1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc sử dụng từ địa phương nam bộ trên nhật báo tiếng dội miền nam 1962 và nhật báo đuốc nhà nam 1971 (so sánh với nhật báo tuổi trẻ 2006)

148 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc Sử Dụng Từ Địa Phương Nam Bộ Trên Nhật Báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 Và Nhật Báo Đuốc Nhà Nam 1971 (So Sánh Với Nhật Báo Tuổi Trẻ 2006)
Tác giả Bùi Thị Thanh Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Ngọc Lang
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vài nét về ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc CHƯƠNG HAI: PHÂN LOẠI CÁC TỪ NGỮ NAM BỘ Dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng

Trang 1

-# " -BÙI THỊ THANH HƯƠNG

VIỆC SỬ DỤNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRÊN NHẬT BÁO TIẾNG DỘI MIỀN NAM 1962 VÀ NHẬT BÁO ĐUỐC

NHÀ NAM 1971 (SO SÁNH VỚI NHẬT BÁO TUỔI TRẺ 2006)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học so sánh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin gửi lời biết ơn đến các thầy cô phòng Sau đại học Trường Đại

học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, các thầy cô trong khoa

Ngữ văn và Báo chí, những người thầy đã dạy, hỗ trợ và cung cấp rất nhiều kiến thức

bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn cô Đỗ Thị Bích Lài đã gợi ý cho tôi chọn đề tài này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Trần Thị Ngọc Lang,

người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các bạn lớp Cao học Ngôn ngữ học so sánh khóa 2003, những

người đã cùng tôi vượt qua bao khó khăn và đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt khóa

học

Xin cảm ơn các nhân viên phòng hạn chế Thư viện Khoa học tổng hợp

TP.HCM (cô Trưởng phòng, cháu Nguyễn Thị Hương Giang, cô Bích Thu, cô Loan)

đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm tư liệu

Sau cùng, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã thương yêu và tạo

điều kiện tốt nhất cho tôi học tập

Một lần nữa, tôi xin cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời

gian học tập và thực hiện luận văn này

Bùi Thị Thanh Hương

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TVTD Tiếng Việt toàn dân

TĐPNB Từ địa phương Nam bo

TDMN Tiếng Dội Miền Nam

Trang 4

MỤC LỤC

Trang DẪN NHẬP

2 Lý do chọn các nhật báo khảo sát 6

4 Hướng tiếp cận để thực hiện đề tài 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 13

CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ

1 Đất phương Nam - người phương Nam 16

3 Từ địa phương Nam bộ và các báo khảo sát 33

4 Vài nét về ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc

CHƯƠNG HAI: PHÂN LOẠI CÁC TỪ NGỮ NAM BỘ

(Dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng Việt

toàn dân hay phương ngữ Bắc bộ)

2 Những từ khác âm nhưng đồng nghĩa 62

3 Những từ khác âm và khác nghĩa (khác nhau hoàn toàn) 87

Báo Tiếng Dội Miền Nam (1962) 251

Báo Đuốc Nhà Nam (1971) 253

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong một thế kỷ qua, từ ngữ của tiếng Việt phát triển rất nhanh Sự phát triển

đó gắn liền với những biến cố lịch sử

Từ đầu thế kỷ XX, sự thành công của nhiều trào lưu sáng tác văn học: báo chí, thơ

mới, tiểu thuyết, v.v… đã cung cấp đầy đủ một hệ thống thuật ngữ cho mọi mặt của

đời sống

Sau Cách mạng tháng tám, và trong điều kiện cuộc chiến tranh giải phóng dân

tộc kéo dài, hệ thống từ ngữ tiếng Việt luôn xuất hiện với những đơn vị mới, nhằm

phục vụ yêu cầu của lịch sử

Sau hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, hơn một triệu đồng bào miền Bắc đi cư

vào Nam; và từ năm 1964, để leo thang chiến tranh, hơn nửa triệu quân Mỹ và quân

chư hầu của Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, một quá trình giao thoa ngôn ngữ,

tiếp xúc ngôn ngữ đã diễn ra

Sau ngày 30/04/1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất suốt từ Bắc

tới Nam, sự giao lưu giữa các vùng được mở rộng hơn, tiếp xúc ngôn ngữ mạnh mẽ

hơn Tất cả ảnh hưởng tới tiếng Việt nói chung và các phương ngữ nói riêng, trong đó

có phương ngữ Nam bộ

Phạm vi bài luận văn này là tìm hiểu việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên

các nhật báo: Tiếng Dội Miền Nam 1962, xuất bản tại Sài Gòn (hạn chế trong các

mục: Tin tức, Trớ trêu và Thiên hạ đồn, Truyện ngắn); Đuốc Nhà Nam 1971, xuất bản

tại Sài Gòn (hạn chế trong các mục: Tin tức, Tai vách mạch rừng và Thiên hạ đồn,

Truyện ngắn); có so sánh với nhật báo Tuổi Trẻ 2006, xuất bản tại Thành phố Hồ Chí

Minh (Tin tức, Chuyện thường ngày, Truyện ngắn) với mục đích muốn xem theo

dòng lịch đại việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên các báo có những thay đổi như

thế nào

2 Lý do chọn các nhật báo khảo sát

2.1 Lý do chọn tờ Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc Nhà Nam 1971 là hai tờ báo

nầy do ông Trần Tấn Quốc làm chủ báo Ông Quốc là người gốc Nam bộ (tỉnh Sa Đéc

nay là tỉnh Đồng Tháp) tất phải có quan điểm riêng về việc sử dụng từ địa phương

Nam bộ (trên báo) Ông Quốc còn là một nhà báo chân chính, tận tụy với nghề

nghiệp

Ngay từ lúc mới bước vào nghề, Trần Tấn Quốc đã luôn chịu khó học hỏi các

bậc đàn anh Khi trở thành chủ báo, ông lại càng sát cánh với tất cả anh em trong ban

biên tập Trong cuốn "Trần Tấn Quốc - bốn mươi năm làm báo", Thiện Mộc Lan kể

lại rằng mỗi ngày ông đều xuống nhà in để lo mọi việc với ấn công trưởng, từ việc

kiểm tra lại "ma kết" (sơ đồ trang nhất của tờ báo), nội dung các tin tức, tới khâu sắp

chữ và in ấn Việc trình bày các trang báo, nhất là trang thứ nhất cũng được ông đặc

biệt quan tâm

Theo Trần Tấn Quốc, danh dự lớn lao của người cầm bút là phải biết tôn trọng

sự thật, là làm cho điều phải thắng điều quấy Suốt bốn mươi năm làm báo, Trần Tấn

Quốc luôn tâm niệm:

1 Có đầy đủ tinh thần trách nhiệm về tất cả những bài vở của mình

2 Coi sự vu cáo, vu khống không có bằng chứng, sự sửa chữa những tài liệu, sự làm

biến dạng các hành động, sự kiện, sự dối trá là những lỗi nặng nề trong nghề nghiệp

3 Chỉ chấp nhận quyền xét xử của luật pháp, coi đó là danh dự cao nhứt của nghề

nghiệp

4 Chỉ nhận những công việc phù hợp với phẩm cách nghề nghiệp

Trang 6

5 Tự mình cấm sử dụng những hình thức phi pháp để thu lượm một thông tin hoặc

lừa dối lòng tốt của người khác để được nhận thông tin ấy

6 Không ký tên mình dưới những tiết mục quảng cáo thương mại và tài chánh

7 Không lợi dụng tự do báo chí chỉ vì lợi ích cá nhân mình

8 Giữ bí mật nghề nghiệp.[77; 264]

Một nhà báo có lý tưởng nghề nghiệp như Trần Tấn Quốc, dĩ nhiên trên báo

của ông từ nội dung bài đến phong cách sử dụng ngôn từ đều thể hiện tôn chỉ, chủ

trương của báo

2.2 Lý do chọn nhật báo Tuổi Trẻ 2006

Tuổi Trẻ là tiếng nói của Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh, là một trong

những tờ báo thực hiện tốt chức năng của mình, có số độc giả cao Do vậy việc sử

dụng ngôn ngữ trên báo tất mang tính đúng đắn, đáng tin cậy

Theo bảng "điều tra xã hội học về công chúng" thực hiện vào tháng 9/1997 ở

thành phố Hồ Chí Minh, đặc điểm của độc giả báo Tuổi Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh

là: [79; 272]

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trong lịch sử ngôn ngữ học, việc nghiên cứu phương ngữ đã được quan tâm từ

rất sớm Alighieri Dante (1265-1321), một nhà thơ người Ý, đã cho in một công trình

về phương ngữ trong tiếng Ý De Vulgari eloquentia (in năm 1303-1304) [81:16] Đến

thời văn hóa phục hưng, nhiều nhà văn hóa như W.Leibniz (1646-1716), W.Humboldt

(1768-1835) cũng đề cập tới sự cần thiết của việc nghiên cứu phương ngữ Tại Việt

Nam, từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây có không ít học giả quan tâm tới phương ngữ

Nam bộ

Ngay từ năm 1956, Nguyễn Trọng Hàn đã viết "Danh sách từ ngữ địa phương"

đăng trên Văn Hóa nguyệt san số 15.16 Đến 1958-1959, Bình Nguyên Lộc và

Nguyễn Ngu Í giải thích "Tiếng địa phương miền Nam" trên tạp chí Bách Khoa Năm

1964, Nguyễn Kim Thản viết bài "Thử bàn về một vài đặc điểm trong phương ngôn

Nam bộ" trên tạp chí Văn Học số 8 Năm 1964, Nguyễn Đức Dương viết "Về hiện

tượng kiểu ổng, chỉ, ngoải" đăng trên Ngôn Ngữ số 1, 1974 1878, Huỳnh Kim Quy

có bài "Từ mượn gốc Khơme và Quảng Đông, Triều Châu trong phương ngữ Nam

bộ" trong tập sách "Nghiên cứu một số đặc điểm của phương ngữ Nam bộ" (tư liệu

của Ban Ngôn ngữ, 1978, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh) Năm

1981, Phạm Văn Hảo có "Nhận xét về xu hướng đi đến thống nhất cách dùng những

từ ngữ địa phương Nam bộ có quan hệ ngữ âm trên báo" 1982, Trần Thị Ngọc Lang

viết bài "Nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên

tạp chí Ngôn ngữ, số 2 Cũng năm 1982, Hải Dân viết về "Yếu tố Cà trong phương

ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, 1982 Năm 1984, Nguyễn Kim Thản viết

"Về tiếng nói vùng đồng bằng sông Cửu Long" trong "Mấy đặc điểm văn hóa đồng

bằng sông Cửu Long" Năm 1987, Nguyễn Văn Ái (chủ biên) biên soạn cuốn "Sổ tay

phương ngữ Nam bộ" 1990, Phụng Nghi viết "Ngôn ngữ người miền Nam" đăng trên

tạp chí Khoa học xã hội, số 5 1991, Trần Thị Ngọc Lang viết "Về các yếu tố chỉ mức

độ của tính từ trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 10,

1991 1992 Trần Thị Ngọc Lang viết bài "Vài điểm khác biệt về ngữ pháp của phương

ngữ Nam bộ so với phương ngữ Bắc bộ" (trong cuốn "Tiếng Việt và các ngôn ngữ

dân tộc phía Nam"), và "Từ láy tư trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn

ngữ số 3, 1992 Cũng năm đó, Hồ Lê viết về "Phương ngữ Nam bộ" trong "Văn hóa

dân gian người Việt ở Nam bộ" Năm 1998, Cao Xuân Hạo viết bài "Hai vấn đề âm vị

học của phương ngữ Nam Bộ", Huỳnh Công Tín viết về "Tính chất bán phương ngữ

của phương ngữ Sài Gòn" và "Vài nét về sự hình thành phương ngữ Sài Gòn"; Phạm

Văn Hảo viết "Để góp phần lí giải thanh hỏi trong lối nói phương ngữ ổng, chỉ, ngoải"

Trang 7

đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 4, 1998 1999, Nguyễn Thế Truyền nói về "Cách xưng

hô của người Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 10 Năm 2001,

Đào Thản viết "Phương ngữ Nam bộ tiếng nói của quê hương ở vùng cực nam tổ

quốc", đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 1 và 2, xuân 2001, Hồ Xuân Tuyên

có bài "Về một số từ ngữ trong trường học của học sinh Nam bộ" đăng trên tạp chí

Ngôn ngữ và Đời sống số 3, 2001 Năm 2002, Nguyễn Thế Truyền lại có bài "Người

Nam bộ xài từ", trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 12

Nhìn chung, tuy rằng có rất nhiều học giả quan tâm tới việc nghiên cứu những

vấn đề thuộc phương ngữ Nam bộ, nhưng phần lớn những công trình của họ chỉ là

những bài viết ngắn đăng rời rạc trên các tạp chí Số sách được xuất bản về phương

ngữ Nam bộ hãy còn rất ít với một vài tác giả như Trần Thị Ngọc Lang với cuốn

"Phương ngữ Nam bộ", Nguyễn Văn Ái (chủ biên) với cuốn "Sổ tay phương ngữ Nam

bộ"… Gần đây, cũng có một vài chuyên luận viết về phương ngữ Nam bộ như luận

văn tốt nghiệp Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh của Lê

Minh Trí năm 1997 viết "Vài nét về hệ thống ngữ âm tiếng Sài Gòn ngày nay" Luận

án tiến sĩ ngôn ngữ học của Huỳnh Công Tín năm 1999 viết về "Hệ thống ngữ âm

tiếng Sài Gòn" (so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt

Nam)… Có ý nghĩa nhất là sự ra đời của cuốn "Từ điển phương ngữ Nam bộ" do

Nguyễn Văn Ái chủ biên, với sự cộng tác của Lê Văn Đức - Nguyễn Công Khai xuất

bản năm 1994 (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Min), 648 trang; cuốn "Từ điển đối

chiếu từ địa phương" do Nguyễn Như Ý chủ biên, với sự cộng tác của Đặng Ngọc Lệ

- Phan Xuân Thành, xuất bản năm 1999 (Nhà xuất bản Giáo dục, Thành phố Hồ Chí

Minh) 599 trang; năm 2007, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín lại cho ra cuốn "Từ điển từ ngữ

Nam bộ" (Nhà xuất bản Khoa Học xã Hội) dày 1392 trang Những cuốn từ điển nêu

trên đã giúp đỡ rất nhiều cho học viên trong suốt quá trình khảo sát đề tài và thực hiện

luận văn

Tóm lại, đây là một đề tài còn khá mới mẻ, còn có nhiều phương diện để

nghiên cứu, khảo sát

4 Hướng tiếp cận để thực hiện đề tài

Đây là đề tài khảo sát việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên các báo, nên

phạm vi đề tài tập trung vào các báo với các mục được chọn là Tin tức, Trớ trêu và

Thiên hạ đồn, Truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962; Tin tức, Tai

vách mạch rừng và Thiên hạ đồn, Truyện ngắn trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971;

Tin tức, Chuyện thường ngày, Truyện ngắn trên nhật báo Tuổi Trẻ 2006 Phạm vi của

đối tượng khảo sát là từ ngữ địa phương Nam bộ (có phân loại, so sánh và đối chiếu

với phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt toàn dân)

Công việc khảo sát tiến hành qua nhiều giai đoạn:

Trước hết, trên các số báo của từng tờ báo ghi ra tất cả những câu có chứa từ

địa phương Nam bộ, có phân biệt tên gọi từng cột hoặc từng mục (vi dụ: Tin tức,

Truyện ngắn,v.v )

Bước thứ hai, dựa vào từ điển để xác định từ địa phương Nam bộ, có tham

khảo với những người thuộc các địa phương khác (như Bắc bộ, Trung bộ) nhằm loại

trừ trường hợp nhầm lẫn do pha trộn ngôn ngữ

Bước thứ ba, trên tư liệu chọn ra những từ địa phương Nam bộ xếp thứ tự

Alphabet theo từng ngày, từng cột trên từng tờ báo Ví dụ:

Tiếng Dội Miền Nam

Tin tức

Ngày 1/1/1962

A…………

B…………

Trang 8

Bước thứ tư, xếp từ địa phương Nam bộ riêng ra từng cột cho 30 ngày của

từng tờ báo (xếp theo thứ tự Alphabet có ghi tần số sử dụng)

Tiếng Dội Miền Nam 1962

STT Từ địa phương Nam bộ Tần sốsử dụng

Tin tức Trớ trêu và Thiên hạ đồn Truyện ngắn

Sau đó là phân loại từ địa phương Nam bộ (so với phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt

toàn dân) gộp chung cả ba tờ báo, trong 30 ngày

5 Phương pháp nghiên cứu

Có ba phương pháp nghiên cứu trong ngôn ngữ học so sánh Mỗi phương pháp

được sử dụng tùy theo mục đích và căn cứ so sánh

Theo IU.V ROZDEXTVENXKI (Những bài giảng Ngôn ngữ học đại cương, Đỗ Việt

Hùng dịch):

Phương pháp đối chiếu được sử dụng khi mục đích so sánh là làm sáng tỏ sự

giống nhau và khác nhau trong quan hệ với tiếp xúc văn hóa (căn cứ so sánh phụ

thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể)

Phương pháp so sánh loại hình được sử dụng khi mục đích nghiên cứu là làm

sáng tỏ các nguyên tắc kết hợp ý nghĩa và chất liệu lời nói trong hình thái ngôn ngữ,

căn cứ so sánh là các ngôn ngữ - tiêu chuẩn (dùng cho các nghiên cứu khác nhau về

loại hình)

Phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng khi mục đích so sánh là làm sáng

tỏ nguồn gốc ngôn ngữ, nguồn gốc các đơn vị của nó, và quan hệ qua lại với các ngôn

ngữ khác nguồn gốc từ một ngôn ngữ cơ sở chung; căn cứ so sánh là hệ hống thuật

ngữ phân tích và tái hiện

Trang 9

Ngôn ngữ học cũng mượn thêm các phương pháp riêng của các ngành khoa

học khác

Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng rộng rãi, khám phá ra tương

quan về số lượng trong việc hiện thực hóa hệ thống ngôn ngữ

Sự vay mượn các phương pháp khoa học tự nhiên được bắt đầu trong thời kỳ

phát minh vĩ đại về địa lý, khi địa lý bắt đầu miêu tả các dân tộc ở các nước khác nhau

và các ngôn ngữ mà các dân tộc đó sử dụng [96; 224] Phương pháp vẽ bản đồ

phương ngữ vạch ra ranh giới giữa các phương ngữ trên một lãnh thổ xác định

Sử dụng các dụng cụ theo dõi lời nói, nghiên cứu các tính chất vật lý của các

âm lời nói là phương pháp mượn của khoa học tự nhiên

Phương pháp trắc nghiệm tâm lý (mượn của tâm lý học) làm sáng rõ đặc tính nhận

thức được của các đơn vị ngôn ngữ, ví dụ các âm lời nói Có thể nghiên cứu tính đồng

nhất của các âm, cách đánh giá ý nghĩa và sự tri nhận ý nghĩa của từ, vai trò của ngữ

pháp trong việc hiểu văn bản, v.v… [96; 226]

Trong các ngành khoa học xã hội, ngôn ngữ học sử dụng rộng rãi các cứ liệu

của ngành lịch sử để phân tích văn bản Nhờ có các cứ liệu lịch sử, ngôn ngữ học xác

định được ý nghĩa của nhiều từ, cụm từ

Mục đích của luận văn này là so sánh việc sử dụng từ địa phương Nam bộ trên

các nhật báo theo dòng lịch đại, nên phương pháp chủ yếu được sử dụng ở đây là

phương pháp so sánh đối chiếu, có thống kê và phân loại, mô hình hóa từng phần So

sánh ở đây là so sánh số lượng và tần số sử dụng, so sánh đặc điểm sử dụng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn khảo sát việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên ba tờ nhật báo ở ba

chế độ chính trị khác nhau để nhận ra bản sắc của Nam bộ, cũng như quá trình thay

đổi, phát triển của phương ngữ Nam bộ thể hiện qua báo chí Đây cũng là nhiệm vụ

của phương ngữ học nói chung, phương ngữ học tiếng Việt nói riêng

Ý nghĩa khoa học của đề tài là khảo sát này thực hiện nhiệm vụ đó

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là phục vụ thiết thực cho việc sử dụng ngôn ngữ trên báo

chí, cũng như góp phần vào việc giảng dạy và học tập từ địa phương Nam bộ (giảng

dạy văn học Nam bộ mà không nắm vững từ địa phương Nam bộ thì sẽ đưa tới phân

tích sai lệch)

Trong "Lời đầu sách" cuốn Từ điển đối chiếu Từ địa phương, có đoạn viết:

"Cứ liệu tiếng địa phương và các kết quả nghiên cứu về phương ngữ có giá trị to lớn

đối với việc tìm hiểu lịch sử phát triển một ngôn ngữ, đặc biệt là trên bình diện ngữ

âm, chữ viết và từ vựng - ngữ nghĩa Cứ liệu về tiếng địa phương trong nhiều trường

hợp cũng rất bổ ích đối với việc tìm hiểu quan hệ cội nguồn giữa các ngôn ngữ của

các dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ (và đôi khi giữa các ngôn ngữ được sử

dụng bởi các cộng đồng tộc người trên các lãnh thổ khác nhau) - Cảm hứng trực tiếp

và thường xuyên hơn cả là nghiên cứu phương ngữ trong mục đích giải quyết các vấn

đề đồng đại của sử dụng ngôn ngữ, như xác định chuẩn phát âm (hay chính âm),

chuẩn chính tả, chuẩn từ vựng cho ngôn ngữ toàn dân, phục vụ thiết thực cho việc dạy

phát âm, tập đọc, chính tả trong nhà trường và việc sử dụng ngôn ngữ trên các phương

tiện thông tin đại chúng, như: phát thanh, truyền hình, báo chí, điện ảnh, sân khấu -

Nguyên tắc chung trong việc nghiên cứu và sử dụng tiếng địa phương cho các lĩnh

vực kể trên là thực hiện tính thống nhất trong đa dạng nhằm bảo đảm sự ổn định

tương đối của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con

người đồng thời mở ra sự phát triển bình thường, ngày một phong phú, ngày một tinh

tế của nó" [54; 4]

7 Kết cấu của luận văn

Trang 10

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm có các chương sau đây:

Chương một: Một số vần đề cơ sở

Chương hai: Phân loại từ ngữ Nam bộ

Chương ba: So sánh việc sử dụng từ ngữ Nam bộ trên các báo

Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục các từ ngữ Nam bộ trong các báo được

khảo sát

Trang 11

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ

1.1 Đất phương Nam - Người phương Nam

1.1.1 Đất Phương Nam

Trong khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII, ở Đông Nam Á có hàng chục

tiểu quốc xuất hiện Trong số đó nổi bật lên Vương quốc Phù Nam với văn hóa Ấn

Độ, với tôn giáo là đạo Phật và đạo Bà La Môn Nhiều nhà nghiên cứu sử học cho biết

chủ nhân của Vương quốc này là cư dân gốc Đông Nam Á, nói tiếng Nam Đảo Về vị

trí địa lý của Phù Nam, có nhiều giả thuyết khác nhau Có người cho rằng lãnh thổ của

Phù Nam trải dài khắp đồng bằng Nam Bộ, lên đến Lâm Đồng, Khánh Hòa bây giờ

Theo sử nhà Lương: "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn

ở phía Tây biển, nước cách Nhật Nam chừng 7000 lý, và cách Lâm Ấp (tức Champa)

hơn 3000 lý về phía Tây Nam; Đô thành cách biển 500 lý Một con sông lớn từ Tây

Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển, nước rộng hơn 300 lý, đất thấp và bằng phẳng,

khí hậu và phong tục đại để giống Lâm Ấp [75;28] Theo giáo sư Lương Ninh: "Lãnh

thổ thuộc quyền cai quản của nước Phù Nam, phía Nam giáp Vịnh Thái Lan, phía Bắc

có lẽ giới hạn bởi sông Mun (chảy qua Ubon, Thái Lan), phía đông giáp biển Đông và

phía Tây có lẽ bao gồm hạ lưu sông Mê Nam và một phần Bắc bán đảo Mã Lai" [40 :

224]

Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI, Phù Nam đã có nền văn minh rực rỡ và

một lực lượng hàng hải lớn, nền thương nghiệp mạnh, quan hệ với nhiều nước Trong

Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh có bộ sưu tập hiện vật Phù Nam; phần lớn

được tìm thấy ở Óc Eo, thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Có thể kể những sản

phẩm gốm làm từ bàn xoay, những vật dụng, nhạc cụ bằng đồng, những đồ trang sức

bằng đá quý, bằng vàng tinh xảo [3; 7]

Phù Nam khủng hoảng vào thế kỷ thứ VI, và bị Chân Lạp (ở lưu vực Sêmun) thôn

tính vào thế kỷ thứ VII Từ đó Chân Lạp gồm hai miền: Lục Chân Lạp ở phía Bắc có

nhiều núi đồi, Thủy Chân Lạp ở phía Nam có biển và đầm lầy

1.1.2 Người phương Nam

Người Việt vào miền Nam từ lúc nào sử sách không ghi rõ Vì họ không phải

là những đạo quân chinh phục, mà họ chỉ là những nông dân nghèo khốn khổ, những

tù tội bị lưu đày, những người trốn tránh sưu thuế, những tay lang bạt kỳ hồ,vv… Khi

những người Việt đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ, thì đồng bằng Nam Bộ bấy giờ hãy

còn là những cánh rừng hoang với đủ loài dã thú, bệnh tật và hiểm nguy, lác đác vài

sóc người Miên sống trên các giồng đất cao Với lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết,

người Việt dùng những công cụ thô sơ (con dao, cái cuốc,…) biến rừng hoang thành

ruộng lúa

Năm 1698, khi lưu dân đã khá đông, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất

Nguyễn Hữu Cảnh vào tổ chức bộ máy chính quyền ở Gia Định

Từ khi có chủ trương khuyến khích khai hoang, lập ấp thì làn sóng Nam tiến

của người Việt càng mạnh hơn

Lớp người tiên phong trong công cuộc mở đất chính là cơ sở, là hạt nhân đầu

tiên hình thành và phát triển tính cách, năng lực của cư dân Nam Bộ sau này [46; 55]

Họ là những người có cá tính mạnh mẽ, dám phiêu lưu mạo hiểm và khao

khát tự do, không cam chịu bị trói buộc bởi những xiềng xích phong kiến

Khi đã được cải tạo, thiên nhiên Nam Bộ là vùng đất lý tưởng đối với cư dân

nông nghiệp nhiệt đới: miền Đông có vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng cây

công nghiệp; miền Tây có vùng đồng bằng sông Cửu Long mầu mỡ, một thời được

Trang 12

mệnh danh là vựa lúa của cả vùng Đông Nam Á; và hệ thống sông rạch chằng chịt

cung cấp nguồn thủy sản dồi dào Thời tiết khí hậu Nam Bộ lại rất hiền hòa Bên cạnh

đó cơ chế pháp luật của Triều đình bấy giờ hãy còn khá rộng rãi (thuế khóa không

nặng nề, chính sách ruộng đất cởi mở,…); Tất cả những yếu tố đó tạo nên tính cách

con người Nam Bộ: phóng khoáng, hồn nhiên, thật thà và dễ dãi

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tinh thần đấu tranh bất khuất với

khả năng chịu đựng và vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của người Nam Bộ càng thể

1.2.1.1 Khái niệm phương ngữ

Khái niệm phương ngữ được hiểu là phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội

Phương ngữ địa lý là tiếng nói của cư dân ở một miền nhất định trong một

nước

Phương ngữ xã hội là tiếng nói được sử dụng cho một giới xã hội phân biệt

theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, vị thế xã hội, tôn giáo, …

Phương ngữ địa lý hình thành do cư dân các vùng không có điều kiện tiếp xúc

thường xuyên với nhau tạo nên sự biến dạng tiếng nói

Sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan đến thuộc tính xã hội của người giao

tiếp Nó cho biết người giao tiếp thuộc tầng lớp xã hội nào

Phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội đều là các biến thể của ngôn ngữ toàn dân

Tiếng Việt có bốn phương ngữ: Phương ngữ Bắc Bộ (từ Thanh Hóa trở ra); Phương

ngữ Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên);

Phương ngữ Nam Trung Bộ (từ Quảng Nam-Đà Nẵng đến Thuận Hải); Phương ngữ

Nam Bộ (từ Đồng Nai-Sông Bé đến Mũi Cà Mau)

1.2.1.2 Phương ngữ và các khái niệm khác

1.2.1.2.1 Phương ngữ và các ngôn ngữ thân thuộc

Các ngôn ngữ thân thuộc không phải là phương ngữ Các ngôn ngữ thân thuộc

là những ngôn ngữ có cùng cội nguồn, có mã chung; nhưng mỗi ngôn ngữ đó cũng có

mã riêng cho mình Ví dụ: các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức có cùng một cội nguồn là

tiếng Ấn Âu, chúng có mã chung, chúng đều là các ngôn ngữ biến tố; nhưng mỗi thứ

tiếng cũng có mã riêng Chúng là các ngôn ngữ riêng biệt chứ không phải là các

phương ngữ khác nhau của cùng một ngôn ngữ Trái lại, các phương ngữ của một

ngôn ngữ không có mã riêng biệt; do vậy người ta có thể không hiểu nhau khi nghe

nói, nhưng vẫn hiểu nhau khi viết

1.2.1.2.2 Phương ngữ và thổ ngữ

Thổ ngữ là phương ngữ đã bị thoái hóa, các từ ngữ của nó chỉ còn hạn chế

trong những vùng nhỏ hẹp, xa xôi, hẻo lánh, dân cư ít Nguyên nhân của thổ ngữ là

dân cư các vùng này sống khép kín nên không có được những biến đổi ngôn ngữ theo

nhịp tiến xã hội như các vùng xung quanh Tuy nhiên, thổ ngữ vẫn mang sắc thái

chung của phương ngữ

1.2.1.2.3 Biệt ngữ và tiếng lóng

Biệt ngữ là những từ ngữ được một nhóm người có chung một đặc điểm nào

đó sử dụng (như thầy mo, thầy cúng, thợ mỏ, học sinh, sinh viên,…) Có nhiều lý do

khiến người ta dùng biệt ngữ

Ví dụ: Để tăng phần linh thiêng, nhà thờ dùng thêm tiếng La tinh; Nhà chùa

dùng chữ Phạn trong các bài thuyết pháp; thầy mo, thầy cúng niệm bùa chú trong các

lễ "đuổi tà"

Trang 13

Biệt ngữ cũng là những từ ngữ chỉ những khái niệm chuyên môn khi chưa có

những thuật ngữ khoa học tương ứng

Biệt ngữ là những từ ngữ khá xa lạ so với chung quanh

Tiếng lóng là loại biệt ngữ xuất hiện ở những nhóm người có hoạt động và lợi

ích chung cần giữ bí mật, nên thường dùng từ ngữ thông thường nhưng qui ước theo

nghĩa khác hoặc là cách nói trại âm đi

Ví dụ:

+ Cớm: mật thám + Cây gậy: một điểm

+ Ngỗng: hai điểm + Thổi: ăn cắp + Bắt mồi: tìm hàng + Khâu: nhẫn vàng…

Tiếng lóng thường xuất hiện nhiều ở giới trộm cắp, ở những tổ chức làm ăn

bất chính, nên có quan niệm cho rằng "Nói tới tiếng lóng người ta thường nghĩ tới loại

ngôn ngữ không trong sáng" [81; 28]

Cũng có quan niệm cho rằng mỗi tầng lớp xã hội có một số từ ngữ riêng của

mình, đó là tiếng lóng Có tiếng lóng của bọn ăn trộm, ăn cắp, có tiếng lóng của lái

buôn, có tiếng lóng của học sinh, sinh viên… Nhưng ngôn ngữ không có tính giai cấp,

nghĩa là không có hệ thống ngữ âm, ngữ pháp riêng cho từng giai cấp

Tiếng lóng chiếm một bộ phận rất nhỏ trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ

Trong các tác phẩm văn chương, tiếng lóng mang sắc thái tu từ khắc họa tính cách

nhân vật, tạo sức biểu cảm mạnh mẽ cho các tình huống

Biệt ngữ và tiếng lóng được xếp vào phương ngữ xã hội

1.2.2 Phương ngữ học

Phương ngữ học là khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề thuộc phương

ngữ như các quy luật hình thành, phát triển, biến đổi của các phương ngữ; hệ thống

cấu trúc và đặc điểm của các phương ngữ, mối quan hệ giữa các phương ngữ và giữa

phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân trong tiến trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ

dân tộc

Phương ngữ học thực sự phát triển từ đầu thế kỷ XIX Những tên tuổi liên

quan tới sự phát triển của ngành phương ngữ học là: Jost Winteler (1846 - 1926); J

Baudouin de Courtenay (1845 - 1929); G Wenker (1852 - 1911); J Gilliéron (1854 -

1926); G I Ascoli (1829 - 1907)… [81; 16]

1.2.3 Phương ngữ Nam bộ

Phương ngữ Nam bộ là tiếng nói của người dân Nam bộ Phương ngữ Nam bộ

có ranh giới từ Đồng Nai - Sông Bé đến Mũi Cà Mau Nó hình thành khoảng giữa thế

kỷ thứ XVII, lúc ấy đã có chữ viết chính thức của dân tộc (chữ Nôm)

1.2.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của phương ngữ Nam Bộ

Lịch sử nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh phân liệt kéo dài hàng bao thế

kỷ; chiến tranh Nam - Bắc triều (1533 - 1592), Trịnh Nguyễn phân tranh (1600 -

1788) chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa hai miền trong một nước Rồi thực dân Pháp xâm

lược, chia nước ta làm ba kỳ để cai trị (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những thể

chế hành chính và luật lệ khác nhau Năm 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương

lại chia đôi đất nước Những yếu tố lịch sử đó tạo ra nhiều biến dạng trong sinh hoạt

vật chất và tinh thần ở các vùng, miền; biến dạng ngôn ngữ là một trong những biến

dạng đó Nước Việt Nam lại dài và hẹp, chiều dài trên 3.000km với nhiều núi đồi ở

miền Trung và miền Bắc, nhiều sông ngòi, kinh rạch, lạch xẽo ở miền Nam; lại thêm

ngày trước phương tiện giao thông ở nước ta còn nhiều khó khăn, tâm lý người Việt

lại không thích xa lũy tre làng:

Trang 14

Quan không phiền dân lắm,

Dân chẳng muốn đi xa

(Cao Bá Quát)

Vì thế sự giao lưu giữa các vùng bị hạn chế Đó cũng là nguyên nhân hình

thành các phương ngữ nói chung và phương ngữ Nam Bộ nói riêng

Quá trình hình thành và phát triển của phương ngữ Nam Bộ cũng là quá trình tiếp xúc

ngôn ngữ của nhiều tiếng địa phương khác nhau từ các nơi miền ngoài mang vào, với

ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng đất này như người Hoa (chủ yếu là

người Triều Châu và Quảng Đông), người Khmer và người Chăm

Do vậy, trong phương ngữ Nam Bộ có nhiều từ mượn có nguồn gốc từ Triều

Châu, Quảng Đông, Khmer và Chăm, như:

+ Tàu xọn = chè đậu xanh lột vỏ nấu với đường (Triều Châu - Quảng Đông)

+ Ên = một mình (Khmer) + Cà rá = nhẫn đeo tay (Chăm) v.v…

Sau hòa ước Patenotre 1884, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; sống dưới chế độ

thuộc địa kéo dài gần 100 năm, vốn từ của phương ngữ Nam Bộ lại được bổ sung

bằng nhiều từ ngữ của Pháp như:

+ Mông xừ (Monsieur): ông

+ Moa (Moi): tôi + Toa (Toi): anh + Rua (Bonjour): chào + Cúp, hớt (Couper): hớt tóc

+ Lon (galon): phù hiệu để định chức vụ quân nhân

+ Đốc tơ (Docteur) = bác sĩ

+ Bắc (bac) = phà + Bắc on (bac un) = tú tài I + Bắc đơ (bac deux) = tú tài II v.v…

1.2.3.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam bộ

1.2.3.2.1 Đặc điểm ngữ âm

Cách phát âm của tiếng Nam bộ nhẹ nhàng, các động tác phát âm không căng

thẳng như cách phát âm của các phương ngữ ở phía Bắc

Trang 15

+ Ròm -> Rồm

+ Cơm -> Côm

+ Hợp, họp -> Hộp

- Không phân biệt: OA - HOA - QUA

Ngày nay người Nam bộ có thể phát âm phân biệt OA - HOA - QUA; hoặc

phát âm đúng "V", nhưng về mặt tâm lý họ coi đó là cách nói "làm điệu"

- Tiếng Nam bộ cũng không phân biệt các âm cuối:

N - NG; T - C (Trừ OT - OC); và IT - ICH

+ Màn trời chiếu đất -> "Màng" trời chiếu đất

+ Cát đá -> "Các" đá

+ Thịt heo ->"Thịch" heo

Cách phát âm các âm cuối N - NG; T - C (Trừ OT - OC); và IT - ICH là nét

khác biệt tiêu biểu giữa tiếng Bắc và tiếng Nam Nét khác biệt tiêu biểu nữa là về

thanh điệu

- Về thanh điệu, người Nam Bộ chỉ phát âm được có năm dấu: ngang, huyền, hỏi, sắc,

nặng

Phần trình bày trên đây chỉ là về phương diện phát âm, chữ viết vẫn viết theo

tiếng Việt chuẩn

Nhìn chung, Nam bộ là một vùng đồng bằng rộng lớn, môi trường thiên nhiên

phong phú và đa dạng, hệ thống giao thông thủy bộ thông suốt, việc giao lưu mở rộng,

đó là những yếu tố góp phần tạo cho tiếng Nam bộ tính thống nhất cao về mặt ngữ

âm Chỉ có một ít khác biệt ở một số vùng thuộc miền Đông Nam Bộ và miền Tây

Nam Bộ Ở một số vùng miền Đông, các vần ÊM - ẾP phát âm thành IM - ÍP (cơm

nếp -> cơm níp; đêm -> đim); hoặc âm TH thành KH (Tấm thảm -> Tấm khảm,

v.v…) Ở miền Tây, âm R được phát âm thành G (cái rổ -> cái gổ); âm TR phát âm

thành T (ở trong -> ở tong) Do vậy, ở Nam bộ nghe giọng nói khó mà phân biệt

người thuộc tỉnh nào; chỉ biết đó là người Nam bộ

Ở Nam bộ cũng ít có thổ ngữ Theo giáo sư Hồ Lê: "Ở vùng Nam bộ thổ ngữ

hầu như vắng bóng, ngoại trừ khả năng có thể có lẻ tẻ không bao nhiêu thổ ngữ trên

một số hòn đảo nhỏ hoặc trên một số vùng xa xôi hẻo lánh nào đó tại Đồng Nai, Sông

Bé" [81; 8]

1.2.3.2.2 Trên bình diện từ ngữ

Bên cạnh những lớp từ cổ của tiếng Việt còn giữ lại, những từ vay mượn, từ

biến âm., Nam Bộ còn có một bộ phận từ ngữ góp phần làm giàu kho tàng ngôn ngữ

tiếng Việt

Đó là tên các loại cây: mắm, đước, tràm, dừa nước, bình bát v.v… (cây rừng);

sầu riêng, măng cụt, chôm chôm v.v… (cây trồng)

Đó là vô số từ ngữ có liên quan đến sông nước:

+ Về tên gọi các dòng nước: sông, rạch, lạch, xẽo, kinh, mương, rãnh,

ao, bàu, đầm, đìa, lung, láng.v.v…

"Rạch" là đường nước tự nhiên, nhỏ, từ các làng mạc chảy ra sông

"Lạch" là dòng nước chảy tự nhiên, có thể nhỏ hoặc lớn

"Xẽo" là lạch nhỏ (nhỏ hơn rạch), là dòng chảy tự nhiên

"Kinh" là từ biến âm của "Kênh", đây là công trình dẫn nước do người đào để

phục vụ thủy lợi, giao thông

"Mương" cũng có được do đào vét, xáng xúc để làm phương tiện giao thông

hay dẫn nước vào ruộng vườn

"Ao, bàu, đầm, đìa, lung, láng…" là những chỗ nước tù: Ao, bàu, đìa được đào

để giữ nước nuôi cá hay trồng rau; lung, láng, đầm là những chỗ trũng ngập nước tự

nhiên

Trang 16

+ Về sự chuyển động của dòng nước: nước lớn, nước ròng, nước giựt, nươc

nhửng, nước ương, nước đứng, nước nổi, nước quay, nước nhảy, nước bò, nước lên,

nước xuống, nước chạy, nước ngập, nước rông, nước lụt v.v…

"Nước lớn" là nước lên mỗi ngày

"Nước ròng" là nước xuống mỗi ngày Có nhiều loại ròng: ròng sát (con nước ròng sát

đáy sông), ròng cạn, ròng rặt (nước cạn hết chỉ còn một đường nước nhỏ ở giữa lòng

sông), ròng kiệt (còn nói là ròng rặt)

"Nước giựt" là nước lúc bắt đầu rút xuống

"Nước nhửng" là nước dừng lại không chảy vào hoặc chảy ra (còn nói là nước đứng)

"Nước ương" là nước ở tình trạng lềnh bềnh, chảy vào rạch một ít rồi ngừng chảy,

không lớn thêm nữa mà cũng không ròng hết đi

"Nước nổi" là nước dâng lên ngập đồng ruộng trong nhiều ngày khiến mọi vật đều

trôi, nổi

"Nước quay" là nước chuyển sang chế độ thủy triều khác, từ con nước lớn ròng

chuyển sang chảy có một chiều, chuyển sang màu khác, đục hơn do mưa hoặc do

thượng nguồn đổ xuống đập vỗ vào hai bên bờ

"Nước nhảy" là nước dâng lên nhanh có phần bất ngờ (con nước này có vào khoảng

ngày mười bảy của tháng, hoặc vào rằm tháng bảy của năm)

"Nước bò" là nước bắt đầu len lỏi lên bờ

"Nước lên" là nước thủy triều dâng (tính theo năm), nước dâng theo con nước hàng

năm (thường là tháng chín, tháng mười)

"Nước xuống" là nước thủy triều hạ (tính theo năm), nước hạ theo con nước hàng năm

(thường là tháng mười một, tháng chạp)

"Nước chạy" là con nước chảy trong tháng khiến tôm cá phải di chuyển (chạy), làm

cho việc đóng đáy, đặt nò thu được nhiều thủy sản

"Nước rông" còn nói là nước rong, là nước thủy triều dâng cao hơn mọi con nước

khác trong tháng hoặc trong năm, nước có thể tràn bờ, ngập một số nơi mà các con

nước lớn khác không ngập

"Nước ngập" là nước lên theo mùa trong năm vào khoảng tháng sáu âm lịch cho đến

tháng mười, nước mỗi ngày mỗi dâng lên, phủ ngập từ từ cả một diện tích rộng lớn và

duy trì trong một thời gian dài

"Nước lụt" là mùa nước lên cao hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng

tháng chín âm lịch, kéo dài trên ba tháng

+ Về phương tiện di chuyển trên sông nước: bắc, ghe, xuồng, tam bản, trẹt

Ghe có ghe bầu, ghe be, ghe chài, ghe cui, ghe cửa …; Xuồng có xuồng ba lá, xuồng

tiều, xuồng câu…

Ghe thường có mui; xuồng thì không có mui, mũi thường nhọn Ghe, tam bản,

xuồng được dùng để chở khách, hàng hóa

Trẹt có hình chữ nhật, nông đáy, đầu và đuôi bằng; đây là loại phương tiện di

chuyển trên kênh, rạch nhỏ, ít sóng; thường được dùng để chở lúa, máy công cu, hay

chở khách qua lại hai bên bờ kênh, rạch

"Bắc"(tiếng Pháp: bac) dùng chuyên chở người và xe cộ qua sông, đây là phương tiện

hiện đại, to lớn

+ Về sự vận động của con người trên sông nước: có các động tác chèo, bơi,

lội

Riêng từ "chèo"cũng có nhiều động tác như:

"Cạy" là dùng mái chèo xoay ghe sang bên trái

"Bát" là dùng mái chèo xoay ghe sang bên phải

"Chèo bán" là chèo bỏ mái chèo xuống và vặn nghiêng nửa mái để điều chỉnh hướng

đi

Trang 17

"Chèo mái cuốc" là chèo bổ mái chèo nhiều lần và nhanh khi ghe, xuồng đi ngược

nước hoặc ngược gió

"Chèo mái dài" là chèo một cách thong thả, bằng cách đẩy mái chèo dài ngược ra sau

hết cỡ, để tận dụng sức đẩy khi xuôi nước, xuôi gió

"Chèo mái một" là chèo bổ mái chèo xuống và dở mái chèo lên từng động tác dứt

khoát

"Bơi" theo tiếng Nam bộ là bơi xuồng, bơi ghe, bơi thuyền (thuyền bơi trên sông, cá

nhảy đắm thuyền)

Còn "lội" của tiếng Nam bộ đồng nghĩa với "bơi" của tiếng Bắc Bộ hay tiếng

Việt toàn dân; là cả chân tay cùng vận động để thân thể di chuyển trên nước

+ Về các loại hải sản: cá bông, cá chẻm, cá chốt, cá he, cá kèo, cá khoai, cá

linh, cá ngác Riêng loài tôm cũng có nhiều loại: Tôm bạc, tôm càng, tôm châm, tôm

chấu, tôm chì, tôm chông, tôm chục, tôm cỏ, tôm đất, tôm gậy, tôm gọng, tôm hùm,

tôm kẹt, tôm lóng, tôm lứa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rồng, tôm sắc, tôm sú, tôm thẻ,

tôm tích, tôm tu, tôm vang v.v… [65; 22]

Ngoài ra còn có những từ chỉ tên gọi các vùng đất: gồm những vùng đất nổi

cao như cù lao, cồn; và những vùng đất dài, thấp như bãi, bưng, biền, trấp v.v…

"Cù lao" và "cồn" là phần đất nhô lên ở giữa sông hay dọc theo sông, do phù sa sông

bồi đắp, cù lao thường lớn hơn cồn

"Bưng" là vùng đất trong vùng sâu ngập nước; có nhiều cói, lác, cây hoang dại…

"Biền" là khoảng đất nhỏ, thấp ở ven sông rạch; thường bị ngập khi nước triều lên

"Trấp" là vùng đất thấp, đọng nước, có nhiều cỏ dại, dây hoang bám thành giề nổi dày

trên mặt nước

"Bãi" cũng là những khoảng đất dài ven sông rạch, có nhiều dừa nước, bần hay trâm

bầu, v.v…

Một đặc trưng nữa của phương ngữ Nam bộ là nó còn có một lượng lớn từ ngữ

mượn danh khỉ dù trong tình huống sử dụng chẳng có gì liên quan tới khỉ; ví dụ: khỉ

cùi, khỉ đột, khỉ gió, khỉ họ, khỉ khọn, khỉ khọt, khỉ khô, khỉ mốc, khỉ ăn gừng, khỉ ăn

ớt, cầu khỉ, v.v…

Điều này cho thấy mảnh đất Phương Nam xưa kia là nơi "khỉ ho cò gáy",

những người đi mở cõi từng sống chung với khỉ, nên không lạ gì khỉ, do vậy mà trong

cách nói năng thường ngày hay mượn danh khỉ, và dấu ấn này truyền mãi cho tới

ngày nay

"Khỉ cùi" còn nói là "khỉ khô", có ba nghĩa:

+ Phét (khỉ cùi! Nó mà thi đậu à?)

+ Cái quái, quái (gặp mấy cái khỉ cùi đó xui muốn chết)

+ Không ra gì (đồ cái khỉ cùi này tao không cần)

"Khỉ dộc" còn nói "khỉ cùi", "khỉ khô"; có nghĩa là phét, quái, của khỉ (Khỉ dộc! Nó

mà có cái khỉ dộc gì)

"Khỉ đột" là con khỉ đực đầu đàn, thường to lớn và già hơn các con khác Đây là tiếng

dùng để mắng

"Khỉ gió" có nghĩa là khỉ, của khỉ (Khỉ gió! Đừng nói nữa)

"Khỉ họ" có nghĩa là phét, không phải thế (Khỉ họ! Đừng có chối nha bồ)

"Khỉ khọn" còn nói là "khỉ khọt"; có nghĩa là liến thoắng, liến khỉ, hay đùa ngịch

"Khỉ khô" nghĩa là cóc khô (Tết này chẳng có khỉ khô gì cả)

"Khỉ mốc": từ dùng để phủ định, phản đối, không đồng ý (mượn tiền hả… con khỉ

Trang 18

"Khỉ ăn ớt": chỉ gương mặt có nước mắt, nước mũi chảy tèm lem

"Cầu khỉ" là chiếc cầu gồm có hai trụ cầu bằng hai cây bắt chéo rất cao, và được gác

bằng ba thanh tre không cột dây để ghe xuồng qua lại có thể giở lên được: thanh lên

được gác từ bờ tới trụ cầu, thanh ngang được gác từ trụ cầu này sang trụ cầu nọ, thanh

xuống được gác từ cầu tới bờ, cầu thường có tay vịn thấp cho con nít có thể vịn, cầu

rất khó đi vì thanh cầu nhỏ và không được cột cẩn thận nên gọi là cầu khỉ

Trong bài thơ "Cây bần", Bùi Hữu Nghĩa có nhắc tới cò và khỉ:

Quyến luyến bầy cò theo sập sận,

Chiều quy đàn khỉ tới dần lân

Tóm lại, một phương ngữ hay ngôn ngữ phát triển chủ yếu ở vốn từ ngữ của

nó; vốn từ ngữ càng dồi dào, phong phú thì sức biểu hiện của phương ngữ hay ngôn

ngữ càng mạnh mẽ Phương ngữ Nam Bộ cũng không ngoài qui luật đó

1.2.3.2.3 Phong cách diễn đạt: Về phong cách, phương ngữ Nam Bộ có những

đặc điểm sau:

a Tính cụ thể Để định danh một sự vật, người Nam Bộ thường lấy cái cụ thể

mà nói Ví dụ:

+ Đường nước tự nhiên nhỏ và dài như con lươn được gọi là "con lươn"

+ Chỗ gặp nhau của hai dòng nước từ hai nơi đổ đến có tên là: "giáp nước",

v.v…

+ Thuyền mũi cao: Ghe mỏ vạch, v.v…

+ Ngã tư Bảy Hiền: được đặt tên như vậy vì gần ngã tư đó có quán phở của

ông Bảy Hiền

+ Một chất có dạng bột dùng để nêm thức ăn cho ngọt gọi là: "bột ngọt"

Tính cụ thể không làm mờ đi tính trừu tượng của nó, ví dụ để nói tới một sự việc mà

người ta cố ý bỏ qua, không muốn xét xử, phương ngữ Nam Bộ có từ "chìm xuồng"

Tính cụ thể trong phương ngữ Nam Bộ phản ánh hiệu quả tri giác của con người đối

với hiện thực khách quan [65; 23]

b Tính cường điệu và khuyếch đại là một sắc thái đặc thù của phương ngữ

Nam bộ bên cạnh tính cụ thể

Ví dụ: tức cành hông, rầu thúi ruột, say quắc cần câu, nghèo mạt rệp, vv…

Cường điệu, khuyếch đại trong phương ngữ Nam Bộ cũng là một biện pháp tu từ; nó

toát lên tính chất phác, mộc mạc của người Nam Bộ; và không thiếu tính khôi hài, dí

dỏm (người không có râu cũng vẫn bị "đói queo râu")

Tính cường điệu và khuếch đại thể hiện phổ biến trong ca dao, dân ca Nam

Bộ: "Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình, Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao

huỳnh vội xếp vi"

(dân ca)

c Phương ngữ Nam Bộ còn có nhiều thán từ và ngữ khí từ: Chèn ơi, chèn đét

ơi; Mèn ơi, mèn đét ơi; nghen; hén; á, v.v… biểu hiện sắc thái tình cảm riêng của

người Nam bộ

d Với tính bình dân, giản dị, mộc mạc, người Nam bộ giàu hay nghèo, sang

hay hèn đều có cách nói giống nhau; văn chương trên giấy cũng không khác lối nói

hàng ngày:

Trực rằng đã đến nỗi này,

Tiểu đồng bậu hãy làm khuây giải phiền

Nói rồi quày quả ra đi,

Vân Tiên xem thấy càng nghi trong lòng

Đương khi mưa gió luông tuồng,

Người buồn lại gặp kiểng buồn khá thương

(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)

Trang 19

Trong việc tỏ tình, người con trai Nam bộ cũng rất mộc mạc, mộc mạc đến

ngộ nghĩnh:

Con ếch ngồi dưới gốc bừng,

Nó kêu cái quệt biểu ưng cho rồi

(ca dao) Khác hẳn cách tỏ tình của những chàng trai Bắc bộ, rào trước đón sau, bóng

gió, bóng bẩy:

Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà

Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

Áo anh sứt chỉ đã lâu,

Nay mượn cô ấy vào khâu cho cùng

Khâu rồi anh sẽ trả công,

Đến lúc lấy chồng anh lại giúp cho

Giúp em một thúng xôi vò,

Một con lợn béo, một vò rượu tăm

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

(Ca dao)

Có những cách nói của người Nam bộ làm nổi bật cái đặc thù của phương ngữ:

- Để xưng gọi

+ Người Nam bộ có thói quen thường gọi theo thứ trong gia đình; ví dụ: Cô

Tám - hoặc dùng ngôi thứ kết hợp với tên hay biệt danh

Ví dụ: Ba Cụt, Năm Lửa, Tư Ca Răng; Bà Hai Lá; anh Tư An, Út Tịch.v.v…

+ Những từ xưng gọi trong họ hàng như: cậu, mợ, dì, dượng, chú, thím, cô,

bác cũng được sử dụng cả trong làng xóm, láng giềng

+ Dùng thanh hỏi để biến âm từ thứ nhất, hiện tượng này gọi là giản lược âm:

Trong phương ngữ Nam Bộ:

+ Với người lớn, cao nhất chỉ gọi "ông" hoặc "bà"

+ Với con, cháu dù lớn tuổi hoặc có địa vị cao trong xã hội; ông bà, cha mẹ

vẫn gọi "con" hoặc "thằng"

- Nói lái cũng là một nét độc đáo của phương ngữ Nam Bộ, hiện tượng này

quen thuộc trong diễn đạt, nhận thức của người Nam Bộ, nó tạo ra sự hài hước Ví dụ:

"Lì một lam" có nghĩa là bắn một loạt đạn; nhưng nghĩa lái lại là "làm một ly", "uống

một ly",v.v…

Trang 20

Tuy nhiên, nhiều trường hợp nói lái đưa tới hiện tượng "thiếu nghiêm

túc",v.v…ví dụ: "Trà Thái Đức" nói lái là:"Trà thức đái", v.v…

1.3 Từ địa phương Nam Bộ và các báo khảo sát

Luận văn này khảo sát việc sử dụng từ địa phương Nam Bộ trên các báo Tiếng

Dội Miền Nam 1962, và Đuốc Nhà Nam 1971 (có so sánh với nhật báo Tuổi Trẻ

2006) Vậy thế nào là từ địa phương, thế nào là từ địa phương Nam Bộ, và tình hình

các báo khảo sát

1.3.1 Từ địa phương và từ địa phương Nam bộ

Trong các công trình nghiên cứu về phương ngữ, mỗi tác giả đưa ra một định

nghĩa về từ địa phương:

Theo Nguyễn Thiện Giáp: "Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở

một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn

ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của

ngôn ngữ văn học".[62; 114]

Tuy nhiên, các định nghĩa đều thống nhất ở điểm:

"Từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày ở một địa phương

nhất định, khác với ngôn ngữ toàn dân hoặc địa phương khác về mặt ngữ âm cũng

như ngữ nghĩa"

Có nhiều từ địa phương trước kia là từ toàn dân, nhưng vì một lý do nào đó,

dần dần trở thành từ địa phương Chẳng hạn từ "trốc" xưa kia là tiếng toàn dân, nhưng

từ khi từ "đầu" (mượn của tiếng Hán) được sử dụng phổ biến, thì "trốc" trở thành từ

địa phương (phương ngữ Trung bộ) Mặt khác, nhờ sự giao lưu rộng rãi, một số từ địa

phương được sử dụng rộng khắp và trở thành từ toàn dân Ví dụ: sầu riêng, bánh xèo,

vv… là từ địa phương Nam bộ, nay đã trở thành từ toàn dân

Từ địa phương Nam bộ là lớp từ vựng được người Nam Bộ sử dụng mọi lúc

mọi nơi Nó có sự khác biệt về ngữ âm cũng như ngữ nghĩa so với ngôn ngữ toàn dân

và các phương ngữ khác Ra đời chưa được bao lâu, nhiều từ địa phương Nam Bộ đã

được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm văn học Sự kiện này quan trọng bởi vì có

chữ viết tức là có cơ sở để phân biệt cái đúng, cái sai và có cơ hội phổ biến rộng rãi ra

bên ngoài

Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, v.v đã

dùng khá nhiều từ địa phương Nam Bộ trong các tác phẩm của mình:

Lá xanh tơ liễu nhành thưa thớt,

Bông bạc dường mai, nhụy sượng sần

Quyến luyến bầy cò theo sập sận,

Chiều quy đàn khỉ tới dần lân

(Bùi Hữu Nghĩa - Cây bần)

Từ địa phương Nam Bộ thể hiện sắc thái của phương ngữ Nam Bộ

1.3.2 Các báo khảo sát

1.3.2.1 Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962

Chủ báo, chủ nhiệm, chủ bút của tờ báo này là ông Trần Tấn Quốc Tháng

5/1961, tờ báo Tiếng dội Miền Nam được phép xuất bản Số báo đầu tiên ra ngày

7/6/1961 tại Sài Gòn, và phát hành liên tục đến số 749 (17/11/1963) Tờ báo đặt trụ sở

tại số 216 đường Gia Long, Sài Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng, Quận I, thành phố

Hồ Chí Minh)

Tiếng Dội Miền Nam là tờ nhật báo thông tin nghị luận; khổ báo 43cm x

59cm, phát hành vào các ngày: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ

nhật Riêng ngày chủ nhật và thứ hai chỉ ra một số đặc biệt có thêm bốn trang phụ

trương với khổ 30,05cm x 43,4cm (tháng 1/1962) Sang tháng 2 năm 1962, số đặc biệt

ra vào ngày thứ bảy và chủ nhật

Trang 21

- Nội dung tờ báo:

+ Trang thứ nhất: là trang thời sự gồm: tin tức, phóng sự, bình luận, vv…

+ Trang thứ hai: là trang văn học nghệ thuật, thể thao, quảng cáo và linh tinh gồm:

tiểu thuyết, thơ, sân khấu kịch trường, tân nhạc, điện ảnh và thể thao

+ Trang thứ ba: là trang văn học gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, hộp thơ sắc đẹp,

quảng cáo và linh tinh,v.v…

+ Trang thứ tư: đăng những phần tiếp theo của các bài nơi trang 1, 2 và 3; quảng cáo

Thỉnh thoảng thêm mục Thiên hạ đồn và Diễn đàn chung

Tờ phụ trương đặc biệt có:

+ Trang 1 gồm các mục: Ít người biết chuyện này, Allo, thơ, chuyện bằng tranh

+ Trang 2: văn học, lịch sử, câu đố, ô số, có ý gẫm

+ Trang 3: giải trí và xây dựng, thơ, phần tiếp theo của những bài ở trương 1 và 2

+ Trang 4: sân khấu (bằng tranh)

- Đường lối của tờ báo: Chủ trương của chủ báo Trần Tấn Quốc là "… sử dụng ngòi

bút để… quyết làm cho điều phải nó thắng điều quấy,…" [77; 224]

Ban biên tập tờ báo gồm: Trần Tấn Quốc; Văn Hoàn; Ngọa Long; Tế Xuyên; Thiệu

Võ; Ngọc Hồ; Thanh Đạm; Vân Lương; Đào Văn Thọ; Nàng Oanh; Hoài Ngọc; Lê

Tấn; Phan Khanh; Thiện Mộc Lan

Tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời ngày càng có đông độc giả ủng hộ, xuất bản liên tục

đến khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1/11/1963), tờ báo này còn tồn tại thêm

mười bảy ngày nữa

Ngày 18/11/1963, "Tiếng Dội Miền Nam" của Trần Tấn Quốc đổi tên là "Dân Quyền"

và tồn tại đến ngày 02/07/1965

- Các số báo khảo sát:

1.3.2.2 Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971

Là tờ báo sau cùng của Trần Tấn Quốc; ông vừa là chủ báo, vừa là chủ bút Ông Nam

Đình Nguyễn Thế Phương giữ vai trò cố vấn cho ban biên tập

Số đầu tiên ra ngày 09 tháng 10 năm 1968

Trụ sở tờ báo đặt tại số 4, đường Nguyễn Văn Thinh, Sài Gòn; sau ngày giải phóng

(30/04/1975) đường này đổi tên mới là Mạc Thị Bưởi

Tờ "Đuốc Nhà Nam" của Trần Tấn Quốc (1968-1972) không phải là tờ "Đuốc Nhà

Nam" do ông Nguyễn Phan Long (một nhà báo lớn ở Nam Kỳ) sáng lập (1928-1937)

Chủ trương của tờ báo là thực hiện phương châm: Toàn Việt, Hưng Việt, Bảo Việt

Đây là tờ báo có đông đảo độc giả mến chuộng

Những bài xã thuyết, nhận định của Đuốc Nhà Nam do Trần Tấn Quốc hoặc Nam

Đình viết đã thẳng thắn phê phán những sai lầm về mặt kinh tế, tài chánh của chế độ

Nguyễn Văn Thiệu một cách quyết liệt [77; 235]

Tờ nhật báo có khổ là 42,05cm x 58cm, phát hành vào các ngày thứ hai, thứ ba, thứ

tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật Riêng ngày chủ nhật và thứ hai ra chung

một số đặc biệt

Mỗi số báo gồm sáu trang, số đặc biệt cũng vậy

Trang thứ nhất là trang thời sự: gồm tin tức, phóng sự, bình luận, xã thuyết, v.v…

Trang thứ hai: là trang lịch sử và văn học, có thêm quảng cáo, đố vui và linh tinh

Trang thứ ba có các mục: nguyện vọng nhân dân, tin tức, phóng sự, thể thao, đô vật,

tai vách mạch rừng và xổ số

Trang thứ tư: chương trình ti vi, từ sân khấu đến cuộc đời, chuyện vui, quảng cáo, hộp

thơ Đuốc Nhà Nam, tin tức (tiếp theo trang 3)

Trang thứ năm: là trang văn học (khảo luận, thuật bình, tiểu thuyết) và lịch sử

Trang thứ sáu: Thiên hạ đồn, tin tức, quảng cáo; đô vật; xổ số và những phần tiếp theo

của các bài ở trang thứ nhất

Trang 22

Ban biên tập của nhật báo Đuốc Nhà Nam (1968-1972) qui tụ nhiều cây bút tên tuổi

thời ấy: Trần Tấn Quốc, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Ngọa Long, Việt Lang

Quân, Phương Khanh, Nguyên Hồ, Việt Sinh, Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Tử Quang,

Nhất Tâm, Phạm Tử Anh, Thanh Hải, Ngọc Đỉnh, Tiến Lợi, Hoàng Phương Nam,

Trần Lang, Lan Đình Khánh, Hoàng Phương Nam, H Công Minh, Minh Chiếu

Tờ Đuốc Nhà Nam đang mạnh tiến trên đường ngôn luận, thì ngày 04/09/1972 tự ý

đình bản theo điều 02 của sắc luật 007/TT/SLU do Nguyễn Văn Thiệu ban hành ngày

04/08/1972 "Sau ba mươi ngày SL 007 ban hành và có hiệu lực, tức ngày 03/09/1972

là thời hạn chót, báo nào đang xuất bản mà không hội đủ điều kiện luật định trong đó

có điều kiện mỗi nhựt báo phải ký quỹ Hai mươi triệu đồng tại Tổng nha Ngân khố sẽ

bị coi như tự ý đình bản"

Sau đây là các báo được khảo sát:

1.3.2.3 Nhật báo Tuổi Trẻ (2006)

Trong thời gian khảo sát tờ báo này thì Tổng biên tập là ông Lê Hoàng

Tòa soạn - Trị sự đặt tại số 60A Hoàng Văn Thụ, phường 9, Quận Phú Nhuận, Thành

Phố Hồ Chí Minh

Khổ báo: 29cm x 40,5cm

Tờ báo gồm các trang: Thời sự / Pháp luật, Nhà nước và công dân / Khoa học quanh

ta / Văn hóa, nghệ thuật, Giải trí / Tình yêu, hôn nhân, gia đình / Kinh tế / Giáo dục /

Thể thao/ Thế giới hôm nay, v.v… và nhiều trang quảng cáo, linh tinh

Tuổi Trẻ là một tờ báo thuộc cấp địa phương có số phát hành tương đối cao nhất ở

Việt Nam, 335.000 ấn bản một ngày (số liệu thu nhập vào tháng 4-2004) [79; 230]

Báo Tuổi Trẻ là tiếng nói của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trong thông báo ngày 21/06/1986, Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã

nhận định: "Về phía báo chí thành phố, chủ yếu là báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Tuổi

Trẻ và Đài phát thanh, Đài truyền hình, đã có những cố gắng vượt bực, đổi mới phong

cách hoạt động, dồn nhiều công sức để có thể thực hiện tốt chức năng của mình là

tiếng nói của Đảng, đoàn thể, đồng thời là tiếng nói của quần chúng nhân dân" [79;

233]

Nhìn chung, hiện nay Tuổi Trẻ là một nhật báo được đông đảo quần chúng mến

chuộng Sau đây là các số báo khảo sát:

Các mục khảo sát:

Việc khảo sát được thực hiện trên các mục:

Tin tức: Viết theo thể loại văn báo chí về tin tức, khảo sát việc sử dụng phương ngữ

trên tất cả các tin trong và ngoài nước

+ Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962: Tin tức chủ yếu đăng nơi trang 1 và

trang 4

+ Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971: Tin tức chủ yếu đăng nơi trang 1, 3, 4 và 6

+ Nhật báo Tuổi Trẻ 2006: Tin tức chủ yếu ở các trang thời sự và trang "Thế

giới hôm nay"

Truyện ngắn: Thuộc phần văn học nghệ thuật

+ Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962: Truyện ngắn đăng nơi trang 3, mỗi truyện

ngắn ký tên một tác giả, bài gởi do Tòa soạn chọn và trả tiền nhuận bút

+ Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971: Truyện ngắn nằm trong mục: "Tuổi Hồng"

nơi trang 2 do Minh Trí phụ trách, mỗi truyện ký tên một tác giả

+ Nhật báo Tuổi Trẻ 2006: Truyện ngắn đăng nơi trang Văn hóa - Nghệ thuật -

Giải trí; mỗi truyện ký tên một tác giả

Trớ trêu, Thiên hạ đồn, Tai vách mạch rừng, Chuyện thường ngày: Viết theo thể loại

châm biếm

Trang 23

+ Trớ trêu: đăng nơi trang 1, trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962, thường

ký tên N.O hoặc Ngọa Long

+ Thiên hạ đồn: thường đăng nơi trang 4 trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam

1962; và trang 6 trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971, không ký tên tác giả

+ Tai vách mạch rừng: đăng nơi trang 3 trên nhật báo Đuốc Nhà Nam; do

Trần Tấn Quốc tên thật là Trần Chí Thành, sinh ngày 25 tháng 09 năm 1914 (Giáp

Dần) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc thị xã Cao Lãnh, tỉnh

Đồng Tháp) Thân phụ là cụ Trần Tấn Hưng, một đông y sĩ nổi tiếng, từng tham gia

vào các phong trào yêu nước của các nhà cách mạng ở Cao Lãnh như: Lưu Quang

Bật, Phạm Nhơn Thuần, Lê Văn Mỹ, Lê Chánh Đáng, Lê Văn Sao… Cụ Trần Tấn

Hưng sinh năm 1884, và qua đời tại Cao Lãnh ngày 07 tháng 10 năm 1960, hưởng thọ

76 tuổi Thân mẫu Trần Tấn Quốc là bà Lê Thị Lư, cũng sanh năm 1884 và mất tại

Cao Lãnh ngày 01 tháng 12 năm 1975, hưởng thọ 91 tuổi

Trần Tấn Quốc là con thứ tư trong số mười chị em (người Nam bộ gọi là thứ năm)

Thuở nhỏ ngoài việc học ở nhà trường, ông còn được gia đình cho học thêm chữ Hán

Năm 1930, Trần Tấn Quốc đậu bằng sơ học (về sau đổi tên là bằng tiểu học: Certificat

d'Études Primaires)

Lúc bấy giờ cả thế giới tư bản giẩy chết trong khủng hoảng kinh tế do sản xuất thừa

(1929 - 1933); Đảng cộng sản Việt Nam thành lập đầu năm 1930 kịp thời lãnh đạo

phong trào cách mạng tiến lên những bước mới (đến tháng 10 năm 1930 đổi tên là

Đảng cộng sản Đông Dương, để đáp ứng yêu cầu của cả ba dân tộc trên bán đảo Đông

Dương lúc đó đoàn kết lại dưới ngọn cờ lãnh đạo tập trung thống nhất, để chống kẻ

thù chung là đế quốc Pháp)

Từ tháng 5 năm 1930, Trần Chí Thành tham gia vào các phong trào nổi dậy chống

Pháp của nhân dân tại Cao Lãnh và Sa Đéc, bắt đầu là cuộc biểu tình lớn nhất tại Cao

Lãnh ngày 03 tháng 05 năm 1930 Tháng 8 năm 1930, ông bị bắt tại xã Mỹ Trà (Cao

Lãnh), sau đó bị kêu án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo, nhưng cuối cùng ông được giảm

án một năm (1930 - 1934)

Ngay từ năm học lớp nhì, lớp nhứt (nay là lớp bốn, lớp năm), Trần Tấn Quốc đã có

ước vọng muốn làm báo, ông xem ông Diệp Văn Kỳ (1895-1945), một nhà báo lớn

nổi tiếng thời ấy, như một thần tượng

Ông Diệp Văn Kỳ sinh năm 1895 tại Huế, thân phụ là cụ Diệp Văn Cương, một ông

quan thanh liêm Thân mẫu là em gái vua Thành Thái

Nhờ sự giúp đỡ của gia đình vợ, ông Kỳ sang Pháp du học đổ cử nhân luật và cử nhân

văn chương Về nước một thời gian, ông Kỳ sang tờ Đông Pháp thời báo của ông

Nguyễn Kim Đính xuất bản mỗi tuần 3 lần Ít lâu sau, ông ra tờ nhật báo Thần Chung

chủ trương bênh vực nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, nên được độc giả ủng

hộ ngày càng đông Cũng vì thế mà nhà cầm quyền Pháp để ý theo dõi, và ngày

24/03/1930 tờ Thần Chung bị đóng cửa Ông Diệp Văn Kỳ là nhà báo dám viết báo

công khai bênh vực ông Nguyễn An Ninh khi ông Ninh vì hoạt động chính trị mà bị

tội tù Tờ Thần Chung bị đóng cửa nhưng ông Kỳ vẫn tiếp tục viết báo phê phán mạnh

mẽ chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp

Tháng 9/1945, ông Diệp Văn Kỳ qua đời tại Trảng Bàng-Tây Ninh, hưởng thọ 50

tuổi

Trang 24

Người bạn tù gắn bó với Trần Chí Thành ba năm tại Côn Đảo (1932 - 1934) là ông

Nguyễn Văn Nguyễn (1910 - 1953) Ông Nguyễn với bút hiệu Ngũ Yến đã nổi tiếng

trên các báo: La tutte, L'Avant - Garde, Dân Quyền,v.v…[77; 120] Ông Nguyễn là

người đã hướng dẫn Chí Thành vào con đường làm báo

Sau khi ở Côn Đảo về một thời gian, Trần Tấn Quốc từ giã gia đình lên Sài Gòn kiếm

sống, ông vẫn ôm mộng làm báo Tác phẩm đầu tay của Trần Tấn Quốc là thiên

phóng sự "Những hoạt động và mánh lới của bọn móc túi Sài Gòn" Bài này viết năm

1936, và được nhật báo Việt Nam (chủ nhiệm là ông Nguyễn Phan Long) trả nhuận

bút hai mươi đồng Sau đó, Trần Tấn Quốc được nhựt báo này thu vào làm phóng

viên với số lương ba chục đồng một tháng Kể từ đây (tháng 6-1936), Trần Tấn Quốc

chánh thức gia nhập đội ngũ báo chí Sài Gòn [77; 103]; năm ấy ông 22 tuổi, đúng vào

thời gian phong trào Đông Dương Đại hội bùng nổ mạnh mẽ

Hai người thầy đầu tiên dạy Trần Tấn Quốc làm báo là ông Nguyễn Phan Long (chủ

nhiệm báo Việt Nam), và ông Đào Trinh Nhất (chủ bút báo Việt Nam)

Năm 1938, Trần Tấn Quốc cộng tác với tờ nhựt báo do ông Nguyễn Bảo Toàn làm

chủ

Năm 1939, cộng tác với tờ Công Luận và sau đó là tờ Truyền Tin (cả hai đều do

Giang Văn Chánh làm chủ)

Từ năm 1940 - 1945 viết cho tờ Điển Tín của ông Lê Trung Cang, đây là thời kỳ

chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), tình hình chính trị Viễn đông nói chung

và Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề

Từ tháng giêng năm 1946, Trần Tấn Quốc được tờ Tin Điển của cô Anna Lê Trung

Cang mời làm chủ bút Sau đó ông làm chủ bút cho nhiều nhật báo như Tin Mới của

Anna Lê Trung Cang, Dư Luận của Nguyễn Phan Long, Việt Thanh của Nguyễn Phan

Long, Le Temps của Trần Văn Lễ

Từ năm 1946 - 1949, Trần Tấn Quốc viết nhiều bài báo đả kích mạnh mẽ chánh sách

phân ly (Nam kỳ tự trị) do âm mưu "chia cắt đất nước ta" của Đô đốc Cao Ủy Pháp

Thierry D'Argenlieu

Từ tháng 6 đến tháng 12-1949, Trần Tấn Quốc được ông Võ Thành Cứ nhường cho

khai thác tờ Việt Nam (tờ Việt Nam này hoàn toàn khác với tờ Việt Nam của ông

Nguyễn Phan Long)

Đầu năm 1950, ông Phan Văn Thiết nhường tờ Tiếng Dội cho Trần Tấn Quốc làm chủ

nhiệm Trần Tấn Quốc liền mở một trang kịch trường ở tờ báo này (1950), mục đích

thúc đẩy sự tiến triển của ngành sân khấu cải lương Tháng 11 năm 1954, tờ Tiếng

Dội bị rút giấy phép

Phóng sự "Ba tháng khói lửa đô thành" viết về thời kỳ Ngô Đình Diệm đánh Bình

Xuyên (1955), đăng trên báo Tiếng Dội Miền Nam, là tác phẩm ưng ý nhất của Trần

Tấn Quốc

Từ đầu năm 1955 đến tháng 5 năm 1956, ông Ngô Công Minh giao cho Trần Tấn

Quốc điều khiển tờ Lẽ Sống

Tháng 7 năm 1956, ông Trần Quốc Bửu, chủ nhiệm tờ nhật báo Công Nhân, mời Trần

Tấn Quốc làm chủ bút tờ nhựt báo này Đến tháng 3 năm 1958, Trần Quốc Bửu lấy tờ

Công Nhân lại Bấy giờ, Trần Quốc Bửu là chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao công Việt

Nam (Việt Nam cộng hòa)

Tháng 7 năm 1958, chủ nhiệm báo Buổi Sáng là Tam Mộc (Mai Lan Quế) giao tờ

Buổi Sáng cho ông Quốc điều khiển Cuối tháng 2 năm 1961 Trần Tấn Quốc giao trả

Buổi Sáng lại cho ông Tam Mộc và về Cao Lãnh

Cũng năm 1958, Trần Tấn Quốc thành lập "giải Thanh Tâm" với mục đích khuyến

khích các nghệ sĩ trẻ ngành sân khấu Hai năm đầu, ông Quốc đài thọ mọi khoản chi

cho giải Nữ nghệ sĩ Thanh Nga là người đầu tiên lãnh huy chương vàng giải Thanh

Trang 25

Tâm năm 1958 tại nhà hàng Bồng Lai Sài Gòn đêm 04-04-1959 Trong 10 năm hoạt

động, giải Thanh Tâm tạo được nhiều uy tín; nhưng đến năm 1968, do tình hình chiến

sự khốc liệt, giải Thanh Tâm phải ngưng hoạt động

Từ ngày 07/06/1961, Trần Tấn Quốc là chủ báo nhật báo Tiếng Dội Miền Nam Đến

ngày 18/11/1963 tờ "Tiếng Dội Miền Nam" đổi tên là "Dân Quyền" và tồn tại tới ngày

02/07/1965

Yêu ngành sân khấu cải lương, Trần Tấn Quốc còn mở ra "cuộc thi thơ sân khấu" trên

nhật báo Tiếng Dội Miền Nam nơi trang hai Yêu cầu của cuộc thi này là mỗi câu thơ

của bài thi đều phải ghép một hay hai tựa tuồng ca kịch, ví dụ như:

Anh như sóng lạnh trùng dương,

Mà em có một tình thương chưa về…

09/01/1962

Đường về mấy dặm sơn khê,

Thuyền ra cửa biển ê chề xót xa…

13/02/1962

Tựa như tiếng hú đồi ma,

Cuốc kêu tìm bạn xa xa não nề…

17 & 18/02/1962

(Những cụm từ in nghiêng là tên của các tựa tuồng ca kịch)

Bài thi được chọn là hay nhất sẽ được thưởng một quà kỷ niệm đáng giá trên ngàn

đồng, có khắc chữ "báo Tiếng Dội tặng"

Tờ báo sau cùng của Trần Tấn Quốc là nhật báo Đuốc Nhà Nam (09/10/1968 -

04/09/1972)

Sau khi nhật báo "Đuốc Nhà Nam" tự ý đình bản theo điều 02 của sắc luật

007-TT/SLU, Trần Tấn Quốc tiếp tục viết cho các tờ Điện Tín của Hồng Sơn Đông, Tia

Sáng của Nguyễn Trung Thành

Trần Tấn Quốc làm báo dưới bảy chế độ chính trị:

Chê độ Ngô Đình Diệm,

Chế độ Nguyễn Văn Thiệu

Ông sử dụng mười hai bút hiệu:

Mỗi bút hiệu dùng để ký những loại bài khác nhau, chẳng hạn bút hiệu Trần Tấn

Quốc ký những bài xã thuyết, nhận định; bút hiệu Thanh Tâm, Chàng Ba, Nghệ Sĩ

Trang 26

Mù, Cô Hạnh ký những bài viết về ca kịch; bút hiệu Anh Thành ký những bài về sưu

tầm lịch sử như "Nam kỳ quốc" Ông để lại một số tác phẩm như:

- Sài Gòn September 1945 (kể lại tình hình chính trị quân sự tại Sài Gòn khi quân

Anh dưới danh nghĩa Đồng Minh đến giải giới quân Nhật, hổ trợ quân Pháp tái chiếm

Sài Gòn)

- Nam Bộ kháng chiến (chưa xuất bản)

- Cô gái Côn Đảo (vạch trần chế độ tù đày ác nghiệt, dã man của thực dân Pháp; tác

phẩm này đăng trên nhật báo Buổi Sáng năm 1959)

- Kỷ niệm làm báo 1936 - 1975 (chưa xuất bản)

- Phóng sự "Ba tháng khói lửa đô thành" viết về thời kỳ Ngô Đình Diệm đánh Bình

Xuyên (1955), đăng trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam

Tháng 11/1975 Trần Tấn Quốc hồi hương về Cao Lãnh sống chuỗi ngày đạm bạc

Theo tài liệu "Trần Tấn Quốc - Bốn mươi năm làm báo" Thiện Mộc Lan có kể lại

rằng khi chuẩn bị hồi hương, Trần Tấn Quốc có bán ngôi nhà ở hẻm Vệ Năng, đường

Phan Văn Trị, Gia Định để về quê sinh sống Nhưng số tiền này chỉ giúp cha con ông

sống đến năm 1984, vì sau khi miền Nam được giải phóng, nhà cửa chỉ bán được với

giá rẻ mạt Để giải quyết cuộc sống tiếp theo, tháng 8/1985 Trần Tấn Quốc lại bán

ngôi nhà bên bờ sông Đình Trung (xã Mỹ Trà, Cao Lãnh) do ông xây cho song thân

từ năm 1959, rồi hai cha con về ở nhờ nhà người em ruột của ông là cô Sáu Mạo Sau

một thời gian, năm 1986, Trần Tấn Quốc cất một ngôi nhà lá bên bờ sông Đình

Trung, đây là ngôi nhà cuối cùng của ông Cuối tháng 12/1986, tiền bán nhà lại hết

sạch, Trần Tấn Quốc không còn gì để bán nữa…

Đến ngày 28/04/1987 ông qua đời tại quê nhà, trong ngôi nhà lá ở bờ sông Đình

Trung, hưởng thọ 73 tuổi

Có thể kết luận cuộc đời thăng trầm của Trần Tấn Quốc bằng hai câu thơ sau đây

không?

Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt,

Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu

(Vũ Hoàng Chương)

Trang 27

CHƯƠNG HAI PHÂN LOẠI TỪ NGỮ NAM BỘ

Từ ngữ Nam bộ sử dụng trên các báo Tiếng Dội Miền Nam 1962, Đuốc Nhà

Nam 1971 và Tuổi Trẻ 2006 trong phạm vi các mục khảo sát có thể phân thành bốn

loại (dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng

Việt toàn dân, hay phương ngữ Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ):

Là những từ địa phương có sự đối lập về mặt ý nghĩa với từ địa phương Bắc

bộ hay từ vựng văn học toàn dân, nhưng về mặt ngữ âm thì giống nhau Những từ này

không có quan hệ nguồn gốc gì với nhau

Tất cả có thể được phân thành ba dạng:

2.1.1 Những từ đồng âm ở hai phương ngữ đều thuộc cùng một từ loại:

Từ "bậy bạ" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "sơ sài", "qua loa"

+ Có thể kiếm bậy bạ chừng 100 ghim

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 21&22/02/1971)

"Bậy bạ" trong tiếng Việt toàn dân cũng là tính từ, nhưng có nghĩa "quá sai lầm, xấu

hổ"

Từ "Chệc" (còn viết là chệt) là danh từ, trong phương ngữ Nam bộ là tiếng gọi người

đàn ông Trung Hoa

+ Chệc già xề tới đỡ hắn dậy

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)

Từ "chệc" trong tiếng Việt toàn dân cũng là danh từ, nhưng có nghĩa là "bệnh của loài

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 20/02/1971)

Từ "chọc" trong tiếng Việt toàn dân cũng là động từ, nhưng có nghĩa "đâm vào, thọc,

khều cái gì ở trên cao với cây sào"

Từ "Cỡ" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có nghĩa "độ, chừng, khoảng, ước

chừng", đây là từ biểu thị sự ước đoán, phỏng chừng, từ này có mặt trên cả ba tờ nhật

báo:

+ Tới nay số tồn quỹ còn cỡ 250 triệu

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 13.01.1962) + Nhứt định phải trả cho cậu Hai bằng 50 chiếc xà lan cỡ lớn

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 27.2.1971) + Con cá dứa đang say mồi Chắc nó làm biếng lắm nên há họng thật to, nuốt chửng

cả đống trái mắm mới tạo dòng chảy xoáy mạnh cỡ này

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006) Tiếng Việt toàn dân cũng có từ "cỡ" là danh từ, nhưng với nghĩa là "khuôn khổ"

Ví dụ: cỡ giấy 60 x 84

Từ "đụng" trong phương ngữ Nam bộ là động từ có nghĩa "lấy nhau, gặp phải một

cách bất ngờ, động chạm tới" [31,518]:

Trang 28

+ Thảo nào mà trước đây mỗi khi đụng chuyện, họ làm coi cũng tợn quá

(Thiên hạ đồn, Đuốc Nhà Nam, 18/03/1971)

Trong tiếng Việt toàn dân, "đụng" cũng là động từ, với nghĩa "chạm phải khi chuyển

động" [53, 282]

Từ "hồ" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có hai nghĩa là "bể chứa nước; vôi, vữa

để xây dựng" Từ này được sử dụng trên báo Tiếng Dội Miền Nam với nghĩa thứ nhất

+ … Đặt trên nóc hồ nước

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 17 & 18.02.1962) Trong tiếng Việt toàn dân, "hồ" cũng là danh từ, nhưng với nghĩa "chất keo dán"

Từ "mòi" là từ địa phương Nam bộ, thuộc loại danh từ, có hai nghĩa; nghĩa thứ nhất là

"dấu hiệu, triệu chứng":

+ Coi mòi hết ăn khách

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 13/02/1971) + Coi mòi trong mình thấy khẳm…

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962) Nghĩa thứ hai là "tăm cá" (phần khảo sát không có nghĩa này)

Trong tiếng Việt toàn dân, "mòi" cũng là danh từ; nhưng là tên của một loại cá biển

nhỏ, mình lép, nhiều xương

Từ "vo" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa là "cuộn, xăn, lận cuốn tròn ở

bên ngoài từ dưới lên":

+ Xăn tay áo, vo ống quần

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 9.1.1962) Trong tiếng Việt toàn dân; "vo" cũng là động từ, có hai nghĩa: lấy tay ve tròn (vo viên

thuốc), và xát kỹ cho sạch (vo gạo, vo áo quần)

2.1.2 Những từ đồng âm ở hai phương ngữ khác từ loại:

Từ "bận" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa "mặc":

+ Bận đồng phục

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 21&22/02/1971)

Là danh từ có nghĩa "lần, lượt":

+ Qúi dân biểu nhà ta cũng liền nổi xí mứng hô hào phản đối và bận nầy thề… chết bỏ

thôi Làm thằng dân tuy bị cháy túi chớ cũng là mát ruột phần nào

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 27/02/1971) "Bận" trong tiếng Việt toàn dân hoặc phương ngữ Bắc bộ là tính từ, có nghĩa

"không rảnh"

Từ "khi" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa là "khinh":

+ Nhưng đã lỡ "tuột cừng" ra rồi lại mặc vô người ta khi, nên lỡ bộ cho lỡ

luôn

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23/03/1971) Trong tiếng Việt toàn dân, "khi" là danh từ có nghĩa "hồi, lúc", là phó từ có

nghĩa "khi nào, lúc nào"

Từ địa phương Nam bộ "la" là động từ với nhiều nghĩa:

- Rầy mắng:

+ Thầy đã bao lần la…

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 03/03/1971)

+ Mà có làm thì dì Út cũng không cho, xớ rớ còn bị la

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006)

- Kêu:

+ Anh Tam Lang cứ xoay lưng một cái lấy được banh, Thách từ xa sút một cái, ba la

lên, người la, con cũng la, vui quá má à!

Trang 29

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 01/01/1962)

+ Các ông dân biểu la lửa, la củi,…

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 03/03/1971)

- Gọi:

Đầu gành có con ba ba,

Kẻ kêu con trạnh, người la con rùa

(Ca dao)

- Nói:

+ Chị Hai la hôm nay chỉ không đến được

Phần khảo sát không có hai nghĩa sau:

Trong tiếng Việt toàn dân, "la" là danh từ chỉ các sự vật:

- Nốt la: là tên một nốt nhạc (do, ré, mi, fa, sol, la, si, do)

- Con la: là con lai giữa lừa với ngựa

- Tên một loài dây leo

- "La" còn kết hợp với một yếu tố khác tạo thành từ kép như: La võng, La bàn,

La liệt

Trường hợp là tính từ (tiếng Việt toàn dân), "la" có nghĩa là "thấp, gần mặt

đất" (cành bồng, cành la, bay la: bay sà sà gần mặt đất)

Từ "mà" trong phương ngữ Nam bộ là ngữ khí từ, đặt ở cuối câu để chỉ kết

quả nhất định mà điều đã nói ra hàm ý hiểu ngầm:

+ Để phục vụ cho đúng mức vậy mà!

(Tiếng Dội Miền Nam, Thiên hạ đồn, 09.01.1962)

+ Dân ba xi đế ở xứ nầy kêu là… có phần chẳng cần gì lo mà!

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23.02.1971) + Sao tui thấy cũng… bình thường mà?

(Tuổi Trẻ, Chuyện thường ngày, 27.12.2006)

"Mà" thường được trẻ con phát âm thành "mờ" hay "mừ":

+ Nghề bán cháo phổi mờ!

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 27.02.1971)

"Mà" tương ứng với "mà lại" trong phương ngữ Bắc bộ:

+ Là con của giáo viên mà lại!

Trong tiếng Việt toàn dân "mà" không phải là ngữ khí từ nhưng thuộc nhiều

loại từ với những nghĩa khác nhau:

Trường hợp "mà" là phó từ, thì nó có nghĩa là "nhưng, để":

+ Giàu mà không có đức

"Mà" còn được dùng liền sau với chủ từ để đặt câu điều kiện:

+ Nó mà thi đậu thì gia đình nó sẽ mừng lắm

"Mà" là giới từ, nó sẽ là tiếng nối hai vế câu

+ Tôi đã hoàn tất điều mà anh yêu cầu hôm nọ

Nếu "mà" là động từ thì nghĩa của nó là "dùng ảo thuật để che mắt mọi

người": bị mà

Tiếng Việt toàn dân còn có từ "mà" là danh từ, đó là "lỗ nhỏ ở đồng có nước

đục, có cá cua ở": mà cá, mà lươn

2.1.3 Một trong hai từ đồng âm hoặc cả hai từ đồng âm là từ đa nghĩa, mỗi

nghĩa thuộc một từ loại khác nhau, và một hoặc một số các từ loại trên hai từ đồng âm

có thể giống nhau hoặc khác nhau:

Từ "bét" trong phương ngữ Nam bộ là động từ có nghĩa là "mở toang ra":

+ Mở bét cửa ra cho mọi người vào xem

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 23/03/1971)

Trang 30

Là động từ, nó cũng có nghĩa "lẩn tránh, lãng ra, bàn ra"

Là tính từ, nó có nghĩa "lèm nhèm vì bệnh chảy nước ghèn, chót"

Trong phần khảo sát không có những nghĩa sau này

Trong tiếng Việt toàn dân, "bét" là tính từ với nghĩa "nát nhừ, hư hỏng", là danh từ

"bét" tức là "loại bọ ký sinh bám ở da thú vật, nhất là ở lỗ tai" (bét chó) [91, 91]

Từ "bơ" trong phương ngữ Nam bộ là động từ; có nghĩa là "bê, bưng":

+ …nuốt dần miếng nước bọt xuống cổ họng và thọt tay bơ ly rượu để tống hạ

nó luôn

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 9.1.1962)

Là tính từ, "bơ" có nghĩa "thất vọng hoặc hụt ăn, ngớ, quê" (đòi bánh, má

không cho làm thằng nhỏ bơ); nghĩa này không có sử dụng trong phần khảo sát

Với tiếng Việt toàn dân, "bơ" là danh từ với nghĩa "mỡ, sữa", là tính từ, thì

"bơ" lại có nghĩa là "không biết xấu hổ":

+ Bị mắng xấu hổ nhưng mặt hắn cứ "bơ" ra

Từ "đại" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "bừa, ẩu":

+ … và khách đã đi đại vào nhà tôi hơi đột ngột, …

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 10/02/1971 + … Ông chủ trường dạy lái xe hơi nọ vừa bị cô hồn khám Chí Hòa điểm

danh… muốn cho mình va vào thiên hạ an khang, nên đưa đại người câm và điếc đi

thi bằng lái xe để cán ẩu, đụng bướng người ta cho vui,…

(Tiếng Dội Miền Nam, Trớ trêu, 25/01/1962)

"Đại" trong tiếng Việt toàn dân là từ gốc Hán: là danh từ có nghĩa "đời" (cận

đại); là động từ có nghĩa "thay thế" (đại diện); là tính từ có nghĩa "lớn, to" (đại cường

quốc)

Từ "gắt" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "xiết, dữ dội, kịch liệt":

+ Một thông tín viên khác hỏi gắt…

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 24/01/1962) + … bắn lên rất gắt

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 21&22/02/1971) + … bị truy đuổi quá gắt,

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 05/12/2006) Trong phương ngữ Bắc bộ là động từ, "gắt" có nghĩa "nói nặng tiếng", là tính từ có

nghĩa "không được trơn tru"

Từ "khơi" trong phương ngữ Nam bộ là động từ với nghĩa "khêu":

+ Bao tâm sự được khơi lại

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 06.01.1962)

+ Khơi tìm đâu cho mệt

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 20.02.1971)

+ Khơi dậy tinh thần quật khởi

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 12.12.2006)

Là tính từ , "khơi" có nhiều nghĩa:

- Suông, không cụ thể, không chắc chắn:

+ Còn có bao nhiêu tin tức địa phương thứ nhồi sọ giựt gân khác, từ tỉnh nọ qua tỉnh

kia, mà tưởng người yếu tim, nghe khơi cũng đã ngộp thở

(Tiếng Dội Miền Nam, Trớ trêu, 13.02.1962)

+ Chỉ nói khơi khơi nên đâu còn hoàn đó

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 10/02/1971)

- Sơ sài, qua loa, không đủ bộ: Ăn khơi mấy chén cơm

- Bổng, cao, lơ lửng ở trên: Cái thùng kê khơi trên mặt đất

- Không sát thực tế, quan liêu: Anh khơi rồi, trước khác bây giờ khác

Trang 31

Từ "khơi" với ba nghĩa sau không có trong phần khảo sát

Trong tiếng Việt toàn dân, "khơi" là động từ có nghĩa "khai, đào" (khơi kênh:

đào kinh), nếu là danh từ thì có nghĩa "phần biển ở xa bờ" (ra khơi đánh cá)

Tứ "khứa" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất

là "khúc, đoạn, khoanh":

+ Chẳng hạn khứa cá kho trước kia dầy một phân thì bây giờ còn chừng bằng…

(Tiếng Dội Miền Nam, Thiên hạ đồn, 09/01/1962) Nghĩa thứ hai là "tên ấy, hắn, nó" (phần khảo sát không có nghĩa này)

Là động từ "khứa" có nghĩa là "cứa", là tính từ có nghĩa là "khớ, khá, nhiều,

thiếu gì" (trong phần khảo sát không có nghĩa của động từ và tính từ)

Trong tiếng Việt toàn dân, "khứa" là danh từ có hai nghĩa "nấc nhỏ, khách"

Từ "nhắm" trong phương ngữ Nam bộ:

Là danh từ, nhắm là biến thể ngữ âm của "nắm":

+ Con cá bằng nhắm tay

Từ "nhắm" trong phạm vi khảo sát không mang nghĩa này

Là động từ, nhắm có nghĩa "nhằm vào, để mà":

+ Nhắm vào mục đích siết chặt tình đoàn kết,

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 14&15/01/1962)

+ Nhắm vào các ông bà dân biểu mà lên án quá xá!

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 17/03/1971) + Chỉ nhắm giới doanh thương

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 13/03/1971)

+ Nhắm đến thị trường

(Tuổi Trẻ, Tin tức 17/12/2006)

Hoặc cũng có nghĩa "xem ra, xét ra":

+ Nhắm không thể chạy thoát được

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 20/01/1962)

Trong tiếng Việt toàn dân, "nhắm" là động từ với các nghĩa:

- Khép kín mí mắt: Nhắm khít lại

- Nheo mắt mà nhìn cho ngay: Nhắm bia mà bắn

- Ăn thử, nếm: Nhắm chút đồ chua để uống ruợu

Từ "nhằm" trong phương ngữ Nam bộ có nhiều nghĩa:

Là tính từ có nghĩa "trúng, đúng, phải"

+ Nhằm ngày 26 tháng 1…

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 19/01/1962)

+ …dúi vào miệng em nửa cục kẹo, vài trái chùm ruột,… báo hại nhằm lúc cô kêu trả

lời, em nuốt muốn phát nghẹn

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 10/03/1971)

+ Chạm nhằm một vật gì dưới nước… Tuy vậy không có thủy thủ nào bị thương

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 02/03/1971)

+ Nhằm ngày 22/02/2007…

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 27/12/2006)

+ Từ 2 tháng 3, đến 7 tháng 3 năm 1971; nhằm 6 tháng 2, đến 11 tháng 2 (Tân Hợi)

(Tin tức, Đuốc Nhà Nam, 02/03/1971)

Là động từ, "nhằm" có nghĩa "chịu, ưng ý", diễn tả trạng thái ước muốn, chấp

nhận:

+ Nó nhằm cô em, nó đâu có muốn cô chị

Từ "nhằm" trong phần khảo sát không mang nghĩa này

Điều thú vị là trong tiếng Việt toàn dân, từ "nhằm" ứng với từ "nhắm" trong phương

ngữ Nam bộ (Học nhằm đi làm quan) ở nghĩa "nhằm vào, để mà",…

Trang 32

Một ví dụ nữa là từ "xớ rớ"

Trong phương ngữ Nam bo, "xớ rớ" thuộc nhiều loại từ với nhiều nghĩa:

Là tính từ, nó có nghĩa: láng cháng, lảng vảng, quanh quẩn ở một nơi mà không có

việc gì phải ở đó cả, nên gây cảm giác chật chội, lăng xăng [31, 1379]:

+ Đứng xớ rớ trong giây lát, một tên đến tìm kép Hùng Cường để gây chuyện

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 25.01.1962)

+ Mà có làm thì dì Út cũng không cho, xớ rớ còn bị la

(Tuổi Trẻ 2006, Truyện ngắn, 03.12.2006)

Xớ rớ còn có nghĩa "chẳng mấy chốc, thấm thoắt":

+ Xớ rớ là đến tết rồi

Là động từ, "xớ rớ" ứng với việc "phụ giúp vặt vãnh":

+ Xớ rớ cho cổ (Phụ giúp cho cô ta)

Hai nghĩa sau không có trong phần khảo sát

Trong tiếng Việt toàn dân, "xớ rớ" là tính từ, có nghĩa "tỏ bộ rụt rè, sợ sệt":

+ Đứng xớ rớ ở cửa

2.1.4 Trong phần khảo sát còn gặp một hiện tượng nữa, đó là:

Hai từ cùng đồng âm nhưng có thể nghĩa của từ này bao chứa nghĩa của từ kia

hoặc ngược lại

Ví dụ:

Từ "à" (ngữ khí từ) được dùng để hỏi khi người nói còn hồ nghi nên hỏi để biết rõ

ràng hơn Trong phương ngữ Nam bộ từ "à" tương ứng với "à" và "ạ" trong phương

ngữ Bắc bộ

+ Con đói quá mẹ à

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962) + Ơ … chị nầy hay nhỉ Bộ cứ viết bài thì phải biết mặt người mình gởi à, sao lạ vậy?

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 02/03/1971) + Chị Tám à

(Tuổi Trẻ, Chuyện thường ngày, 04/12/2006) Trong phương ngữ Bắc bộ, từ "à" chỉ được dùng khi người trên nói với người dưới

hoặc những người ngang hàng nói với nhau, trường hợp người dưới hỏi người trên

phải dùng từ "ạ"

Từ "kiếm" (động từ) trong phương ngữ Nam bộ ứng với hai từ "tìm" và "kiếm" trong

phương ngữ Bắc bộ:

a Cố ý kiếm người ấy…

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 7&8/01/1962)

b Ta sẽ kiếm cớ tống cổ con Hồng

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 27/01/1962)

c Khắp Sài Gòn - Chợ Lớn nước ngọt đã biến mất, đố ai vô các tiệm nước

Ba Tàu mà kiếm được một chai

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 13/03/1971)

d Mấy hôm rày bỏ công bỏ sở đi chen lấn, chưa kiếm được lá bùa hộ

mạng

(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 27/02/1971)

e "Kiếm" sự uy thế vượt trên các nước khác…

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 13/12/2006)

f Đi lùng kiếm người Ả rập để trả thù

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 05/01/1962)

Trong câu (a), (c) và (f); từ "kiếm" của phương ngữ Nam bộ ứng với từ "tìm" của

phương ngữ Bắc bộ

Trang 33

Trong các câu (b), (d) và (e); từ "kiếm" của phương ngữ Nam bộ cùng nghĩa với từ

"kiếm" của phương ngữ Bắc bộ

Phương ngữ Bắc bộ phân biệt "tìm" là tìm cái đã tồn tại; còn "kiếm" là chủ động tạo

ra cái mình muốn kiếm, cái chưa hiện hữu

Tương tự, trong khi phương ngữ Nam bộ có từ "nón" chỉ chung nón và mũ, phương

ngữ Bắc bộ chỉ gọi là "nón" khi đó là thứ đội trên đầu kết bằng lá

Như vậy, ở đây phương ngữ Nam bộ chỉ có một yếu tố "nón", còn phương ngữ Bắc bộ

có cả hai yếu tố "nón/mũ":

+ Lấy cái nón cho Ba

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 02/01/1962)

+ Nếu đến nước nầy, thôi thì cũng lạy các cha cả nón

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 25/02/1971) + Anh luôn đội nón Đầu không hói, tóc không dài, không xoăn Vậy cớ gì anh đội

nón?

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 17/12/2006)

Từ "đau" ngoài nghĩa chung là nhức nhối, khó chịu; trong phương ngữ Nam bộ "đau"

còn có nghĩa là "bệnh", tương ứng với từ "ốm" ở phương ngữ Bắc bộ:

+ Con đau mà ba má cứ cãi lộn hoài làm con đau thêm

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 04/01/1962)

+ Thằng Tuấn đau ban

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 21&22/01/1962)

Từ "ly" (danh từ) trong phương ngữ Nam bộ ứng với từ "cốc" (ly lớn) trong phương

ngữ Bắc bộ:

+ Chia sớt nhau từng cái bánh, ly nước

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 10/03/1971)

Từ "ly" (danh từ) trong phương ngữ Bắc bộ là cái cốc nhỏ để uống rượu

Từ "ly" ở phương ngữ Nam bộ có nghĩa chung hơn ở phương ngữ Bắc bộ

Từ xưa tới nay, lớp từ đồng âm khác nghĩa là lớp từ thường được sử dụng trong thuật

chơi chữ

2.2 Những từ khác âm nhưng đồng nghĩa (so với phương ngữ Bắc bộ hay từ

vựng toàn dân):

Là lớp từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm nhưng có nghĩa tương ứng

với từ vựng văn học toàn dân (hay phương ngữ Bắc bộ) Loại này có nhiều dạng:

2.2.1 Dạng thứ nhất gồm nhiều kiểu:

2.2.1.1.Trường hợp hai từ khác âm đồng nghĩa, nhưng một từ ở phương ngữ này có

thể vẫn xuất hiện ở phương ngữ kia Chẳng hạn:

Từ "Ốm" (tính từ) trong phương ngữ Nam bộ đồng nghĩa với từ "gầy" (tính từ)

của phương ngữ Bắc bộ:

+ Con ốm nhiều lắm

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962)

+ Cái quần xì gà màu nâu rộng phùn phình, càng làm cho cặp giò của Hoan ốm thêm

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 20/02/1971)

Tuy nhiên, phương ngữ Nam bộ vẫn sử dụng từ ngữ "ốm o gầy mòn":

+ Ốm o gầy mòn

(Tiếng Dội Miền Nam, 1962)

+ Chim chuyền nhành ớt líu lo,

Sầu ai nông nỗi ốm o gầy mòn

(ca dao)

Từ "chén" (danh tư), là từ địa phương Nam bộ giống nghĩa với từ "bát" trong phương

ngữ Bắc bộ:

Trang 34

+ Nhìn mấy cái chén bể tan nát xà ngầu

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)

Nhưng người Nam bộ vẫn quen thuộc với thành ngữ: "Ăn cháo đá bát"

Từ "chửi" (động từ) là tiếng nói của người Nam bộ, có nghĩa tương ứng với từ

"mắng" của người miền Bắc:

+ Chửi cho mày thục vì hén

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962) + Bà con có không bằng lòng mà chửi bố thằng bạn xấu mồm, cũng mát ruột

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 14&15/02/1971) Nhưng người Nam bộ cũng như Bắc bộ đều không xa lạ với quán ngữ "Chửi

chó mắng mèo"

Từ "ráo" (tính từ) là từ địa phương Nam bộ giống nghĩa với "sạch, nhẵn,

không còn chút gì" (tính từ) trong phương ngữ Bắc bộ:

+ Không được cứu xét gì ráo

(Tiếng Dội Miền Nam , Tin tức, 17/01/1962)

+ Sẽ cho lật tẩy hết ráo

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 25/02/1971)

Nhưng cả hai phương ngữ đều chấp nhận chung thành ngữ: "Cạn tàu ráo

máng"

Phương ngữ Nam bộ có từ "heo" (danh từ) đồng nghĩa với từ "lợn" (danh từ)

của phương ngữ Bắc bộ

+ … cho heo ăn,

(Tiếng Dội Miền Nam , Truyện ngắn, 7&8/01/1962)

+ … liền cho biết: bởi vì năm "con heo" là tiếp tục năm "con chó" chẳng biết Ất, Giáp

thế nào mà vừa ra giêng thì…

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 10/02/1971)

+ Vậy nên bữa nào ông cũng mắc võng nằm trước sân, chờ dì Út thằng nhỏ về ngồi

xắt chuối cho heo, nói chuyện trên vườn, dưới ruộng

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006) Nhưng ở Nam bộ cũng có thứ bánh gọi tên là "bánh da lợn" và ở Bắc bộ người

ta cũng không xa lạ gì với quán ngữ "nói toạc móng heo"

Tiếng Nam bộ dùng từ "dư"và không dùng từ "thừa":

+ Ai nấy đều dư rõ…

(Tiếng Dội Miền Nam , Tin tức, 04/01/1962)

+ … hay cô sang bên tôi mà làm, … mà còn dư tiền nữa

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962)

+ Xứ mình vốn dư cá để làm khô, làm mắm

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng 14&15/02/1971)

+ Bộ thương mại cho biết phía Nhật Bản vừa thông báo tiếp tục phát hiện các lô hàng

tôm và mực Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này có dư lượng chất cấm

Chloramphenicol, gồm công ty…

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 13/12/2006)

Nhưng những từ ngữ "đổ thừa"; "ăn thừa" vẫn được dùng ở Nam bộ

Từ "trái" trong phương ngữ Nam bộ cùng nghĩa với từ "quả" trong phương

ngữ Bắc bộ:

+ …trở lên bờ xoay qua nghề buôn bán trái cây…, rồi sang qua nghề bán hàng vải,

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 7&8/01/1962)

+ ….trái sầu riêng, cụm trưởng ở Gia Long

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 11/03/1971) + … trái đất này…

Trang 35

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 06/03/1971)

+ Trái mắm tự nảy mầm, ra rể, hút lấy phù sa và lớn lên…

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006)

Nhưng cả hai vẫn chung nhau từ ngữ "sao quả tạ":

+ Chà!Thế nầy chắc là khôn tránh khỏi lãnh đủ một…sao quả tạ

(Đuốc Nhà Nam, 1971, Tai vách mạch rừng, 13/02/1971)

Thật là chưa nghe ai nói "sao trái tạ", cũng như chưa nghe ai nói "mặt quả

soan", mà chỉ nghe nói "mặt trái soan" dù là Bắc hay Nam, hay Trung bộ

2.2.1.2 Có những từ trong nghĩa cụ thể thì hai phương ngữ khác âm đồng nghĩa,

nhưng với nghĩa trừu tượng hay nghĩa phái sinh thì chúng giống nhau hoàn toàn:

Từ "bể" (động từ) trong phương ngữ Nam bộ, có nghĩa là "vỡ" (động từ) trong

phương ngữ Bắc bộ:

+ Nhìn mấy cái chén bể tan nát xà ngầu…

(Tiếng Dội Miền Nam , Truyện ngắn, 09/01/1962)

+ Một số khá lớn hư hao, bể hoặc thúi

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 18/02/1971)

+ Như sáng nay nè, thức dậy sớm để nấu cơm, nấu nước trà cho ông điểm tâm về

thành phố, dì cứ lúi ha lúi húi Hình như còn làm bể cái bình tích nữa

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006) Nhưng phương ngữ Nam bộ vẫn dùng từ "vỡ" trong trường hợp ý nghĩa trừu tượng

như: phá vỡ, đổ vỡ…

+ … đã làm hội nghị tứ cường ở cấp tuyệt đỉnh mùa xuân 1960 đổ vỡ khi sắp khai

mạc

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 12/02/1962)

+ Không nhìn nhận hội nghị Tam Hoàng đã đổ vỡ, hoàng thân PHOUMA tuyên bố

chưa tuyệt vọng …

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 02/01/1962)

Từ "dơ' trong phương ngữ Nam bộ đồng nghĩa với từ "bẩn" trong phương ngữ

2.2.1.3 Hai từ khác âm đồng nghĩa, nhưng có một số từ của phương ngữ Nam

bộ có phạm vi sử dụng rộng hơn từ của phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt toàn dân

Ví dụ: Từ qua

Qua thuộc loại động từ, trong phương ngữ Nam bộ có nghĩa là "sang, đến",

chúng có thể thay cho nhau

+ Nội các Lào có thể nhóm hôm nay để quyết định coi Thủ tướng Boun Oum

có nên bay qua Genève… (1)

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 10/01/1962) + Đưa một cô "Ba xi" rồi, còn sẵn sàng đưa thêm một cô "Mạc Tinh" qua tận

Trung Phi cho… Bokassa (2)

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 17/03/1971) + Chuyển qua thanh toán bằng… (3)

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 11/12/2006) Tuy nhiên, thực tế "qua" có phạm vi sử dụng rộng hơn "sang" hay "đến", ví dụ

thứ (3) trên đây không thể thay "qua" bằng "đến"

Hay như:

Trang 36

…………

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng

………

(Nguyễn Bính) Trong câu "ngày qua ngày lại qua ngày" không thể thay "qua" bằng "sang" hay "đến"

được

("Qua" còn là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít, sử dụng khi chồng nói với vợ,

hoặc người lớn tuổi xưng hô với người ít tuổi hơn)

2.2.1.4 Có những từ đồng nghĩa được cả hai miền sử dụng, nhưng mỗi miền sử dụng

theo một tình huống khác nhau:

Từ "hạng" là từ địa phương Nam bộ, được sử dụng trong việc xếp loại trình độ

(thường là trình độ học tập của học sinh):

+ Được xếp hạng 2

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 06/03/1971)

Từ "hạng" ở đây tương ứng với từ "thứ" của phương ngữ Bắc bộ (xếp thứ 6)

Tuy nhiên phương ngữ Nam bộ vẫn sử dụng từ "thứ" với nghĩa là "loại":

+ 754 thứ hàng hóa…

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 23/01/1962) Phương ngữ Bắc bộ chấp nhận từ "hạng" trong trường hợp từ này được dùng

để phân loại sự vật như: có hạng, nhất hạng, ưu hạng, hảo hạng, thượng hạng

2.2.1.5 Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa hoàn toàn

Ví dụ: từ "bộn"

Từ "bộn" của phương ngữ Nam bộ là tính từ, đồng nghĩa với từ "nhiều" của tiếng Việt

toàn dân hay phương ngữ Bắc bộ (cũng là tính từ):

+ Hao tốn "bộn" giấy mực

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 14&15/01/1962)

Từ "lỏn" của phương ngữ Nam bộ là động từ, ứng với tiếng Việt toàn dân hay phương

ngữ Bắc bộ là "lẻn" cũng động từ, có nghĩa là "bí mật, kín đáo không cho ai hay biết"

+ Mướn họa bức hình này

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 11/01/1962)

+ Tôi hỏi dồn: thế hình đâu?

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 03/03/1971)

+ Hình người chiến sĩ

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 27/02/1971)

+ Khi anh đặt nó lại trên bàn, cô thấy tấm hình một ai đó, không rõ, đang mĩm cười…

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 17/12/2006) Nhưng với các thuật ngữ khoa học thì phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ

đều dùng chung "hình" cũng như "ảnh"

Trang 37

Ví dụ: ảnh thực, ảnh ảo, điện ảnh, nhiếp ảnh, bưu ảnh, v.v… hoặc hình học, mô hình,

2.2.2.1 Từ "dưa leo" trong nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962:

+ … Thực khách ăn dưa leo để lâu ngày…

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 24/01/1962)

Đó là từ địa phương Nam bộ (danh từ) ứng với từ địa phương Bắc bộ là "dưa chuột"

(danh từ)

Trường hợp này, người Nam bộ định danh sự vật dựa vào đời sống và tập tính của cây

là "leo", nên gọi trái của nó là "dưa leo" Người miền Bắc dựa theo hình thù của trái

cây mà đặt tên nên gọi là "dưa chuột" (trái của cây giống và kích cỡ như con chuột)

2.2.2.2 Từ "dầu hôi" (danh từ) sử dụng trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và

nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971:

Là từ địa phương Nam bộ khác âm đồng nghĩa với từ "dầu lửa" trong phương

ngữ Bắc bộ:

+ Châm lửa vào tim lò dầu hôi

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 2.3.1971)

Người miền Nam theo mùi vị mà định danh sự vật (dầu hôi)

Người miền Bắc theo công dụng của vật là tạo thành lửa mà gọi tên (dầu lửa)

2 2.2.3 Danh từ "xe đò" trong phương ngữ Nam bộ sử dụng trên ba tờ nhật

báo khảo sát giống như danh từ "xe khách" trong phương ngữ Bắc bộ:

+ Phải theo đường sông ra quận lỵ, mới ngồi xe đò

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 10/01/1962) + Các cô chờ xe đò nhỏ

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 04/03/1971) + Tăng cường hơn 3200 xe đò phục vụ tết

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 29/12/2006)

Người Nam bộ định danh sự vật là xe đò có lẽ là vì miền Nam nhiều sông

nước, chịu ảnh hưởng của các chuyến đò đưa khách sang sông, nên xe chở khách gọi

là "xe đò"; trong khi người miền Bắc định danh sự vật là "xe khách", vì đó là chiếc xe

chở khách Một bên sử dụng phép hoán dụ (xe đò), một bên dựa vào cái cụ thể trước

mắt mà đặt tên (xe khách)

2.2.2.4 Một thí dụ khác, hộp quẹt và bao diêm: "hộp quẹt" (danh từ) là từ địa

phương Nam bộ sử dụng trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971 đồng nghĩa với "bao

diêm"(danh từ) là từ địa phương Bắc bộ:

+ Tịch thâu tại nơi đây một thùng dầu hôi, một hộp quẹt

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 09/03/1971) Người Nam bộ định danh theo cách sử dụng (quẹt), người miền Bắc gọi tên

theo chất liệu (diêm)

2.2.3 Dạng thứ ba:

Là những khác biệt về nguồn gốc

2.2.3.1 Trên các báo khảo sát có những trường hợp từ của phương ngữ Nam bộ là từ

thuần Việt, tương ứng với từ của phương ngữ Bắc bộ là từ mượn

PNNB PNBB TDMN ĐNN T TRẺ

Xe hơi

Vỏ (xe)

Thắng

Trang 38

2.2.3.2 Hoặc có khi từ của phương ngữ Nam bộ là từ vay mượn, đồng nghĩa với từ

của phương ngữ Bắc bộ là từ thuần việt

Trang 40

2.2.4.1 Trường hợp thứ nhất

Một bên là từ đơn (phương ngữ Nam bộ), đồng nghĩa với một bên là cụm từ hay từ

ghép (phương ngữ Bắc bộ):

Ví dụ:

- Huốt, đgt Qua khỏi, khuất mắt:

+ Cây mắm sống huốt tuổi của nó sẽ có ma làm tổ trên đó hả cha?

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006)

- Lơ, dt Người kiểm soát vé và phụ mọi việc trên xe:

+ Anh lơ Út lái chiếc xe lô hiệu Ford

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 11/01/1962)

+ Phượng Vũ cũng tà tà sang xe bên cạnh vốn đã trống trơn từ trước, … hỏi người

lơ…

(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 04/03/1971)

- Ná, dt Nỏ bắn tên, súng cao su bắn chim:

+ Đây là chưa kể đến nhóm của Bảy Đởm ở vùng Thất Sơn, cha con Huỳnh Công

Cứng ở vùng Tân Châu, trốn chui trốn rút như chim ngán ná

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 17&18/02/1962)

- Nạt, đgt Quát tháo, la rầy lớn tiếng:

+ … chưa nạt nó chuyện không chịu lấy vợ, giờ nó lại tính tìm người cho ông Cái

thằng…,

(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006)

- Nhậu, đgt Rượu chè, uống rượu với nghĩa là nghiện và nhiều

+ Coi mòi trong mình thấy khẳm nên viện cớ sàng ngang bữa nhậu

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)

+ Có hàng quán cút "ram bơ" để nhậu lai rai,

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23/02/1971)

- Quẹo, đgt Rẽ ngoặt:

+ Đến khúc quẹo nầy…

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 21&22/01/1962)

+ …trực chỉ Vũng Tàu chớ không quẹo vào làng cô nhi

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 23/03/1971)

- Phắt, tt Nhanh gọn, dứt khoát:

+ … đứng phắt dậy,

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 04/01/1962)

- Cán, đgt Lăn tròn qua và đè lên trên:

+ Bánh xe ác nghiệt đã cán ngang lên mình nó

(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 11/01/1962)

+ Bị cán dập mình

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 04/03/1971)

+ Xe vận tải kéo cam nhông đứt giây cán chết ông lão, đụng sập ba căn nhà,

(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 09/03/1971) + Sau cú đẩy, ông té nhào xuống đất, một bàn tay bị bánh xe sau của xe buýt cán dập

nát,…

(Tuổi Trẻ, Tin tức, 01/12/2006)

- Cồ, tt To xác, lớn xác:

+ Một anh cồ dư sức đạp cả chục "cái mái" mà vẫn chạy… te te…

(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 18/02/1971)

- Cự, đgt Phản đối, chống lại:

+…cương quyết bác lời kêu gọi đầu hàng và cự địch gan dạ

(Tiếng Dội Miền Nam, Tin Bồ Đào Nha, 03/01/1962)

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Đào Thản, 1981, "Thử tìm hiểu vấn đề tiêu chí nhận dạng các đơn vị từ vựng đặc trưng cho khẩu ngữ"; trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, T.1, nhiều tác giả, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, tr. 133 - 138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu vấn đề tiêu chí nhận dạng các đơn vị từ vựng đặc trưng cho khẩu ngữ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
28. Hồ Xuân Tuyên, 2002, Một số kiểu nói rút gọn xét ở cấp độ từ ngữ; trong kỷ yếu Hội thảo "Bảo vệ và phát triển tiếng Việt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa", TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát triển tiếng Việt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
70. Phạm Văn Hảo, 1979, Bàn thêm về việc thu thập và định nghĩa từ ngữ địa phương trong "Từ điển tiếng Việt phổ thông" tập I, TC Ngôn ngữ, số 2-1979, tr. 53- 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
72. Phạm Văn Hảo - Trần Thị Thìn, 1994, về sách: "Sổ tay phương ngữ Nam Bộ", TC Ngôn ngữ, số 2-1994, tr. 58-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phương ngữ Nam Bộ
73. Phạm Văn Hảo, 1998, Để góp phần lý giải thanh hỏi trong lối nói phương ngữ "ổng", "chỉ", "ngoải", TC Ngôn ngữ, số 4 -1998, tr.70-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ổng, chỉ, ngoải
1. Bùi Khánh Thế, 1998, Tiếng Sài Gòn vào buổi giao thời trong tiến trình ngôn ngữ văn học Việt Nam; trong Hội thảo khoa học kỷ niệm 300 năm Sài Gòn -TP.HCM Khác
2. Bùi Khánh Thế, 2004, Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam - Đề cương bài giảng sau đại học, 2004 Khác
4. Cao Xuân Hạo, 1998, Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, 754 tr. (Bài Hai vấn đề âm vị học của phương ngữ Nam Bộ, tr. 120 - 127; Phụ lục III Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt - Anh, tr. 655 - 715) Khác
5. Châu Minh Hiền, 2002, Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Đại học Sư phạm TP.HCM Khác
6. Cù Đình Tú, 2001, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
8. Đào Thản, 2001, Phương ngữ Nam Bộ - tiếng nói của quê hương ở vùng cực nam Tổ quốc, TC Ngôn ngữ và Đời sống, số 1 + 2 (63 + 64) - Xuân 2001, tr. 11 - 13 Khác
9. Đinh Lê Thư - Nguyễn Văn Huệ, 1998, Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt, NXB Giáo dục, 218 tr Khác
10. Đoàn Thiện Thuật, 1977, Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
11. Đỗ Hữu Châu, 1981, Một số vấn đề trong việc giữ gìn và phát huy tính trong sáng của tiếng Việt về mặt ngữ nghĩa; trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, T.1, nhiều tác giả, NXB KHXH, tr. 73-85 Khác
12. Đỗ Hữu Châu, 2000, Xã hội Việt Nam hiện nay, tiếng Việt hiện nay và sự nghiệp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, TC Ngôn ngữ, số 1-2000, tr.1-8 Khác
15. Hoàng Cao Cường, 2000, Sự phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ đã phát triển: trường hợp tiếng Việt, TC Ngôn ngữ, số 1-2000, tr. 36-45 Khác
16. Hoàng Phê, 1963, Một số ý kiến về vần đề thống nhất và tiêu chuẩn hóa tiếng Việt, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, tr.45-62 Khác
17. Hoàng Phê, 1968, Về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Chuẩn mực ngôn ngữ) trong Nghiên cứu ngôn ngữ học, T.1, Hà Nội, NXB KHXH, tr. 3-41 Khác
18. Hoàng Phê, 1978, Về quan điểm và phương hướng chuẩn hóa tiếng Việt, TC Ngôn ngữ, số 3-1978, tr. 9-20 Khác
19. Hoàng Phê, 1981, Chuẩn hóa tiếng Việt về mặt từ vựng; trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, T.1, nhiều tác giả, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, tr. 86-93 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w