Nam đã làm nổi bật lên tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ sự trường tồn của đất nước Giá trị yêu nước cũng như tình cảm yêu nước là giá trị lớn nhất của dân tộc Việt Nam, là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Nam Đối với người Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ, giải phóng đất nước, Tổ quốc là trên hết Phụng sự Tổ quốc như một điều vinh dự và thiêng liêng Có thể nói, dân tộc Việt Nam cả một tôn giáo tôn vinh các anh hùng vì nước – tục thờ cúng các anh hùng, khắp đất nước Việt Nam – đều ghi dấu các chiến tích yêu nước Cả nước như một bảo tàng lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc, dày đặc các di tích về các chiến công anh hùng
Trang 21Phẩm chất hàng đầu của người Việt Nam là trung với nước “Người
Việt Nam đánh giá một học thuyết không phải xuất phát từ tiêu chuẩn bên trong của nó, mà xuất phát từ lợi ích của Tổ quốc Học thuyết nào cứu được nước, giúp được dân thì sẽ được ưu thích, lựa chọn Đạo đức vi mô phải nằm dưới đạo đức vĩ mô Hiếu với bố mẹ chưa đủ, mà còn phải hiếu với dân tức là hiếu với nước, gọi là đại hiếu Có cả một nền văn học yêu nước với khối lượng đồ sộ trong cả thời kỳ lịch sử, cũng như cả một tín ngưỡng thờ anh hùng cứu nước” [37, 184]
Lịch sử Việt Nam có hai đặc điểm nổi bật: “Một là, nước ta xuất hiện rất sớm từ thời thượng cổ Hai là, nhìn đại thể, lịch sử nước ta là một chuỗi dài những cuộc khởi nghĩa và những cuộc chiến tranh chống đô hộ, chống lại
sự xâm lược của những nước lớn mạnh hơn nước ta gấp mấy chục lần Hai đặc điểm ấy quyết định sự sinh nở, sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một chủ nghĩa yêu nước xuất hiện rất sớm và luôn luôn được củng cố
và trở thành một thứ vũ khí tinh thần mạnh mẽ Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam” [2, 16]
Tình cảm yêu nước đã được dân tộc ta nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước trở thành thứ “vũ khí” sức mạnh tinh thần giúp dân tộc vượt qua mọi kẻ thù xâm lược Chủ nghĩa yêu nước là truyền thống cao nhất của dân tộc ta Chủ nghĩa yêu nước là kết tinh tư tưởng, bản lĩnh của nhân dân ta trong quá trình đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt để dựng nước, và trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ nước Đó là “lòng tha thiết yêu làng xóm, quê hương, đất nước Đó là sự quý trọng tiếng nói, nền văn hóa và các phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, là ý thức tập thể, đoàn kết, tình nghĩa đồng bào, gắn bó trong một cộng đồng dân tộc Đó là ý thức chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước” [2, 16]
Trang 22Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam bắt nguồn và phát triển từ thời vua Hùng dựng nước, từ tinh thần của Hai Bà Trưng “đền nợ nước, trả thù nhà”, Bà Triệu “không chịu cúi đầu, khom lưng làm tỳ thiếp cho người” Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam từ thời Lý Thường Kiệt đã khẳng định thành văn: “Ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia” [2, 17] Lòng yêu nước của dan tộc Việt Nam mang đầy đủ nhân tính và nhân cách của con người Việt Nam Yêu nước, quý trọng độc lập tự
do đã trở thành lẽ sống, phẩm chất đạo đức truyền thống của người dân nước
ta, của toàn thể dân tộc ta, trở thanh một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam Đất nước, quê hương Việt Nam chính là công sức tạo nên từ đôi bàn tay tần tảo vượt qua khó khăn trải qua các cuộc khai hoang mở rộng bờ cõi Vì thế, những gì có được trên mảnh đất này là mồ hôi, công sức của bao thế hệ con người, là tài sản quý giá, trân trọng của dân tộc Cho nên khi kẻ thù xâm lược đụng đến quốc gia, tức là đụng đến quê hương, tổ tiên, dòng tộc và những gì hiện hữu trong cuộc sống của người Việt Chính điều đó đã thôi thúc tinh thần yêu nước: “Nước mất nhà tan”, không chịu khuất phục trước kẻ thù, trở thành khí phách hào hùng của một dân tộc Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam đã để lại hình ảnh Thánh Giống dùng tre đánh giặc, hay lật từng trang sử Việt Nam thấm đượm nét dũng cảm hiên ngang của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung Nguyễn Trãi cũng đã từng thốt lên: “Anh hùng hào kiệt đời nào cũng có”… tất cả họ đã cùng nhân dân làm nên lịch sử vẻ vang giữ yên bờ cõi, đem đến cuộc sống ấm
no cho nhân dân Về tinh thần yêu nước và sức mạnh của tinh thần yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại càng sôi nổi, nó kết tinh thành một làng sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó vượt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [27, 171] Một nhà báo Pháp, ông
Trang 23R.Ghilanh cũng đã từng nhận định giá trị yêu nước, ý chí tự cường của người Việt Nam khi viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam: “Nhân tố chủ yếu của cuộc chiến tranh này là cái nhân tố mà không có một bộ máy điện tử nào của Mỹ có thể tính nổi, nhưng đó lại là nhân tố quyết định: khả năng chịu đựng gian khổ phi thường của người Việt Nam Khả nang này là phẩm chất vốn có của người Việt Nam Phẩm chất này phát triển ở người Việt Nam nhờ ý chí tự cường và lòng yêu nước cực kỳ mãnh liệt” [18, 388]
Tóm lại, lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam có thể hiểu đó là yêu làng quê, yêu phố phường, yêu vùng đất, vùng biển, vùng trời Tổ quốc; là yêu thương, gắn bó máu thịt với đồng bào, đồng chí; là quyết tâm bảo vệ toàn vẹn độc lập chu quyền đất nước, quyền tự
do, dân chủ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân; là nỗ lực lao động, phấn đấu vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, mọi người dân đều được ấm no, hạnh phúc…
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - làng xã - Tổ quốc
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - làng xã - Tổ quốc là một nét của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Đất nước ta, một dải đất hep nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa, quay mặt ra biển Đông, lưng tựa vào Trường Sơn hùng vĩ Do điều kiện địa lý, tự nhiên và vị trí quan trọng của mảnh đất này, những cư dân người Việt từ thuở xa xưa vừa được thưa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch họa Lịch sử dựng nước và giữ nước diễn ra trên mảnh đất này là sự nối tiếp hàng ngàn năm những cuộc đấu tranh khong mệt mỏi chống hạn hán, bão lũ, chống chiến tranh xâm lược của các thế lực nước ngoài Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó đã sớm nảy sinh và định hình ý
Trang 24thức cộng đồng, ý thức tập thể, và cao hơn là ý thức dân toc Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Đồng thời, Việt Nam là một quốc gia đa dan tộc Từ lâu đời, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam đã gắn bó số phận vào vận mệnh chung của
Tổ quốc, cố kết lao động, đấu tranh chống thiên tai, địch họa, dựng nước và giữ nước, làm nên lịch sử chung, xây nên nền văn hóa chung Quá trình đoàn kết chặt chẽ cùng gánh vác sứ mệnh chung ấy tạo dựng nên và ngày càng được củng cố, phát triển hơn ý thức cộng đồng của mỗi dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Ý thức cộng đồng đây là gia tộc, làng xóm, cái hàng hội đủ loại Cộng đồng lớn nhất là xã hội và quốc gia Ý thức cội nguồn của người Việt Nam rất sâu nặng Đó là ý thức về cội nguồn chung từ một bọc của Âu Cơ, cùng có một ông tổ Hùng Vương Đoàn kết được coi là một chuẩn mực đạo đức
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – làng xã – Tổ quốc, với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành một triết lý nhân sinh:
“ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Những giá trị nhân bản sâu sắc và quý giá đó không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian, mà còn được những người anh hùng dân tộc (Lê Lợi, Quang Trung ) đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và đánh giặc: “Trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “Tướng sĩ một
lòng phụ tử”
Do vậy, ý thức gắn kết cá nhân - làng - nước được hình thành từ rất sớm và tồn tại lâu dài cùng với hành trình dân tộc Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - làng xã - Tổ quốc “là cốt lõi của những giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam” [17, 93], là nguồn sức mạnh nội sinh
Trang 25đặc biệt quan trọng của dân tộc Việt Nam, góp phần làm cho dân tộc trường tồn và lớn mạnh
Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý
“Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình bác ái” [26, 160] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đẳng định truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc và chính người là đỉnh cao, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái Việt Nam
Nằm ở cửa ngõ của sự giao lưu văn hóa Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, dân tộc ta từ khi lập quốc đã mở rộng cửa đón nhận ảnh hưởng của các nền văn hóa khu vực: văn hóa Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Hoa và sau này là văn hóa phương Tây Các học thuyết và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên Chúa giáo vào Việt Nam đều khúc xạ qua chủ nghĩa yêu nước truyền thống để đạt tới sự kết hợp tôn giáo và Tổ quốc: yêu nước, kính chúa, tốt đời, đẹp đạo Những yếu tố tích cực của các học thuyết va tôn giáo đó đều được nhân dân ta khai thác, sử dụng, bổ sung cho nhau để phục vụ cho sự hoàn thiện của con
người Nho cần có tu thân, trị nước Phật an ủi đời sống tâm linh con người
Lão kêu gọi con người sống hài hòa với thiên nhiên Chúa Giêsu đề cao lòng
bác ái… Chính nhờ đó, con người Việt Nam đã đạt tới sự kết hợp hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cá nhân với cộng đồng, gia đình với Tổ quốc, đạo với đời… Đó cũng là cơ sở để hình thành nên tinh thần văn hóa khoan dung, nhân ái Việt Nam
Lòng nhân ái của con người Việt Nam khác với cái “Nhân” của Khổng
Tử “Nhân” Việt Nam là “tình thương”, như “Thương người như thể thương thân”, “Thấy đói rach thì thương”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng – Người trong một nước thì thương nhau cùng” Tình thương thể hiện trong thể chế xã hội và thành luật nước, luật làng về an ninh xã hội Nhân ái Việt Nam là tình nghĩa
Trang 26Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Phẩm chất sống của người Việt Nam là “đối xử với nhau có tình có nghĩa”
Lòng nhân ái của con người Việt Nam thể hiện trong chính trị và trong ứng xử hàng ngày Đối với những người trong gia đình thì phải hiếu thao, trách nhiệm lo cho cha mẹ, anh chị em phải hòa thuận “Chị ngã em nâng” Vợ chồng sống có tình có nghĩa, nhiều khi “tình hết mà nghĩa còn”, vẫn sống với nhau Hồ Xuân Hương nói “Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa” Đối với bạn bè, nhân ái là giúp đỡ vượt qua những khó khăn, hoạn nạn “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” Trong quan hệ làng - xã - nước, nhân ái “Thương người như thể thương thân” Sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau khi hoạn nạn, khó khăn, tương trợ cho nhau mà không tiếc của, tiếc công, yêu thương đùm bọc cho nhau Nhân ái trong chính trị là “nhân nghĩa”, từ Nguyễn Trãi đến Hồ Chí Minh là “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn – Lấy chí nhân thay cho cường bạo”,
là “moi việc lớn lấy nghĩa làm đầu, có nhân nghĩa mọi việc mới trôi chảy”
Lòng nhân ái trở thành một nét độc đáo, một chuẩn mực sống của con người Việt Nam Với các thế hệ người Việt Nam, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý đã trở thành một tình cảm tự nhiên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Lòng nhân ái Việt Nam còn là sự bao dung Năm 1997, cộng đồng quốc tế phát động năm Bao dung quốc tế Đối với Việt Nam, việc này không
xa lạ gì vì truyền thống văn hóa Việt Nam là bao dung bằng thể hiện trong chính trị và trong ứng xử hằng ngày Bao dung là phẩm chất lớn của dân tộc Việt Nam
Tinh thần văn hóa bao dung Việt Nam là: tiếp nhận và thâu hóa những giá trị tích cực, phù hợp; đồng thời có sự tôn trọng, không kỳ thị, bài bác
Trang 27những giá trị khác với mình để cùng nhau chung sống, đoàn kết, bảo vệ và xây dựng đất nước
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người đều đối xử ôn hòa, nghiêm khắc nhưng đầy khoan dung “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại” Khoan dung không chỉ bó hẹp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà đối với các dân tộc khác, thậm chí đối với giặc ngoại xâm Trong lịch sử, quân xâm lược phương Bắc đã từng biết đến Nguyễn Trãi “cấp thuyền” cho chúng trở
về nước sau khi chúng bị đánh bại ở Việt Nam Người Việt Nam sống “vì nghĩa”, đặt Tổ quốc, lợi ích quốc gia lên trên hết Vì nghĩa là tình cảm chính đáng gắn bó người với người trong sinh hoạt gia đình, xã hội, dân tộc cho đến quốc tế Trọng nghĩa tình, đạo lý của dân tộc Việt Nam còn thể hiện rất rõ trong việc lập đền thờ đối với những người có công với nước, với làng xã, .v.v.v.
Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Đức tính cần cù, sáng tạo là phẩm chất quan trọng, truyền thống quý báu của con người Việt Nam Xuất phát từ một nền nông nghiệp lúa nước,
“con người Việt Nam đã có những tìm tòi, sáng tạo riêng cho mình trong khai thác đất đai, lựa chọn giống má và chế tạo những công cụ kỹ thuật” [5, 63]
Do sự đa dạng về địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng, người Việt cổ đã tận dụng đất đai và khai thác một cách thông minh các vùng đất khác nhau: vùng thấp và vùng cao, đồng lầy và khô cạn, để trồng các loại lúa và hoa màu khác Với thời tiết của xứ nhiệt đới, ông cha ta đã sớm phát huy đầu óc sáng tạo và tìm ra những dược liệu và phương pháp trị bệnh thích hợp Lịch sử đã để lại trong dân gian Việt Nam một kho tàng vô giá về y học cổ truyền, đồng thời cũng tạo ra những danh y lỗi lạc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông… Chính đối phó với những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên mà dân tộc Việt Nam đã sớm có đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Bất cứ trong
Trang 28hoàn cảnh nào, nhan dân ta cũng kiên quyết vượt lên, biến đồng lầy thành ruộng lúa, đồi trọc thành vườn cây, đào ao để thả cá, xẻ sông lạch để tưới nước, chở thuyền… Thậm chí ở những nơi khô cằn thì vẫn cứ “biến sỏi đá thành cơm” Phải vất vả lắm mới có cơm ăn áo mặc, “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”, nên “người Việt Nam đã sớm
tạo cho mình truyền thống văn hóa là yêu lao động, quý trọng lao động” [5, 71] “Tay làm hàm nhai” – Người Việt Nam khinh ghét những kẻ chây lười,
ăn bám, và không ngừng lên án những kẻ tham ô, lãng phí, làm giàu bất chính
Nghiên cứu các giai đoạn phát triển của xã hội Việt Nam, chúng ta nhận thấy tinh thần cần cù sáng tạo của cha ông ta luôn luôn được thể hiện cụ thể trong những hoàn cảnh và địa điểm cụ thể khác nhau Về điểm này, có thể
kể đến một trường hợp mà ông cha ta đến khai thác vùng đất hoang vu ở miền Nam Việt Nam Ở đây có nhiều điểm rất khác miền Bắc và miền Trung về cả khí hậu, địa hình, thỗ nhưỡng
So với miền Bắc và miền Trung thì miền Nam là nơi dễ sống hơn Sông Cửu Long ở miền Nam cũng như sông Hồng ở miền Bắc, đem lại cho đồng ruộng nhiều phù sa và đủ nước tưới Nhưng song Cửu Long khác sông Hồng
ở chỗ: hai bên bờ sông không có bờ đê, nên hàng năm nước tràn vào đồng
ruộng Do đó, trong canh tác đòi hỏi phải có đầu óc rất linh hoạt, sang tạo để
có thể thích ứng được với thời tiết và khí hậu
Trước những khó khăn về điều kiện tự nhiên, mà nếu như nhân dân ta không phát huy được những truyền thống cần cù và sáng tạo của tổ tiên, không bỏ ra những công sức cực kỳ lớn lao, không tạo thêm được những giá trị tinh thần mới trong mọi hoàn cảnh cụ thể của thiên nhiên, thì đã không thể
có những vùng đất trù phú như ngày nay GS Phan Ngọc đã đúng khi cho rằng: “Công sưc lao động tạo dựng nên đất nước này của người dân Việt đã ở
Trang 29mức tột đỉnh, hiếm có một dân tộc nào trên thế giới có thể so sánh được” [31, 36]
Sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống
Sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống thể hiện trên các mặt sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần, như về ăn, mặc, ở, lễ nghi của con người Việt Nam Chính cuộc sống đầy khó khăn và ít thay đổi của nền sản xuất nông nghiệp đã tạo nên con người Việt Nam có đức tính giản dị, khiêm tốn, ngay thẳng, thật thà coi trọng bản chất, ghét thói xu nịnh với quan niệm
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Người trong làng ứng xử với nhau theo lối tình cảm “Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”, kính già, yêu trẻ, quý trọng phụ nữ Hàng xóm láng giềng sống cố định trong cộng đồng lâu dài với nhau, người Việt Nam quý trọng sự hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, của nền sản xuất nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp mềm dẻo trong tiếp nhận Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam sống bên cạnh những quốc gia có nền văn minh lớn, lâu đời, để giữ được những nét riêng của dân tộc, con người Việt Nam sớm biết giao tiếp ứng xử một cách mềm dẻo, chọn lọc những giá trị nhân loại một cách tài tình làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Học người nhưng không hoàn toàn rập khuôn theo người mà phải “dân tộc hóa” những điều được học Chính vì thế mà dân tộc ta đã tiếp thu được những giá trị tinh hoa của nhân loại, góp phần làm giàu thêm bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam Trong ứng xử với thiên nhiên, con người Việt Nam luôn gắn bó với thiên nhiên như máu thịt của mình, để vào đó cả tâm huyết và tài năng, con người Việt Nam
đã tạo môi trường thiên nhiên của mình thành Tổ quốc thiêng liêng, mà đời này qua đời khác tiếp nối nhau kiên quyết bảo vệ
Di sản văn hóa dân tộc – một hình thức biểu hiện độc đáo của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 30Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong mọi mặt đời sống, mọi hoạt động và quan hệ của con người mà còn thể hiện qua các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc
Di sản văn hóa vật thể liên quan đến các di tích lịch sử văn hóa như: đền đài, cung điện, thành quách, thư viện, sách, mỗi cổ vật ở bảo tàng, công
cụ sản xuất ở các giai đoạn lịch sử, tài liệu lưu trữ, các di tích thắng cảnh thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt về văn hóa…
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các loại hình chủ yếu như: âm nhạc, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại, lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết nghề thủ công mỹ nghệ…
Di sản có thể chia thành di sản tĩnh và di sản động Di sản được vật
chất hóa như đến đài, lăng tẩm là di sản tĩnh Di sản động bao gồm các giá trị tinh thần mang đặc trưng của cộng đồng được kết tinh trong phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng, các trò diễn xuat dân gian… Di sản này gắn liền với “người mang di sản” Vì thế mà những nghệ nhân, nghệ sĩ, thầy lang, võ sư,… loại ưu tú, những người mang văn hóa biểu diễn và truyền bá văn hóa
phải quý trọng, coi như tài sản văn hóa quốc gia những tài sản sống và động
cần phải được bảo vệ và khai thác
Dân tộc ta sớm gắn với nền sản xuất nông nghiệp nên có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, sớm nảy sinh và phát triển các hình thức tín ngưỡng dân gian như: thờ thần đất, thần nước, tín ngưỡng phồn thực gắn với đời sống cộng đồng làng xã chứa đựng những phong tục truyền từ đời này sang đời khác như: thờ cúng tổ tiên, lễ hội Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng làng xã Việt Nam đó là cây đa – bến nước – sân đình thể hiện ý thức gắn kết của cộng đồng, là nơi hình thành và lưu giữ các hình thức văn hóa của dân tộc
Trang 31Tóm lại, di sản văn hóa Việt Nam tồn tại dưới nhiều dạng hình thức khác nhau, nhiều vùng miền, trong những tộc người, những vùng miền khác nhau và thể hiện rõ ở các tập tục, lễ hội, nhạc cụ, trang sức, đền thờ, danh lam thắng cảnh tất cả những điều đo đã làm cho di sản văn hóa Việt Nam đa dạng và phong phú, góp phần quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Hệ giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…” [14, 56] như đã nêu ở trên tuy
chưa phải là tất cả, nhưng đó chính là “những giá trị trường tồn của dân tộc, những nét chủ yếu, nổi bật nhất” [14, 23] trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
1.2 BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.2.1 Vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam có vai trò rất quan trọng:
Thứ nhất, là nền tảng và sức mạnh tinh thần đảm bảo cho Việt Nam hội nhập thành công, phát triển bền vững
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, đưa loài người đến với xã hội văn minh Ở đó bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam không bị lãng quên mà ngược lại phải được giữ gìn và phát huy, biến nó thành sức mạnh tinh thần cho sự phát triển Đảng ta đã xác định: “Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự
Trang 32cường… vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [14, 54 – 55] Như vậy, cùng với việc xác định con đường phát triển đất nước, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chắc chắn chúng ta phải xác định được nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển Nền tảng vững chắc đó chính là bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được coi là nền tảng và sức mạnh
mà nhờ đó dù có trải qua nhiều thời kỳ bị đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình, chẳng những không bị đồng hóa, bị hòa tan mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc, lấy sức ta mà giải phóng cho ta
Trong quá hội nhập kinh tế quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
là sức mạnh tinh thần vượt qua mọi thử thách Bởi vì, hội nhập kinh tế quốc tế
sẽ kéo theo nhiều mặt tiêu cực như: bệnh sùng ngoại, coi thường giá trị dân tộc; chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ chỉ coi trọng lợi ích vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân, coi nhẹ giá trị cộng đồng, coi trọng lợi ích trước mắt, ít chú ý đến lợi ích lâu dài Các sách báo, tranh ảnh, băng nhạc, băng hình có nội dung kích động dâm ô, bạo lực nhập lậu o ạt gây tác động xấu đến nhiều thuần phong mỹ tục của dân tộc Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang bị xâm hại rất nghiêm trọng… Đứng trước những nguy cơ và thách thức đó, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trở thanh nền tảng và sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, và trong quá trình giải quyết những vấn đề gây gắt và phức tạp ấy
Chính sức mạnh tinh thần của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ điều chỉnh mọi mặt, làm cho kinh tế và xã hội phát triển hài hòa Kinh tế và văn hóa luôn đi đôi với nhau, kinh tế là sức mạnh vật chất còn văn hóa là sức
Trang 33mạnh tinh thần Phát triển đất nước hieu một cách đúng đắn không phải bao giờ cũng đồng nhất với tăng trưởng nói chung, mà phát triển đất nước bao hàm nội dung tiến bộ Từ nhận thức trên, dù ở tầm vĩ mô hay xét riêng từng vấn đề riêng biệt, khi nói tới phát triển đất nước, chúng ta không thể không quan tâm văn hóa Trong đó, càng phải nhấn mạnh đến nền tảng, sức mạnh tinh thần của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Phải ra sức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Đó không chỉ là ý thức trách nhiệm,
mà còn là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, bởi “Nước Đại Việt ta từ trước, Vốn
xưng nền văn hiến đã lâu” Những đặc trưng nổi bật nhất của bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, yêu lao động, lòng nhân ái, vị tha và tính cộng đồng, những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc đó đã từng là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước cua dân tộc Việt Nam Ngày nay, những giá trị đó vẫn là nền tảng và sức mạnh tinh thần bảo đảm cho dân tộc Việt Nam hội nhập thành công và phát triển bền vững
Thứ hai, đảm bảo cho dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường hội
nhập mà không bị đồng hóa, bị hòa tan
Dân tộc Việt Nam, dù trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, đứng trước
âm mưu đồng hóa văn hóa của đủ loại kẻ thù, nhưng “Bốn nghìn năm ta lại là
ta”; bản sắc văn hóa dân toc Việt Nam không biến mất, không phai nhạt, trái
lại, càng ánh lên nét riêng long lanh, đặc sắc Nó đã góp cho nền văn hóa nhân loại không chỉ là trống đồng Đông Sơn, Truyện Kiều, các làn điệu dân ca quan họ… mà còn la những danh nhân văn hóa mà nổi bật là Hồ Chí Minh, một con người, một sự nghiệp, một giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, vừa chứa chan tính nhân loại Và cả hai phẩm chất ấy đều ở đỉnh cao
Trang 34Có nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước khi tìm hiểu văn hoá Việt Nam đều đặt ra những câu hỏi lớn: vì sao Việt Nam, một dân tộc vốn đất không rộng lắm, người không đông lắm từ rất xa xưa đã nằm giữa hai nền văn minh co rực rỡ thuộc hai quốc gia khổng lồ mà không bị đồng hoá, vẫn giữ được mình? Do đâu mà dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm bị đô hộ không những không bị đồng hoá, không bị hòa tan, mà còn tích luỹ và phát triển, vùng lên giành lại độc lập cho đất nước Đó là nhờ dân ta đã giữ vững được bản sắc văn hoá dân tộc
Do đâu mà trong thời đại phong kiến, chúng ta đã đánh thắng những đế quốc xâm lược mạnh hơn mình gấp nhiều lần? Đó là nhờ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Trong thời đại Hồ Chí Minh, do đâu mà dân tộc ta đã lập nên những chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến chống bọn thực dân, đế quốc hùng mạnh? Đó là nhờ sức mạnh của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng bất khuất kết hợp với trí thông minh sáng tạo “Chính những nhà chính khách, những nhà sử học lớn của Mỹ thừa nhận, Mỹ đã thất bại trong chiến tranh Việt Nam chính là vì không hiểu dân tộc Việt Nam, không hiểu nền văn hoá Việt Nam” [37, 113], mà thực chất đó là không hiểu
rõ bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam chi phối toàn bộ đời sống của dân tộc Việt Nam, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nó được thể hiện rõ rệt nhất trước những thách thức của lịch sử đối với vận mệnh dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã bảo tồn dân tộc Việt Nam và giúp cho cộng đồng dân tộc tránh được âm mưu đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược trong lịch sử
Ngày nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu, cùng với nó sẽ kéo theo giao lưu hội nhập văn hóa Quá trình giao lưu hội nhập văn hóa với thế giới là cơ hội lớn để Việt Nam học hỏi, tiếp thu, đồng thời kế thừa và phát
Trang 35huy những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc mình trên trường quốc tế, chứ không phải trở thành cái bóng mờ của dân tộc khác Mở cửa, phải giữ được độc lập chủ quyền của dân tộc, giữ được “cơ cấu sinh thành nội tại của các giá trị” Đây chính là lẽ sống còn của cả dân tộc.Trong quá trình giao lưu hội nhập văn hóa với thế giới, nếu chúng ta tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trên tinh thần độc lập và tự chủ cao, với lòng tự hào sâu sắc về các giá trị đạo đức nền tảng của con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập, giao lưu với các nền văn
hoá lớn thì “dân tộc ta vẫn giữ được độc lập mà không biệt lập”, học hỏi bên
ngoài mà không sao chép, hoà nhập với thế giơi mà không bị đồng hóa, không
bị hoà tan Chính bản sắc văn hóa dân tộc đã biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của một Việt Nam trong giao lưu, hội nhập với quốc tế
Như vậy, có thể nói chính bản sắc văn hóa dân tộc sẽ làm cho dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế không những không bị đồng hóa, không bị hòa tan mà vẫn giữ được những giá trị truyền thống của dân tộc trên một tầm cao mới Người Việt Nam sẽ luôn giư được hình ảnh của mình trên trường quốc tế Nước Việt Nam luôn giữ được và ngày càng được
“tô đậm” tên mình trên bản đồ thế giới
Thứ ba, góp phần củng cố, nâng cao vị thế dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam không những góp phần giữ vững nền độc lập dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, dân tộc không bị đồng hóa mà còn góp phần củng cố, nâng cao vị thế dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế Nếu hiểu và xây dựng được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là sự tổng hòa những giá trị cơ bản, những yếu tố cốt lõi được tích tụ, rèn đúc từ trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước làm nên bản lĩnh, cốt cách, gương mặt của dân tộc một cách riêng
Trang 36biệt, không thể trộn lẫn với dân tộc khác thì quá trình hội nhập là thời cơ, là điều kiện, là môi trường để dân tộc thể hiện hiện mình, thâu hóa những thành tựu mới làm phong phú mình, nâng mình lên một tầm cao mới
Sự phong phú, đa dạng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm cho dân tộc ta vững tin và tự hào khi đứng trước bạn bè năm châu, vượt qua khó khăn, thử thách, mở rộng quan hệ ngoại giao, tạo ra thế và lực mới cho đất nước vững bước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm thực hiện bằng được các mục tiêu của Đảng đề ra cho đến năm 2020, tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Như vậy, có thể nói trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam góp phần đưa đất nước và con người Việt Nam lên tầm cao mới, ngày càng khẳng định được vị trí và vai trò của Việt Nam trên chính trường quốc tế
1.2.2 Ảnh hưởng của hội nhập đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Hội nhập với thế giới, tranh thủ tối đa các cơ hội có được là cách tốt nhất để các dân tộc, các quốc gia cùng tiến bước, cùng phát triển Đây cũng là cách có hiệu quả giúp cho các nước lạc hau, thực hiện con đường phát triển rút ngắn, nói đúng hơn là có thể đẩy nhanh tốc độ để có cơ may thu hẹp khoản cách và từng bước đuổi kịp các nước tiên tiến về kinh tế Bài học của các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICS) là minh chứng rõ ràng nhất và cũng đầy thuyết phục nhất Xuất phát từ nhận thức và thực tế đó, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 37Thực tế cho thấy, quốc gia nào nếu đóng cửa, biệt lập với thế giới thì sẽ không đem lại sự phồn vinh về kinh tế, văn hóa và càng không làm tăng thêm các giá trị Đã có một số quốc gia do tự cô lập mình đến mức cực đoan, vì sợ những ảnh hưởng và tác động từ bên ngoài vào làm xói mòn các giá trị dân tộc, kết quả họ đã bị tụt hậu về kinh tế một cách thảm hại, thậm chí cả sự tàn lụi về văn hóa Vì vậy, trong điều kiện hiện nay, “hợp tác và hội nhập quốc tế đang là một mệnh lệnh, là thước đo khả năng thích nghi của một dân tộc, tầm nhìn và năng lực quản lý đất nước của các chính phủ đương quyền vì mục tiêu phát triển” [8, 7] Chính vì vậy, tư tưởng cơ bản của Đảng ta về hội nhập kinh
tế quốc tế được khẳng định rất rõ trong Văn kiện của Đại hội IX là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế có tác động vừa tạo cơ hội vừa đặt
ra những thách thức đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam:
Về cơ hội, hội nhập kinh tế quốc tế trong quan hệ nhiều chiều của nó tất
yếu kéo theo giao lưu, hội nhập văn hóa Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, có cơ hội phát triển và làm thăng hoa bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, tôn vinh hình ảnh Việt Nam trong cộng đồng thế giới Những giá trị của bản sắc văn hóa dân toc Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có điều kiện phát triển mạnh
mẽ
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, bổ sung cho đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam những yếu tố phù hợp với sự hoàn thiện nhân cách, phù hợp
Trang 38với truyền thống nhân văn Những khi tiếp xúc với những thành tựu văn minh, sử dụng các thành tựu văn minh cần nhìn nhận chúng trong tính hai mặt: sản phẩm văn minh một mặt tăng cường khả năng nâng cao mức sống và phương tiện sống, một mặt dễ làm nảy sinh lối sống tiêu dùng, tôn thờ các giá trị vật chất từ đó xao lãng đi đến đánh mất các gia trị văn hóa truyền thống
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, xây dựng và phát triển nguồn lực con người, đặc biệt
là nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần xây dựng văn minh đô thị và công nghiệp, tạo động lực để hiện đại hóa bản sắc văn hóa dân tộc Hiện đại hóa bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết phải được chuẩn bị trong hệ thống giáo dục – đào tạo và trong hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, để tạo môi trường văn hóa lành mạnh cho quá trình xây dựng con người, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và sự biến đổi của tình hình quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để chuyển giao vốn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ, chuyển giao kỹ năng, kinh nghiệm tổ chức và phat triển các ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa (công nghệ truyền thông, công nghệ sản xuất phim, băng hình, dịch vụ vui chơi giải trí), thúc đẩy quá trình dân chủ hóa về thông tin toàn cầu, kích thích năng lực sáng tạo của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội để mở rộng xuất nhập khẩu văn hóa phẩm, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, giới thiệu những giá trị tốt đẹp, độc đáo của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ra nước ngoài, “giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới” [6, 67], góp phần nâng
Trang 39cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện để xây dựng cở sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho sự nghiệp phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Các khu vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao được nâng cấp, tạo điều kiện, đáp ứng nhu cầu học tập, thưởng thức văn hóa, văn nghệ của nhân dân ngày càng cao
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động vào tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng, kích thích tinh thần dân tộc phát triển, thúc đẩy tinh thần cạnh tranh để nâng cao vị thế bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong khu vực và cộng đồng quốc tế
Về thách thức, cũng có thể nhận thấy một số thách thức nổi lên trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam như: Tham vọng nhất thể hóa văn hóa thế giới, áp đặt những giá trị văn hóa của những nước lớn, nước giàu có thể làm ảnh hưởng, dễ mất dần đi bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Tạo ra sự chệch hướng về sự phát triển của văn hóa dân tộc Mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mục tiêu này đang bị cản trở do tính thương mại của hoạt động văn hóa đang diễn ra một cách xô bồ, hỗn loạn, không chỉ dừng lại ở suy thoái lối sống và đạo đức xã hội ở một bộ phận không nhỏ, mà còn có nguy cơ làm biến dạng cả mục tiêu, lý tưởng chính trị, vi phạm các nguyên tắc và chuẩn mực xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sự du nhập tràn lan các sản phẩm, ấn phẩm độc hại của nước ngoài, đặc biệt là chủ nghĩa đế quốc trong văn hóa tác động vào, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam suy yếu
Trang 40Sự phân hóa xã hội trên lĩnh vực văn hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đời sống văn hóa của vùng nông thôn, miền núi, đời sống văn hóa của những nhóm xã hội nghèo so với các vùng đô thị, các loại hình nghề nghiệp có thu nhập cao, khoảng cách ngày càng xa Đặc biệt là đời sống của công nhân, của nông dân, nhất là ơ những vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ ngày càng gặp nhiều khó khăn trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Các nhà đầu tư vào Việt Nam không chỉ mang theo vốn, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà còn lối sống, quan niệm, chính kiến của họ Và trong nhiều trường hợp lối sống, quan niệm của họ là xa lạ, thậm chí trái ngược với lối sống, quan niệm mà chúng ta đang xây dựng, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam mà chúng ta đang giữ gìn
Dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế còn làm cho các nấc thang giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam có sự thay đổi sâu sắc, sự phân biệt “đúng – sai”, “tốt – xấu” trong nhiều trường hợp trở nên hết sức phức tạp Những yếu tố ngoại lai, lai căng có điều kiện xâm nhập, phát triển, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần xã hội Những “nọc độc” về văn hóa, chính trị thâm nhập vào bằng nhiều con đường, vơi nhiều hình thức tinh vi khác nhau, làm cho tư tưởng, đạo đức, lối sống con người dễ bị nhiễm độc; vấn đề “bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và
an ninh xã hội” được đặt ra một cách gắt gao hơn Chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, lối sống vì đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, các tệ nạn xã hội… có điều kiện phát triển
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm nảy sinh mối nguy cơ ghê gớm về sự đồng nhất hóa các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo của nền văn hóa Việt Nam Nguy cơ nói trên càng tăng lên khi một