Vài nét về ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc CHƯƠNG HAI: PHÂN LOẠI CÁC TỪ NGỮ NAM BỘ Dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng
Trang 1-# " -BÙI THỊ THANH HƯƠNG
VIỆC SỬ DỤNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRÊN NHẬT BÁO TIẾNG DỘI MIỀN NAM 1962 VÀ NHẬT BÁO ĐUỐC
NHÀ NAM 1971 (SO SÁNH VỚI NHẬT BÁO TUỔI TRẺ 2006)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học so sánh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin gửi lời biết ơn đến các thầy cô phòng Sau đại học Trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, các thầy cô trong khoa
Ngữ văn và Báo chí, những người thầy đã dạy, hỗ trợ và cung cấp rất nhiều kiến thức
bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cám ơn cô Đỗ Thị Bích Lài đã gợi ý cho tôi chọn đề tài này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Trần Thị Ngọc Lang,
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin cảm ơn các bạn lớp Cao học Ngôn ngữ học so sánh khóa 2003, những
người đã cùng tôi vượt qua bao khó khăn và đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt khóa
học
Xin cảm ơn các nhân viên phòng hạn chế Thư viện Khoa học tổng hợp
TP.HCM (cô Trưởng phòng, cháu Nguyễn Thị Hương Giang, cô Bích Thu, cô Loan)
đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm tư liệu
Sau cùng, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã thương yêu và tạo
điều kiện tốt nhất cho tôi học tập
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện luận văn này
Bùi Thị Thanh Hương
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TVTD Tiếng Việt toàn dân
TĐPNB Từ địa phương Nam bo
TDMN Tiếng Dội Miền Nam
Trang 4MỤC LỤC
Trang DẪN NHẬP
2 Lý do chọn các nhật báo khảo sát 6
4 Hướng tiếp cận để thực hiện đề tài 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 13
CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ
1 Đất phương Nam - người phương Nam 16
3 Từ địa phương Nam bộ và các báo khảo sát 33
4 Vài nét về ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc
CHƯƠNG HAI: PHÂN LOẠI CÁC TỪ NGỮ NAM BỘ
(Dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng Việt
toàn dân hay phương ngữ Bắc bộ)
2 Những từ khác âm nhưng đồng nghĩa 62
3 Những từ khác âm và khác nghĩa (khác nhau hoàn toàn) 87
Báo Tiếng Dội Miền Nam (1962) 251
Báo Đuốc Nhà Nam (1971) 253
Trang 5
DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Trong một thế kỷ qua, từ ngữ của tiếng Việt phát triển rất nhanh Sự phát triển
đó gắn liền với những biến cố lịch sử
Từ đầu thế kỷ XX, sự thành công của nhiều trào lưu sáng tác văn học: báo chí, thơ
mới, tiểu thuyết, v.v… đã cung cấp đầy đủ một hệ thống thuật ngữ cho mọi mặt của
đời sống
Sau Cách mạng tháng tám, và trong điều kiện cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc kéo dài, hệ thống từ ngữ tiếng Việt luôn xuất hiện với những đơn vị mới, nhằm
phục vụ yêu cầu của lịch sử
Sau hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, hơn một triệu đồng bào miền Bắc đi cư
vào Nam; và từ năm 1964, để leo thang chiến tranh, hơn nửa triệu quân Mỹ và quân
chư hầu của Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, một quá trình giao thoa ngôn ngữ,
tiếp xúc ngôn ngữ đã diễn ra
Sau ngày 30/04/1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất suốt từ Bắc
tới Nam, sự giao lưu giữa các vùng được mở rộng hơn, tiếp xúc ngôn ngữ mạnh mẽ
hơn Tất cả ảnh hưởng tới tiếng Việt nói chung và các phương ngữ nói riêng, trong đó
có phương ngữ Nam bộ
Phạm vi bài luận văn này là tìm hiểu việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên
các nhật báo: Tiếng Dội Miền Nam 1962, xuất bản tại Sài Gòn (hạn chế trong các
mục: Tin tức, Trớ trêu và Thiên hạ đồn, Truyện ngắn); Đuốc Nhà Nam 1971, xuất bản
tại Sài Gòn (hạn chế trong các mục: Tin tức, Tai vách mạch rừng và Thiên hạ đồn,
Truyện ngắn); có so sánh với nhật báo Tuổi Trẻ 2006, xuất bản tại Thành phố Hồ Chí
Minh (Tin tức, Chuyện thường ngày, Truyện ngắn) với mục đích muốn xem theo
dòng lịch đại việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên các báo có những thay đổi như
thế nào
2 Lý do chọn các nhật báo khảo sát
2.1 Lý do chọn tờ Tiếng Dội Miền Nam 1962 và Đuốc Nhà Nam 1971 là hai tờ báo
nầy do ông Trần Tấn Quốc làm chủ báo Ông Quốc là người gốc Nam bộ (tỉnh Sa Đéc
nay là tỉnh Đồng Tháp) tất phải có quan điểm riêng về việc sử dụng từ địa phương
Nam bộ (trên báo) Ông Quốc còn là một nhà báo chân chính, tận tụy với nghề
nghiệp
Ngay từ lúc mới bước vào nghề, Trần Tấn Quốc đã luôn chịu khó học hỏi các
bậc đàn anh Khi trở thành chủ báo, ông lại càng sát cánh với tất cả anh em trong ban
biên tập Trong cuốn "Trần Tấn Quốc - bốn mươi năm làm báo", Thiện Mộc Lan kể
lại rằng mỗi ngày ông đều xuống nhà in để lo mọi việc với ấn công trưởng, từ việc
kiểm tra lại "ma kết" (sơ đồ trang nhất của tờ báo), nội dung các tin tức, tới khâu sắp
chữ và in ấn Việc trình bày các trang báo, nhất là trang thứ nhất cũng được ông đặc
biệt quan tâm
Theo Trần Tấn Quốc, danh dự lớn lao của người cầm bút là phải biết tôn trọng
sự thật, là làm cho điều phải thắng điều quấy Suốt bốn mươi năm làm báo, Trần Tấn
Quốc luôn tâm niệm:
1 Có đầy đủ tinh thần trách nhiệm về tất cả những bài vở của mình
2 Coi sự vu cáo, vu khống không có bằng chứng, sự sửa chữa những tài liệu, sự làm
biến dạng các hành động, sự kiện, sự dối trá là những lỗi nặng nề trong nghề nghiệp
3 Chỉ chấp nhận quyền xét xử của luật pháp, coi đó là danh dự cao nhứt của nghề
nghiệp
4 Chỉ nhận những công việc phù hợp với phẩm cách nghề nghiệp
Trang 65 Tự mình cấm sử dụng những hình thức phi pháp để thu lượm một thông tin hoặc
lừa dối lòng tốt của người khác để được nhận thông tin ấy
6 Không ký tên mình dưới những tiết mục quảng cáo thương mại và tài chánh
7 Không lợi dụng tự do báo chí chỉ vì lợi ích cá nhân mình
8 Giữ bí mật nghề nghiệp.[77; 264]
Một nhà báo có lý tưởng nghề nghiệp như Trần Tấn Quốc, dĩ nhiên trên báo
của ông từ nội dung bài đến phong cách sử dụng ngôn từ đều thể hiện tôn chỉ, chủ
trương của báo
2.2 Lý do chọn nhật báo Tuổi Trẻ 2006
Tuổi Trẻ là tiếng nói của Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh, là một trong
những tờ báo thực hiện tốt chức năng của mình, có số độc giả cao Do vậy việc sử
dụng ngôn ngữ trên báo tất mang tính đúng đắn, đáng tin cậy
Theo bảng "điều tra xã hội học về công chúng" thực hiện vào tháng 9/1997 ở
thành phố Hồ Chí Minh, đặc điểm của độc giả báo Tuổi Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh
là: [79; 272]
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử ngôn ngữ học, việc nghiên cứu phương ngữ đã được quan tâm từ
rất sớm Alighieri Dante (1265-1321), một nhà thơ người Ý, đã cho in một công trình
về phương ngữ trong tiếng Ý De Vulgari eloquentia (in năm 1303-1304) [81:16] Đến
thời văn hóa phục hưng, nhiều nhà văn hóa như W.Leibniz (1646-1716), W.Humboldt
(1768-1835) cũng đề cập tới sự cần thiết của việc nghiên cứu phương ngữ Tại Việt
Nam, từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây có không ít học giả quan tâm tới phương ngữ
Nam bộ
Ngay từ năm 1956, Nguyễn Trọng Hàn đã viết "Danh sách từ ngữ địa phương"
đăng trên Văn Hóa nguyệt san số 15.16 Đến 1958-1959, Bình Nguyên Lộc và
Nguyễn Ngu Í giải thích "Tiếng địa phương miền Nam" trên tạp chí Bách Khoa Năm
1964, Nguyễn Kim Thản viết bài "Thử bàn về một vài đặc điểm trong phương ngôn
Nam bộ" trên tạp chí Văn Học số 8 Năm 1964, Nguyễn Đức Dương viết "Về hiện
tượng kiểu ổng, chỉ, ngoải" đăng trên Ngôn Ngữ số 1, 1974 1878, Huỳnh Kim Quy
có bài "Từ mượn gốc Khơme và Quảng Đông, Triều Châu trong phương ngữ Nam
bộ" trong tập sách "Nghiên cứu một số đặc điểm của phương ngữ Nam bộ" (tư liệu
của Ban Ngôn ngữ, 1978, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh) Năm
1981, Phạm Văn Hảo có "Nhận xét về xu hướng đi đến thống nhất cách dùng những
từ ngữ địa phương Nam bộ có quan hệ ngữ âm trên báo" 1982, Trần Thị Ngọc Lang
viết bài "Nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên
tạp chí Ngôn ngữ, số 2 Cũng năm 1982, Hải Dân viết về "Yếu tố Cà trong phương
ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, 1982 Năm 1984, Nguyễn Kim Thản viết
"Về tiếng nói vùng đồng bằng sông Cửu Long" trong "Mấy đặc điểm văn hóa đồng
bằng sông Cửu Long" Năm 1987, Nguyễn Văn Ái (chủ biên) biên soạn cuốn "Sổ tay
phương ngữ Nam bộ" 1990, Phụng Nghi viết "Ngôn ngữ người miền Nam" đăng trên
tạp chí Khoa học xã hội, số 5 1991, Trần Thị Ngọc Lang viết "Về các yếu tố chỉ mức
độ của tính từ trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 10,
1991 1992 Trần Thị Ngọc Lang viết bài "Vài điểm khác biệt về ngữ pháp của phương
ngữ Nam bộ so với phương ngữ Bắc bộ" (trong cuốn "Tiếng Việt và các ngôn ngữ
dân tộc phía Nam"), và "Từ láy tư trong phương ngữ Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn
ngữ số 3, 1992 Cũng năm đó, Hồ Lê viết về "Phương ngữ Nam bộ" trong "Văn hóa
dân gian người Việt ở Nam bộ" Năm 1998, Cao Xuân Hạo viết bài "Hai vấn đề âm vị
học của phương ngữ Nam Bộ", Huỳnh Công Tín viết về "Tính chất bán phương ngữ
của phương ngữ Sài Gòn" và "Vài nét về sự hình thành phương ngữ Sài Gòn"; Phạm
Văn Hảo viết "Để góp phần lí giải thanh hỏi trong lối nói phương ngữ ổng, chỉ, ngoải"
Trang 7đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 4, 1998 1999, Nguyễn Thế Truyền nói về "Cách xưng
hô của người Nam bộ" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 10 Năm 2001,
Đào Thản viết "Phương ngữ Nam bộ tiếng nói của quê hương ở vùng cực nam tổ
quốc", đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 1 và 2, xuân 2001, Hồ Xuân Tuyên
có bài "Về một số từ ngữ trong trường học của học sinh Nam bộ" đăng trên tạp chí
Ngôn ngữ và Đời sống số 3, 2001 Năm 2002, Nguyễn Thế Truyền lại có bài "Người
Nam bộ xài từ", trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 12
Nhìn chung, tuy rằng có rất nhiều học giả quan tâm tới việc nghiên cứu những
vấn đề thuộc phương ngữ Nam bộ, nhưng phần lớn những công trình của họ chỉ là
những bài viết ngắn đăng rời rạc trên các tạp chí Số sách được xuất bản về phương
ngữ Nam bộ hãy còn rất ít với một vài tác giả như Trần Thị Ngọc Lang với cuốn
"Phương ngữ Nam bộ", Nguyễn Văn Ái (chủ biên) với cuốn "Sổ tay phương ngữ Nam
bộ"… Gần đây, cũng có một vài chuyên luận viết về phương ngữ Nam bộ như luận
văn tốt nghiệp Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh của Lê
Minh Trí năm 1997 viết "Vài nét về hệ thống ngữ âm tiếng Sài Gòn ngày nay" Luận
án tiến sĩ ngôn ngữ học của Huỳnh Công Tín năm 1999 viết về "Hệ thống ngữ âm
tiếng Sài Gòn" (so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt
Nam)… Có ý nghĩa nhất là sự ra đời của cuốn "Từ điển phương ngữ Nam bộ" do
Nguyễn Văn Ái chủ biên, với sự cộng tác của Lê Văn Đức - Nguyễn Công Khai xuất
bản năm 1994 (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Min), 648 trang; cuốn "Từ điển đối
chiếu từ địa phương" do Nguyễn Như Ý chủ biên, với sự cộng tác của Đặng Ngọc Lệ
- Phan Xuân Thành, xuất bản năm 1999 (Nhà xuất bản Giáo dục, Thành phố Hồ Chí
Minh) 599 trang; năm 2007, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín lại cho ra cuốn "Từ điển từ ngữ
Nam bộ" (Nhà xuất bản Khoa Học xã Hội) dày 1392 trang Những cuốn từ điển nêu
trên đã giúp đỡ rất nhiều cho học viên trong suốt quá trình khảo sát đề tài và thực hiện
luận văn
Tóm lại, đây là một đề tài còn khá mới mẻ, còn có nhiều phương diện để
nghiên cứu, khảo sát
4 Hướng tiếp cận để thực hiện đề tài
Đây là đề tài khảo sát việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên các báo, nên
phạm vi đề tài tập trung vào các báo với các mục được chọn là Tin tức, Trớ trêu và
Thiên hạ đồn, Truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962; Tin tức, Tai
vách mạch rừng và Thiên hạ đồn, Truyện ngắn trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971;
Tin tức, Chuyện thường ngày, Truyện ngắn trên nhật báo Tuổi Trẻ 2006 Phạm vi của
đối tượng khảo sát là từ ngữ địa phương Nam bộ (có phân loại, so sánh và đối chiếu
với phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt toàn dân)
Công việc khảo sát tiến hành qua nhiều giai đoạn:
Trước hết, trên các số báo của từng tờ báo ghi ra tất cả những câu có chứa từ
địa phương Nam bộ, có phân biệt tên gọi từng cột hoặc từng mục (vi dụ: Tin tức,
Truyện ngắn,v.v )
Bước thứ hai, dựa vào từ điển để xác định từ địa phương Nam bộ, có tham
khảo với những người thuộc các địa phương khác (như Bắc bộ, Trung bộ) nhằm loại
trừ trường hợp nhầm lẫn do pha trộn ngôn ngữ
Bước thứ ba, trên tư liệu chọn ra những từ địa phương Nam bộ xếp thứ tự
Alphabet theo từng ngày, từng cột trên từng tờ báo Ví dụ:
Tiếng Dội Miền Nam
Tin tức
Ngày 1/1/1962
A…………
B…………
Trang 8Bước thứ tư, xếp từ địa phương Nam bộ riêng ra từng cột cho 30 ngày của
từng tờ báo (xếp theo thứ tự Alphabet có ghi tần số sử dụng)
Tiếng Dội Miền Nam 1962
STT Từ địa phương Nam bộ Tần sốsử dụng
Tin tức Trớ trêu và Thiên hạ đồn Truyện ngắn
Sau đó là phân loại từ địa phương Nam bộ (so với phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt
toàn dân) gộp chung cả ba tờ báo, trong 30 ngày
5 Phương pháp nghiên cứu
Có ba phương pháp nghiên cứu trong ngôn ngữ học so sánh Mỗi phương pháp
được sử dụng tùy theo mục đích và căn cứ so sánh
Theo IU.V ROZDEXTVENXKI (Những bài giảng Ngôn ngữ học đại cương, Đỗ Việt
Hùng dịch):
Phương pháp đối chiếu được sử dụng khi mục đích so sánh là làm sáng tỏ sự
giống nhau và khác nhau trong quan hệ với tiếp xúc văn hóa (căn cứ so sánh phụ
thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể)
Phương pháp so sánh loại hình được sử dụng khi mục đích nghiên cứu là làm
sáng tỏ các nguyên tắc kết hợp ý nghĩa và chất liệu lời nói trong hình thái ngôn ngữ,
căn cứ so sánh là các ngôn ngữ - tiêu chuẩn (dùng cho các nghiên cứu khác nhau về
loại hình)
Phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng khi mục đích so sánh là làm sáng
tỏ nguồn gốc ngôn ngữ, nguồn gốc các đơn vị của nó, và quan hệ qua lại với các ngôn
ngữ khác nguồn gốc từ một ngôn ngữ cơ sở chung; căn cứ so sánh là hệ hống thuật
ngữ phân tích và tái hiện
Trang 9Ngôn ngữ học cũng mượn thêm các phương pháp riêng của các ngành khoa
học khác
Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng rộng rãi, khám phá ra tương
quan về số lượng trong việc hiện thực hóa hệ thống ngôn ngữ
Sự vay mượn các phương pháp khoa học tự nhiên được bắt đầu trong thời kỳ
phát minh vĩ đại về địa lý, khi địa lý bắt đầu miêu tả các dân tộc ở các nước khác nhau
và các ngôn ngữ mà các dân tộc đó sử dụng [96; 224] Phương pháp vẽ bản đồ
phương ngữ vạch ra ranh giới giữa các phương ngữ trên một lãnh thổ xác định
Sử dụng các dụng cụ theo dõi lời nói, nghiên cứu các tính chất vật lý của các
âm lời nói là phương pháp mượn của khoa học tự nhiên
Phương pháp trắc nghiệm tâm lý (mượn của tâm lý học) làm sáng rõ đặc tính nhận
thức được của các đơn vị ngôn ngữ, ví dụ các âm lời nói Có thể nghiên cứu tính đồng
nhất của các âm, cách đánh giá ý nghĩa và sự tri nhận ý nghĩa của từ, vai trò của ngữ
pháp trong việc hiểu văn bản, v.v… [96; 226]
Trong các ngành khoa học xã hội, ngôn ngữ học sử dụng rộng rãi các cứ liệu
của ngành lịch sử để phân tích văn bản Nhờ có các cứ liệu lịch sử, ngôn ngữ học xác
định được ý nghĩa của nhiều từ, cụm từ
Mục đích của luận văn này là so sánh việc sử dụng từ địa phương Nam bộ trên
các nhật báo theo dòng lịch đại, nên phương pháp chủ yếu được sử dụng ở đây là
phương pháp so sánh đối chiếu, có thống kê và phân loại, mô hình hóa từng phần So
sánh ở đây là so sánh số lượng và tần số sử dụng, so sánh đặc điểm sử dụng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn khảo sát việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trên ba tờ nhật báo ở ba
chế độ chính trị khác nhau để nhận ra bản sắc của Nam bộ, cũng như quá trình thay
đổi, phát triển của phương ngữ Nam bộ thể hiện qua báo chí Đây cũng là nhiệm vụ
của phương ngữ học nói chung, phương ngữ học tiếng Việt nói riêng
Ý nghĩa khoa học của đề tài là khảo sát này thực hiện nhiệm vụ đó
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là phục vụ thiết thực cho việc sử dụng ngôn ngữ trên báo
chí, cũng như góp phần vào việc giảng dạy và học tập từ địa phương Nam bộ (giảng
dạy văn học Nam bộ mà không nắm vững từ địa phương Nam bộ thì sẽ đưa tới phân
tích sai lệch)
Trong "Lời đầu sách" cuốn Từ điển đối chiếu Từ địa phương, có đoạn viết:
"Cứ liệu tiếng địa phương và các kết quả nghiên cứu về phương ngữ có giá trị to lớn
đối với việc tìm hiểu lịch sử phát triển một ngôn ngữ, đặc biệt là trên bình diện ngữ
âm, chữ viết và từ vựng - ngữ nghĩa Cứ liệu về tiếng địa phương trong nhiều trường
hợp cũng rất bổ ích đối với việc tìm hiểu quan hệ cội nguồn giữa các ngôn ngữ của
các dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ (và đôi khi giữa các ngôn ngữ được sử
dụng bởi các cộng đồng tộc người trên các lãnh thổ khác nhau) - Cảm hứng trực tiếp
và thường xuyên hơn cả là nghiên cứu phương ngữ trong mục đích giải quyết các vấn
đề đồng đại của sử dụng ngôn ngữ, như xác định chuẩn phát âm (hay chính âm),
chuẩn chính tả, chuẩn từ vựng cho ngôn ngữ toàn dân, phục vụ thiết thực cho việc dạy
phát âm, tập đọc, chính tả trong nhà trường và việc sử dụng ngôn ngữ trên các phương
tiện thông tin đại chúng, như: phát thanh, truyền hình, báo chí, điện ảnh, sân khấu -
Nguyên tắc chung trong việc nghiên cứu và sử dụng tiếng địa phương cho các lĩnh
vực kể trên là thực hiện tính thống nhất trong đa dạng nhằm bảo đảm sự ổn định
tương đối của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
người đồng thời mở ra sự phát triển bình thường, ngày một phong phú, ngày một tinh
tế của nó" [54; 4]
7 Kết cấu của luận văn
Trang 10Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm có các chương sau đây:
Chương một: Một số vần đề cơ sở
Chương hai: Phân loại từ ngữ Nam bộ
Chương ba: So sánh việc sử dụng từ ngữ Nam bộ trên các báo
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục các từ ngữ Nam bộ trong các báo được
khảo sát
Trang 11
CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ
1.1 Đất phương Nam - Người phương Nam
1.1.1 Đất Phương Nam
Trong khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII, ở Đông Nam Á có hàng chục
tiểu quốc xuất hiện Trong số đó nổi bật lên Vương quốc Phù Nam với văn hóa Ấn
Độ, với tôn giáo là đạo Phật và đạo Bà La Môn Nhiều nhà nghiên cứu sử học cho biết
chủ nhân của Vương quốc này là cư dân gốc Đông Nam Á, nói tiếng Nam Đảo Về vị
trí địa lý của Phù Nam, có nhiều giả thuyết khác nhau Có người cho rằng lãnh thổ của
Phù Nam trải dài khắp đồng bằng Nam Bộ, lên đến Lâm Đồng, Khánh Hòa bây giờ
Theo sử nhà Lương: "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn
ở phía Tây biển, nước cách Nhật Nam chừng 7000 lý, và cách Lâm Ấp (tức Champa)
hơn 3000 lý về phía Tây Nam; Đô thành cách biển 500 lý Một con sông lớn từ Tây
Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển, nước rộng hơn 300 lý, đất thấp và bằng phẳng,
khí hậu và phong tục đại để giống Lâm Ấp [75;28] Theo giáo sư Lương Ninh: "Lãnh
thổ thuộc quyền cai quản của nước Phù Nam, phía Nam giáp Vịnh Thái Lan, phía Bắc
có lẽ giới hạn bởi sông Mun (chảy qua Ubon, Thái Lan), phía đông giáp biển Đông và
phía Tây có lẽ bao gồm hạ lưu sông Mê Nam và một phần Bắc bán đảo Mã Lai" [40 :
224]
Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI, Phù Nam đã có nền văn minh rực rỡ và
một lực lượng hàng hải lớn, nền thương nghiệp mạnh, quan hệ với nhiều nước Trong
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh có bộ sưu tập hiện vật Phù Nam; phần lớn
được tìm thấy ở Óc Eo, thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Có thể kể những sản
phẩm gốm làm từ bàn xoay, những vật dụng, nhạc cụ bằng đồng, những đồ trang sức
bằng đá quý, bằng vàng tinh xảo [3; 7]
Phù Nam khủng hoảng vào thế kỷ thứ VI, và bị Chân Lạp (ở lưu vực Sêmun) thôn
tính vào thế kỷ thứ VII Từ đó Chân Lạp gồm hai miền: Lục Chân Lạp ở phía Bắc có
nhiều núi đồi, Thủy Chân Lạp ở phía Nam có biển và đầm lầy
1.1.2 Người phương Nam
Người Việt vào miền Nam từ lúc nào sử sách không ghi rõ Vì họ không phải
là những đạo quân chinh phục, mà họ chỉ là những nông dân nghèo khốn khổ, những
tù tội bị lưu đày, những người trốn tránh sưu thuế, những tay lang bạt kỳ hồ,vv… Khi
những người Việt đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ, thì đồng bằng Nam Bộ bấy giờ hãy
còn là những cánh rừng hoang với đủ loài dã thú, bệnh tật và hiểm nguy, lác đác vài
sóc người Miên sống trên các giồng đất cao Với lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết,
người Việt dùng những công cụ thô sơ (con dao, cái cuốc,…) biến rừng hoang thành
ruộng lúa
Năm 1698, khi lưu dân đã khá đông, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất
Nguyễn Hữu Cảnh vào tổ chức bộ máy chính quyền ở Gia Định
Từ khi có chủ trương khuyến khích khai hoang, lập ấp thì làn sóng Nam tiến
của người Việt càng mạnh hơn
Lớp người tiên phong trong công cuộc mở đất chính là cơ sở, là hạt nhân đầu
tiên hình thành và phát triển tính cách, năng lực của cư dân Nam Bộ sau này [46; 55]
Họ là những người có cá tính mạnh mẽ, dám phiêu lưu mạo hiểm và khao
khát tự do, không cam chịu bị trói buộc bởi những xiềng xích phong kiến
Khi đã được cải tạo, thiên nhiên Nam Bộ là vùng đất lý tưởng đối với cư dân
nông nghiệp nhiệt đới: miền Đông có vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng cây
công nghiệp; miền Tây có vùng đồng bằng sông Cửu Long mầu mỡ, một thời được
Trang 12mệnh danh là vựa lúa của cả vùng Đông Nam Á; và hệ thống sông rạch chằng chịt
cung cấp nguồn thủy sản dồi dào Thời tiết khí hậu Nam Bộ lại rất hiền hòa Bên cạnh
đó cơ chế pháp luật của Triều đình bấy giờ hãy còn khá rộng rãi (thuế khóa không
nặng nề, chính sách ruộng đất cởi mở,…); Tất cả những yếu tố đó tạo nên tính cách
con người Nam Bộ: phóng khoáng, hồn nhiên, thật thà và dễ dãi
Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tinh thần đấu tranh bất khuất với
khả năng chịu đựng và vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của người Nam Bộ càng thể
1.2.1.1 Khái niệm phương ngữ
Khái niệm phương ngữ được hiểu là phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội
Phương ngữ địa lý là tiếng nói của cư dân ở một miền nhất định trong một
nước
Phương ngữ xã hội là tiếng nói được sử dụng cho một giới xã hội phân biệt
theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, vị thế xã hội, tôn giáo, …
Phương ngữ địa lý hình thành do cư dân các vùng không có điều kiện tiếp xúc
thường xuyên với nhau tạo nên sự biến dạng tiếng nói
Sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan đến thuộc tính xã hội của người giao
tiếp Nó cho biết người giao tiếp thuộc tầng lớp xã hội nào
Phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội đều là các biến thể của ngôn ngữ toàn dân
Tiếng Việt có bốn phương ngữ: Phương ngữ Bắc Bộ (từ Thanh Hóa trở ra); Phương
ngữ Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên);
Phương ngữ Nam Trung Bộ (từ Quảng Nam-Đà Nẵng đến Thuận Hải); Phương ngữ
Nam Bộ (từ Đồng Nai-Sông Bé đến Mũi Cà Mau)
1.2.1.2 Phương ngữ và các khái niệm khác
1.2.1.2.1 Phương ngữ và các ngôn ngữ thân thuộc
Các ngôn ngữ thân thuộc không phải là phương ngữ Các ngôn ngữ thân thuộc
là những ngôn ngữ có cùng cội nguồn, có mã chung; nhưng mỗi ngôn ngữ đó cũng có
mã riêng cho mình Ví dụ: các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức có cùng một cội nguồn là
tiếng Ấn Âu, chúng có mã chung, chúng đều là các ngôn ngữ biến tố; nhưng mỗi thứ
tiếng cũng có mã riêng Chúng là các ngôn ngữ riêng biệt chứ không phải là các
phương ngữ khác nhau của cùng một ngôn ngữ Trái lại, các phương ngữ của một
ngôn ngữ không có mã riêng biệt; do vậy người ta có thể không hiểu nhau khi nghe
nói, nhưng vẫn hiểu nhau khi viết
1.2.1.2.2 Phương ngữ và thổ ngữ
Thổ ngữ là phương ngữ đã bị thoái hóa, các từ ngữ của nó chỉ còn hạn chế
trong những vùng nhỏ hẹp, xa xôi, hẻo lánh, dân cư ít Nguyên nhân của thổ ngữ là
dân cư các vùng này sống khép kín nên không có được những biến đổi ngôn ngữ theo
nhịp tiến xã hội như các vùng xung quanh Tuy nhiên, thổ ngữ vẫn mang sắc thái
chung của phương ngữ
1.2.1.2.3 Biệt ngữ và tiếng lóng
Biệt ngữ là những từ ngữ được một nhóm người có chung một đặc điểm nào
đó sử dụng (như thầy mo, thầy cúng, thợ mỏ, học sinh, sinh viên,…) Có nhiều lý do
khiến người ta dùng biệt ngữ
Ví dụ: Để tăng phần linh thiêng, nhà thờ dùng thêm tiếng La tinh; Nhà chùa
dùng chữ Phạn trong các bài thuyết pháp; thầy mo, thầy cúng niệm bùa chú trong các
lễ "đuổi tà"
Trang 13Biệt ngữ cũng là những từ ngữ chỉ những khái niệm chuyên môn khi chưa có
những thuật ngữ khoa học tương ứng
Biệt ngữ là những từ ngữ khá xa lạ so với chung quanh
Tiếng lóng là loại biệt ngữ xuất hiện ở những nhóm người có hoạt động và lợi
ích chung cần giữ bí mật, nên thường dùng từ ngữ thông thường nhưng qui ước theo
nghĩa khác hoặc là cách nói trại âm đi
Ví dụ:
+ Cớm: mật thám + Cây gậy: một điểm
+ Ngỗng: hai điểm + Thổi: ăn cắp + Bắt mồi: tìm hàng + Khâu: nhẫn vàng…
Tiếng lóng thường xuất hiện nhiều ở giới trộm cắp, ở những tổ chức làm ăn
bất chính, nên có quan niệm cho rằng "Nói tới tiếng lóng người ta thường nghĩ tới loại
ngôn ngữ không trong sáng" [81; 28]
Cũng có quan niệm cho rằng mỗi tầng lớp xã hội có một số từ ngữ riêng của
mình, đó là tiếng lóng Có tiếng lóng của bọn ăn trộm, ăn cắp, có tiếng lóng của lái
buôn, có tiếng lóng của học sinh, sinh viên… Nhưng ngôn ngữ không có tính giai cấp,
nghĩa là không có hệ thống ngữ âm, ngữ pháp riêng cho từng giai cấp
Tiếng lóng chiếm một bộ phận rất nhỏ trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ
Trong các tác phẩm văn chương, tiếng lóng mang sắc thái tu từ khắc họa tính cách
nhân vật, tạo sức biểu cảm mạnh mẽ cho các tình huống
Biệt ngữ và tiếng lóng được xếp vào phương ngữ xã hội
1.2.2 Phương ngữ học
Phương ngữ học là khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề thuộc phương
ngữ như các quy luật hình thành, phát triển, biến đổi của các phương ngữ; hệ thống
cấu trúc và đặc điểm của các phương ngữ, mối quan hệ giữa các phương ngữ và giữa
phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân trong tiến trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ
dân tộc
Phương ngữ học thực sự phát triển từ đầu thế kỷ XIX Những tên tuổi liên
quan tới sự phát triển của ngành phương ngữ học là: Jost Winteler (1846 - 1926); J
Baudouin de Courtenay (1845 - 1929); G Wenker (1852 - 1911); J Gilliéron (1854 -
1926); G I Ascoli (1829 - 1907)… [81; 16]
1.2.3 Phương ngữ Nam bộ
Phương ngữ Nam bộ là tiếng nói của người dân Nam bộ Phương ngữ Nam bộ
có ranh giới từ Đồng Nai - Sông Bé đến Mũi Cà Mau Nó hình thành khoảng giữa thế
kỷ thứ XVII, lúc ấy đã có chữ viết chính thức của dân tộc (chữ Nôm)
1.2.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của phương ngữ Nam Bộ
Lịch sử nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh phân liệt kéo dài hàng bao thế
kỷ; chiến tranh Nam - Bắc triều (1533 - 1592), Trịnh Nguyễn phân tranh (1600 -
1788) chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa hai miền trong một nước Rồi thực dân Pháp xâm
lược, chia nước ta làm ba kỳ để cai trị (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những thể
chế hành chính và luật lệ khác nhau Năm 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương
lại chia đôi đất nước Những yếu tố lịch sử đó tạo ra nhiều biến dạng trong sinh hoạt
vật chất và tinh thần ở các vùng, miền; biến dạng ngôn ngữ là một trong những biến
dạng đó Nước Việt Nam lại dài và hẹp, chiều dài trên 3.000km với nhiều núi đồi ở
miền Trung và miền Bắc, nhiều sông ngòi, kinh rạch, lạch xẽo ở miền Nam; lại thêm
ngày trước phương tiện giao thông ở nước ta còn nhiều khó khăn, tâm lý người Việt
lại không thích xa lũy tre làng:
Trang 14Quan không phiền dân lắm,
Dân chẳng muốn đi xa
(Cao Bá Quát)
Vì thế sự giao lưu giữa các vùng bị hạn chế Đó cũng là nguyên nhân hình
thành các phương ngữ nói chung và phương ngữ Nam Bộ nói riêng
Quá trình hình thành và phát triển của phương ngữ Nam Bộ cũng là quá trình tiếp xúc
ngôn ngữ của nhiều tiếng địa phương khác nhau từ các nơi miền ngoài mang vào, với
ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng đất này như người Hoa (chủ yếu là
người Triều Châu và Quảng Đông), người Khmer và người Chăm
Do vậy, trong phương ngữ Nam Bộ có nhiều từ mượn có nguồn gốc từ Triều
Châu, Quảng Đông, Khmer và Chăm, như:
+ Tàu xọn = chè đậu xanh lột vỏ nấu với đường (Triều Châu - Quảng Đông)
+ Ên = một mình (Khmer) + Cà rá = nhẫn đeo tay (Chăm) v.v…
Sau hòa ước Patenotre 1884, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; sống dưới chế độ
thuộc địa kéo dài gần 100 năm, vốn từ của phương ngữ Nam Bộ lại được bổ sung
bằng nhiều từ ngữ của Pháp như:
+ Mông xừ (Monsieur): ông
+ Moa (Moi): tôi + Toa (Toi): anh + Rua (Bonjour): chào + Cúp, hớt (Couper): hớt tóc
+ Lon (galon): phù hiệu để định chức vụ quân nhân
+ Đốc tơ (Docteur) = bác sĩ
+ Bắc (bac) = phà + Bắc on (bac un) = tú tài I + Bắc đơ (bac deux) = tú tài II v.v…
1.2.3.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam bộ
1.2.3.2.1 Đặc điểm ngữ âm
Cách phát âm của tiếng Nam bộ nhẹ nhàng, các động tác phát âm không căng
thẳng như cách phát âm của các phương ngữ ở phía Bắc
Trang 15+ Ròm -> Rồm
+ Cơm -> Côm
+ Hợp, họp -> Hộp
- Không phân biệt: OA - HOA - QUA
Ngày nay người Nam bộ có thể phát âm phân biệt OA - HOA - QUA; hoặc
phát âm đúng "V", nhưng về mặt tâm lý họ coi đó là cách nói "làm điệu"
- Tiếng Nam bộ cũng không phân biệt các âm cuối:
N - NG; T - C (Trừ OT - OC); và IT - ICH
+ Màn trời chiếu đất -> "Màng" trời chiếu đất
+ Cát đá -> "Các" đá
+ Thịt heo ->"Thịch" heo
Cách phát âm các âm cuối N - NG; T - C (Trừ OT - OC); và IT - ICH là nét
khác biệt tiêu biểu giữa tiếng Bắc và tiếng Nam Nét khác biệt tiêu biểu nữa là về
thanh điệu
- Về thanh điệu, người Nam Bộ chỉ phát âm được có năm dấu: ngang, huyền, hỏi, sắc,
nặng
Phần trình bày trên đây chỉ là về phương diện phát âm, chữ viết vẫn viết theo
tiếng Việt chuẩn
Nhìn chung, Nam bộ là một vùng đồng bằng rộng lớn, môi trường thiên nhiên
phong phú và đa dạng, hệ thống giao thông thủy bộ thông suốt, việc giao lưu mở rộng,
đó là những yếu tố góp phần tạo cho tiếng Nam bộ tính thống nhất cao về mặt ngữ
âm Chỉ có một ít khác biệt ở một số vùng thuộc miền Đông Nam Bộ và miền Tây
Nam Bộ Ở một số vùng miền Đông, các vần ÊM - ẾP phát âm thành IM - ÍP (cơm
nếp -> cơm níp; đêm -> đim); hoặc âm TH thành KH (Tấm thảm -> Tấm khảm,
v.v…) Ở miền Tây, âm R được phát âm thành G (cái rổ -> cái gổ); âm TR phát âm
thành T (ở trong -> ở tong) Do vậy, ở Nam bộ nghe giọng nói khó mà phân biệt
người thuộc tỉnh nào; chỉ biết đó là người Nam bộ
Ở Nam bộ cũng ít có thổ ngữ Theo giáo sư Hồ Lê: "Ở vùng Nam bộ thổ ngữ
hầu như vắng bóng, ngoại trừ khả năng có thể có lẻ tẻ không bao nhiêu thổ ngữ trên
một số hòn đảo nhỏ hoặc trên một số vùng xa xôi hẻo lánh nào đó tại Đồng Nai, Sông
Bé" [81; 8]
1.2.3.2.2 Trên bình diện từ ngữ
Bên cạnh những lớp từ cổ của tiếng Việt còn giữ lại, những từ vay mượn, từ
biến âm., Nam Bộ còn có một bộ phận từ ngữ góp phần làm giàu kho tàng ngôn ngữ
tiếng Việt
Đó là tên các loại cây: mắm, đước, tràm, dừa nước, bình bát v.v… (cây rừng);
sầu riêng, măng cụt, chôm chôm v.v… (cây trồng)
Đó là vô số từ ngữ có liên quan đến sông nước:
+ Về tên gọi các dòng nước: sông, rạch, lạch, xẽo, kinh, mương, rãnh,
ao, bàu, đầm, đìa, lung, láng.v.v…
"Rạch" là đường nước tự nhiên, nhỏ, từ các làng mạc chảy ra sông
"Lạch" là dòng nước chảy tự nhiên, có thể nhỏ hoặc lớn
"Xẽo" là lạch nhỏ (nhỏ hơn rạch), là dòng chảy tự nhiên
"Kinh" là từ biến âm của "Kênh", đây là công trình dẫn nước do người đào để
phục vụ thủy lợi, giao thông
"Mương" cũng có được do đào vét, xáng xúc để làm phương tiện giao thông
hay dẫn nước vào ruộng vườn
"Ao, bàu, đầm, đìa, lung, láng…" là những chỗ nước tù: Ao, bàu, đìa được đào
để giữ nước nuôi cá hay trồng rau; lung, láng, đầm là những chỗ trũng ngập nước tự
nhiên
Trang 16+ Về sự chuyển động của dòng nước: nước lớn, nước ròng, nước giựt, nươc
nhửng, nước ương, nước đứng, nước nổi, nước quay, nước nhảy, nước bò, nước lên,
nước xuống, nước chạy, nước ngập, nước rông, nước lụt v.v…
"Nước lớn" là nước lên mỗi ngày
"Nước ròng" là nước xuống mỗi ngày Có nhiều loại ròng: ròng sát (con nước ròng sát
đáy sông), ròng cạn, ròng rặt (nước cạn hết chỉ còn một đường nước nhỏ ở giữa lòng
sông), ròng kiệt (còn nói là ròng rặt)
"Nước giựt" là nước lúc bắt đầu rút xuống
"Nước nhửng" là nước dừng lại không chảy vào hoặc chảy ra (còn nói là nước đứng)
"Nước ương" là nước ở tình trạng lềnh bềnh, chảy vào rạch một ít rồi ngừng chảy,
không lớn thêm nữa mà cũng không ròng hết đi
"Nước nổi" là nước dâng lên ngập đồng ruộng trong nhiều ngày khiến mọi vật đều
trôi, nổi
"Nước quay" là nước chuyển sang chế độ thủy triều khác, từ con nước lớn ròng
chuyển sang chảy có một chiều, chuyển sang màu khác, đục hơn do mưa hoặc do
thượng nguồn đổ xuống đập vỗ vào hai bên bờ
"Nước nhảy" là nước dâng lên nhanh có phần bất ngờ (con nước này có vào khoảng
ngày mười bảy của tháng, hoặc vào rằm tháng bảy của năm)
"Nước bò" là nước bắt đầu len lỏi lên bờ
"Nước lên" là nước thủy triều dâng (tính theo năm), nước dâng theo con nước hàng
năm (thường là tháng chín, tháng mười)
"Nước xuống" là nước thủy triều hạ (tính theo năm), nước hạ theo con nước hàng năm
(thường là tháng mười một, tháng chạp)
"Nước chạy" là con nước chảy trong tháng khiến tôm cá phải di chuyển (chạy), làm
cho việc đóng đáy, đặt nò thu được nhiều thủy sản
"Nước rông" còn nói là nước rong, là nước thủy triều dâng cao hơn mọi con nước
khác trong tháng hoặc trong năm, nước có thể tràn bờ, ngập một số nơi mà các con
nước lớn khác không ngập
"Nước ngập" là nước lên theo mùa trong năm vào khoảng tháng sáu âm lịch cho đến
tháng mười, nước mỗi ngày mỗi dâng lên, phủ ngập từ từ cả một diện tích rộng lớn và
duy trì trong một thời gian dài
"Nước lụt" là mùa nước lên cao hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng
tháng chín âm lịch, kéo dài trên ba tháng
+ Về phương tiện di chuyển trên sông nước: bắc, ghe, xuồng, tam bản, trẹt
Ghe có ghe bầu, ghe be, ghe chài, ghe cui, ghe cửa …; Xuồng có xuồng ba lá, xuồng
tiều, xuồng câu…
Ghe thường có mui; xuồng thì không có mui, mũi thường nhọn Ghe, tam bản,
xuồng được dùng để chở khách, hàng hóa
Trẹt có hình chữ nhật, nông đáy, đầu và đuôi bằng; đây là loại phương tiện di
chuyển trên kênh, rạch nhỏ, ít sóng; thường được dùng để chở lúa, máy công cu, hay
chở khách qua lại hai bên bờ kênh, rạch
"Bắc"(tiếng Pháp: bac) dùng chuyên chở người và xe cộ qua sông, đây là phương tiện
hiện đại, to lớn
+ Về sự vận động của con người trên sông nước: có các động tác chèo, bơi,
lội
Riêng từ "chèo"cũng có nhiều động tác như:
"Cạy" là dùng mái chèo xoay ghe sang bên trái
"Bát" là dùng mái chèo xoay ghe sang bên phải
"Chèo bán" là chèo bỏ mái chèo xuống và vặn nghiêng nửa mái để điều chỉnh hướng
đi
Trang 17"Chèo mái cuốc" là chèo bổ mái chèo nhiều lần và nhanh khi ghe, xuồng đi ngược
nước hoặc ngược gió
"Chèo mái dài" là chèo một cách thong thả, bằng cách đẩy mái chèo dài ngược ra sau
hết cỡ, để tận dụng sức đẩy khi xuôi nước, xuôi gió
"Chèo mái một" là chèo bổ mái chèo xuống và dở mái chèo lên từng động tác dứt
khoát
"Bơi" theo tiếng Nam bộ là bơi xuồng, bơi ghe, bơi thuyền (thuyền bơi trên sông, cá
nhảy đắm thuyền)
Còn "lội" của tiếng Nam bộ đồng nghĩa với "bơi" của tiếng Bắc Bộ hay tiếng
Việt toàn dân; là cả chân tay cùng vận động để thân thể di chuyển trên nước
+ Về các loại hải sản: cá bông, cá chẻm, cá chốt, cá he, cá kèo, cá khoai, cá
linh, cá ngác Riêng loài tôm cũng có nhiều loại: Tôm bạc, tôm càng, tôm châm, tôm
chấu, tôm chì, tôm chông, tôm chục, tôm cỏ, tôm đất, tôm gậy, tôm gọng, tôm hùm,
tôm kẹt, tôm lóng, tôm lứa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rồng, tôm sắc, tôm sú, tôm thẻ,
tôm tích, tôm tu, tôm vang v.v… [65; 22]
Ngoài ra còn có những từ chỉ tên gọi các vùng đất: gồm những vùng đất nổi
cao như cù lao, cồn; và những vùng đất dài, thấp như bãi, bưng, biền, trấp v.v…
"Cù lao" và "cồn" là phần đất nhô lên ở giữa sông hay dọc theo sông, do phù sa sông
bồi đắp, cù lao thường lớn hơn cồn
"Bưng" là vùng đất trong vùng sâu ngập nước; có nhiều cói, lác, cây hoang dại…
"Biền" là khoảng đất nhỏ, thấp ở ven sông rạch; thường bị ngập khi nước triều lên
"Trấp" là vùng đất thấp, đọng nước, có nhiều cỏ dại, dây hoang bám thành giề nổi dày
trên mặt nước
"Bãi" cũng là những khoảng đất dài ven sông rạch, có nhiều dừa nước, bần hay trâm
bầu, v.v…
Một đặc trưng nữa của phương ngữ Nam bộ là nó còn có một lượng lớn từ ngữ
mượn danh khỉ dù trong tình huống sử dụng chẳng có gì liên quan tới khỉ; ví dụ: khỉ
cùi, khỉ đột, khỉ gió, khỉ họ, khỉ khọn, khỉ khọt, khỉ khô, khỉ mốc, khỉ ăn gừng, khỉ ăn
ớt, cầu khỉ, v.v…
Điều này cho thấy mảnh đất Phương Nam xưa kia là nơi "khỉ ho cò gáy",
những người đi mở cõi từng sống chung với khỉ, nên không lạ gì khỉ, do vậy mà trong
cách nói năng thường ngày hay mượn danh khỉ, và dấu ấn này truyền mãi cho tới
ngày nay
"Khỉ cùi" còn nói là "khỉ khô", có ba nghĩa:
+ Phét (khỉ cùi! Nó mà thi đậu à?)
+ Cái quái, quái (gặp mấy cái khỉ cùi đó xui muốn chết)
+ Không ra gì (đồ cái khỉ cùi này tao không cần)
"Khỉ dộc" còn nói "khỉ cùi", "khỉ khô"; có nghĩa là phét, quái, của khỉ (Khỉ dộc! Nó
mà có cái khỉ dộc gì)
"Khỉ đột" là con khỉ đực đầu đàn, thường to lớn và già hơn các con khác Đây là tiếng
dùng để mắng
"Khỉ gió" có nghĩa là khỉ, của khỉ (Khỉ gió! Đừng nói nữa)
"Khỉ họ" có nghĩa là phét, không phải thế (Khỉ họ! Đừng có chối nha bồ)
"Khỉ khọn" còn nói là "khỉ khọt"; có nghĩa là liến thoắng, liến khỉ, hay đùa ngịch
"Khỉ khô" nghĩa là cóc khô (Tết này chẳng có khỉ khô gì cả)
"Khỉ mốc": từ dùng để phủ định, phản đối, không đồng ý (mượn tiền hả… con khỉ
Trang 18"Khỉ ăn ớt": chỉ gương mặt có nước mắt, nước mũi chảy tèm lem
"Cầu khỉ" là chiếc cầu gồm có hai trụ cầu bằng hai cây bắt chéo rất cao, và được gác
bằng ba thanh tre không cột dây để ghe xuồng qua lại có thể giở lên được: thanh lên
được gác từ bờ tới trụ cầu, thanh ngang được gác từ trụ cầu này sang trụ cầu nọ, thanh
xuống được gác từ cầu tới bờ, cầu thường có tay vịn thấp cho con nít có thể vịn, cầu
rất khó đi vì thanh cầu nhỏ và không được cột cẩn thận nên gọi là cầu khỉ
Trong bài thơ "Cây bần", Bùi Hữu Nghĩa có nhắc tới cò và khỉ:
Quyến luyến bầy cò theo sập sận,
Chiều quy đàn khỉ tới dần lân
Tóm lại, một phương ngữ hay ngôn ngữ phát triển chủ yếu ở vốn từ ngữ của
nó; vốn từ ngữ càng dồi dào, phong phú thì sức biểu hiện của phương ngữ hay ngôn
ngữ càng mạnh mẽ Phương ngữ Nam Bộ cũng không ngoài qui luật đó
1.2.3.2.3 Phong cách diễn đạt: Về phong cách, phương ngữ Nam Bộ có những
đặc điểm sau:
a Tính cụ thể Để định danh một sự vật, người Nam Bộ thường lấy cái cụ thể
mà nói Ví dụ:
+ Đường nước tự nhiên nhỏ và dài như con lươn được gọi là "con lươn"
+ Chỗ gặp nhau của hai dòng nước từ hai nơi đổ đến có tên là: "giáp nước",
v.v…
+ Thuyền mũi cao: Ghe mỏ vạch, v.v…
+ Ngã tư Bảy Hiền: được đặt tên như vậy vì gần ngã tư đó có quán phở của
ông Bảy Hiền
+ Một chất có dạng bột dùng để nêm thức ăn cho ngọt gọi là: "bột ngọt"
Tính cụ thể không làm mờ đi tính trừu tượng của nó, ví dụ để nói tới một sự việc mà
người ta cố ý bỏ qua, không muốn xét xử, phương ngữ Nam Bộ có từ "chìm xuồng"
Tính cụ thể trong phương ngữ Nam Bộ phản ánh hiệu quả tri giác của con người đối
với hiện thực khách quan [65; 23]
b Tính cường điệu và khuyếch đại là một sắc thái đặc thù của phương ngữ
Nam bộ bên cạnh tính cụ thể
Ví dụ: tức cành hông, rầu thúi ruột, say quắc cần câu, nghèo mạt rệp, vv…
Cường điệu, khuyếch đại trong phương ngữ Nam Bộ cũng là một biện pháp tu từ; nó
toát lên tính chất phác, mộc mạc của người Nam Bộ; và không thiếu tính khôi hài, dí
dỏm (người không có râu cũng vẫn bị "đói queo râu")
Tính cường điệu và khuếch đại thể hiện phổ biến trong ca dao, dân ca Nam
Bộ: "Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình, Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao
huỳnh vội xếp vi"
(dân ca)
c Phương ngữ Nam Bộ còn có nhiều thán từ và ngữ khí từ: Chèn ơi, chèn đét
ơi; Mèn ơi, mèn đét ơi; nghen; hén; á, v.v… biểu hiện sắc thái tình cảm riêng của
người Nam bộ
d Với tính bình dân, giản dị, mộc mạc, người Nam bộ giàu hay nghèo, sang
hay hèn đều có cách nói giống nhau; văn chương trên giấy cũng không khác lối nói
hàng ngày:
Trực rằng đã đến nỗi này,
Tiểu đồng bậu hãy làm khuây giải phiền
Nói rồi quày quả ra đi,
Vân Tiên xem thấy càng nghi trong lòng
Đương khi mưa gió luông tuồng,
Người buồn lại gặp kiểng buồn khá thương
(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
Trang 19Trong việc tỏ tình, người con trai Nam bộ cũng rất mộc mạc, mộc mạc đến
ngộ nghĩnh:
Con ếch ngồi dưới gốc bừng,
Nó kêu cái quệt biểu ưng cho rồi
(ca dao) Khác hẳn cách tỏ tình của những chàng trai Bắc bộ, rào trước đón sau, bóng
gió, bóng bẩy:
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Nay mượn cô ấy vào khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến lúc lấy chồng anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
(Ca dao)
Có những cách nói của người Nam bộ làm nổi bật cái đặc thù của phương ngữ:
- Để xưng gọi
+ Người Nam bộ có thói quen thường gọi theo thứ trong gia đình; ví dụ: Cô
Tám - hoặc dùng ngôi thứ kết hợp với tên hay biệt danh
Ví dụ: Ba Cụt, Năm Lửa, Tư Ca Răng; Bà Hai Lá; anh Tư An, Út Tịch.v.v…
+ Những từ xưng gọi trong họ hàng như: cậu, mợ, dì, dượng, chú, thím, cô,
bác cũng được sử dụng cả trong làng xóm, láng giềng
+ Dùng thanh hỏi để biến âm từ thứ nhất, hiện tượng này gọi là giản lược âm:
Trong phương ngữ Nam Bộ:
+ Với người lớn, cao nhất chỉ gọi "ông" hoặc "bà"
+ Với con, cháu dù lớn tuổi hoặc có địa vị cao trong xã hội; ông bà, cha mẹ
vẫn gọi "con" hoặc "thằng"
- Nói lái cũng là một nét độc đáo của phương ngữ Nam Bộ, hiện tượng này
quen thuộc trong diễn đạt, nhận thức của người Nam Bộ, nó tạo ra sự hài hước Ví dụ:
"Lì một lam" có nghĩa là bắn một loạt đạn; nhưng nghĩa lái lại là "làm một ly", "uống
một ly",v.v…
Trang 20Tuy nhiên, nhiều trường hợp nói lái đưa tới hiện tượng "thiếu nghiêm
túc",v.v…ví dụ: "Trà Thái Đức" nói lái là:"Trà thức đái", v.v…
1.3 Từ địa phương Nam Bộ và các báo khảo sát
Luận văn này khảo sát việc sử dụng từ địa phương Nam Bộ trên các báo Tiếng
Dội Miền Nam 1962, và Đuốc Nhà Nam 1971 (có so sánh với nhật báo Tuổi Trẻ
2006) Vậy thế nào là từ địa phương, thế nào là từ địa phương Nam Bộ, và tình hình
các báo khảo sát
1.3.1 Từ địa phương và từ địa phương Nam bộ
Trong các công trình nghiên cứu về phương ngữ, mỗi tác giả đưa ra một định
nghĩa về từ địa phương:
Theo Nguyễn Thiện Giáp: "Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở
một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn
ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của
ngôn ngữ văn học".[62; 114]
Tuy nhiên, các định nghĩa đều thống nhất ở điểm:
"Từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày ở một địa phương
nhất định, khác với ngôn ngữ toàn dân hoặc địa phương khác về mặt ngữ âm cũng
như ngữ nghĩa"
Có nhiều từ địa phương trước kia là từ toàn dân, nhưng vì một lý do nào đó,
dần dần trở thành từ địa phương Chẳng hạn từ "trốc" xưa kia là tiếng toàn dân, nhưng
từ khi từ "đầu" (mượn của tiếng Hán) được sử dụng phổ biến, thì "trốc" trở thành từ
địa phương (phương ngữ Trung bộ) Mặt khác, nhờ sự giao lưu rộng rãi, một số từ địa
phương được sử dụng rộng khắp và trở thành từ toàn dân Ví dụ: sầu riêng, bánh xèo,
vv… là từ địa phương Nam bộ, nay đã trở thành từ toàn dân
Từ địa phương Nam bộ là lớp từ vựng được người Nam Bộ sử dụng mọi lúc
mọi nơi Nó có sự khác biệt về ngữ âm cũng như ngữ nghĩa so với ngôn ngữ toàn dân
và các phương ngữ khác Ra đời chưa được bao lâu, nhiều từ địa phương Nam Bộ đã
được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm văn học Sự kiện này quan trọng bởi vì có
chữ viết tức là có cơ sở để phân biệt cái đúng, cái sai và có cơ hội phổ biến rộng rãi ra
bên ngoài
Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, v.v đã
dùng khá nhiều từ địa phương Nam Bộ trong các tác phẩm của mình:
Lá xanh tơ liễu nhành thưa thớt,
Bông bạc dường mai, nhụy sượng sần
Quyến luyến bầy cò theo sập sận,
Chiều quy đàn khỉ tới dần lân
(Bùi Hữu Nghĩa - Cây bần)
Từ địa phương Nam Bộ thể hiện sắc thái của phương ngữ Nam Bộ
1.3.2 Các báo khảo sát
1.3.2.1 Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962
Chủ báo, chủ nhiệm, chủ bút của tờ báo này là ông Trần Tấn Quốc Tháng
5/1961, tờ báo Tiếng dội Miền Nam được phép xuất bản Số báo đầu tiên ra ngày
7/6/1961 tại Sài Gòn, và phát hành liên tục đến số 749 (17/11/1963) Tờ báo đặt trụ sở
tại số 216 đường Gia Long, Sài Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng, Quận I, thành phố
Hồ Chí Minh)
Tiếng Dội Miền Nam là tờ nhật báo thông tin nghị luận; khổ báo 43cm x
59cm, phát hành vào các ngày: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ
nhật Riêng ngày chủ nhật và thứ hai chỉ ra một số đặc biệt có thêm bốn trang phụ
trương với khổ 30,05cm x 43,4cm (tháng 1/1962) Sang tháng 2 năm 1962, số đặc biệt
ra vào ngày thứ bảy và chủ nhật
Trang 21- Nội dung tờ báo:
+ Trang thứ nhất: là trang thời sự gồm: tin tức, phóng sự, bình luận, vv…
+ Trang thứ hai: là trang văn học nghệ thuật, thể thao, quảng cáo và linh tinh gồm:
tiểu thuyết, thơ, sân khấu kịch trường, tân nhạc, điện ảnh và thể thao
+ Trang thứ ba: là trang văn học gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, hộp thơ sắc đẹp,
quảng cáo và linh tinh,v.v…
+ Trang thứ tư: đăng những phần tiếp theo của các bài nơi trang 1, 2 và 3; quảng cáo
Thỉnh thoảng thêm mục Thiên hạ đồn và Diễn đàn chung
Tờ phụ trương đặc biệt có:
+ Trang 1 gồm các mục: Ít người biết chuyện này, Allo, thơ, chuyện bằng tranh
+ Trang 2: văn học, lịch sử, câu đố, ô số, có ý gẫm
+ Trang 3: giải trí và xây dựng, thơ, phần tiếp theo của những bài ở trương 1 và 2
+ Trang 4: sân khấu (bằng tranh)
- Đường lối của tờ báo: Chủ trương của chủ báo Trần Tấn Quốc là "… sử dụng ngòi
bút để… quyết làm cho điều phải nó thắng điều quấy,…" [77; 224]
Ban biên tập tờ báo gồm: Trần Tấn Quốc; Văn Hoàn; Ngọa Long; Tế Xuyên; Thiệu
Võ; Ngọc Hồ; Thanh Đạm; Vân Lương; Đào Văn Thọ; Nàng Oanh; Hoài Ngọc; Lê
Tấn; Phan Khanh; Thiện Mộc Lan
Tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời ngày càng có đông độc giả ủng hộ, xuất bản liên tục
đến khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1/11/1963), tờ báo này còn tồn tại thêm
mười bảy ngày nữa
Ngày 18/11/1963, "Tiếng Dội Miền Nam" của Trần Tấn Quốc đổi tên là "Dân Quyền"
và tồn tại đến ngày 02/07/1965
- Các số báo khảo sát:
1.3.2.2 Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971
Là tờ báo sau cùng của Trần Tấn Quốc; ông vừa là chủ báo, vừa là chủ bút Ông Nam
Đình Nguyễn Thế Phương giữ vai trò cố vấn cho ban biên tập
Số đầu tiên ra ngày 09 tháng 10 năm 1968
Trụ sở tờ báo đặt tại số 4, đường Nguyễn Văn Thinh, Sài Gòn; sau ngày giải phóng
(30/04/1975) đường này đổi tên mới là Mạc Thị Bưởi
Tờ "Đuốc Nhà Nam" của Trần Tấn Quốc (1968-1972) không phải là tờ "Đuốc Nhà
Nam" do ông Nguyễn Phan Long (một nhà báo lớn ở Nam Kỳ) sáng lập (1928-1937)
Chủ trương của tờ báo là thực hiện phương châm: Toàn Việt, Hưng Việt, Bảo Việt
Đây là tờ báo có đông đảo độc giả mến chuộng
Những bài xã thuyết, nhận định của Đuốc Nhà Nam do Trần Tấn Quốc hoặc Nam
Đình viết đã thẳng thắn phê phán những sai lầm về mặt kinh tế, tài chánh của chế độ
Nguyễn Văn Thiệu một cách quyết liệt [77; 235]
Tờ nhật báo có khổ là 42,05cm x 58cm, phát hành vào các ngày thứ hai, thứ ba, thứ
tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật Riêng ngày chủ nhật và thứ hai ra chung
một số đặc biệt
Mỗi số báo gồm sáu trang, số đặc biệt cũng vậy
Trang thứ nhất là trang thời sự: gồm tin tức, phóng sự, bình luận, xã thuyết, v.v…
Trang thứ hai: là trang lịch sử và văn học, có thêm quảng cáo, đố vui và linh tinh
Trang thứ ba có các mục: nguyện vọng nhân dân, tin tức, phóng sự, thể thao, đô vật,
tai vách mạch rừng và xổ số
Trang thứ tư: chương trình ti vi, từ sân khấu đến cuộc đời, chuyện vui, quảng cáo, hộp
thơ Đuốc Nhà Nam, tin tức (tiếp theo trang 3)
Trang thứ năm: là trang văn học (khảo luận, thuật bình, tiểu thuyết) và lịch sử
Trang thứ sáu: Thiên hạ đồn, tin tức, quảng cáo; đô vật; xổ số và những phần tiếp theo
của các bài ở trang thứ nhất
Trang 22Ban biên tập của nhật báo Đuốc Nhà Nam (1968-1972) qui tụ nhiều cây bút tên tuổi
thời ấy: Trần Tấn Quốc, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Ngọa Long, Việt Lang
Quân, Phương Khanh, Nguyên Hồ, Việt Sinh, Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Tử Quang,
Nhất Tâm, Phạm Tử Anh, Thanh Hải, Ngọc Đỉnh, Tiến Lợi, Hoàng Phương Nam,
Trần Lang, Lan Đình Khánh, Hoàng Phương Nam, H Công Minh, Minh Chiếu
Tờ Đuốc Nhà Nam đang mạnh tiến trên đường ngôn luận, thì ngày 04/09/1972 tự ý
đình bản theo điều 02 của sắc luật 007/TT/SLU do Nguyễn Văn Thiệu ban hành ngày
04/08/1972 "Sau ba mươi ngày SL 007 ban hành và có hiệu lực, tức ngày 03/09/1972
là thời hạn chót, báo nào đang xuất bản mà không hội đủ điều kiện luật định trong đó
có điều kiện mỗi nhựt báo phải ký quỹ Hai mươi triệu đồng tại Tổng nha Ngân khố sẽ
bị coi như tự ý đình bản"
Sau đây là các báo được khảo sát:
1.3.2.3 Nhật báo Tuổi Trẻ (2006)
Trong thời gian khảo sát tờ báo này thì Tổng biên tập là ông Lê Hoàng
Tòa soạn - Trị sự đặt tại số 60A Hoàng Văn Thụ, phường 9, Quận Phú Nhuận, Thành
Phố Hồ Chí Minh
Khổ báo: 29cm x 40,5cm
Tờ báo gồm các trang: Thời sự / Pháp luật, Nhà nước và công dân / Khoa học quanh
ta / Văn hóa, nghệ thuật, Giải trí / Tình yêu, hôn nhân, gia đình / Kinh tế / Giáo dục /
Thể thao/ Thế giới hôm nay, v.v… và nhiều trang quảng cáo, linh tinh
Tuổi Trẻ là một tờ báo thuộc cấp địa phương có số phát hành tương đối cao nhất ở
Việt Nam, 335.000 ấn bản một ngày (số liệu thu nhập vào tháng 4-2004) [79; 230]
Báo Tuổi Trẻ là tiếng nói của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trong thông báo ngày 21/06/1986, Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã
nhận định: "Về phía báo chí thành phố, chủ yếu là báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Tuổi
Trẻ và Đài phát thanh, Đài truyền hình, đã có những cố gắng vượt bực, đổi mới phong
cách hoạt động, dồn nhiều công sức để có thể thực hiện tốt chức năng của mình là
tiếng nói của Đảng, đoàn thể, đồng thời là tiếng nói của quần chúng nhân dân" [79;
233]
Nhìn chung, hiện nay Tuổi Trẻ là một nhật báo được đông đảo quần chúng mến
chuộng Sau đây là các số báo khảo sát:
Các mục khảo sát:
Việc khảo sát được thực hiện trên các mục:
Tin tức: Viết theo thể loại văn báo chí về tin tức, khảo sát việc sử dụng phương ngữ
trên tất cả các tin trong và ngoài nước
+ Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962: Tin tức chủ yếu đăng nơi trang 1 và
trang 4
+ Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971: Tin tức chủ yếu đăng nơi trang 1, 3, 4 và 6
+ Nhật báo Tuổi Trẻ 2006: Tin tức chủ yếu ở các trang thời sự và trang "Thế
giới hôm nay"
Truyện ngắn: Thuộc phần văn học nghệ thuật
+ Nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962: Truyện ngắn đăng nơi trang 3, mỗi truyện
ngắn ký tên một tác giả, bài gởi do Tòa soạn chọn và trả tiền nhuận bút
+ Nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971: Truyện ngắn nằm trong mục: "Tuổi Hồng"
nơi trang 2 do Minh Trí phụ trách, mỗi truyện ký tên một tác giả
+ Nhật báo Tuổi Trẻ 2006: Truyện ngắn đăng nơi trang Văn hóa - Nghệ thuật -
Giải trí; mỗi truyện ký tên một tác giả
Trớ trêu, Thiên hạ đồn, Tai vách mạch rừng, Chuyện thường ngày: Viết theo thể loại
châm biếm
Trang 23+ Trớ trêu: đăng nơi trang 1, trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962, thường
ký tên N.O hoặc Ngọa Long
+ Thiên hạ đồn: thường đăng nơi trang 4 trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam
1962; và trang 6 trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971, không ký tên tác giả
+ Tai vách mạch rừng: đăng nơi trang 3 trên nhật báo Đuốc Nhà Nam; do
Trần Tấn Quốc tên thật là Trần Chí Thành, sinh ngày 25 tháng 09 năm 1914 (Giáp
Dần) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc thị xã Cao Lãnh, tỉnh
Đồng Tháp) Thân phụ là cụ Trần Tấn Hưng, một đông y sĩ nổi tiếng, từng tham gia
vào các phong trào yêu nước của các nhà cách mạng ở Cao Lãnh như: Lưu Quang
Bật, Phạm Nhơn Thuần, Lê Văn Mỹ, Lê Chánh Đáng, Lê Văn Sao… Cụ Trần Tấn
Hưng sinh năm 1884, và qua đời tại Cao Lãnh ngày 07 tháng 10 năm 1960, hưởng thọ
76 tuổi Thân mẫu Trần Tấn Quốc là bà Lê Thị Lư, cũng sanh năm 1884 và mất tại
Cao Lãnh ngày 01 tháng 12 năm 1975, hưởng thọ 91 tuổi
Trần Tấn Quốc là con thứ tư trong số mười chị em (người Nam bộ gọi là thứ năm)
Thuở nhỏ ngoài việc học ở nhà trường, ông còn được gia đình cho học thêm chữ Hán
Năm 1930, Trần Tấn Quốc đậu bằng sơ học (về sau đổi tên là bằng tiểu học: Certificat
d'Études Primaires)
Lúc bấy giờ cả thế giới tư bản giẩy chết trong khủng hoảng kinh tế do sản xuất thừa
(1929 - 1933); Đảng cộng sản Việt Nam thành lập đầu năm 1930 kịp thời lãnh đạo
phong trào cách mạng tiến lên những bước mới (đến tháng 10 năm 1930 đổi tên là
Đảng cộng sản Đông Dương, để đáp ứng yêu cầu của cả ba dân tộc trên bán đảo Đông
Dương lúc đó đoàn kết lại dưới ngọn cờ lãnh đạo tập trung thống nhất, để chống kẻ
thù chung là đế quốc Pháp)
Từ tháng 5 năm 1930, Trần Chí Thành tham gia vào các phong trào nổi dậy chống
Pháp của nhân dân tại Cao Lãnh và Sa Đéc, bắt đầu là cuộc biểu tình lớn nhất tại Cao
Lãnh ngày 03 tháng 05 năm 1930 Tháng 8 năm 1930, ông bị bắt tại xã Mỹ Trà (Cao
Lãnh), sau đó bị kêu án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo, nhưng cuối cùng ông được giảm
án một năm (1930 - 1934)
Ngay từ năm học lớp nhì, lớp nhứt (nay là lớp bốn, lớp năm), Trần Tấn Quốc đã có
ước vọng muốn làm báo, ông xem ông Diệp Văn Kỳ (1895-1945), một nhà báo lớn
nổi tiếng thời ấy, như một thần tượng
Ông Diệp Văn Kỳ sinh năm 1895 tại Huế, thân phụ là cụ Diệp Văn Cương, một ông
quan thanh liêm Thân mẫu là em gái vua Thành Thái
Nhờ sự giúp đỡ của gia đình vợ, ông Kỳ sang Pháp du học đổ cử nhân luật và cử nhân
văn chương Về nước một thời gian, ông Kỳ sang tờ Đông Pháp thời báo của ông
Nguyễn Kim Đính xuất bản mỗi tuần 3 lần Ít lâu sau, ông ra tờ nhật báo Thần Chung
chủ trương bênh vực nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, nên được độc giả ủng
hộ ngày càng đông Cũng vì thế mà nhà cầm quyền Pháp để ý theo dõi, và ngày
24/03/1930 tờ Thần Chung bị đóng cửa Ông Diệp Văn Kỳ là nhà báo dám viết báo
công khai bênh vực ông Nguyễn An Ninh khi ông Ninh vì hoạt động chính trị mà bị
tội tù Tờ Thần Chung bị đóng cửa nhưng ông Kỳ vẫn tiếp tục viết báo phê phán mạnh
mẽ chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp
Tháng 9/1945, ông Diệp Văn Kỳ qua đời tại Trảng Bàng-Tây Ninh, hưởng thọ 50
tuổi
Trang 24Người bạn tù gắn bó với Trần Chí Thành ba năm tại Côn Đảo (1932 - 1934) là ông
Nguyễn Văn Nguyễn (1910 - 1953) Ông Nguyễn với bút hiệu Ngũ Yến đã nổi tiếng
trên các báo: La tutte, L'Avant - Garde, Dân Quyền,v.v…[77; 120] Ông Nguyễn là
người đã hướng dẫn Chí Thành vào con đường làm báo
Sau khi ở Côn Đảo về một thời gian, Trần Tấn Quốc từ giã gia đình lên Sài Gòn kiếm
sống, ông vẫn ôm mộng làm báo Tác phẩm đầu tay của Trần Tấn Quốc là thiên
phóng sự "Những hoạt động và mánh lới của bọn móc túi Sài Gòn" Bài này viết năm
1936, và được nhật báo Việt Nam (chủ nhiệm là ông Nguyễn Phan Long) trả nhuận
bút hai mươi đồng Sau đó, Trần Tấn Quốc được nhựt báo này thu vào làm phóng
viên với số lương ba chục đồng một tháng Kể từ đây (tháng 6-1936), Trần Tấn Quốc
chánh thức gia nhập đội ngũ báo chí Sài Gòn [77; 103]; năm ấy ông 22 tuổi, đúng vào
thời gian phong trào Đông Dương Đại hội bùng nổ mạnh mẽ
Hai người thầy đầu tiên dạy Trần Tấn Quốc làm báo là ông Nguyễn Phan Long (chủ
nhiệm báo Việt Nam), và ông Đào Trinh Nhất (chủ bút báo Việt Nam)
Năm 1938, Trần Tấn Quốc cộng tác với tờ nhựt báo do ông Nguyễn Bảo Toàn làm
chủ
Năm 1939, cộng tác với tờ Công Luận và sau đó là tờ Truyền Tin (cả hai đều do
Giang Văn Chánh làm chủ)
Từ năm 1940 - 1945 viết cho tờ Điển Tín của ông Lê Trung Cang, đây là thời kỳ
chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), tình hình chính trị Viễn đông nói chung
và Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề
Từ tháng giêng năm 1946, Trần Tấn Quốc được tờ Tin Điển của cô Anna Lê Trung
Cang mời làm chủ bút Sau đó ông làm chủ bút cho nhiều nhật báo như Tin Mới của
Anna Lê Trung Cang, Dư Luận của Nguyễn Phan Long, Việt Thanh của Nguyễn Phan
Long, Le Temps của Trần Văn Lễ
Từ năm 1946 - 1949, Trần Tấn Quốc viết nhiều bài báo đả kích mạnh mẽ chánh sách
phân ly (Nam kỳ tự trị) do âm mưu "chia cắt đất nước ta" của Đô đốc Cao Ủy Pháp
Thierry D'Argenlieu
Từ tháng 6 đến tháng 12-1949, Trần Tấn Quốc được ông Võ Thành Cứ nhường cho
khai thác tờ Việt Nam (tờ Việt Nam này hoàn toàn khác với tờ Việt Nam của ông
Nguyễn Phan Long)
Đầu năm 1950, ông Phan Văn Thiết nhường tờ Tiếng Dội cho Trần Tấn Quốc làm chủ
nhiệm Trần Tấn Quốc liền mở một trang kịch trường ở tờ báo này (1950), mục đích
thúc đẩy sự tiến triển của ngành sân khấu cải lương Tháng 11 năm 1954, tờ Tiếng
Dội bị rút giấy phép
Phóng sự "Ba tháng khói lửa đô thành" viết về thời kỳ Ngô Đình Diệm đánh Bình
Xuyên (1955), đăng trên báo Tiếng Dội Miền Nam, là tác phẩm ưng ý nhất của Trần
Tấn Quốc
Từ đầu năm 1955 đến tháng 5 năm 1956, ông Ngô Công Minh giao cho Trần Tấn
Quốc điều khiển tờ Lẽ Sống
Tháng 7 năm 1956, ông Trần Quốc Bửu, chủ nhiệm tờ nhật báo Công Nhân, mời Trần
Tấn Quốc làm chủ bút tờ nhựt báo này Đến tháng 3 năm 1958, Trần Quốc Bửu lấy tờ
Công Nhân lại Bấy giờ, Trần Quốc Bửu là chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao công Việt
Nam (Việt Nam cộng hòa)
Tháng 7 năm 1958, chủ nhiệm báo Buổi Sáng là Tam Mộc (Mai Lan Quế) giao tờ
Buổi Sáng cho ông Quốc điều khiển Cuối tháng 2 năm 1961 Trần Tấn Quốc giao trả
Buổi Sáng lại cho ông Tam Mộc và về Cao Lãnh
Cũng năm 1958, Trần Tấn Quốc thành lập "giải Thanh Tâm" với mục đích khuyến
khích các nghệ sĩ trẻ ngành sân khấu Hai năm đầu, ông Quốc đài thọ mọi khoản chi
cho giải Nữ nghệ sĩ Thanh Nga là người đầu tiên lãnh huy chương vàng giải Thanh
Trang 25Tâm năm 1958 tại nhà hàng Bồng Lai Sài Gòn đêm 04-04-1959 Trong 10 năm hoạt
động, giải Thanh Tâm tạo được nhiều uy tín; nhưng đến năm 1968, do tình hình chiến
sự khốc liệt, giải Thanh Tâm phải ngưng hoạt động
Từ ngày 07/06/1961, Trần Tấn Quốc là chủ báo nhật báo Tiếng Dội Miền Nam Đến
ngày 18/11/1963 tờ "Tiếng Dội Miền Nam" đổi tên là "Dân Quyền" và tồn tại tới ngày
02/07/1965
Yêu ngành sân khấu cải lương, Trần Tấn Quốc còn mở ra "cuộc thi thơ sân khấu" trên
nhật báo Tiếng Dội Miền Nam nơi trang hai Yêu cầu của cuộc thi này là mỗi câu thơ
của bài thi đều phải ghép một hay hai tựa tuồng ca kịch, ví dụ như:
Anh như sóng lạnh trùng dương,
Mà em có một tình thương chưa về…
09/01/1962
Đường về mấy dặm sơn khê,
Thuyền ra cửa biển ê chề xót xa…
13/02/1962
Tựa như tiếng hú đồi ma,
Cuốc kêu tìm bạn xa xa não nề…
17 & 18/02/1962
(Những cụm từ in nghiêng là tên của các tựa tuồng ca kịch)
Bài thi được chọn là hay nhất sẽ được thưởng một quà kỷ niệm đáng giá trên ngàn
đồng, có khắc chữ "báo Tiếng Dội tặng"
Tờ báo sau cùng của Trần Tấn Quốc là nhật báo Đuốc Nhà Nam (09/10/1968 -
04/09/1972)
Sau khi nhật báo "Đuốc Nhà Nam" tự ý đình bản theo điều 02 của sắc luật
007-TT/SLU, Trần Tấn Quốc tiếp tục viết cho các tờ Điện Tín của Hồng Sơn Đông, Tia
Sáng của Nguyễn Trung Thành
Trần Tấn Quốc làm báo dưới bảy chế độ chính trị:
Chê độ Ngô Đình Diệm,
Chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Ông sử dụng mười hai bút hiệu:
Mỗi bút hiệu dùng để ký những loại bài khác nhau, chẳng hạn bút hiệu Trần Tấn
Quốc ký những bài xã thuyết, nhận định; bút hiệu Thanh Tâm, Chàng Ba, Nghệ Sĩ
Trang 26Mù, Cô Hạnh ký những bài viết về ca kịch; bút hiệu Anh Thành ký những bài về sưu
tầm lịch sử như "Nam kỳ quốc" Ông để lại một số tác phẩm như:
- Sài Gòn September 1945 (kể lại tình hình chính trị quân sự tại Sài Gòn khi quân
Anh dưới danh nghĩa Đồng Minh đến giải giới quân Nhật, hổ trợ quân Pháp tái chiếm
Sài Gòn)
- Nam Bộ kháng chiến (chưa xuất bản)
- Cô gái Côn Đảo (vạch trần chế độ tù đày ác nghiệt, dã man của thực dân Pháp; tác
phẩm này đăng trên nhật báo Buổi Sáng năm 1959)
- Kỷ niệm làm báo 1936 - 1975 (chưa xuất bản)
- Phóng sự "Ba tháng khói lửa đô thành" viết về thời kỳ Ngô Đình Diệm đánh Bình
Xuyên (1955), đăng trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam
Tháng 11/1975 Trần Tấn Quốc hồi hương về Cao Lãnh sống chuỗi ngày đạm bạc
Theo tài liệu "Trần Tấn Quốc - Bốn mươi năm làm báo" Thiện Mộc Lan có kể lại
rằng khi chuẩn bị hồi hương, Trần Tấn Quốc có bán ngôi nhà ở hẻm Vệ Năng, đường
Phan Văn Trị, Gia Định để về quê sinh sống Nhưng số tiền này chỉ giúp cha con ông
sống đến năm 1984, vì sau khi miền Nam được giải phóng, nhà cửa chỉ bán được với
giá rẻ mạt Để giải quyết cuộc sống tiếp theo, tháng 8/1985 Trần Tấn Quốc lại bán
ngôi nhà bên bờ sông Đình Trung (xã Mỹ Trà, Cao Lãnh) do ông xây cho song thân
từ năm 1959, rồi hai cha con về ở nhờ nhà người em ruột của ông là cô Sáu Mạo Sau
một thời gian, năm 1986, Trần Tấn Quốc cất một ngôi nhà lá bên bờ sông Đình
Trung, đây là ngôi nhà cuối cùng của ông Cuối tháng 12/1986, tiền bán nhà lại hết
sạch, Trần Tấn Quốc không còn gì để bán nữa…
Đến ngày 28/04/1987 ông qua đời tại quê nhà, trong ngôi nhà lá ở bờ sông Đình
Trung, hưởng thọ 73 tuổi
Có thể kết luận cuộc đời thăng trầm của Trần Tấn Quốc bằng hai câu thơ sau đây
không?
Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt,
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu
(Vũ Hoàng Chương)
Trang 27
CHƯƠNG HAI PHÂN LOẠI TỪ NGỮ NAM BỘ
Từ ngữ Nam bộ sử dụng trên các báo Tiếng Dội Miền Nam 1962, Đuốc Nhà
Nam 1971 và Tuổi Trẻ 2006 trong phạm vi các mục khảo sát có thể phân thành bốn
loại (dựa trên sự khác biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ với tiếng
Việt toàn dân, hay phương ngữ Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ):
Là những từ địa phương có sự đối lập về mặt ý nghĩa với từ địa phương Bắc
bộ hay từ vựng văn học toàn dân, nhưng về mặt ngữ âm thì giống nhau Những từ này
không có quan hệ nguồn gốc gì với nhau
Tất cả có thể được phân thành ba dạng:
2.1.1 Những từ đồng âm ở hai phương ngữ đều thuộc cùng một từ loại:
Từ "bậy bạ" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "sơ sài", "qua loa"
+ Có thể kiếm bậy bạ chừng 100 ghim
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 21&22/02/1971)
"Bậy bạ" trong tiếng Việt toàn dân cũng là tính từ, nhưng có nghĩa "quá sai lầm, xấu
hổ"
Từ "Chệc" (còn viết là chệt) là danh từ, trong phương ngữ Nam bộ là tiếng gọi người
đàn ông Trung Hoa
+ Chệc già xề tới đỡ hắn dậy
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)
Từ "chệc" trong tiếng Việt toàn dân cũng là danh từ, nhưng có nghĩa là "bệnh của loài
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 20/02/1971)
Từ "chọc" trong tiếng Việt toàn dân cũng là động từ, nhưng có nghĩa "đâm vào, thọc,
khều cái gì ở trên cao với cây sào"
Từ "Cỡ" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có nghĩa "độ, chừng, khoảng, ước
chừng", đây là từ biểu thị sự ước đoán, phỏng chừng, từ này có mặt trên cả ba tờ nhật
báo:
+ Tới nay số tồn quỹ còn cỡ 250 triệu
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 13.01.1962) + Nhứt định phải trả cho cậu Hai bằng 50 chiếc xà lan cỡ lớn
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 27.2.1971) + Con cá dứa đang say mồi Chắc nó làm biếng lắm nên há họng thật to, nuốt chửng
cả đống trái mắm mới tạo dòng chảy xoáy mạnh cỡ này
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006) Tiếng Việt toàn dân cũng có từ "cỡ" là danh từ, nhưng với nghĩa là "khuôn khổ"
Ví dụ: cỡ giấy 60 x 84
Từ "đụng" trong phương ngữ Nam bộ là động từ có nghĩa "lấy nhau, gặp phải một
cách bất ngờ, động chạm tới" [31,518]:
Trang 28+ Thảo nào mà trước đây mỗi khi đụng chuyện, họ làm coi cũng tợn quá
(Thiên hạ đồn, Đuốc Nhà Nam, 18/03/1971)
Trong tiếng Việt toàn dân, "đụng" cũng là động từ, với nghĩa "chạm phải khi chuyển
động" [53, 282]
Từ "hồ" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có hai nghĩa là "bể chứa nước; vôi, vữa
để xây dựng" Từ này được sử dụng trên báo Tiếng Dội Miền Nam với nghĩa thứ nhất
+ … Đặt trên nóc hồ nước
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 17 & 18.02.1962) Trong tiếng Việt toàn dân, "hồ" cũng là danh từ, nhưng với nghĩa "chất keo dán"
Từ "mòi" là từ địa phương Nam bộ, thuộc loại danh từ, có hai nghĩa; nghĩa thứ nhất là
"dấu hiệu, triệu chứng":
+ Coi mòi hết ăn khách
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 13/02/1971) + Coi mòi trong mình thấy khẳm…
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962) Nghĩa thứ hai là "tăm cá" (phần khảo sát không có nghĩa này)
Trong tiếng Việt toàn dân, "mòi" cũng là danh từ; nhưng là tên của một loại cá biển
nhỏ, mình lép, nhiều xương
Từ "vo" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa là "cuộn, xăn, lận cuốn tròn ở
bên ngoài từ dưới lên":
+ Xăn tay áo, vo ống quần
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 9.1.1962) Trong tiếng Việt toàn dân; "vo" cũng là động từ, có hai nghĩa: lấy tay ve tròn (vo viên
thuốc), và xát kỹ cho sạch (vo gạo, vo áo quần)
2.1.2 Những từ đồng âm ở hai phương ngữ khác từ loại:
Từ "bận" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa "mặc":
+ Bận đồng phục
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 21&22/02/1971)
Là danh từ có nghĩa "lần, lượt":
+ Qúi dân biểu nhà ta cũng liền nổi xí mứng hô hào phản đối và bận nầy thề… chết bỏ
thôi Làm thằng dân tuy bị cháy túi chớ cũng là mát ruột phần nào
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 27/02/1971) "Bận" trong tiếng Việt toàn dân hoặc phương ngữ Bắc bộ là tính từ, có nghĩa
"không rảnh"
Từ "khi" trong phương ngữ Nam bộ là động từ, có nghĩa là "khinh":
+ Nhưng đã lỡ "tuột cừng" ra rồi lại mặc vô người ta khi, nên lỡ bộ cho lỡ
luôn
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23/03/1971) Trong tiếng Việt toàn dân, "khi" là danh từ có nghĩa "hồi, lúc", là phó từ có
nghĩa "khi nào, lúc nào"
Từ địa phương Nam bộ "la" là động từ với nhiều nghĩa:
- Rầy mắng:
+ Thầy đã bao lần la…
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 03/03/1971)
+ Mà có làm thì dì Út cũng không cho, xớ rớ còn bị la
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006)
- Kêu:
+ Anh Tam Lang cứ xoay lưng một cái lấy được banh, Thách từ xa sút một cái, ba la
lên, người la, con cũng la, vui quá má à!
Trang 29(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 01/01/1962)
+ Các ông dân biểu la lửa, la củi,…
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 03/03/1971)
- Gọi:
Đầu gành có con ba ba,
Kẻ kêu con trạnh, người la con rùa
(Ca dao)
- Nói:
+ Chị Hai la hôm nay chỉ không đến được
Phần khảo sát không có hai nghĩa sau:
Trong tiếng Việt toàn dân, "la" là danh từ chỉ các sự vật:
- Nốt la: là tên một nốt nhạc (do, ré, mi, fa, sol, la, si, do)
- Con la: là con lai giữa lừa với ngựa
- Tên một loài dây leo
- "La" còn kết hợp với một yếu tố khác tạo thành từ kép như: La võng, La bàn,
La liệt
Trường hợp là tính từ (tiếng Việt toàn dân), "la" có nghĩa là "thấp, gần mặt
đất" (cành bồng, cành la, bay la: bay sà sà gần mặt đất)
Từ "mà" trong phương ngữ Nam bộ là ngữ khí từ, đặt ở cuối câu để chỉ kết
quả nhất định mà điều đã nói ra hàm ý hiểu ngầm:
+ Để phục vụ cho đúng mức vậy mà!
(Tiếng Dội Miền Nam, Thiên hạ đồn, 09.01.1962)
+ Dân ba xi đế ở xứ nầy kêu là… có phần chẳng cần gì lo mà!
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23.02.1971) + Sao tui thấy cũng… bình thường mà?
(Tuổi Trẻ, Chuyện thường ngày, 27.12.2006)
"Mà" thường được trẻ con phát âm thành "mờ" hay "mừ":
+ Nghề bán cháo phổi mờ!
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 27.02.1971)
"Mà" tương ứng với "mà lại" trong phương ngữ Bắc bộ:
+ Là con của giáo viên mà lại!
Trong tiếng Việt toàn dân "mà" không phải là ngữ khí từ nhưng thuộc nhiều
loại từ với những nghĩa khác nhau:
Trường hợp "mà" là phó từ, thì nó có nghĩa là "nhưng, để":
+ Giàu mà không có đức
"Mà" còn được dùng liền sau với chủ từ để đặt câu điều kiện:
+ Nó mà thi đậu thì gia đình nó sẽ mừng lắm
"Mà" là giới từ, nó sẽ là tiếng nối hai vế câu
+ Tôi đã hoàn tất điều mà anh yêu cầu hôm nọ
Nếu "mà" là động từ thì nghĩa của nó là "dùng ảo thuật để che mắt mọi
người": bị mà
Tiếng Việt toàn dân còn có từ "mà" là danh từ, đó là "lỗ nhỏ ở đồng có nước
đục, có cá cua ở": mà cá, mà lươn
2.1.3 Một trong hai từ đồng âm hoặc cả hai từ đồng âm là từ đa nghĩa, mỗi
nghĩa thuộc một từ loại khác nhau, và một hoặc một số các từ loại trên hai từ đồng âm
có thể giống nhau hoặc khác nhau:
Từ "bét" trong phương ngữ Nam bộ là động từ có nghĩa là "mở toang ra":
+ Mở bét cửa ra cho mọi người vào xem
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 23/03/1971)
Trang 30Là động từ, nó cũng có nghĩa "lẩn tránh, lãng ra, bàn ra"
Là tính từ, nó có nghĩa "lèm nhèm vì bệnh chảy nước ghèn, chót"
Trong phần khảo sát không có những nghĩa sau này
Trong tiếng Việt toàn dân, "bét" là tính từ với nghĩa "nát nhừ, hư hỏng", là danh từ
"bét" tức là "loại bọ ký sinh bám ở da thú vật, nhất là ở lỗ tai" (bét chó) [91, 91]
Từ "bơ" trong phương ngữ Nam bộ là động từ; có nghĩa là "bê, bưng":
+ …nuốt dần miếng nước bọt xuống cổ họng và thọt tay bơ ly rượu để tống hạ
nó luôn
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 9.1.1962)
Là tính từ, "bơ" có nghĩa "thất vọng hoặc hụt ăn, ngớ, quê" (đòi bánh, má
không cho làm thằng nhỏ bơ); nghĩa này không có sử dụng trong phần khảo sát
Với tiếng Việt toàn dân, "bơ" là danh từ với nghĩa "mỡ, sữa", là tính từ, thì
"bơ" lại có nghĩa là "không biết xấu hổ":
+ Bị mắng xấu hổ nhưng mặt hắn cứ "bơ" ra
Từ "đại" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "bừa, ẩu":
+ … và khách đã đi đại vào nhà tôi hơi đột ngột, …
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 10/02/1971 + … Ông chủ trường dạy lái xe hơi nọ vừa bị cô hồn khám Chí Hòa điểm
danh… muốn cho mình va vào thiên hạ an khang, nên đưa đại người câm và điếc đi
thi bằng lái xe để cán ẩu, đụng bướng người ta cho vui,…
(Tiếng Dội Miền Nam, Trớ trêu, 25/01/1962)
"Đại" trong tiếng Việt toàn dân là từ gốc Hán: là danh từ có nghĩa "đời" (cận
đại); là động từ có nghĩa "thay thế" (đại diện); là tính từ có nghĩa "lớn, to" (đại cường
quốc)
Từ "gắt" trong phương ngữ Nam bộ là tính từ, có nghĩa "xiết, dữ dội, kịch liệt":
+ Một thông tín viên khác hỏi gắt…
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 24/01/1962) + … bắn lên rất gắt
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 21&22/02/1971) + … bị truy đuổi quá gắt,
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 05/12/2006) Trong phương ngữ Bắc bộ là động từ, "gắt" có nghĩa "nói nặng tiếng", là tính từ có
nghĩa "không được trơn tru"
Từ "khơi" trong phương ngữ Nam bộ là động từ với nghĩa "khêu":
+ Bao tâm sự được khơi lại
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 06.01.1962)
+ Khơi tìm đâu cho mệt
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 20.02.1971)
+ Khơi dậy tinh thần quật khởi
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 12.12.2006)
Là tính từ , "khơi" có nhiều nghĩa:
- Suông, không cụ thể, không chắc chắn:
+ Còn có bao nhiêu tin tức địa phương thứ nhồi sọ giựt gân khác, từ tỉnh nọ qua tỉnh
kia, mà tưởng người yếu tim, nghe khơi cũng đã ngộp thở
(Tiếng Dội Miền Nam, Trớ trêu, 13.02.1962)
+ Chỉ nói khơi khơi nên đâu còn hoàn đó
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 10/02/1971)
- Sơ sài, qua loa, không đủ bộ: Ăn khơi mấy chén cơm
- Bổng, cao, lơ lửng ở trên: Cái thùng kê khơi trên mặt đất
- Không sát thực tế, quan liêu: Anh khơi rồi, trước khác bây giờ khác
Trang 31Từ "khơi" với ba nghĩa sau không có trong phần khảo sát
Trong tiếng Việt toàn dân, "khơi" là động từ có nghĩa "khai, đào" (khơi kênh:
đào kinh), nếu là danh từ thì có nghĩa "phần biển ở xa bờ" (ra khơi đánh cá)
Tứ "khứa" trong phương ngữ Nam bộ là danh từ, có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất
là "khúc, đoạn, khoanh":
+ Chẳng hạn khứa cá kho trước kia dầy một phân thì bây giờ còn chừng bằng…
(Tiếng Dội Miền Nam, Thiên hạ đồn, 09/01/1962) Nghĩa thứ hai là "tên ấy, hắn, nó" (phần khảo sát không có nghĩa này)
Là động từ "khứa" có nghĩa là "cứa", là tính từ có nghĩa là "khớ, khá, nhiều,
thiếu gì" (trong phần khảo sát không có nghĩa của động từ và tính từ)
Trong tiếng Việt toàn dân, "khứa" là danh từ có hai nghĩa "nấc nhỏ, khách"
Từ "nhắm" trong phương ngữ Nam bộ:
Là danh từ, nhắm là biến thể ngữ âm của "nắm":
+ Con cá bằng nhắm tay
Từ "nhắm" trong phạm vi khảo sát không mang nghĩa này
Là động từ, nhắm có nghĩa "nhằm vào, để mà":
+ Nhắm vào mục đích siết chặt tình đoàn kết,
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 14&15/01/1962)
+ Nhắm vào các ông bà dân biểu mà lên án quá xá!
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 17/03/1971) + Chỉ nhắm giới doanh thương
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 13/03/1971)
+ Nhắm đến thị trường
(Tuổi Trẻ, Tin tức 17/12/2006)
Hoặc cũng có nghĩa "xem ra, xét ra":
+ Nhắm không thể chạy thoát được
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 20/01/1962)
Trong tiếng Việt toàn dân, "nhắm" là động từ với các nghĩa:
- Khép kín mí mắt: Nhắm khít lại
- Nheo mắt mà nhìn cho ngay: Nhắm bia mà bắn
- Ăn thử, nếm: Nhắm chút đồ chua để uống ruợu
Từ "nhằm" trong phương ngữ Nam bộ có nhiều nghĩa:
Là tính từ có nghĩa "trúng, đúng, phải"
+ Nhằm ngày 26 tháng 1…
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 19/01/1962)
+ …dúi vào miệng em nửa cục kẹo, vài trái chùm ruột,… báo hại nhằm lúc cô kêu trả
lời, em nuốt muốn phát nghẹn
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 10/03/1971)
+ Chạm nhằm một vật gì dưới nước… Tuy vậy không có thủy thủ nào bị thương
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 02/03/1971)
+ Nhằm ngày 22/02/2007…
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 27/12/2006)
+ Từ 2 tháng 3, đến 7 tháng 3 năm 1971; nhằm 6 tháng 2, đến 11 tháng 2 (Tân Hợi)
(Tin tức, Đuốc Nhà Nam, 02/03/1971)
Là động từ, "nhằm" có nghĩa "chịu, ưng ý", diễn tả trạng thái ước muốn, chấp
nhận:
+ Nó nhằm cô em, nó đâu có muốn cô chị
Từ "nhằm" trong phần khảo sát không mang nghĩa này
Điều thú vị là trong tiếng Việt toàn dân, từ "nhằm" ứng với từ "nhắm" trong phương
ngữ Nam bộ (Học nhằm đi làm quan) ở nghĩa "nhằm vào, để mà",…
Trang 32Một ví dụ nữa là từ "xớ rớ"
Trong phương ngữ Nam bo, "xớ rớ" thuộc nhiều loại từ với nhiều nghĩa:
Là tính từ, nó có nghĩa: láng cháng, lảng vảng, quanh quẩn ở một nơi mà không có
việc gì phải ở đó cả, nên gây cảm giác chật chội, lăng xăng [31, 1379]:
+ Đứng xớ rớ trong giây lát, một tên đến tìm kép Hùng Cường để gây chuyện
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 25.01.1962)
+ Mà có làm thì dì Út cũng không cho, xớ rớ còn bị la
(Tuổi Trẻ 2006, Truyện ngắn, 03.12.2006)
Xớ rớ còn có nghĩa "chẳng mấy chốc, thấm thoắt":
+ Xớ rớ là đến tết rồi
Là động từ, "xớ rớ" ứng với việc "phụ giúp vặt vãnh":
+ Xớ rớ cho cổ (Phụ giúp cho cô ta)
Hai nghĩa sau không có trong phần khảo sát
Trong tiếng Việt toàn dân, "xớ rớ" là tính từ, có nghĩa "tỏ bộ rụt rè, sợ sệt":
+ Đứng xớ rớ ở cửa
2.1.4 Trong phần khảo sát còn gặp một hiện tượng nữa, đó là:
Hai từ cùng đồng âm nhưng có thể nghĩa của từ này bao chứa nghĩa của từ kia
hoặc ngược lại
Ví dụ:
Từ "à" (ngữ khí từ) được dùng để hỏi khi người nói còn hồ nghi nên hỏi để biết rõ
ràng hơn Trong phương ngữ Nam bộ từ "à" tương ứng với "à" và "ạ" trong phương
ngữ Bắc bộ
+ Con đói quá mẹ à
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962) + Ơ … chị nầy hay nhỉ Bộ cứ viết bài thì phải biết mặt người mình gởi à, sao lạ vậy?
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 02/03/1971) + Chị Tám à
(Tuổi Trẻ, Chuyện thường ngày, 04/12/2006) Trong phương ngữ Bắc bộ, từ "à" chỉ được dùng khi người trên nói với người dưới
hoặc những người ngang hàng nói với nhau, trường hợp người dưới hỏi người trên
phải dùng từ "ạ"
Từ "kiếm" (động từ) trong phương ngữ Nam bộ ứng với hai từ "tìm" và "kiếm" trong
phương ngữ Bắc bộ:
a Cố ý kiếm người ấy…
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 7&8/01/1962)
b Ta sẽ kiếm cớ tống cổ con Hồng
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 27/01/1962)
c Khắp Sài Gòn - Chợ Lớn nước ngọt đã biến mất, đố ai vô các tiệm nước
Ba Tàu mà kiếm được một chai
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 13/03/1971)
d Mấy hôm rày bỏ công bỏ sở đi chen lấn, chưa kiếm được lá bùa hộ
mạng
(Đuốc Nhà Nam, Thiên hạ đồn, 27/02/1971)
e "Kiếm" sự uy thế vượt trên các nước khác…
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 13/12/2006)
f Đi lùng kiếm người Ả rập để trả thù
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 05/01/1962)
Trong câu (a), (c) và (f); từ "kiếm" của phương ngữ Nam bộ ứng với từ "tìm" của
phương ngữ Bắc bộ
Trang 33Trong các câu (b), (d) và (e); từ "kiếm" của phương ngữ Nam bộ cùng nghĩa với từ
"kiếm" của phương ngữ Bắc bộ
Phương ngữ Bắc bộ phân biệt "tìm" là tìm cái đã tồn tại; còn "kiếm" là chủ động tạo
ra cái mình muốn kiếm, cái chưa hiện hữu
Tương tự, trong khi phương ngữ Nam bộ có từ "nón" chỉ chung nón và mũ, phương
ngữ Bắc bộ chỉ gọi là "nón" khi đó là thứ đội trên đầu kết bằng lá
Như vậy, ở đây phương ngữ Nam bộ chỉ có một yếu tố "nón", còn phương ngữ Bắc bộ
có cả hai yếu tố "nón/mũ":
+ Lấy cái nón cho Ba
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 02/01/1962)
+ Nếu đến nước nầy, thôi thì cũng lạy các cha cả nón
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 25/02/1971) + Anh luôn đội nón Đầu không hói, tóc không dài, không xoăn Vậy cớ gì anh đội
nón?
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 17/12/2006)
Từ "đau" ngoài nghĩa chung là nhức nhối, khó chịu; trong phương ngữ Nam bộ "đau"
còn có nghĩa là "bệnh", tương ứng với từ "ốm" ở phương ngữ Bắc bộ:
+ Con đau mà ba má cứ cãi lộn hoài làm con đau thêm
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 04/01/1962)
+ Thằng Tuấn đau ban
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 21&22/01/1962)
Từ "ly" (danh từ) trong phương ngữ Nam bộ ứng với từ "cốc" (ly lớn) trong phương
ngữ Bắc bộ:
+ Chia sớt nhau từng cái bánh, ly nước
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 10/03/1971)
Từ "ly" (danh từ) trong phương ngữ Bắc bộ là cái cốc nhỏ để uống rượu
Từ "ly" ở phương ngữ Nam bộ có nghĩa chung hơn ở phương ngữ Bắc bộ
Từ xưa tới nay, lớp từ đồng âm khác nghĩa là lớp từ thường được sử dụng trong thuật
chơi chữ
2.2 Những từ khác âm nhưng đồng nghĩa (so với phương ngữ Bắc bộ hay từ
vựng toàn dân):
Là lớp từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm nhưng có nghĩa tương ứng
với từ vựng văn học toàn dân (hay phương ngữ Bắc bộ) Loại này có nhiều dạng:
2.2.1 Dạng thứ nhất gồm nhiều kiểu:
2.2.1.1.Trường hợp hai từ khác âm đồng nghĩa, nhưng một từ ở phương ngữ này có
thể vẫn xuất hiện ở phương ngữ kia Chẳng hạn:
Từ "Ốm" (tính từ) trong phương ngữ Nam bộ đồng nghĩa với từ "gầy" (tính từ)
của phương ngữ Bắc bộ:
+ Con ốm nhiều lắm
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962)
+ Cái quần xì gà màu nâu rộng phùn phình, càng làm cho cặp giò của Hoan ốm thêm
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 20/02/1971)
Tuy nhiên, phương ngữ Nam bộ vẫn sử dụng từ ngữ "ốm o gầy mòn":
+ Ốm o gầy mòn
(Tiếng Dội Miền Nam, 1962)
+ Chim chuyền nhành ớt líu lo,
Sầu ai nông nỗi ốm o gầy mòn
(ca dao)
Từ "chén" (danh tư), là từ địa phương Nam bộ giống nghĩa với từ "bát" trong phương
ngữ Bắc bộ:
Trang 34+ Nhìn mấy cái chén bể tan nát xà ngầu
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)
Nhưng người Nam bộ vẫn quen thuộc với thành ngữ: "Ăn cháo đá bát"
Từ "chửi" (động từ) là tiếng nói của người Nam bộ, có nghĩa tương ứng với từ
"mắng" của người miền Bắc:
+ Chửi cho mày thục vì hén
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962) + Bà con có không bằng lòng mà chửi bố thằng bạn xấu mồm, cũng mát ruột
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 14&15/02/1971) Nhưng người Nam bộ cũng như Bắc bộ đều không xa lạ với quán ngữ "Chửi
chó mắng mèo"
Từ "ráo" (tính từ) là từ địa phương Nam bộ giống nghĩa với "sạch, nhẵn,
không còn chút gì" (tính từ) trong phương ngữ Bắc bộ:
+ Không được cứu xét gì ráo
(Tiếng Dội Miền Nam , Tin tức, 17/01/1962)
+ Sẽ cho lật tẩy hết ráo
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 25/02/1971)
Nhưng cả hai phương ngữ đều chấp nhận chung thành ngữ: "Cạn tàu ráo
máng"
Phương ngữ Nam bộ có từ "heo" (danh từ) đồng nghĩa với từ "lợn" (danh từ)
của phương ngữ Bắc bộ
+ … cho heo ăn,
(Tiếng Dội Miền Nam , Truyện ngắn, 7&8/01/1962)
+ … liền cho biết: bởi vì năm "con heo" là tiếp tục năm "con chó" chẳng biết Ất, Giáp
thế nào mà vừa ra giêng thì…
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 10/02/1971)
+ Vậy nên bữa nào ông cũng mắc võng nằm trước sân, chờ dì Út thằng nhỏ về ngồi
xắt chuối cho heo, nói chuyện trên vườn, dưới ruộng
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006) Nhưng ở Nam bộ cũng có thứ bánh gọi tên là "bánh da lợn" và ở Bắc bộ người
ta cũng không xa lạ gì với quán ngữ "nói toạc móng heo"
Tiếng Nam bộ dùng từ "dư"và không dùng từ "thừa":
+ Ai nấy đều dư rõ…
(Tiếng Dội Miền Nam , Tin tức, 04/01/1962)
+ … hay cô sang bên tôi mà làm, … mà còn dư tiền nữa
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 12/01/1962)
+ Xứ mình vốn dư cá để làm khô, làm mắm
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng 14&15/02/1971)
+ Bộ thương mại cho biết phía Nhật Bản vừa thông báo tiếp tục phát hiện các lô hàng
tôm và mực Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này có dư lượng chất cấm
Chloramphenicol, gồm công ty…
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 13/12/2006)
Nhưng những từ ngữ "đổ thừa"; "ăn thừa" vẫn được dùng ở Nam bộ
Từ "trái" trong phương ngữ Nam bộ cùng nghĩa với từ "quả" trong phương
ngữ Bắc bộ:
+ …trở lên bờ xoay qua nghề buôn bán trái cây…, rồi sang qua nghề bán hàng vải,
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 7&8/01/1962)
+ ….trái sầu riêng, cụm trưởng ở Gia Long
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 11/03/1971) + … trái đất này…
Trang 35(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 06/03/1971)
+ Trái mắm tự nảy mầm, ra rể, hút lấy phù sa và lớn lên…
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006)
Nhưng cả hai vẫn chung nhau từ ngữ "sao quả tạ":
+ Chà!Thế nầy chắc là khôn tránh khỏi lãnh đủ một…sao quả tạ
(Đuốc Nhà Nam, 1971, Tai vách mạch rừng, 13/02/1971)
Thật là chưa nghe ai nói "sao trái tạ", cũng như chưa nghe ai nói "mặt quả
soan", mà chỉ nghe nói "mặt trái soan" dù là Bắc hay Nam, hay Trung bộ
2.2.1.2 Có những từ trong nghĩa cụ thể thì hai phương ngữ khác âm đồng nghĩa,
nhưng với nghĩa trừu tượng hay nghĩa phái sinh thì chúng giống nhau hoàn toàn:
Từ "bể" (động từ) trong phương ngữ Nam bộ, có nghĩa là "vỡ" (động từ) trong
phương ngữ Bắc bộ:
+ Nhìn mấy cái chén bể tan nát xà ngầu…
(Tiếng Dội Miền Nam , Truyện ngắn, 09/01/1962)
+ Một số khá lớn hư hao, bể hoặc thúi
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 18/02/1971)
+ Như sáng nay nè, thức dậy sớm để nấu cơm, nấu nước trà cho ông điểm tâm về
thành phố, dì cứ lúi ha lúi húi Hình như còn làm bể cái bình tích nữa
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006) Nhưng phương ngữ Nam bộ vẫn dùng từ "vỡ" trong trường hợp ý nghĩa trừu tượng
như: phá vỡ, đổ vỡ…
+ … đã làm hội nghị tứ cường ở cấp tuyệt đỉnh mùa xuân 1960 đổ vỡ khi sắp khai
mạc
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 12/02/1962)
+ Không nhìn nhận hội nghị Tam Hoàng đã đổ vỡ, hoàng thân PHOUMA tuyên bố
chưa tuyệt vọng …
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 02/01/1962)
Từ "dơ' trong phương ngữ Nam bộ đồng nghĩa với từ "bẩn" trong phương ngữ
2.2.1.3 Hai từ khác âm đồng nghĩa, nhưng có một số từ của phương ngữ Nam
bộ có phạm vi sử dụng rộng hơn từ của phương ngữ Bắc bộ hay tiếng Việt toàn dân
Ví dụ: Từ qua
Qua thuộc loại động từ, trong phương ngữ Nam bộ có nghĩa là "sang, đến",
chúng có thể thay cho nhau
+ Nội các Lào có thể nhóm hôm nay để quyết định coi Thủ tướng Boun Oum
có nên bay qua Genève… (1)
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 10/01/1962) + Đưa một cô "Ba xi" rồi, còn sẵn sàng đưa thêm một cô "Mạc Tinh" qua tận
Trung Phi cho… Bokassa (2)
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 17/03/1971) + Chuyển qua thanh toán bằng… (3)
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 11/12/2006) Tuy nhiên, thực tế "qua" có phạm vi sử dụng rộng hơn "sang" hay "đến", ví dụ
thứ (3) trên đây không thể thay "qua" bằng "đến"
Hay như:
Trang 36…………
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng
………
(Nguyễn Bính) Trong câu "ngày qua ngày lại qua ngày" không thể thay "qua" bằng "sang" hay "đến"
được
("Qua" còn là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít, sử dụng khi chồng nói với vợ,
hoặc người lớn tuổi xưng hô với người ít tuổi hơn)
2.2.1.4 Có những từ đồng nghĩa được cả hai miền sử dụng, nhưng mỗi miền sử dụng
theo một tình huống khác nhau:
Từ "hạng" là từ địa phương Nam bộ, được sử dụng trong việc xếp loại trình độ
(thường là trình độ học tập của học sinh):
+ Được xếp hạng 2
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 06/03/1971)
Từ "hạng" ở đây tương ứng với từ "thứ" của phương ngữ Bắc bộ (xếp thứ 6)
Tuy nhiên phương ngữ Nam bộ vẫn sử dụng từ "thứ" với nghĩa là "loại":
+ 754 thứ hàng hóa…
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 23/01/1962) Phương ngữ Bắc bộ chấp nhận từ "hạng" trong trường hợp từ này được dùng
để phân loại sự vật như: có hạng, nhất hạng, ưu hạng, hảo hạng, thượng hạng
2.2.1.5 Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa hoàn toàn
Ví dụ: từ "bộn"
Từ "bộn" của phương ngữ Nam bộ là tính từ, đồng nghĩa với từ "nhiều" của tiếng Việt
toàn dân hay phương ngữ Bắc bộ (cũng là tính từ):
+ Hao tốn "bộn" giấy mực
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 14&15/01/1962)
Từ "lỏn" của phương ngữ Nam bộ là động từ, ứng với tiếng Việt toàn dân hay phương
ngữ Bắc bộ là "lẻn" cũng động từ, có nghĩa là "bí mật, kín đáo không cho ai hay biết"
+ Mướn họa bức hình này
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 11/01/1962)
+ Tôi hỏi dồn: thế hình đâu?
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 03/03/1971)
+ Hình người chiến sĩ
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 27/02/1971)
+ Khi anh đặt nó lại trên bàn, cô thấy tấm hình một ai đó, không rõ, đang mĩm cười…
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 17/12/2006) Nhưng với các thuật ngữ khoa học thì phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ
đều dùng chung "hình" cũng như "ảnh"
Trang 37Ví dụ: ảnh thực, ảnh ảo, điện ảnh, nhiếp ảnh, bưu ảnh, v.v… hoặc hình học, mô hình,
2.2.2.1 Từ "dưa leo" trong nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962:
+ … Thực khách ăn dưa leo để lâu ngày…
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 24/01/1962)
Đó là từ địa phương Nam bộ (danh từ) ứng với từ địa phương Bắc bộ là "dưa chuột"
(danh từ)
Trường hợp này, người Nam bộ định danh sự vật dựa vào đời sống và tập tính của cây
là "leo", nên gọi trái của nó là "dưa leo" Người miền Bắc dựa theo hình thù của trái
cây mà đặt tên nên gọi là "dưa chuột" (trái của cây giống và kích cỡ như con chuột)
2.2.2.2 Từ "dầu hôi" (danh từ) sử dụng trên nhật báo Tiếng Dội Miền Nam 1962 và
nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971:
Là từ địa phương Nam bộ khác âm đồng nghĩa với từ "dầu lửa" trong phương
ngữ Bắc bộ:
+ Châm lửa vào tim lò dầu hôi
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 2.3.1971)
Người miền Nam theo mùi vị mà định danh sự vật (dầu hôi)
Người miền Bắc theo công dụng của vật là tạo thành lửa mà gọi tên (dầu lửa)
2 2.2.3 Danh từ "xe đò" trong phương ngữ Nam bộ sử dụng trên ba tờ nhật
báo khảo sát giống như danh từ "xe khách" trong phương ngữ Bắc bộ:
+ Phải theo đường sông ra quận lỵ, mới ngồi xe đò
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 10/01/1962) + Các cô chờ xe đò nhỏ
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 04/03/1971) + Tăng cường hơn 3200 xe đò phục vụ tết
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 29/12/2006)
Người Nam bộ định danh sự vật là xe đò có lẽ là vì miền Nam nhiều sông
nước, chịu ảnh hưởng của các chuyến đò đưa khách sang sông, nên xe chở khách gọi
là "xe đò"; trong khi người miền Bắc định danh sự vật là "xe khách", vì đó là chiếc xe
chở khách Một bên sử dụng phép hoán dụ (xe đò), một bên dựa vào cái cụ thể trước
mắt mà đặt tên (xe khách)
2.2.2.4 Một thí dụ khác, hộp quẹt và bao diêm: "hộp quẹt" (danh từ) là từ địa
phương Nam bộ sử dụng trên nhật báo Đuốc Nhà Nam 1971 đồng nghĩa với "bao
diêm"(danh từ) là từ địa phương Bắc bộ:
+ Tịch thâu tại nơi đây một thùng dầu hôi, một hộp quẹt
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 09/03/1971) Người Nam bộ định danh theo cách sử dụng (quẹt), người miền Bắc gọi tên
theo chất liệu (diêm)
2.2.3 Dạng thứ ba:
Là những khác biệt về nguồn gốc
2.2.3.1 Trên các báo khảo sát có những trường hợp từ của phương ngữ Nam bộ là từ
thuần Việt, tương ứng với từ của phương ngữ Bắc bộ là từ mượn
PNNB PNBB TDMN ĐNN T TRẺ
Xe hơi
Vỏ (xe)
Thắng
Trang 382.2.3.2 Hoặc có khi từ của phương ngữ Nam bộ là từ vay mượn, đồng nghĩa với từ
của phương ngữ Bắc bộ là từ thuần việt
Trang 402.2.4.1 Trường hợp thứ nhất
Một bên là từ đơn (phương ngữ Nam bộ), đồng nghĩa với một bên là cụm từ hay từ
ghép (phương ngữ Bắc bộ):
Ví dụ:
- Huốt, đgt Qua khỏi, khuất mắt:
+ Cây mắm sống huốt tuổi của nó sẽ có ma làm tổ trên đó hả cha?
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 10/12/2006)
- Lơ, dt Người kiểm soát vé và phụ mọi việc trên xe:
+ Anh lơ Út lái chiếc xe lô hiệu Ford
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 11/01/1962)
+ Phượng Vũ cũng tà tà sang xe bên cạnh vốn đã trống trơn từ trước, … hỏi người
lơ…
(Đuốc Nhà Nam, Truyện ngắn, 04/03/1971)
- Ná, dt Nỏ bắn tên, súng cao su bắn chim:
+ Đây là chưa kể đến nhóm của Bảy Đởm ở vùng Thất Sơn, cha con Huỳnh Công
Cứng ở vùng Tân Châu, trốn chui trốn rút như chim ngán ná
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin tức, 17&18/02/1962)
- Nạt, đgt Quát tháo, la rầy lớn tiếng:
+ … chưa nạt nó chuyện không chịu lấy vợ, giờ nó lại tính tìm người cho ông Cái
thằng…,
(Tuổi Trẻ, Truyện ngắn, 03/12/2006)
- Nhậu, đgt Rượu chè, uống rượu với nghĩa là nghiện và nhiều
+ Coi mòi trong mình thấy khẳm nên viện cớ sàng ngang bữa nhậu
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 09/01/1962)
+ Có hàng quán cút "ram bơ" để nhậu lai rai,
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 23/02/1971)
- Quẹo, đgt Rẽ ngoặt:
+ Đến khúc quẹo nầy…
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 21&22/01/1962)
+ …trực chỉ Vũng Tàu chớ không quẹo vào làng cô nhi
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 23/03/1971)
- Phắt, tt Nhanh gọn, dứt khoát:
+ … đứng phắt dậy,
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 04/01/1962)
- Cán, đgt Lăn tròn qua và đè lên trên:
+ Bánh xe ác nghiệt đã cán ngang lên mình nó
(Tiếng Dội Miền Nam, Truyện ngắn, 11/01/1962)
+ Bị cán dập mình
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 04/03/1971)
+ Xe vận tải kéo cam nhông đứt giây cán chết ông lão, đụng sập ba căn nhà,
(Đuốc Nhà Nam, Tin tức, 09/03/1971) + Sau cú đẩy, ông té nhào xuống đất, một bàn tay bị bánh xe sau của xe buýt cán dập
nát,…
(Tuổi Trẻ, Tin tức, 01/12/2006)
- Cồ, tt To xác, lớn xác:
+ Một anh cồ dư sức đạp cả chục "cái mái" mà vẫn chạy… te te…
(Đuốc Nhà Nam, Tai vách mạch rừng, 18/02/1971)
- Cự, đgt Phản đối, chống lại:
+…cương quyết bác lời kêu gọi đầu hàng và cự địch gan dạ
(Tiếng Dội Miền Nam, Tin Bồ Đào Nha, 03/01/1962)