1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án: Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 297,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Mức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-NGUYỄN VĂN BẢO

MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 9340301

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Công bố thông tin là một trong những nguyên tắc hoạt động

cơ bản của thị trường chứng khoán (TTCK) Theo Adina P và Ion P.(2008) công bố thông tin có vai trò rất lớn trong việc tác động đếnquá trình phân bổ hiệu quả các nguồn lực và hạn chế tình trạng nhiễuloạn thông tin giữa bên trong và bên ngoài DN, giữa những ngườinắm giữ thông tin và người sử dụng thông tin Do vậy, trong nềnkinh tế, tác động của hành vi công bố thông tin kế toán là vô cùng tolớn Bên cạnh đó, theo Phạm Thu Hương (2017) thì thị phần chính làmột trong những chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của DN, từ

đó cho thấy mức độ công bố thông tin kế toán ít hay nhiều có ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của DN

Có rất nhiều tác giả trước đây đã giải thích và tìm thấy nhiềubằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa công bố thông tin vànăng lực cạnh tranh của DN như: Li, H., và Qi, A (2008) cho rằngcác công ty có thể thúc đẩy năng lực cạnh tranh của họ thông quacông bố thông tin; Agboola, A A và Salawu, M K (2012) giải thíchrằng công bố thông tin là cách thức để chứng minh khả năng cạnhtranh của tổ chức, là cách thức tổ chức giao tiếp với các đối tượng cóliên quan ở bên ngoài; Basah, M Y A (2015) cho thấy khi công bốcác thông tin cơ bản như thông tin chung về công ty, thông tin vềchiến lược công ty, thông tin về nghiên cứu và định hướng phát triểntrong tương lai có thể mang lại nhiều lợi thế trong việc cạnh tranhcủa DN

Trang 4

Mặt khác, các DN xây dựng và kinh doanh Bất động sản niêmyết trên TTCK Việt Nam đang nắm giữ một vị trí quan trọng, quy môcủa ngành Xây dựng và kinh doanh Bất động sản ngày càng mở rộng

và vai trò của các DN Xây dựng và kinh doanh Bất động sản cũngtăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân Theo Báo cáođánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2019 của Bộ Xây dựng,hoạt động xây dựng tăng trưởng đạt khoảng 9 – 9,2% so với cùng kỳnăm 2018, tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 39,2%, tăng 0,8% sovới năm 2018, tổng giá trị sản xuất toàn ngành Xây dựng đạt 358,684

tỷ đồng, đóng góp 5,94% cơ cấu GDP cả nước và bất động sản đónggóp khoảng 0,6% Với việc gia nhập WTO đây cũng là một trongnhững nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của các DNngành Xây dựng và kinh doanh Bất động sản Do vậy, hơn lúc nàohết, các DN mà đặt biệt là các DN ngành Xây dựng và kinh doanhBất động sản phải tự nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của chínhbản thân DN so với các DN trong nước và thế giới bằng các chiếnlược riêng của mình

Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trước liên quan đếncông bố thông tin kế toán, có thể nhận thấy nghiên cứu về mức độcông bố thông tin kế toán đã được các tác giả trong và ngoài nướcthực hiện nhiều, từ đó góp phần hệ thống lý thuyết về công bố thôngtin kế toán và xác định các nhân tố tác động đến công bố thông tin kếtoán Bên cạnh đó, một số các nghiên cứu nước ngoài có lựa chọnnhóm DN thuộc ngành Xây dựng và kinh doanh Bất động sản đểthực hiện nghiên cứu Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả thì ở ViệtNam hiện ít có nghiên cứu nào lựa chọn nhóm DN này để nghiêncứu Và mỗi

Trang 5

khu vực địa lý khác nhau, mỗi nhóm ngành khác nhau sẽ có sự khácbiệt về yêu cầu công bố thông tin, do đó, việc áp dụng rập khuôn kếtquả các nghiên cứu này vào các DN xây dựng và kinh doanh bấtđộng sản niêm yết trên TTCK Việt Nam là không phù hợp.

Từ phân tích lý thuyết và thực tiễn về công bố thông tin kế

toán, tác giả nhận thấy nghiên cứu “Mức độ công bố thông tin kế

toán và năng lực cạnh tranh – Bằng chứng thực nghiệm tại các Doanh nghiệp Xây dựng và kinh doanh Bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là cần thiết thực hiện, qua

đó góp phần xác định các nhân tố, đo lường mức độ tác động của cácnhân tố đến công bố thông tin kế toán và có các kiến nghị, hàm ýchính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNthông qua công bố thông tin kế toán

2.Mục tiêu nghiên cứu

2.1Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng và mức độ công bốthông tin kế toán hiện nay, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin kế toán và tác động của mức độ công bố thông tin kếtoán đến năng lực cạnh tranh của các DN Xây dựng và kinh doanhBất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam Trên cơ sở kết quảnghiên cứu, tác giả đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm nâng caomức độ công bố thông tin kế toán và năng lực cạnh tranh của DN.2.2Mục tiêu cụ thể

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnhhưởng của các nhân tố đó đến mức độ công bố thông tin kế toán của

Trang 6

các DN Xây dựng và kinh doanh Bất động sản niêm yết trên TTCKViệt Nam.

+ Đánh giá sự tác động và mức độ tác động của mức độ công

bố thông tin kế toán đến năng lực cạnh tranh của các DN Xây dựng

và kinh doanh Bất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam

3.Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất: Các nhân tố nào ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởngcủa các nhân tố đó đến mức độ công bố thông tin kế toán của các DNXây dựng và kinh doanh Bất động sản niêm yết trên TTCK ViệtNam như thế nào?

Thứ hai: Có hay không sự tác động của mức độ công bố thôngtin kế toán đến năng lực cạnh tranh của các DN Xây dựng và kinhdoanh Bất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam và nếu có thìmức độ ảnh hưởng của nó như thế nào?

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến mức độcông bố thông tin kế toán và tác động của mức độ công bố thông tin

kế toán đến năng lực cạnh tranh của các DN Xây dựng và kinh doanhBất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

-Đề tài này nghiên cứu các DN Xây dựng và kinh doanh Bấtđộng sản ở Việt Nam có cổ phiếu niêm yết chính thức trên TTCKViệt Nam trước ngày 31/12/2015 và có niên độ kế toán từ 1/1 đến31/12 hàng năm

Trang 7

-Dữ liệu dùng cho nghiên cứu được thu thập trên BCTC,BCTC hợp nhất (nếu có), báo cáo thường niên (BCTN), bảng cáobạch và các báo cáo quản trị … của các DN Xây dựng và kinh doanhBất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam trong 3 năm liên tiếp(năm 2016, năm 2017 và năm 2018).

Giới hạn nghiên cứu của luận án:

-Luận án không nghiên cứu về chất lượng công bố thông tin

kế toán mà nghiên cứu về mức độ công bố thông tin kế toán

-Luận án không nghiên cứu các DN Xây dựng và kinh doanhBất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam có cổ phiếu niêm yếtchính thức trên TTCK Việt Nam sau ngày 31/12/2015 vì những DNnày có dữ liệu công bố thông tin năm 2016, năm 2017 và năm 2018không đầy đủ, không đáp ứng nhu cầu dữ liệu của Luận án dùngtrong nghiên cứu

5.Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp định tính vàphương pháp định lượng nhằm giải quyết từng mục tiêu nghiên cứu

cụ thể

6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

+ Về mặt khoa học: bổ sung các nhân tố và cách thức đolường tác động của chúng đến mức độ công bố thông tin kế toán vàảnh hưởng của mức độ công bố thông tin kế toán đến năng lực cạnhtranh của các DN Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần hoàn thiện

Bộ tiêu chí đo lường công bố thông tin kế toán

+ Về mặt thực tiễn:

Trang 8

-Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân

tố và mức độ tác động của các nhân tố đến mức công bố thông tin kếtoán, và tác động của mức độ công bố thông tin kế toán đến năng lựccạnh tranh của các DN Xây dựng và kinh doanh Bất động sản niêmyết trên TTCK Việt Nam Từ đó đề xuất các kiến nghị giúp các DNnâng cao mức độ công bố thông tin cũng như năng lực cạnh tranhcủa mình

- Nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cho các đốitượng sử dụng thông tin của các DN Xây dựng và kinh doanh Bấtđộng sản niêm yết trên TTCK Việt Nam, giúp họ hiểu rõ hơn về mức

độ công bố thông tin kế toán của các DN này dựa vào các nhân tốảnh hưởng, đồng thời đánh giá năng lực cạnh tranh của DN đó trênthị trường

-Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhànghiên cứu hay những ai quan tâm tìm hiểu về lĩnh vực mức độ công

bố thông tin kế toán của các DN, ảnh hưởng của mức độ công bốthông tin kế toán của DN đến năng lực cạnh tranh của các DN đó

7.Kết cấu của luận án:

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận án gồm 5 chương:

- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

-Chương 2: Cở sở lý thuyết

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

-Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

-Chương 5: Kết luận và hàm ý

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1Các nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin kế toán chiavấn đề này thành 2 loại gồm công bố thông tin bắt buộc và công bốthông tin tự nguyện Tuy nhiên, Giacomo Boesso (2006) cho rằng,các nhà đầu tư, thị trường tài chính và các bên liên quan ngày càngkhông hài lòng với thông tin công bố bắt buộc, từ đó làm nảy sinhnhu cầu về công bố thông tin tự nguyện của các công ty này, qua đó,

họ mong muốn nhận được các thông tin toàn diện hơn về chiến lượcdài hạn và hiệu quả hoạt động của công ty Yu Tian và JingliangChen (2009) cho rằng ở giai đoạn đầu của TTCK, công bố thông tin

tự nguyện rất chiếm ưu thế và được các đối tượng sử dụng thông tinquan tâm và điều này được các cơ quan quản lý chứng khoán tin là

“bàn tay vô hình” tác động, được thúc đẩy bởi lợi ích của người thamgia TTCK, giúp cho họ nhận thấy sự cân bằng thông tin trong đó

“thông tin được công bố đầy đủ là nguồn lực được phân bổ hiệuquả”

Một số các tác giả tiêu biểu lựa chọn nghiên cứu về công bốthông tin có thể kể đến như Lang, M và Lundholm, R (1993), Owusu– Ansah (1998); Sicco Santema và cộng sự (2005); BernardRaffournier (2006); Patricia Teixeira Lopes và Lucia LimaRodrigues (2007); Mohammed Hossain và Masrur Reaz (2007); Wan

I và cộng sự (2010); Nandi và Ghosh (2012); Aljifri và Alzarouni(2013); Mohamed Moustafa Soliman (2013); Iaad I S và cộng sự(2014); Holtz, L., và Neto, A S (2014); Sartawi và cộng sự(2014);

Trang 10

Mohammadi D và Jamali A (2017),… Bên cạnh đó một số nghiêncứu lựa chọn chỉ thực hiện nghiên cứu tự nguyện công bố thông tinnhư Meek, G.K., và cộng sự (1995) Chau và Gray (2002) R.M.Haniffa, T E Cooke (2002) Xiao và Yuang (2007) MohammedHossain, Helmi Hammami (2009) Sanjay Bhayani (2012) Yanesari(2012) Khaldoon Albitar (2015), …

Gary K Meek và cộng sự (1995), thực hiện nghiên cứunhằm kiểm định sự tác động của áp lực thị trường vốn quốc tế ảnhhưởng đến công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo hàng năm củacác tập đoàn đa quốc gia ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh Trongnghiên cứu này, bộ danh mục chỉ số công bố thông tin được xâydựng trên thực tiễn các xu hướng quốc tế liên quan đến quy định vềcông bố thông tin kết hợp với kế thừa từ nghiên cứu của Grey,Campbell và Shaw (1984) và Tonkin (1989) Chau và Gray (2002)cũng đã xây dựng chỉ số công bố thông tin tự nguyện bằng cách pháttriển dựa trên danh mục bởi Meek (1995) và bổ sung một số mục cụthể hơn

thông tin kế toán

Một số nghiên cứu tiêu biểu được thực hiện ở phạm vi cácquốc gia đang phát triển như: Owusu – Ansah (1998) Chau và Gray(2002) Bernard Raffournier (2006); Haniffa, R.M và Cooke, T E.(2002); Xiao và Yuang (2007); Wan I và cộng sự (2010); Nandi vàGhosh (2012); Sanjay Bhayani (2012); Yanesari (2012); Iaad I S vàcộng sự (2014); Holtz, L., và Neto, A S (2014); Khaldoon Albitar

Trang 11

(2015); Mohammadi D và Jamali A (2017); Lin, L.Q (2017); Pappu

K D và cộng sự (2020)

cạnh tranh của doanh nghiệp

Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công bố thông tin

kế toán đến năng lực cạnh tranh hiện vẫn chưa thống nhất (Jeffrey J.Burks và cộng sự, 2018) Hossain và cộng sự (1995) thực hiện mộtnghiên cứu thực nghiệm về việc công bố thông tin tự nguyện của cáccông ty New Zealand Li, H., và Qi, A (2008) cho rằng các công ty

có thể thúc đẩy năng lực cạnh tranh của họ thông qua tự nguyện công

bố thông tin, nâng cao chất lượng thông tin và củng cố, tăng cườngniềm tin của các nhà đầu tư với tổ chức Các tác giả này cũng chobiết, tự nguyện công bố thông tin cũng là một cách tốt nhất để chứngminh năng lực cạnh tranh của tổ chức, là một cách thức giao tiếp củađơn vị với các bên có liên quan

1.2Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về công bố thông tin đượcnhiều tác giả lựa chọn thực hiện, tiêu biểu có thể kể đến một số tácgiả như Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng (2008); Đoàn NguyễnTrang Phương (2010); Nguyễn Công Phương và cộng sự (2012);Ngô Thu Giang (2014); Phạm Ngọc Toàn và cộng sự (2015); NguyễnHữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018); Đặng Thị Bích Ngọc(2018); Phan Thị Hải Hà và cộng sự (2019); Đặng Ngọc Hùng vàcộng sự (2019);… Bên cạnh đó, cũng có một số tác giả lựa chọn chỉthực hiện nghiên cứu về

Trang 12

tự nguyện công bố thông tin như Tạ Quang Bình (2012); Nguyễn ThịThu Hảo (2014);…

1.2.2 Nghiên cứu về bộ chỉ số công bố thông tin kế toán

Nguyễn Công Phương và cộng sự (2014) đã thực hiện lượnghóa mức độ công bố thông tin hai bước theo cách thức xây dựng bộchỉ số công bố thông tin của các tác giả như Singhvi & Desai (1971),Cooke (1989) và Hossain (2008) Nghiên cứu của Tạ Quang Bình(2012) khẳng định rằng mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đo lườngcông bố thông tin, cũng như đã xây dựng được các bộ chỉ mục vềcông bố thông tin, tuy nhiên không có giải thích cụ thể hoặc hướngdẫn chung cho việc lựa chọn các mục để đo lường mức độ công bốthông tin

thông tin kế toán

Tạ Quang Bình (2012) trong bài viết: “Voluntary DisclosureInformation in the Annual Reports of Non Financial ListedCompanies: The Case of Vietnam” đã tiến hành xem xét về vấn đềcông bố các thông tin tự nguyện Nghiên cứu của Ngô Thu Giang(2014) đã dùng phương pháp định lượng bằng thực nghiệm và tiếnhành với số lượng mẫu thu thập là 30 CTNY trên TTCK Việt Nam,thời gian thu thập dữ liệu là 3 năm (2011 - 2013) Phạm Ngọc Toàn

và cộng sự (2015) cho thấy các biến Thành phần HĐQT, Tỷ lệ sởhữu vốn của HĐQT, Đòn bẩy tài chính, Tỷ lệ sở hữu nước ngoài cótác động đến mức độ công bố thông tin, các biến khác còn lại dườngnhư không có tác động Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019) đã sửdụng

Trang 13

cách thức đo lường có trọng số để đo lường chỉ số công bố thông tin trong BCTN của 289 CTNY tại Việt Nam.

cạnh tranh của doanh nghiệp

Tạ Quang Bình (2012) cho rằng việc các DN công bố thôngtin nhạy cảm sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của họ vì các đối thủcủa các tập đoàn này có thể thu thập thêm thông tin về hoạt động bêntrong của doanh nghiệp và có chiến lược phù hợp trong việc đối phódoanh nghiệp dựa trên các thông tin mà họ thu thập được TheoPhạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) DN phải đảm bảo rằngthông tin cần phải được công bố kịp thời và chính xác về tất cả cácvấn đề trọng yếu liên quan đến hoạt động, cơ cấu, tình hình tài chính,hiệu quả hoạt động, quyền sở hữu và quản trị của DN

1.3Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu

Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu trước, có thểnói rằng, mức độ công bố thông tin kế toán và các nhân tố ảnh hưởngđến nó là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước rấtquan tâm Hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này và cáccông trình đều có những cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, riêngđối với các công trình về chủ đề các yếu tố tác động đến công bốthông tin, đã được các tác giả tiến hành nghiên cứu trong những nămgần đây Có tác giả nghiên cứu về tính minh bạch của BCTN, hoặc

có tác giả tập trung về chất lượng thông tin trên BCTC

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w