1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hoá việt nam

112 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc trong lịch sử là một trong những việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.. Việt Nam có lịch sử văn hóa lâu đời, có những thành tựu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

-○○◊○○ -

ĐOÀN ĐỨC THANH

TÌM HIỂU Ý THỨC VỀ BẢN SẮC

(Giai đọan từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

-○○◊○○ -

ĐOÀN ĐỨC THANH

TÌM HIỂU Ý THỨC VỀ BẢN SẮC

VĂN HÓA VIỆT NAM

(Giai đọan từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ : 60.31.70 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN HIỆU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nhận thức và ý thức về bản sắc là một trong những biểu hiện quan trọng nhất trong quá trình phát triển của một nền văn hóa Vì vậy, nghiên cứu ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc trong lịch sử là một trong những việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việt Nam có lịch sử văn hóa lâu đời, có những thành tựu văn hóa đặc sắc thì chắc chắn phải có những biểu hiện phong phú của sự tự ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và chưa có những khảo sát công phu, có hệ thống

về vấn đề này

Nhằm góp phần nghiên cứu văn hóa dân tộc, chúng tôi chọn đề tài

Tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hóa Việt Nam (Giai đoạn từ thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XIX) để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

của mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Văn hóa Việt Nam, đặc biệt từ khi nước nhà độc lập vào thế kỷ X,

đã thể hiện rất rõ việc xây dựng nền văn hóa dân tộc có bản sắc gắn với độc lập dân tộc Mục đích của đề tài là thông qua việc khảo sát những biểu hiện của ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình lịch sử, trước hết là của những người có tính đại diện như những bậc vua chúa, những nhà văn hóa, sẽ góp phần nhận diện đặc điểm của quá trình phát triển nền văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 4

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nền văn hóa dân tộc, trong đó đối tượng khảo sát chính là quá trình nhận thức về bản sắc văn hóa dân tộc qua các thời kỳ lịch sử

Đây là vấn đề lớn, đòi hỏi nhiều công phu, vì vậy, chúng tôi giới hạn phạm vi ở các phương diện sau:

Về chủ thể: văn hóa dân tộc Việt Nam Tuy nhiên chúng tôi giới hạn

ý thức ở tộc người đại diện là người Việt; đồng thời giới hạn ở những nhân vật tiêu biểu Tất nhiên, việc giới hạn này không có nghĩa là chúng tôi muốn khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam là do tộc người Việt (người Kinh) quyết định tất cả, và cũng không phải xem văn hóa Việt Nam do những cá nhân tiêu biểu tạo nên Ở đây, chúng tôi chỉ ý thức rằng, những nhận định, phát biểu của các vua chúa, các danh nhân văn hóa Việt Nam khi họ khẳng định về bản sắc văn hóa Việt Nam thì đó là

sự khẳng định về bản sắc chung của tất cả những tộc người cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam

Về không gian: nước Việt Nam, cả trong quá trình thay đổi về không gian văn hóa

Về thời gian: khoảng từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX Giai đoạn này bắt đầu với bối cảnh lịch sử người Việt giành được quyền độc lập tự chủ, thoát khỏi tình trạng Bắc thuộc và kết thúc với sự suy tàn của chế độ phong kiến khi thực dân Pháp xâm lược, biến Việt Nam thành thuộc địa

Về mặt tư liệu, chúng tôi sử dụng những tư liệu thành văn

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung và ý thức

về bản sắc văn hóa Việt Nam nói riêng được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Trên bình diện ý thức về bản sắc văn hóa, dù chưa có

Trang 5

công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về vấn đề này, nhưng cũng đã có nhiều ý kiến kiến sâu sắc trong nhiều công trình hữu quan

Năm 1973, trong Việt Nam văn minh lược khảo (Trung tâm học liệu

quốc gia xb, SG; NXB Văn học tái bản 2006), Lê Văn Siêu đã đặt vấn đề

về truyện Nguồn gốc rồng tiên Ông đã phân tích một cách khá chi tiết và

đưa ra kết luận về mục đích sáng tác truyện của người Việt (vào khoảng thế kỷ X): để xác định nguồn gốc của dân tộc ta không kém gì Trung

Hoa Cuốn Từ trong di sản (NXB Tác phẩm mới, 1981) do Nguyễn Minh

Tấn chủ biên cũng ghi lại nhiều ý kiến về ý thức bản sắc văn hóa Việt

Nam trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Nguyễn Đăng Thục trong Triết

lý văn hóa (http://www.dunglac.net) với việc đi tìm cá tính tư tưởng Việt Nam đã lấy cơ sở từ bài “Nam quốc sơn hà” (được cho là của Lý Thường Kiệt) để khẳng định Việt Nam có cá tính tư tưởng riêng Phan Ngọc trong

bài “Truyền thống văn hóa và lịch sử Việt Nam” in trong Việt Nam học –

kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội 15 – 17 7.1998 (NXB Thế

giới, 2000) cho rằng, sở dĩ người Việt Nam theo đạo Phật trước các nước Đông Nam Á, trước cả Trung Hoa là vì phải có một hệ tư tưởng thống nhất, chống lại hệ tư tưởng đề cao sứ mệnh Trung Quốc là nước “duy nhất văn minh” Ông dẫn ra trường hợp hai ông vua Phật giáo là Lý Bí (503 - 548) và Lý Phật Tử (? - 602) đã tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu Việt Nam đầu tiên là Vạn Xuân, hủy bỏ lịch Hán, dùng lịch Việt Nam Trải qua ngàn năm Bắc thuộc người Việt Nam nhận thức được rằng, hễ còn duy trì truyền thống Đông Nam Á thì không thể nào giành được độc lập lâu dài trước đối thủ mạnh nhất thế giới cổ đại, trong đó triều đại nào

cũng muốn đánh chiếm Việt Nam Đoàn Lê Giang với Tìm hiểu ý thức

văn học trung đại Việt Nam (Luận án tiến sĩ tại Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn TP.HCM, 1999) cũng đề cập đến vấn đề ý thức về bản sắc

Trang 6

văn hóa Việt Nam của các trí thức thời Lý Trần Tác giả đã trích dẫn bài

“Quốc tộ” của Đỗ Pháp Thuận (916 - 990) và cho rằng, bài thơ đã ý thức

về “phúc vận của nước”, đó là “một đất nước riêng, có phúc vận riêng” Trong bài viết “Sự thịnh trị về văn hóa của Việt Nam thế kỷ XIV” trong

Những vấn đề lịch sử Việt Nam (NXB Trẻ, 2001), O.W.Wolter cho rằng

việc giáo dục theo các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc không tách người Việt Nam ra khỏi nền văn hóa riêng của họ Nguyễn Thị Chân

Quỳnh trong công trình nghiên cứu về Khoa cử Việt Nam (Paris: An

Tiêm xuất bản lần thứ nhất, http://chimviet.free.fr) nhắc đến vấn đề ý thức của nhà Hồ, nhà Mạc, nhà Tây Sơn muốn dùng chữ Nôm thay chữ Hán để tách ra khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc Tác giả còn đưa ra những minh chứng phản bác quan điểm của những sử gia khi cho rằng phải đợi đến lúc người Pháp sang cải cách khoa cử (1909) ta mới biết đưa Nam sử vào chương trình học thi, và đặt câu hỏi: “Chẳng nhẽ cha ông ta

đã biết hỏi về thời sự nước Nam ngay từ đầu mà trong non một ngàn năm

tự trị lại không ai nghĩ đến việc đưa Nam sử vào chương trình học thi?” Alexander Barton Woodside với bài “Chính quyền trung ương triều Nguyễn và nhà Thanh – Cơ cấu quyền lực và quá trình giao tiếp”, trong

Những vấn đề lịch sử Việt Nam (NXB Trẻ, 2001) đã nhận định, “Các sử

gia Việt Nam, từ Lê Văn Hưu thế kỷ XIII đến Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV rồi Phan Huy Chú vào những năm 1800 đều tự thấy họ là những học giả song văn hóa, những người kết nối đất nước mình, theo một cách đặc biệt riêng của Việt Nam, với truyền thống thể chế Trung Quốc, nếu như

không phải là với người Trung Hoa” Hoàng Quốc Hải trong Văn hóa

phong tục (NXB Văn hóa – Thông tin, 2001) đề cập đến Nguyễn Trãi

(1380 - 1442), Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 - 1792) và khẳng định:

“Phong tục Việt chính là đội quân giữ gìn quốc gia dân tộc siêu vật chất”

Trang 7

Vũ Khiêu trong Bàn về văn hiến Việt Nam (NXB TP.HCM, 2002) cũng

đưa ra nhiều nhận định về sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc với dẫn chứng lịch sử tiêu biểu về Nguyễn Trãi với câu nói bất hủ:

“Cõi bờ sông núi đã riêng, phong tục Bắc - Nam cũng khác” Trần Thế Xương có bài nghiên cứu “Hiện trạng về vấn đề giáo dục bản sắc văn hóa, văn nghệ dân tộc trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông

trung học hiện hành”, in trong Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ

(NXB Văn học, 2002) cũng dẫn ra nhiều minh chứng qua những lời phát biểu của Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), Trần Thủ Độ (1194 - 1264), Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi, Lê Quýnh (? - ?)… để khẳng định ý thức về

bản sắc của người Việt trong lịch sử Trong Giáo trình triết học Mác –

Lênin (NXB Chính trị Quốc gia, 2003), chương II, phần “Những nội

dung của tư tưởng yêu nước Việt Nam”, mục “Những nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập” do Trần Văn Thụy viết cũng điểm sơ lược về quá trình phát triển của ý thức bản sắc dân tộc Theo đó, ban đầu tên gọi Lạc Việt là để phân biệt với những tộc Việt khác ở miền Nam Trung Quốc Trong quá trình chiến đấu tự vệ, vấn đề đặt ra thường xuyên cho người Việt là làm thế nào để chứng minh mình khác với người Hán, ngang hàng với người Hán Vấn đề này có một quá trình phát triển, ban đầu là việc khẳng định của các nhà tư tưởng khi cho rằng Lạc Việt ở về phía sao Dực, sao Chẩn (các sao ở phương Nam), khác với Hoa Hạ ở về phía sao Bắc Đẩu (sao của phương Bắc) Tiếp theo lại khẳng định là ở phía nam Ngũ Lĩnh, từ đó suy ra về lịch sử, như quan điểm của Lý Thường Kiệt:

“Sông núi nước Nam do vua Nam trị vì” Mức khái quát cao hơn được

phát triển với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, nhờ đó đã tạo nên sức

mạnh cho cộng đồng tộc Việt trong cuộc đấu tranh chống quân Minh

xâm lược ở thế kỷ XV Đặc biệt Trần Quốc Vượng trong Văn hóa Việt

Trang 8

Nam - Tìm tòi và suy ngẫm (NXB Văn học, 2003) đã nêu vấn đề tại sao

người Việt, tiêu biểu như Lê Quý Đôn (1726 - 1784), luôn mong “vô tốn Trung Quốc”, “bất dị Trung Quốc”… và ông cho rằng đấy là biểu hiện

tự ti Cũng vấn đề này, trong “Hồn Đại Việt giọng Hàn Thuyên – vị trí lịch sử của Trung Quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản” trong tác phẩm

Việt Nam và Nhật Bản (NXB Văn nghệ TP HCM, 2001) tác giả Vĩnh

Sính cho rằng, Việt Nam cần chứng tỏ “bất tốn Trung Quốc”, “bất dị Trung Quốc” để nói lên rằng Việt Nam muốn được để yên, “khỏi cần” Trung Quốc cai trị Như vậy theo tác giả thì ở đây chẳng qua chỉ là một cách ứng xử khôn khéo của người Việt mà thôi Tác giả đã dẫn trường hợp Hồ Quý Ly (1336 - 1407) - một người luôn đề cao tính cách dân tộc, như việc khuyến khích dùng chữ Nôm thay chữ Hán, nhưng khi trả lời sứ thần Trung Quốc về phong tục Việt Nam thì lại cho rằng phong tục Việt Nam không khác gì Trung Quốc…

Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (NXB

Tổng hợp TP.HCM, 2004), phần 23.3 viết về “Quá trình thâm nhập và phát triển Nho giáo ở Việt Nam” đề cập đến thái độ chống đối của các vua nhà Trần như Trần Minh Tông (1320 - 1357), Trần Nghệ Tông (1369

- 1394) đối với sự phát triển của Nho giáo bằng việc nêu cao tinh thần giữ gìn phong tục phương Nam Lê Văn Hảo với nhiều bài viết đăng trên http://chimviet.free.fr, trong đó đáng chú ý là bài “100 năm ưu việt của văn hóa Đông Đô”, đề cập đến bộ luật Hồng Đức Tác giả cho rằng với việc đề cao nữ quyền, bộ luật đã xác nhận chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam lâu đời và đã cho chủ nghĩa Tống nho một bài học đích đáng Hồ Sĩ Vịnh

với bài “Văn hiến giữ nước” trong 99 góc nhìn văn hiến Việt Nam (NXB

Thông tấn, 2006) khẳng định về ý thức bản sắc của người Việt Nam với những dẫn chứng như Lý Thường Kiệt khẳng định nền văn hiến qua áng

Trang 9

thơ nổi tiếng, sau đó 400 năm tới Nguyễn Trãi với “Bình Ngô đại cáo”, khoảng 400 năm sau nữa thì đến Ngô Thì Nhậm tự hào sinh ra ở đất phương Nam, có “nền văn hiến phương Nam” Các bậc danh nho, sĩ phu

ở các thời đại khác nhau coi Việt Nam là nước văn hiến, có nền văn minh đứng “hàng đầu Trung Châu”, “không nhường Hán – Ngụy”…

Như vậy, nhìn chung, khi nhắc đến bình diện ý thức về bản sắc văn hóa, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, người Việt Nam từ xưa đã có ý thức này và đó là biểu hiện của ý thức tự cường, tự hào dân tộc Cũng có

ý kiến khác, tiêu biểu như Trần Quốc Vượng trong Văn hóa Việt Nam –

Tìm tòi và suy ngẫm (NXB Văn học, 2003), cho rằng ở người Việt có một

tâm thức luôn tự ti trước người Trung Hoa Ví dụ như ông viết khi bình luận về việc các nhà đại Nho như Phạm Sư Mạnh đời Trần thịnh hay Lê Quý Đôn đời Lê suy, khi suy tư về văn hóa, tư tưởng… vẫn lấy văn hóa, văn minh Trung Quốc làm hệ thống quy chiếu: “Đây là cái mặc cảm tự ti dân tộc, cái phong thái ‘Nam nhân Bắc hướng’ Dù là những người yêu nước, yêu nước kiểu nhà Nho ” [Trần Quốc Vượng 2003: 56 - 57] Thực

ra vấn đề này theo chúng tôi cần phải nhìn nhận một cách khách quan hơn trên cơ sở đặt vấn đề trong bối cảnh ý thức của con người thời trung đại, trong tình hình chính trị cụ thể của khu vực Đông Á thời bấy giờ, khi Trung Hoa có vị thế của một “thiên triều” Vấn đề này chúng tôi sẽ có những bàn luận kỹ hơn ở chương 3 của luận văn

Tiếp tục công việc của những người đi trước, trong công trình này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một cách hệ thống vấn đề ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc của cha ông ta

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu:

Trang 10

Theo quan điểm lịch sử - cụ thể và vận dụng lý luận văn hóa học, đặc biệt là lý luận về giao lưu và tiếp biến văn hóa để làm cơ sở khảo sát, nhận diện ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong tiến trình lịch sử

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: nhìn văn hóa Việt Nam như là một chỉnh thể toàn vẹn, nhờ đó có thể nhận diện và lý giải những vấn đề của văn hóa Việt Nam có tính lô-gích chặt chẽ

- Phương pháp lịch sử: khảo sát có hệ thống theo thời gian để tìm ra những đặc điểm nổi bật Đồng thời, khi đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử cụ thể sẽ tránh được những áp đặt mang tính chủ quan khi nhận diện đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: so sánh với giai đoạn lịch sử trước và sau; so sánh với văn hóa Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và văn hóa Phương Tây để nhận diện rõ hơn về đối tượng nghiên cứu, làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu

5.2 Nguồn tư liệu

Tài liệu về văn hóa học và văn hóa Việt Nam

Các công trình nghiên cứu liên quan trên các lĩnh vực nghiên cứu văn học, sử học, Việt Nam học, văn hóa học…

Các bộ chính sử, các công trình ghi chép của nhiều học giả, các nguồn tư liệu thơ văn…

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

6.1 Về khoa học

Góp phần khảo sát có hệ thống những biểu hiện của ý thức văn hóa dân tộc Việt Nam

Trang 11

Qua đó, nêu được những đặc điểm nổi bật của tiến trình vận động và phát triển của ý thức văn hóa dân tộc Việt Nam

6.2 Về thực tiễn

Góp phần nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc

Góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Chương 2 khảo sát và tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hóa Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X – XV Đây là giai đoạn mà các triều đại phong kiến Việt Nam đạt được những thành tựu rực rỡ trong quá trình xây dựng đất nước

Chương 3 chúng tôi tiếp tục công việc khảo sát và tìm hiểu như đã làm trong chương 2 Tuy nhiên sự khác biệt so với chương 2 là bối cảnh lịch sử - xã hội chế độ phong kiến Việt Nam kể từ thế kỷ XVI dần đi vào thời kỳ suy tàn Trước những thay đổi của tình hình thực tiễn như vậy, chúng tôi tìm hiểu về những thay đổi cơ bản trong ý thức bản sắc dân tộc

so với giai đoạn trước Điều này giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn cảnh

về những thăng trầm của lịch sử dân tộc nói chung và ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Về văn hóa

Do nội hàm của văn hóa quá rộng, khi nghiên cứu, mỗi nhà nghiên cứu lại tiếp cận từ những góc độ khác nhau nên đã phát sinh rất nhiều quan điểm về văn hóa

Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng cách hiểu về văn hóa của Trần Ngọc Thêm Quan điểm của ông cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: 25]

Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm phần nào khắc phục được hạn chế của nhiều định nghĩa mắc phải Chẳng hạn định nghĩa của E.B Tylor không phân biệt rõ văn hóa và văn minh, đồng thời không cho thấy tính chỉnh thể của văn hóa với tư cách là một hệ thống: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực, thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [E.B Tylor 2000: 13]

Định nghĩa của Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp tại Venise năm 1970:

“Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong những

Trang 13

lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [Dẫn theo Trần Ngọc Thêm 2004: 20] Định nghĩa này đưa ra hai cách hiểu khác nhau về văn hóa là theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng, nhưng cách hiểu theo nghĩa rộng về văn hóa cũng chỉ dừng lại ở việc liệt kê miêu tả Thực ra, văn hóa chỉ là đối tượng của văn hóa học với cách hiểu theo nghĩa rộng Với cách hiểu này thì phạm trù văn hóa có nội hàm vô cùng rộng lớn (tất cả những sáng tạo của con người)

và cách định nghĩa theo kiểu liệt kê – miêu tả không thể bao quát hết được nội hàm của nó

Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm không chỉ đảm bảo tính thống nhất giữa nội hàm và ngoại diên của phạm trù “văn hóa” mà còn chỉ ra được những tính chất cơ bản đi cùng những chức năng của văn hóa: Tính hệ thống khiến văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội; tính giá trị giúp văn hóa thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội; tính nhân sinh là cơ sở cho chức năng giao tiếp của văn hóa; tính lịch sử thì được duy trì bằng truyền thống văn hóa, mà truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ chức năng giáo dục [Trần Ngọc Thêm 2004: 21-24]

Bên cạnh đó, định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã hàm chứa ý nghĩa

tính dân tộc của một nền văn hóa khi nhấn mạnh đến tính lịch sử của văn

hóa Trong phần phân biệt giữa văn hóa và văn minh, ông cũng viết:

“Văn hóa và văn minh khác nhau ở tính giá trị: trong khi văn hóa là một khái niệm bao trùm, nó chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh thiên về các giá trị vật chất; văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển

Trang 14

của văn hóa Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và

tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: văn hóa mang tính dân tộc,

bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh thần và cái lịch sử

là của riêng không dễ gì mua bán hoặc thay đổi được; còn văn minh thì

mang tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân

loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà cái vật chất thì dễ phổ biến lây lan” [Trần Ngọc Thêm 2004: 25-26]

Đây là những nhân tố quan trọng trong nghiên cứu văn hóa mà nhiều định nghĩa với những cách tiếp cận khác nhau, xuất phát từ những quan điểm nghiên cứu khác nhau không chỉ ra Ví dụ như định nghĩa của Đào Duy Anh: "Người ta thường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế,

về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên

ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [Đào Duy Anh 2000a: 13] Định nghĩa này tuy nhìn văn hóa theo nghĩa rộng, với tư cách là một ngành khoa học, nhưng lại quá chung chung, không cho thấy một quan điểm rõ ràng nhằm chỉ ra các tính chất cơ bản góp phần nhận diện ngành khoa học này

Hay định nghĩa của Phan Ngọc: "Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành

Trang 15

một kiểu lựa chọn riêng của các cá nhân hay tộc người, khác với các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [Phan Ngọc 2002: 18] Với định nghĩa này, Phan Ngọc nhấn mạnh vào sự khác nhau giữa các nền văn hóa theo "kiểu lựa chọn" Ở một góc độ, có thể nói định nghĩa này nhấn mạnh về tính dân tộc và gần như đồng nhất với một phạm trù nội hàm của văn hóa là bản sắc văn hóa Trên thực tế, văn hóa còn những giá trị mang tính phổ quát, mà nếu thiếu thì con người khó mà chung sống với nhau được Ví như Nho, Phật, Đạo giáo, Ki –Tô giáo đều có những "cách lựa chọn" khác nhau, nhưng chắc chắn đều xuất phát từ những nhu cầu chung, vì sự sinh tồn của con người Thêm nữa, văn hóa còn nhiều đặc tính quan trọng khác, bên cạnh tính dân tộc

Có thể nói, còn rất nhiều những định nghĩa khác nhau xuất phát từ những quan điểm nghiên cứu khác nhau về văn hóa mà trong giới hạn chúng tôi không thể liệt kê hết được Nhưng với tư cách là một ngành khoa học, một định nghĩa khoa học cần phải đáp ứng những tiêu chí về khoa học để có thể giúp cho việc sử dụng dễ dàng Nhận thấy định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã khắc phục được những nhược điểm mà nhiều định nghĩa mắc phải, chúng tôi quyết định lựa chọn định nghĩa của ông

để sử dụng trong nghiên cứu

1.1.2 Về bản sắc văn hóa

Cùng với sự phong phú trong những quan niệm về văn hóa là sự đa dạng trong những quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Nhưng dù phong phú đa dạng như vậy, chúng tôi nhận thấy trong nhiều quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này có những ý kiến tương đồng nhau Ví như Phan Ngọc cho rằng: “Nói đến bản sắc văn hóa tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử” [Phan Ngọc 2002: 32], hay: “Nói đến bản sắc văn hóa Việt Nam

Trang 16

là nói đến cái mặt được duy trì qua lịch sử làm thành cái quý báu của nền văn hóa này Và còn quan trọng hơn: cái mặt ấy sẽ trụ lại trong giai đoạn hậu công nghiệp và có đủ sức phát triển để làm đất nước giàu có” [Phan ngọc 1994: 104] Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Bản sắc dân tộc – đó là

những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh

hoa bền vững của nó” [Trần Ngọc Thêm 2001: 293] Trần Đình Hượu

viết: “Bàn về đặc sắc dân tộc của văn hóa là bàn về một cái gì đã gắn bó

từ thủa xa xưa… Đặc sắc dân tộc của văn hóa làm cho mỗi dân tộc hiện

ra với những nét độc đáo, phân biệt với các dân tộc khác…” [Trần Đình Hượu 1995: 234 - 235] Ở đây chúng ta thấy, các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh vào cái đặc sắc, quý báu, mang tính bền vững và bất biến được lưu truyền trong lịch sử của một nền văn hóa

Nhiều quan điểm khác nhấn mạnh thêm vào khía cạnh giao lưu văn hóa Như quan điểm của Minh Chi, tuy cũng nhấn mạnh đến giá trị căn bản, cốt lõi, nhưng cũng lại chú trọng đến vấn đề giao lưu văn hóa trong quá trình định hình bản sắc văn hóa dân tộc: “Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam Nói những giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam

Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng

cố và phát triển của nhà nước dân tộc Việt Nam Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử Có những giá trị cũ, lỗi

Trang 17

thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung vào Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác [Minh Chi 2001: 13]

Quan điểm được sự thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu như trong

Từ điển văn học, do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu,

Trần Hữu Tá (cb) cũng nhấn mạnh vào khía cạnh giao lưu văn hóa trong việc định hình bản sắc: “…Bản sắc dân tộc ở văn hóa nói chung, văn học nói riêng không phải là một đại lượng nhất thành bất biến, cũng không có sẵn từ khởi thủy Con đường hình thành nó không phải theo lối tự sinh, biệt lập, trái lại, từ trong giao lưu, tiếp nhận, cộng sinh, tạp giao, đồng hóa với các nhân tố văn hóa, văn học từ bên ngoài dân tộc, rồi từ đó sinh thành, phát triển, tạo ra bản sắc…” [Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (cb) 2004: 92-93]

Huỳnh Khái Vinh đưa ra một cái nhìn mang tính tổng hợp, ông viết:

"Bản sắc dân tộc của văn hóa được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, vào môi trường thiên nhiên, môi trường địa lý, môi trường kinh tế - văn hóa và thể chế chính trị cũng như trong giao lưu với các nền văn hóa khác” [Huỳnh Khái Vinh 1998: 248]

Có thể nói, cho dù còn nhiều quan niệm khác nhau, nhưng trên thực

tế, khi đi vào cụ thể việc nghiên cứu, phân tích về một nền văn hóa, thường các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu đều chú ý đến đầy đủ các khía cạnh như Huỳnh Khái Vinh đưa ra: Đặc điểm tộc người, môi trường địa

lý, thiên nhiên và quá trình giao lưu văn hóa góp phần định hình nên bản sắc văn hóa của một dân tộc Và các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho

Trang 18

rằng bản sắc văn hóa không phải là cái gì bẩm sinh, là món quà ngẫu nhiên do ai đó ban tặng Mai Văn Hai, Mai Kiệm viết: "Bản sắc văn hóa chính là sự kết tinh những giá trị được coi là thiêng liêng và cao đẹp của một cộng đồng người trong tiến trình lịch sử lâu dài mà có Do trải qua hàng ngàn năm, vạn năm sống trong những điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị và xã hội không giống nhau, mỗi cộng đồng đều có cách lựa chọn để tạo nên một lối sống riêng của mình Lối sống đó không phải nảy

nở từ ý thức cá nhân riêng lẻ, mà được tạo nên từ kinh nghiệm tập thể - cái kinh nghiệm được truyền từ những thế hệ trước cho những thế hệ sau

và kết quả là nó không giống với lối sống của bất kỳ một thể cộng đồng nào khác" [Mai Văn Hai, Mai Kiệm 2003: 106]

Như vậy, cũng giống như quan niệm về văn hóa, quan niệm về bản sắc văn hóa cũng khá đa dạng và phức tạp mà những gì trình bày trên đây chắc chắn chưa thể bao quát hết được Tuy nhiên, qua việc tham khảo những quan điểm của các nhà nghiên cứu cùng việc xem xét về những thuộc tính của văn hóa xuất phát từ quan điểm văn hóa của Trần Ngọc Thêm, chúng tôi tạm xác định về vấn đề này như sau:

Từ cái nhìn hệ thống, khi nói đến cái bản sắc có nghĩa là cần phân biệt với cái phổ quát Nếu cái phổ quát là cái chung, cái phổ biến cho các

sự vật, hiện tượng, thì cái bản sắc đương nhiên là cái riêng, cái đặc thù của một sự vật, hiện tượng Từ tính giá trị của văn hóa cho thấy, khi nói

đến giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến những giá trị đặc sắc

cơ bản của một dân tộc, phân biệt với những giá trị không đặc sắc, không

cơ bản Do văn hóa là sản phẩm của sự kết hợp giữa con người và tự

nhiên nên những giá trị đặc sắc cơ bản này được hình thành cũng do sự

kết hợp của những điều kiện tự nhiên và những điều kiện lịch sử - xã hội đặc thù của một dân tộc Đặc điểm này tạo nên tính lịch sử của văn hóa

Trang 19

Khi nói đến tính lịch sử cũng có nghĩa là nói đến sự vận động; những điều kiện lịch sử – xã hội vận động, biến đổi thì hệ giá trị của nền văn hóa dân tộc cũng ít nhiều có sự vận động, biến đổi Con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại mang tính lịch sử – xã hội, nên ý thức của con người cũng sẽ chịu tác động từ những biến động của lịch sử – xã hội và cũng vận động cùng với sự vận động của lịch sử - xã hội Bên cạnh đó, vì con người cũng là một sản phẩm mang tính tự nhiên, mà cái

tự nhiên thì thường mang tính ổn định, nên ngoài những ý thức mang tính

“động” thì cũng có những dạng ý thức mang tính “tĩnh”, không thay đổi

vì không phụ thuộc vào những biến động lịch sử

Do tính đa dạng và phức tạp của vấn đề nên để nắm bắt một cách chặt chẽ, hệ thống hơn cần phải tìm hiểu công phu hơn nữa, trong giới hạn khả năng chúng tôi chưa thể bao quát hết được Tuy nhiên, những điều mà chúng tôi thu hoạch được có thể giúp ích cho chúng tôi trong quá trình khảo sát và nhận định về ý thức bản sắc văn hóa dân tộc của cha ông ta

1.1.3 Về giao lưu và tiếp biến văn hóa

Lý luận về giao lưu và tiếp biến văn hóa khá phong phú, đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu một nền văn hóa dân tộc, vì thực tế, hầu như không có nền văn hóa nào không có quá trình giao lưu và tiếp biến với nền văn hóa khác

nền văn hóa; về bản sắc văn hóa tuy ông cho rằng cái bản sắc là cái phần

ổn định, nhưng đồng thời ông cũng lại khẳng định việc giữ gìn bản sắc không có nghĩa là đóng cửa không giao lưu với ai Ông viết: "Nói đến cái bản sắc là nói đến cái phần ổn định trong văn hóa Nhưng cái phần ổn định này không phải là một vật, mà là một quan hệ Duy trì bản sắc văn

Trang 20

hóa, hiểu theo cách nhìn này không có nghĩa là đóng cửa lại Không có văn hóa tự lực cánh sinh, không có văn hóa tự túc” [Phan Ngọc 2002: 130-131] Mục "Giao lưu văn hóa" trong bài "Truyền thống và giao lưu

văn hóa", trong Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của

Đảng viết: "Không một dân tộc nào, dù có nhiều truyền thống mà có thể

đóng cửa và có thể tự túc hoàn toàn về mặt phát triển Sức sống nội sinh

và nội lực là vốn chính, vốn cơ bản, nhưng việc học hỏi, tham khảo, trao đổi các hiểu biết, kinh nghiệm, sản phẩm bằng các phương thức khác nhau là hiện tượng phổ biến từ xưa đến nay" [Trần Văn Bính (cb) 2000: 47]

Ở đây chúng tôi đi vào một số điểm cơ bản gắn với vấn đề ý thức tiếp nhận văn hóa Mỗi thời đại, con người có những hệ chuẩn, những cách tư duy nhận thức khác nhau Con người Việt Nam thời xưa chắc chắn có những cách suy nghĩ khác với con người thời nay, trong đó có vấn đề về giao lưu và tiếp biến văn hóa

Hiện nay, việc phân kỳ lịch sử nhân loại, cũng như phân kỳ lịch sử văn hóa Việt Nam để nhận diện đặc điểm nhận thức của con người từng thời kỳ vẫn còn khá phức tạp Trên thực tế cũng không thể có căn cứ nào tuyệt đối chính xác Vì vậy, việc dựa vào kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên chuyên sâu đã được sự chấp nhận của nhiều người là điều cần thiết

Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX là lịch sử của quá trình hình thành, phát triển và kết thúc của thời kỳ lịch sử gắn với chế độ phong kiến Trong việc phân kỳ lịch sử nhân loại, các nhà nghiên cứu

Tất nhiên mốc thời gian xác định thời kỳ này ở mỗi nơi còn khác nhau, nhưng nhìn chung nội hàm của phạm trù "trung đại” với những đặc thù

Trang 21

khác thời cổ đại và hiện đại đều được xác định khá rõ ràng N.I.Konrat viết: “Ở cả phương Đông lẫn phương Tây, “trung đại” có cùng một nội dung lịch sử: đó là thời kỳ thiết lập và phát triển của chế độ phong kiến” [N.I.Konrat 1996: 54] Trên cơ sở đó, chúng tôi tạm xếp thời kỳ lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X – nửa đầu XIX vào phạm trù văn hóa trung đại.

Như chúng ta biết, thời trung đại là thời kỳ gắn với chế độ phong kiến, với nền tảng kinh tế nông nghiệp, với sự sùng bái tuyệt đối của con người đối với một tôn giáo, với ranh giới về ngôn ngữ giữa các dân tộc chưa rõ ràng, thường thì một ngôn ngữ chung được dùng cho một khu vực rộng lớn Những đặc điểm này tạo nên tính đặc thù trong ý thức về giao lưu văn hóa của con người thời trung đại

Trước hết có thể kể đến vấn đề tôn giáo Thời trung đại là thời kỳ

mà đời sống văn hóa – xã hội của con người bị quy định bởi thế giới quan tôn giáo, mỗi tôn giáo (cũng đồng thời là sản phẩm của một nền văn minh lớn có từ thời cổ đại) chi phối ý thức xã hội ở một khu vực nhất định nằm trong phạm vi nó ảnh hưởng Ý thức của những cộng đồng dân tộc riêng lẻ chịu sự cho phối rất lớn của ý thức chung này Có thể kể đến như Phật giáo ở Đông Á và một phần Trung Á; Hồi giáo ở Trung Á, Bắc Phi, Tiểu Á; Cơ Đốc giáo nảy sinh và phát triển ngay từ thời cổ đại, nhưng chỉ đến thời kỳ này mới thành tôn giáo có quy mô toàn thế giới; Nho giáo ban đầu chỉ mang tính chất là một thiết chế chính trị – xã hội, nhưng quá trình phát triển của nó khiến nó ngày càng mang màu sắc tôn giáo và trở thành nền tảng văn hóa của khu vực Đông Á

Đối với các quốc gia ảnh hưởng, N Konrat viết: “Trên sân khấu lịch

sử thế giới cổ có năm quốc gia đại diện Đó là đế chế Hán ở Đông Á, đế chế của những người Gúp ở Ấn Độ, vương quốc Kusan ở Trung Á,

Trang 22

vương quốc Parphia ở Iran, đế chế La Mã ở Tiền Á, Bắc Phi và Tây Âu”

Và tình hình ảnh hưởng từ năm nền văn minh này là diễn ra trên toàn thế giới: “Việc các dân tộc này xây dựng nền văn minh của mình trên cơ sở

sự tồn tại của văn minh cổ đại là hiện tượng chung của lịch sử các dân tộc trung thế kỷ ở cả phương Đông lẫn phương Tây Đối với một số dân tộc,

di sản đó có ý nghĩa trực tiếp bởi vì chúng được phát triển trên các lãnh thổ của các quốc gia vĩ đại thời cổ, với các nền văn minh cổ của chúng Đối với các dân tộc khác, nền văn minh này chỉ là cái bên ngoài Tuy nhiên sức mạnh của các nền văn minh cổ này lớn đến nỗi tất cả các dân tộc ở mức độ này hay khác đều rơi vào ảnh hưởng của chúng…” [N Konrat 1996: 55-59]

Rào cản ngôn ngữ cũng góp phần quan trọng tạo nên tính đặc thù trong ý thức giao lưu văn hóa thời trung đại Chúng ta biết, thời kỳ này ý thức ngôn ngữ dân tộc chưa được đề cao Hiện tượng phổ biến trong nhiều nền văn hóa là tình trạng song ngữ với một thứ ngôn ngữ chung được xem là “quý phái” hơn thứ ngôn ngữ dân tộc Ở phương Tây, văn học tiếng Latin tồn tại phổ biến như một thứ tiếng quốc tế được nhiều quốc gia thừa nhận; ở Ấn Độ, chuyên gia văn học cổ trung đại P.A.Grinxer cho biết: “Văn học Xancrít không đếm xỉa đến tác phẩm văn

xuôi kiểu Pantratantra” [Dẫn theo Trần Đình Sử 2005: 57]; ở vùng Đông

Á, chữ Hán đóng vai trò tương tự trong các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam Ở Triều Tiên, văn xuôi bằng tiếng mẹ đẻ bị các nhà văn cung đình xem là thứ văn hạng hai, không đáng chú ý Nhật Bản sáng tạo ra chữ cái từ thế kỷ VIII, nhưng đến trước thế kỷ XIX vẫn dùng chữ Hán Ở Việt Nam, chữ Nôm được xem là “Nôm na mách qué” Cao

Bá Quát, một con người tài danh của thế kỷ XIX viết: “Than ôi, lấy Quốc

Trang 23

ngữ (tức chữ Nôm) mà làm văn chương thì ta chưa dám!” [Dẫn theo Trần Đình Sử 2005: 57]

Những đặc điểm cơ bản mà chúng tôi trình bày trên tạo nên tính đặc thù trong ý thức giao lưu văn hóa thời kỳ này Do bị chi phối bởi những khuôn mẫu từ những nền văn hóa lớn, nên trong việc sáng tác, người ta

có xu hướng bắt chước (còn gọi là xu hướng phóng tác) từ những tác phẩm của nền văn minh chi phối đó mà không ý thức về vấn đề ăn cắp văn A.JA.Gurêvich nhận định: “Trong ý thức, không phải sự biến đổi mà

sự lặp lại là yếu tố quyết định Trong thế giới này, sự độc đáo của tư tưởng không được xem là phẩm giá và ăn cắp văn của người xưa không

bị xem là tội lỗi” [A.JA.Gurêvich 1996: 102-131]

Có thể nêu một số ví dụ Ở phương Tây, “Eigard, người viết tiểu sử

của Sác-lơ đại đế đã giở sách viết về cuộc đời của những xêđar (công trình của Xvêtôni) và chép lại Ông cho rằng đây là phương thức tốt nhất

để mô tả vị hoàng đế Frank, vị hoàng đế này dưới con mắt của ông cũng như của những người đương thời với ông không chỉ bắt chước những hoàng đế La Mã mà thực sự vị hoàng đế này là như vậy” [A.JA.Gurêvich

1996: 134] Trong nền văn hóa của các dân tộc Trung Á, Iran thời kỳ

này, người ta thường phóng họa lại trong sáng tác của các nhà văn của một dân tộc những nội dung, những đề tài của các tác phẩm được sáng tạo bởi nhà văn của một dân tộc khác “Những nghệ sĩ kể chuyện dân gian vô danh đã sáng tạo nên một thiên truyện buồn thương về Leila và Mejnuna – chàng Rômeô và nàng Juliet phương Đông Một người Adecbaidan là Ninami (1141-1203) đã chuyển câu chuyện này thành một bản trường ca, một trong những viên ngọc quý của thơ ca nhân loại Một người Udơbếch là Navôi (1441-1505) đã phỏng thuật lại bằng ngôn ngữ của mình, nhưng thêm vào nhiều cái riêng của ông Bản trường ca đã tồn

Trang 24

tại trong hình hài của hai ngôn ngữ – Ba Tư và Udơbếch Điều đáng chú

ý là Navôi lại nói công khai về Nidami và tác phẩm Leila và Mejnuna

của ông Navôi còn thể hiện sự sùng kính với thơ Adecbaidan và không giấu diếm việc ông phóng họa lại tác phẩm đó” [N.Konrat 1996: 273] Ở

khu vực Đông Á, “trong tác phẩm Otogi – boko tuyển tập truyện truyền

kỳ Nhật Bản xuất hiện năm 1666, trong đó ta thấy phần lớn những truyện của tuyển tập Nhật Bản đều phóng họa lại những truyện của tuyển tập Trung Quốc theo một dạng thể thích nghi với bạn đọc Nhật Bản Theo

đó, chất liệu Trung Quốc được chuyển thành chất liệu Nhật Bản, nơi diễn

ra hành động được chuyển sang đất Nhật, các nhân vật cũng thành người Nhật” [N.Konrat 1996: 274] Tình trạng tương tự như vậy cũng xảy ra đối với văn hóa Việt Nam Có thể kể đến hàng loạt những trường hợp

phóng tác như: Trong Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi đã bắt chước lối văn của thiên Vũ cống trong Kinh Thư để viết Dư địa chí, nên Dư địa

chí còn được gọi là An Nam Vũ cống; Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy

Tự thì phóng tác lại Hoa tiên ký của Trung Quốc; Truyện Kiều của Nguyễn Du đã phóng tác lại Đoạn trường tân thanh của Thanh Tâm Tài Nhân; Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng phóng tác dựa trên truyện Tây Minh Hơn nữa, Nguyễn Đình Chiểu còn tự hào công khai

việc này:

"Trước đèn xem truyện Tây Minh,

Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le"

Như vậy, hoàn toàn khác với ý thức phân biệt rõ ràng về chính trị, về chủ quyền lãnh thổ dân tộc, trong ý thức giao lưu văn hóa, người Việt thời trung đại thường xem văn hóa Trung Quốc là một khuôn mẫu để noi theo Việc sao chép, bắt chước được diễn ra một cách công khai, hơn nữa

Trang 25

người ta còn cảm thấy tự hào và hoàn toàn không có ý thức xem đây là việc ăn cắp văn

Tuy nhiên mặt khác, việc sao chép, bắt chước này lại không hoàn toàn dẫn đến sự triệt tiêu nhu cầu khẳng định cái riêng, cái khác biệt Người ta vẫn sao chép, vẫn bắt chước, nhưng lại vẫn có ý thức khẳng định cái riêng Trường hợp của Nguyễn Trãi là ví dụ tiêu biểu Có thể nói, ông là một đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc Chính ông đã khái quát nên quan niệm về dân tộc với bốn yếu tố riêng: địa lý, lịch sử, văn hóa, chính thể Nhưng như đã nói, trong sáng tác, ông cũng vẫn ý thức phóng họa theo người Trung Quốc

Điểm đặc thù trong ý thức tiếp nhận văn hóa này là cơ sở quan trọng

mà chúng ta không thể bỏ qua khi nghiên cứu ý thức dân tộc của cha ông

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Quá trình hình thành ý thức về văn hóa dân tộc ở Việt Nam trải qua thời kỳ lịch sử lâu dài dựa trên những cơ sở nhất định Ở đây chúng tôi xác định hai cơ sở chính như sau:

1.2.1 Cơ sở địa - văn hóa

Nhìn vào các nền văn hóa, văn minh trên thế giới, không đâu lại không có những khác biệt Những khác biệt này chắc chắn có những nguyên nhân, mà nguyên nhân ban đầu thì phải kể đến điều kiện tự nhiên nơi con người sinh sống Bởi con người dù sao cũng chỉ là một sản phẩm của giới tự nhiên, mọi hoạt động sống của con người luôn chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên Trần Quốc Vượng trong “Nhận nhìn bản sắc văn hóa Việt Nam” đã viết: “Văn hóa, theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội… Như vậy, thì phải xuất phát

Trang 26

từ những điều kiện tự nhiên, rồi sau đó mới đến những điều kiện lịch sử

để nhận nhìn về cội nguồn và bản sắc của nền văn hóa Việt Nam…” [Trần Quốc Vượng 2003: 28]

Theo định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm, văn hóa được hình thành trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Như vậy, khi xét đến nguồn gốc sâu xa của sự hình thành văn hóa cũng như mọi sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, các cộng đồng người, thì phải xét đến quá trình hình thành với sự tương tác của hai yếu tố này, mà trước hết phải kế đến yếu tố tự nhiên, vì cái tự nhiên là cái

có trước

Trong Việt Nam văn hóa sử cương – một công trình nghiên cứu văn

hóa mang tính hệ thống đầu tiên ở Việt Nam – học giả Đào Duy Anh cũng xác định nguyên nhân của sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc:

“Vì lẽ gì mà văn hóa các dân tộc lại khác nhau như thế? Vì rằng cách sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau vậy Bởi thế, muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem xét dân tộc ấy sinh trưởng trong những điều kiện địa lý thế nào” [Đào Duy Anh 2000a:

13 - 14]

Từ cơ sở địa – văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra những kiến giải đối với việc hình thành ý thức cộng đồng – cơ sở ý thức dân tộc – của người Việt từ thời xa xưa Minh Chi viết: “Hoàn cảnh địa lý và thiên nhiên khắc nghiệt buộc dân tộc ta muốn sinh tồn và phát triển phải lao động cần cù và sáng tạo trên cơ sở một tinh thần tập thể và cộng đồng rất cao, để có thể chế ngự sông Hồng bằng một hệ thống đê điều chằng chịt, lấn biển, lấn núi, và Nam tiến” [Minh Chi 2001: 18] Phan Ngọc

Trang 27

viết: “Thiên nhiên không hề dành cho người Việt cuộc sống dễ dãi như nhiều tộc người khác trên trái đất Trái lại, từ thời Mã Viện, sử sách Trung Hoa đã chép đây là nơi nước độc, ẩm thấp… Khác với các dân tộc khác phải chờ đợi đến thời đồ sắt khi phù sa của sông làm cho đất đai bằng phẳng, ruộng đồng an bài mới nhảy xuống đồng bằng, khảo cổ học chứng minh người Việt nhảy xuống đồng bằng từ thời đồ đồng Lúc đó đất đai ngập lụt, toàn sình lầy, cây cối hoang dại, khí hậu độc địa… Tổ tiên chúng ta đã kéo đồng bằng Bắc bộ từ đáy biển lên Muốn làm được

kỳ công ấy phải có những con người đoàn kết, gan góc, tin vào mình…” [Phan Ngọc 1994: 35]…

Theo cái nhìn địa – văn hóa, từ đó khái quát thành loại hình văn hóa, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã khái quát văn hóa nhân loại theo hai loại hình chính: Văn hóa chăn nuôi, gốc du mục, trọng động và văn hóa trồng trọt, gốc nông nghiệp, trọng tĩnh Ứng với hai loại hình này là đại diện của hai nền văn hóa: Văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông [Trần Ngọc Thêm 2004: 39 - 52]

Vấn đề này trong Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ

biên cũng đề cập tới: “Nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về văn hóa là

do khác biệt về môi trường sống quy định… Kinh tế được quy định bởi môi trường sống, văn hóa lại được quy định bởi môi trường sống và kinh

tế Kết quả là hình thành hai loại hình văn hóa: Văn hóa nông nghiệp lo tạo dựng cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo trộn, mang tính chất trọng tĩnh; văn hóa du mục lo tổ chức làm sao để có thể thường xuyên di chuyển một cách gọn gàng, nhanh chóng, thuận tiện, mang tính chất trọng động…” [Trần Quốc Vượng (cb) 2008: 68]

Vấn đề hình thành ý thức dân tộc của người Việt từ cái nhìn loại

hình - văn hóa cũng được đề cập tới trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt

Trang 28

Nam của Trần Ngọc Thêm Theo đó, ông đã lý giải như sau: “Việt Nam

thuộc thế giới phương Đông (khu vực Đông Nam của cựu lục địa Âu - Á) Văn hóa Việt Nam ngày nay mà tiền thân là văn hóa Văn Lang – Âu Lạc thời cổ đại, được quy định bởi môi trường sống với vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiều mưa, địa hình được bao phủ bởi mạng lưới sông nước dày đặc Khác với điều kiện tự nhiên của những vùng đồng cỏ mênh mông rộng lớn, thuận lợi cho chăn nuôi du mục, điều kiện tự nhiên

ở đây thuận lợi cho sự phát triển của thực vật, vì thế nghề trồng trọt có điều kiện phát triển hơn nghề chăn nuôi “Trồng trọt là nghề mang tính thời vụ cho nên con người phải liên kết chặt chẽ với nhau, từ đó mà sinh

ra tính cộng đồng, tình đoàn kết… Do sống bằng nghề trồng trọt và sống

định cư trong điều kiện địa hình phức tạp dẫn đến chỗ phân tán, co cụm

thành các nhóm nhỏ…, kết quả bên cạnh tính cộng đồng còn có tính tự trị

– tự trị ở phạm vi nhỏ tạo nên tình yêu quê hương, làng xóm, ý thức gắn

bó với quê cha, đất tổ; tự trị ở phạm vi lớn dẫn đến ý thức độc lập dân tộc

mạnh mẽ…, hơn nữa, trong phương Đông nông nghiệp thì Đông Nam Á

do là khu vực sống bằng nghề trồng lúa nước nên có tính thời vụ cao hơn

cả, cũng có nghĩa là những đặc tính trên có điều kiện phát triển nhất”

[Trần Ngọc Thêm 2004: 296]

Những kiến giải, phân tích trên quả thật là rất xác đáng Bên cạnh

đó, cũng phải kể đến một đặc điểm nữa của điều kiện tự nhiên ở khu vực này, đó là ở đây hàng năm thường xảy ra thiên tai, lũ lụt, mưa bão Vì thế, cùng với điều kiện sống khắc nghiệt và tính thời vụ của nghề nông, đòi hỏi con người phải biết liên kết với nhau trong công việc, thì ngoài ra, người ta còn phải biết liên kết với nhau trong việc đắp đê ngăn lũ, bảo vệ mùa màng Đây cũng là cơ sở khiến cho ý thức cộng đồng có điều kiện

Trang 29

phát triển hơn, góp phần tăng thêm tính cố kết cộng đồng – cơ sở của ý thức dân tộc

Có thể nói, việc nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn địa – văn hóa/loại hình văn hóa đã thực sự giúp cho việc lý giải một cách khoa học những khác biệt văn hóa của các cộng đồng người sống trong những khung cảnh địa lý khác nhau Đối với văn hóa Việt Nam, những nghiên cứu của Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm… với việc đặt văn hóa Việt Nam trong bối cảnh địa - văn hóa Đông Nam Á, từ đó so sánh với Đông Bắc Á đã góp phần quan trọng vào việc nhận diện những đặc điểm gốc của văn hóa Việt Nam Trần Quốc Vượng viết: “Văn hóa Việt Nam, văn minh sông Hồng và văn hóa Trung Quốc, văn minh Hoàng Hà khác nhau từ căn bản, từ cội nguồn” [Trần Quốc Vượng 2003: 27] Trần Ngọc

Thêm viết: “Lớp văn hóa bản địa với cái nền Nam-Á và Đông Nam Á (=

Đông Nam Á cổ đại) đã để lại cho văn hóa Việt Nam những đặc điểm

nền tảng, tạo nên sự tương đồng với văn hóa các dân tộc Đông Nam Á và

sự khác biệt với văn hóa Hán” [Trần Ngọc Thêm 2000: 314]… Đây thực

sự là cơ sở rất quan trọng trong việc nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, đặc biệt là khi cần phải tìm về những đặc điểm gốc của văn hóa Việt Nam

Như vậy, từ góc nhìn địa – văn hóa cho thấy phần nào những cơ sở minh chứng cho sự hình thành đầy mạnh mẽ về ý thức dân tộc của người Việt – cơ sở cho những cuộc đấu tranh anh dũng và kiên cường để giành độc lập dân tộc trước những kẻ thù lớn mạnh sau này

1.2.2 Cơ sở lịch sử - văn hóa

Như trên đã nói, văn hóa được hình thành trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Con người tuy

là một sản phẩm của giới tự nhiên, nhưng đó là một sản phẩm đặc biệt, có

Trang 30

tính độc lập tương đối của ý thức, nhờ đó mà lịch sử xã hội loài người không vận hành một cách tự phát Cùng với điều này, con người không sống theo một tập hợp bầy đàn mà theo nhiều tập hợp người khác nhau,

và trong quá trình sống thường có sự giao lưu, đấu tranh với nhau Điều này nói lên rằng, điều kiện lịch sử với quá trình tác động, giao lưu giữa các cộng đồng với nhau đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành ý thức cộng đồng Tính chất của ý thức cộng đồng, của tính cố kết cộng đồng khác nhau ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, một phần quan trọng phụ thuộc vào đặc điểm lịch sử với tính chất của quá trình giao lưu, tác động mạnh hay yếu với cộng đồng khác

Đối với Việt Nam, do vị trí địa lý nằm ở “ngã tư đường” của các nền văn minh (từ lục địa ra biển và từ biển vào lục địa, từ Bắc xuống Nam và

từ Nam lên Bắc, từ Tây sang Đông và từ Đông sang Tây), nên trong lịch

sử, văn hóa Việt Nam đã liên tục tồn tại và phát triển trong sự giao lưu

Vì nằm ngay bên cạnh Trung Quốc – một trong những cái nôi của văn

minh nhân loại - sự giao lưu để lại nhiều dấu ấn đậm nét hơn cả là giao

lưu với văn hóa Hán

Nhiều nhà nghiên cứu cũng nhận định chính quá trình giao lưu này

là cơ sở quan trọng góp phần phát triển ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc của người Việt Trương Chính trong “Tìm hiểu những giá trị tinh thần của người Việt Nam” viết: “Tinh thần yêu nước của người Việt Nam sở

dĩ đằm thắm như thế là vì được thử thách thường xuyên liên tục, từ buổi

sơ khai dựng nước cho đến tận ngày nay Nguyên nhân là chúng ta sống cạnh một quốc gia đông người, nhiều của, tự cao, tự đại, cho mình là trung tâm thiên hạ, tài giỏi bậc nhất, còn các dân tộc khác là ‘man di’, do

đó mà sinh ra tư tưởng bành trướng, đem quân đi xâm lấn nước ngoài…” [Trương Chính 2001: 206] Mục “Truyền thống văn hóa trong cuộc sống

Trang 31

cộng đồng”, trong Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của

Đảng viết: “Tính cộng đồng vốn là đặc điểm của nhân loại, nhưng ở Việt

Nam, tính cộng đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống và sức mạnh trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách… Thường xuyên phải chống lại quân xâm lược

vô cùng lớn mạnh và hiểm độc, nếu không có tinh thần ‘toàn dân chống giặc, cả nước một lòng’ thì sao có thể tồn tại? Ở Việt Nam tính cộng đồng làng xã đã sớm được mở rộng thành tính cộng đồng dân tộc…” [Trần Văn Bính (cb) 2000: 85-89]…

Như vậy, nhìn từ góc độ lịch sử - văn hóa, có thể nói, quá trình giao lưu với văn hóa Hán là cơ sở quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc của người Việt Sự tác động này không chỉ diễn ra vô cùng mạnh mẽ mà còn luôn thường trực Theo dòng lịch sử có thể phân thành hai giai đoạn:

Trước thế kỷ X: Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ và xu hướng giao lưu trong thế bị cưỡng bức Trong giai đoạn này, nhiều quan lại Trung

Quốc đã thực hiện âm mưu đồng hóa dân Giao Chỉ bằng nhiều thủ đoạn cưỡng bức thâm độc Đinh Gia Khánh viết: “Trong đời Tây Hán nhiều quan lại Trung Quốc mà nổi bật là Nhâm Diên và Tích Quang đã đem “lễ giáo” (theo quan điểm của Nho giáo) sang làm cái việc gọi là ‘khai hóa’ cho đất Giao Chỉ… Ông ta đã đem lễ hôn thú theo phép tắc của Nho giáo sang và ép dân Giao Chỉ phải tuân theo… Với chính sách đồng hóa, quan lại Trung Quốc khuyến khích đàn ông Trung Quốc lấy vợ là đàn bà bản địa… Đến cuối thời Hán (thời tam quốc) thì ảnh hưởng ấy càng tăng vì

có làn sóng nhập cư mạnh mẽ hơn của người Hán chạy loạn khỏi Trung Quốc Trong các nhân vật thúc đẩy sự gia tăng ảnh hưởng ấy thì nổi bật

là Sĩ Nhiếp… Khi nhà Đường lên thay thế nhà Tùy, thống nhất Trung

Trang 32

Quốc và xây dựng một đế quốc rộng hơn đế quốc Hán xưa kia Nhà Đường tăng cường sự thống trị ở Giao Chỉ, đặt ra An-Nam đô hộ phủ” [Đinh Gia Khánh 1993: 78-82]

Quá trình cưỡng bức văn hóa trong suốt thời Bắc thuộc này đã luôn gặp những phản ứng quyết liệt của người Giao Chỉ Tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43), Bà Triệu (246), Lý Bôn với sự hình thành nước Vạn Xuân (544-548), Triệu Quang Phục (548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), cha con họ Khúc (906-923), Dương Diên Nghệ (931-937), và đạt đến đỉnh cao với cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Ngô Quyền (938)

Sau thế kỷ X: Xu hướng giao lưu trong thế đối phó Mặc dù người

Việt đã giành lại độc lập dân tộc, nhưng do vị trí địa lý gắn liền với Trung Hoa, một dân tộc đông dân, có sức mạnh lại hiếu chiến và luôn tự cho mình là trung tâm thiên hạ, người Việt luôn phải lo đối phó với những âm mưu xâm lược của người Trung Hoa nhằm biến Đại Việt trở lại thời nội thuộc Trung Hoa như trước đây Các thời đại, từ Tống cho đến Nguyên, Minh, Thanh đều đã đem quân sang xâm lược nhằm để thực hiện âm mưu thôn tính, đồng hóa như trước, nhưng cuối cùng đều phải chịu thảm bại trước tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước được cụ thể hóa bằng việc quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền độc lập dân tộc của người Việt

Như vậy, quá trình giao lưu văn hóa Việt – Hán, mà đặc biệt là sự giao lưu trong thế cưỡng bức khi bị thôn tính, và rồi khi giành được độc lập thì lại luôn phải lo đối phó một cách thường trực, là hệ quả tất yếu của quá trình hình thành và phát triển ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc

vô cùng mạnh mẽ của người Việt

Trang 33

Tất nhiên, đi cùng quá trình giao lưu trong thế đối phó với Trung Hoa, một vấn đề đương nhiên sẽ được đặt ra trong quá trình giao lưu này

là ý thức về sự tiếp nhận văn hóa – biểu hiện của ý thức văn hóa dân tộc

Nếu quá trình giao lưu văn hóa là cơ sở của sự hình thành ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc, thì biểu hiện của ý thức trong giao lưu chính là biểu hiện của ý thức văn hóa, ý thức xây dựng cái riêng về văn hóa Lẽ dĩ nhiên, trong bối cảnh của ý thức con người thời trung đại thì ý thức về cái riêng này cũng có những đặc thù mà khi nghiên cứu không thể không chú

ý đến

* *

* Như vậy, trong chương này chúng tôi đã trình bày sơ lược những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Trong phần cơ sở lý luận chúng tôi trình bày các vấn đề về văn hóa, bản sắc văn hóa, góp phần nhận diện thực thể văn hóa và bản sắc văn hóa; về giao lưu và tiếp biến văn hóa góp phần nhận diện tính đặc thù của ý thức giao lưu và tiếp nhận văn hóa trong giai đoạn lịch sử đề tài nghiên cứu Trong phần cơ sở thực tiễn chúng tôi xuất phát từ hai góc độ địa – văn hóa và lịch sử - văn hóa, mục đích để có một cái nhìn toàn cảnh

về văn hóa Việt Nam cùng cơ sở để khẳng định việc hình thành ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc của người Việt – tiền đề của ý thức xây dựng cái riêng, ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 34

CHƯƠNG 2

Ý THỨC VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XV

2.1 BỐI CẢNH VĂN HÓA - LỊCH SỬ

Trong phần lý luận chúng tôi đã đề cập tới quá trình hình thành và phát triển ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc của người Việt Ý thức này hình thành và phát triển mạnh mẽ do những nguyên nhân xuất phát từ sự chi phối của điều kiện tự nhiên và điều kiện lịch sử - xã hội

Về điều kiện lịch sử - xã hội, nguyên nhân xuất phát từ quá trình giao lưu trong thế cưỡng bức thời kỳ Bắc thuộc là cơ sở quan trọng Điều này dẫn đến hệ quả là khi nước nhà được độc lập, ý thức xây dựng một nhà nước độc lập vững mạnh trở thành nhu cầu tự thân, tính chủ động của

ý thức này rất cao

Ban đầu, dưới thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, vấn đề củng cố sức mạnh quân sự để đề phòng giặc ngoại xâm phương Bắc được ưu tiên hàng đầu Việc tuyển chọn người để phục vụ cho công cuộc kiến tạo đất nước chưa thông qua hình thức thi cử Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta các đời Đinh, Lê về trước, khoa cử còn thiếu, triều đình dùng người đại để không câu nệ; có lẽ việc cân nhắc còn rộng rãi, mà thực ra thì điều mục chưa được tường Vì bắt đầu xây dựng, sự thế cũng phải như vậy” [Phan Huy Chú 2007: 5, tập 2]

Trang 35

Tuy nhiên, do những ảnh hưởng từ truyền thống với vai trò nổi bật của Phật giáo trong thời kỳ Bắc thuộc đã tạo nên đội ngũ trí thức gồm đông đảo những nhà sư, họ là những người có năng lực, có khả năng giúp nước trong các công việc chính trị - xã hội Vào đời Hán, trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở nước ta cùng với Bành Thành và Giang Tô là ba trung tâm Phật giáo lớn thời bấy giờ Xu hướng chống Hán hóa trong suốt thời Bắc thuộc khiến Nho giáo và văn hóa Trung Hoa dù được các thái thú Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp ra sức truyền bá, rồi sau nữa là Tô Định, Mã Viện dùng pháp chế hà khắc nhưng vẫn không thể bắt rễ sâu được Trần Ngọc Thêm viết: “Trong sử sách Trung Hoa thời kỳ này, những đoạn viết về Phật giáo Giao Châu thì nhiều mà nói về Nho giáo thì rất ít” [Trần Ngọc Thêm 2000: 46]

Bên cạnh đó, cùng với ý thức tự chủ, tự cường của nhà nước Đại Việt, muốn tạo nên sự khác biệt với Trung Hoa, nên về mặt ý thức hệ, giai đoạn này Phật giáo rất được trọng dụng Một học giả hiện đại của Trung Quốc là Dương Tằng Văn nhận định: “Từ thế kỷ X đến thế kỷ XI, lịch sử Việt Nam trải qua sự hưng vong của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền

Lê, nhưng điểm chung là đều có mặt Phật giáo trong chính sự Đặc biệt là vào hai triều đại Đinh và Tiền Lê, trong mười năm Đinh Bộ Lĩnh chấp chính đều tôn sùng đạo Phật Ở kinh đô lập 100 kinh trụ( )1, cả nước có hơn 84.000 bảo tháp, định ra tam phẩm là: Văn, Võ, Tăng; trọng dụng Ngô Chân Lưu thuộc phái Vô Ngôn Thông, gọi là Khuông Việt Đại Sư, cho tham dự việc triều chính Đời sau các nhà sử học Việt Nam gọi đây

là thời kỳ Đế, Tăng cùng trị vì thiên hạ” [Dương Tằng Văn 2006: 22] Sau thời kỳ chú trọng đến việc xây dựng sức mạnh quân sự của những thủ lĩnh quân sự Ngô, Đinh, Tiền Lê, dần dần, do những nhu cầu

( ) 1 Cột đá khắc kinh Phật, gọi là kinh Tràng

Trang 36

thực tiễn của đất nước mà ý thức về việc phục hưng văn hóa dân tộc và tiếp nhận những yếu tố văn hóa từ bên ngoài sao cho có lợi đối với việc xây dựng quốc gia dân tộc được đẩy cao hơn, tính chủ động của việc khôi phục và tiếp nhận rất cao gắn với yêu cầu của thời đại và thực tiễn văn hóa – xã hội Việt Nam bấy giờ Biểu hiện tiêu biểu như việc sau này đã coi trọng cả Nho, Phật, Đạo, nhưng trong đó vẫn có những lựa chọn cần thiết: Vận dụng Nho để phục vụ cho xây dựng thiết chế xã hội, nhưng vẫn coi trọng Phật và Đạo Đây là một đường lối đúng đắn của nhà nước Đại Việt, thể hiện việc vận dụng một cách sáng tạo những hệ tư tưởng gắn với yêu cầu của thực tiễn, nhằm đem lại những lợi ích thiết thực trong việc kiến tạo đất nước

Những nhu cầu của thực tiễn xây dựng đất nước và việc phục hưng văn hóa khiến việc tuyển chọn người làm quan bắt đầu nghiêm ngặt hơn

và phải thông qua thi cử Sử sách ghi lại khoa thi đầu tiên năm 1075, vào đời Lý Nhân Tông, Lê Văn Thịnh là người đỗ Thủ khoa và được vào cung chầu vua học tập Ban đầu việc thi cử chỉ giới hạn ở Nho giáo, nhưng đến năm 1193, nội dung thi có cả Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) Những minh chứng về ý thức tiếp thu Nho giáo thời này rất nhiều,

cụ thể như: Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho xây dựng văn miếu ở Thăng Long Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây Quốc Tử giám, chọn các quan có văn học bổ vào đấy coi việc giảng dạy Năm 1236, vua Trần Thánh Tông đặt ra Đề điệu quốc tử viện để cho con em các quan văn vào đấy học Năm 1253 vua lập Quốc học viện để giảng Tứ thư, Ngũ kinh Bên cạnh đó, Phật giáo cũng rất thịnh Dương Tằng Văn viết trong

Văn hóa Phật giáo: “Năm 1010, khi Lý Công Uẩn lên ngôi thì số chùa

chiền lên tới hơn 11.000, cảnh tượng nhân dân quá nửa làm tăng, cả nước đâu đâu cũng chùa… Khi nhà Trần lên thay năm 1225, các hoàng tộc,

Trang 37

công khanh xuất gia theo Phật rất thịnh, tiêu biểu nhất có thể kể đến Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm” [Dương Tằng Văn 2006: 22] Về ảnh hưởng của Đạo giáo, Phan Kế Bính viết: “Bấy giờ sùng tín thế nào thì không biết Song đến đời vua Đinh Tiên Hoàng sai Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ, Lý Anh Tôn dùng cả tam giáo thi học trò Lý Thần Tôn thì cho phép Trần Lộc lập ra Đạo Nội Tràng, ấy là cái chứng cớ của người nước ta sùng tín Đạo giáo” [Phan Kế Bính 2001: 285]

Về vai trò của Tam giáo thời này học giả Đào Duy Anh nhận định:

“Ở đời Lý và đời Trần triều đình lại đặt ra khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão), xem thế đủ biết không những Nho học và Phật học thịnh hành, mà Lão học cũng không bị bài xích” [Đào Duy Anh 2000a: 269]

Như vậy, dưới thời Lý – Trần, ý thức phục hưng văn hóa dân tộc mang tính chủ động rất cao Người Việt tiếp nhận văn hóa bên ngoài có chọn lọc, có mục đích rõ ràng Nếu việc coi trọng Phật giáo gắn với yêu cầu xây dựng ý thức hệ và gắn với ý thức khác với văn hóa Trung Hoa (Tống Nho ở Trung Hoa bấy giờ đang phát triển đến đỉnh cao), thì việc trọng dụng Nho giáo gắn với nhu cầu xây dựng bộ máy nhà nước là một

sự lựa chọn đúng đắn

Có thể nói, với giai đoạn phục hưng văn hóa vĩ đại của dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước Đại Việt đạt đến đỉnh cao dưới thời Lý – Trần, vấn đề ý thức bản sắc dân tộc được biểu hiện khá phong phú, nhất

là từ thế kỷ XI – XIV nổi bật lên ý thức về cội nguồn và ý thức về sự khác biệt với văn hóa Trung Hoa

Sau thời kỳ phục hưng văn hóa với đỉnh cao thời Lý – Trần, bước qua thế kỷ XV, với nhu cầu của việc xây dựng bộ máy nhà nước có sự tập trung quyền lực cao độ, vai trò của Nho giáo trở nên độc tôn Các

Trang 38

Nho sĩ được đào tạo bởi học thuyết Khổng Mạnh tăng lên gấp bội và thay thế hoàn toàn các tăng sĩ trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa Nhà

Lê tôn vinh việc học bằng các cuộc lễ xướng danh, lễ vinh quy, và nhất là

lệ khắc tên và lý lịch tiến sĩ vào bia đá Văn Miếu (bắt đầu từ 1422) Như vậy, với nhu cầu thực tiễn của việc cần thiết phải xây dựng một nhà nước vững mạnh, có sự tập trung quyền lực cao độ thời kỳ này khiến Nho học

đặc biệt được chú trọng Trần Trọng Kim viết trong Việt Nam sử lược:

“Những người đi tu theo đạo Phật và đạo Lão cũng bắt phải thi kinh điển đạo ấy; hễ ai thi trúng thì mới cho phép được làm tăng và đạo sĩ, ai thi hỏng thì phải về tục làm ăn” [Trần Trọng Kim 2005: 223]

Tuy vậy, nhờ truyền thống văn hóa trước đó và điều kiện văn hóa – lịch sử thế kỷ XV, đặc biệt với dư âm từ những lợi to lớn của người Việt trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, xu hướng khẳng định cái riêng vẫn rất mạnh mẽ, đạt đến đỉnh cao, tiêu biểu với Nguyễn Trãi Nhưng cũng do vai trò độc tôn của Nho giáo, việc xây dựng bản sắc văn hóa và ý thức về bản sắc văn hóa vẫn có những biểu hiện khác với trước Xu thế ý thức về sự tương đồng với Trung Hoa ngày càng biểu hiện rõ hơn Nguyên nhân một phần là do khi Nho giáo ảnh hưởng sâu hơn dẫn đến người ta ngày càng nhận thấy vị thế ngày càng lớn hơn của văn minh Trung Hoa Có thể nói, đó là tiền đề cho những chuyển biến tiếp theo của

ý thức bản sắc văn hóa dân tộc giai đoạn sau này

2.2 NHỮNG BIỂU HIỆN CƠ BẢN

2.2.1 Ý thức về cội nguồn

Ý thức về cội nguồn thể hiện rõ nét trong việc xây dựng sự tích về nguồn gốc của dân tộc Việc xây dựng này có từ bao giờ là việc chưa thể xác định, nhưng có thể thấy là từ khá sớm Theo Lê Văn Siêu, việc sáng

tác truyện Sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ (khoảng vào thế kỷ X) mục

Trang 39

đích để nhằm khẳng định về một cội nguồn dân tộc của người Việt không

hề thua kém người láng giềng Trung Hoa Ông đã phân tích một cách khá chi tiết và đưa ra những kết luận về đặc tính văn hóa và chính trị của truyện như: Kết luận 4: “Gốc tích của bô Lạc Long Quân cũng từ vua thần nông mà ra như các đời vua của Trung Quốc, không kém gì cả” Kết luận 5: “Thân phụ của bô là Kinh Dương Vương còn được ông nội quý mến định cho cai trị miền Bắc tức là Trung Quốc kia, nhưng Kinh Dương Vương đã nhường lại cho người anh khác mẹ là Đế Nghi Thế có nghĩa là cành vàng lá ngọc ngang nhau cả” [Lê Văn Siêu 2000: 412]

Những minh chứng cho sự tồn tại ý thức về quá khứ xa xưa của dân tộc, ý thức về cội nguồn dân tộc trong thời kỳ này biểu hiện khá phong phú Đặc biệt được thể hiện rõ vào thời nhà Trần Vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293) ý thức về thủy tổ của người Việt cùng phong tục vẽ mình vốn chỉ có ở môi trường văn hóa sông nước: “Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi tỏ là không quên gốc”( )1 [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI, Tờ 7a] Trần

Nhân Tông thường căn dặn vua Trần Anh Tông (1276 - 1320): “Người nước ta vẫn vẽ mình để giữ lấy gốc, nhà vua phải theo tục ấy mới được” [Phạm Văn Sơn 2001: 203]

Quá trình ý thức về cái riêng của văn hóa dân tộc mà một trong những biểu hiện cụ thể là ý thức về cội nguồn đã kích thích nhu cầu tìm

về nguồn gốc dân tộc Theo O.W.Wolters, Phạm Sư Mạnh (? - ?), là người đầu tiên ở Việt Nam nhắc đến nước Văn Lang, sau hai bài văn Trung Quốc, ít nhất vào thời nhà Đường, đã nói đến Văn Lang và định vị

( ) 1 Sự việc vào tháng 2 năm 1299

Trang 40

trí của xứ này ở miền Tây Bắc Bài thơ được viết vào khoảng năm 1360 khi Phạm Sư Mạnh đi công cán ở phía Tây Bắc Việt Nam:

“…Ngược làn sóng trong, đậu thuyền ở bến đá

Kẻ lại coi sông tranh nhau ra đón cờ sứ thần của nhà vua đi qua Chốn phên dậu là sông Lô, nơi tụ hội là sông Thao

Đã trải qua ngày tháng nước Văn Lang, đã từng là núi sông nước Thục,

Xe thư đã thống nhất vạn dặm, ở biên giới lắng bụi chiến tranh,

Vũ trụ trải qua ngàn năm cuộc đời đã xảy ra nhiều việc

Ta may đội ơn vua được trao quyền mở mang cõi ngoài

Xua đuổi trộm cướp, dập tắt nạn binh đao…”

(Hành quân)

[Dẫn theo O.W.Wolters 2001: 132]

Bài phú của Trương Hán Siêu (? - 1354) ca ngợi chiến thắng cuối cùng chống quân Mông Cổ trên sông Bạch Đằng năm 1288 cũng đã gợi lại niềm tin của ông rằng nước Việt Nam có một quá khứ xa xưa oanh liệt:

“… Từ có vũ trụ, đã có giang san,

Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an…”

(Bạch Đằng Giang phú)

[Dẫn theo O.W.Wolters 2001: 137]

Lý Tế Xuyên (Thế kỷ XV) trong cuốn Việt điện u linh viết năm

1329 thể hiện rất rõ về ý thức cội nguồn dân tộc, ý thức về một nền văn hóa dân tộc với những đặc sắc riêng Cuốn sách của ông kể về những vị thần linh của người Việt đã có nhiều công lao giúp đỡ nhân dân Bài tựa dẫn do Chức chủ bạ bộ lễ là Hồng Đô Gia Cát Thị viết đã gợi lại về

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Duy Tân (cb) 2000: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5. – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
2. Bùi Duy Tân (cb) 2000: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 6. – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
3. Bùi Văn Nguyên (cb) 2000: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4. – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
4. Đặng Đức Siêu 2000: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 14. – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
5. Đào Duy Anh 2000a: Việt Nam văn hóa sử cương. - NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
6. Đào Duy Anh 2000b: Đất nước Việt Nam qua các đời. – NXB: Thuận hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: NXB: Thuận hóa
7. Đinh Gia Khánh (cb) 2002: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII. - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Đinh Gia Khánh 1993: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á. - HN: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
9. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (cb) 2004: Từ điển văn học. - NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: NXB Thế giới
10. Đoàn Lê Giang 1999: Tìm hiểu ý thức văn học trung đại Việt Nam (Luận án tiến sĩ ngữ văn tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ý thức văn học trung đại Việt Nam
11. Dương Quảng Hàm 2005: Việt Nam văn học sử yếu. – NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Nhà XB: NXB Trẻ
12. Evans G (cb) 2001: Bức khảm văn hóa Châu Á. – HN: NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức khảm văn hóa Châu Á
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
13. Gurêvich A.JA 1996: Các phạm trù văn hóa trung cổ. – NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
Nhà XB: NXB Lao động
14. Harrow S.O’ 2001: “Từ cổ loa đến cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng Việt Nam dưới con mắt người Trung Hoa”. – Trong: Những vấn đề lịch sử Việt Nam. – NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cổ loa đến cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng Việt Nam dưới con mắt người Trung Hoa”. – Trong: "Những vấn đề lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
15. Hồ Sĩ Vịnh 2006: Văn hiến giữ nước. - Trong: 99 góc nhìn văn hiến Việt Nam. - NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hiến giữ nước". - Trong:" 99 góc nhìn văn hiến Việt Nam
Nhà XB: NXB Thông tấn
16. Hoàng Châu Ký (cb) 2000: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 11. – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
17. Hoàng Khôi (biên dịch) 2001: Nguyễn Trãi toàn tập. – NXB Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi toàn tập
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
18. Hoàng Quốc Hải 2001: Văn hóa phong tục. - NXB Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
19. Huỳnh Khái Vinh 1998: "Tìm hiểu nghị quyết trung ương 5 về văn hóa". – Trong: Những vấn đề thời sự văn hóa. – NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nghị quyết trung ương 5 về văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
20. Kim Sơn 1999: Thiền uyển tập anh (Lê Mạnh Thát dịch). – SG: NXB Đại học Vạn Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền uyển tập anh
Nhà XB: NXB Đại học Vạn Hạnh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w