1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi tuyến giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

4 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 9,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật cắt tuyến giáp nội soi gần đây đã phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực phẫu thuật tuyến giáp kể từ khi Gagner mô tả phẫu thuật cắt tuyến cận giáp lần đầu tiên năm 1996. Bài viết trình bày đánh kết quả của phẫu thuật nội bệnh lý tuyến giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI

TUYẾN GIÁP TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

NGÔ VI TIẾN1, NGUYỄN QUANG TRUNG2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt tuyến giáp nội soi gần đây đã phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực phẫu thuật

tuyến giáp kể từ khi Gagner mô tả phẫu thuật cắt tuyến cận giáp lần đầu tiên năm 1996 [1] Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An áp dụng kỹ thuật này từ năm 2011 Có nhiều cách tiếp cận tuyến giáp cho việc phẫu thuật nội soi tuyến giáp của nhiều tác giả trên thế giới Nghiên cứu này chúng tôi chọn phương pháp tiếp cận bằng đường nách và quầng vú để thực hiện phẫu thuật này

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh kết quả của phẫu thuật nội bệnh lý tuyến giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 89 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật nội soi tuyến giáp tại Bệnh

viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1 năm 2017 đến hết tháng 12 năm 2017

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang

Kết quả nghiên cứu: 89 BN tuổi từ 16 đến 51, nữ chiếm 87,64%, kích thước bướu từ 0,7 – 7,0cm Tất cả

bệnh nhân đều được thực hiện thành công với phương pháp mổ nội soi Có 65 trường hợp (73,03%) bướu thùy phải, có 24 trường hợp (26,97%) bướu thùy trái Chúng tôi thực hiện cắt thùy cho 75 trường hợp (84,27%) Thời gian mổ trung bình 70,35 ± 15,21 phút, thời gian nàm viện trung bình 5,45 ± 0.36 ngày Không có biến chứng do CO2 gây ra

Có 3 trường hợp bị khàn tiếng sau mổ do trong quá trình mổ bị chấn thương thần kinh quặt ngược thanh quản nhưng sau đó bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau 3 tháng

Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt bướu giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An là an toàn và hiệu quả

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

ABSTRACT

Evaluate the result of endoscopic thyroidectomy at the Nghe An Oncology Hospital

Introduction: Endoscopic thyroidectomy is a recently developed procedure in the field of thyroid surgery

since the first description of endoscopic parathyroidectomy by Gagner in 1996 The Nghe An Oncology hospital had applied this technique from 2011 There are ways to approach to thyroid gland for this procedure of many authors in the world The present study reviews our initial experiences with endoscopic thyroidectomy using ipsilateral axillary and breast areolar approach to evaluate its safety and feasibility

Purpose: To evaluate the result of endoscopic thyroidectomy

Method: Prospective and descriptive study

Results: 89 patients, age: 16-51 years old, female: 87,64%, the tumoral diameter: 0,7-7,0cm All patients

were successfully performed with endoscopic procedure 65 cases (73,03%) from right lobe,24 cases (26.9%) from left lobe Endoscopic procedures were 75 lobectomies (84,27%) The operating time 70,35 ± 15,21 minutes, the mean length of the hospital stay was 5,45 ± 0.36 days No CO2 gas-related complications, such

as subcutaneous emphysema or hypercapnia There was three case of hoarseness due to recurrent laryneal nerve injury but patients recovered for 3 months

Conclusion: The endoscopic thyroidectomy at Nghe An Oncology hospital is safety and feasibly

Keywords: Endoscopic thyroidectomy, Nghe An Oncology Hospital

1ThS.BS Trưởng Khoa Ngoại 1 - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

2 TS.BS Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bướu giáp là một bệnh lý phổ biến trên thế giới

nói chung và ở Việt Nam nói riêng Hằng năm Bệnh

viện Ung Bướu Nghệ An phẫu thuật khoảng hơn

1000 trường hợp bướu cổ và số lượng BN ngày một

tăng trong những năm gần đây

Phẫu thuật tuyến giáp kinh điển, sẹo mổ ở cổ

luôn luôn lộ ra bên ngoài, ai cũng nhìn thấy, nhất là

khi vết mổ dài và bị sẹo lồi, trong khi đó PTNS tuyến

giáp thì sẹo mổ nhỏ được che lại khi mặc quần áo

và không có sẹo mổ ở cổ Như vậy về mặt thẩm mỹ

phẫu thuật nội soi tuyến giáp có ưu điểm hơn hẳn so

với mổ mở

Từ năm 2002, chỉ mới có một số bệnh viện như

BV Nhân Dân Gia Định, BV Nội Tiết Trung ương, BV

Chợ Rẫy, BV Trưng Vương, BV Bình Dân thực hiện

được PTNS tuyến giáp Hiện nay nhiều bệnh viện đã

thực hiện được phẫu thuật này và nó dần thay thế

các phẫu thuật mổ mở kinh điển

Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An chúng tôi đã

triển khai PTNS tuyến giáp từ năm 2011, chỉ định

trong trường hợp bướu đơn nhân và đa nhân 1 thùy

Hiện nay chỉ định PTNS được mở rộng rất nhiều kể

cả trong những trường hợp ung thư tuyến giáp hay u

đa nhân 2 thùy tuyến giáp

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm:

“Đánh giá kết quả của PTNS tuyến giáp tại Bệnh

viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2017 đến hết

tháng 12/2018”

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật nội soi tuyến

giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng

1/2017 đến hết tháng 12/2017

Tiêu chuẩn chọn BN

Bướu giáp dạng nhân hoặc nang ở một thùy có

kích thước một thùy ≤ 7,0cm

K giáp T1N0M0, tuyến giáp còn di động theo

nhịp nuốt, không có khàn tiếng

Bệnh nhân đồng ý PTNS

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, hô hấp đang

được điều trị chưa ổn định, bệnh lý rối loạn đông

máu

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Bướu bị viêm gây dính vào các cơ xung quanh

Bướu Basedow

Bệnh nhân bị bướu giáp tái phát sau phẫu thuật Bệnh nhân đã được mổ ở vùng cổ, dưới đòn

Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả cắt ngang

Mô tả kỹ thuật nội soi bướu giáp

Phương pháp vô cảm: Mê NKQ

Tư thế BN và phẫu thuật viên:

- BN nằm ngửa, đầu nghiêng về bên đối diện thùy giáp có u

- Độn gối ở dưới 2 vai và cổ để cổ ưỡn ở mức

độ trung bình

- Phẫu thuật viên đứng cùng bên thùy giáp có

u, người phụ đứng dưới PTV cùng bên khối u Đường vào tuyến giáp: Theo đường bên

Vị trí đặt troca: 1 trocar ở rãnh delta-ngực cùng bên bướu, 1 trocar ở quầng vú cùng bên bướu tại điểm 2 giờ (mổ bên thùy phải) và 10 giờ (mổ bên thùy trái) Đặt 2 trocar 5mm dưới sự quan sát của camera sao cho đều vào đường bóc tách của khí CO2 và vị trí ngoài da cách đều trocar 10mm

Bơm hơi CO2 áp lực 7-9 mmHg, sau đó tiếp tục tách lớp cơ bám da bằng dụng cụ nội soi để tạo phẫu trường mổ

Tách vạt da: Dùng dao điện bộc lộ khoang vô mạch lên trên cho tới sụn giáp, tách bề rộng vạt da

từ bờ ngoài của cơ ức-đòn-chũm bên thùy giáp bệnh tới đường giữa

Tách cơ theo đường bên

Bộc lộ tuyến giáp, đánh giá xử trí tổn thương, lấy bệnh phẩm bằng túi ni lon qua lỗ troca 10mm, đặt dẫn lưu

Phương pháp phẫu thuật

Cắt bán phần 1 thùy giáp kèm u, cắt một thùy tuyến giáp, cắt toàn bộ tuyến giáp

Trang 3

Thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện

Biến chứng sau mổ

Tụ dịch, chảy máu, tổn thương dây thần kinh

quặt ngược, tê bì vùng mổ, hạ canxi máu

Thất bại mổ nội soi chuyển sang mổ hở

Sự hài lòng của người bệnh sau mổ

Xử lý số liệu

Phần mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tuổi, giới

Tuổi trung bình 30,5 ± 3.1 (16-51) tuổi

Nam 11 (12,36%), nữ 78 (87,64%)

Phân loại bệnh

Có 23 bệnh nhân (25,84%) trường hợp bướu

dạng nang, 66 bệnh nhân (74,16%) bướu dạng

nhân

FNA trước mổ được thực hiện ở 100% trường hợp,

trong đó có 5 trường hợp (5,62%) nghi ngờ ung thư

Kích thước u

Đường kính trung bình của bướu giáp là

3.25 ± 0.94cm (2-7cm)

Phương pháp phẫu thuật

Tất cả các bệnh nhân đều được phẫu thuật nội

soi thành công Có 65 trường hợp (73,03%) bướu

thùy phải, có 24 trường hợp (26,97%) bướu thùy

trái Chúng tôi tiến hành cắt bán phần 1 thùy TG cho

14 trường hợp (15,73%), cắt 1 thùy cho 75 trường

hợp (84,27%) bao gồm cả 5 trường hợp ung thư

tuyến giáp

Thời gian phẫu thuật

Ngắn nhất 35 phút, dài nhất: 125 phút, trung

bình 70,35 ± 15,21 phút

Thời gian nằm viện

Ngắn nhất 4 ngày, dài nhất 12 ngày, trung bình

5,45 ± 0.36 ngày

Biến chứng sau mổ

Bảng 1 Biến chứng sau mổ

Tụ dịch sau mổ 6 6,74

Nhiễm trùng sau mổ 3 3,37

Khàn tiếng sau mổ 3 3,37

BÀN LUẬN

Tuổi, giới

Tuổi trung bình là 30,5 ± 3,1, chủ yếu là nữ chiếm (87,64%) Nghiên cứu trên 750 trường hợp của Trần Ngọc Lương[2] tuổi trung bình là 28,3 và tỉ

lệ nữ giới là 95,1% Của tác giả Đỗ Hữu Liệt[3] trên

426 bệnh nhân thì nữ chiếm 93%, tuổi trung bình là 36,5 tuổi

Kích thước bướu và vấn đề chỉ định phẫu thuật

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân của chúng tôi là bướu đơn nhân hoặc đa nhân 1 thùy có kích thước mỗi thùy ≤ 7,0cm, ung thư tuyến giáp T1N0M0 Trần Ngọc Lương[2]chỉ định phẫu thuật: bướu giáp nhân, bướu giáp đa nhân, Basedow, ung thư tuyến giáp với kích thước từ 1 - 5,8cm Đỗ Hữu Liệt[3]chỉ định phẫu thuật cho bướu giáp nhân lành tính có kích thước ≤ 6cm Hiện nay chưa có một chỉ định thống nhất cho phẫu thuật nội soi tuyến giáp, chỉ định tùy thuộc từng phẫu thuật viên và từng trường hợp

cụ thể

Chỉ định cắt thùy, hay cắt bán phần một thùy tuyến giáp tùy thuộc và kích thước khối u và vị trí khối u Nghiên cứu của chúng tôi có 6 trường hợp (thêm 1 trường hợp STTT trong mổ là K giáp) ung thư tuyến giáp được chỉ định cắt 1 thùy tuyến giáp +

eo giáp

Biến chứng sau mổ

Chúng tôi có 6 bệnh nhân tụ dịch sau mổ, trong

đó có 2 bệnh nhân tụ dịch sau nhiễm trùng vết mổ Tất cả 6 bệnh nhân này đều được điều trị ổn định bằng chọc hút dịch Có 3 bệnh nhân bị nhiễm trùng vết mổ, cấy định danh vi khuẩn đều kháng nhiều loại kháng sinh, điều trị bằng kháng sinh liều cao 3 trường hợp khàn tiếng tạm thời sau mổ, trong đó có

2 trường hợp khối u to nằm sát chỗ đổ vào của thần kinh quặt ngược thanh quản, nên tổn thương thần kinh (khỏi sau 4 tuần) còn 1 trường hợp tổn thương

do dao siêu âm chạm vào thần kinh (trường hợp này khỏi sau 3 tháng) Không có trường hợp nào chảy máu sau mổ

Trần Ngọc Lương[2]ghi nhận có 1 ca chảy máu

mổ lại, 1 ca khàn tiếng sau mổ (750 bệnh nhân)

Đỗ Hữu Liệt[3]ghi nhận 2,1% trường hợp chảy máu, 3,5%, 11.2% khàn tiếng tạm thời

Thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện

Thời gian mổ là bình 70,35 ± 15,21 ngắn nhất

35 phút, kéo dài nhất 125 phút Thời gian nằm viện sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,45 ± 0.36 ngày Jeryong[4]phẫu thuật trung bình là 89,93 phút, thời gian nằm viện là 5,37 ngày Jun-ho Choe[5] là 165,3 phút và thời gian nằm viện là 4

Trang 4

ngày Trịnh Minh Tranh[6]phẫu thuật trung bình 125,

02 và thời gian nằm viện là 4,58 ngày Thời gian

nằm viện và thời gian phẫu thuật của chúng tôi

không khác biệt nhiều so với các tác giả khác

Kết quả thẩm mỹ, sự hài lòng của người bệnh

86 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của

chúng tôi hài lòng với kết quả phẫu thuật Có 3 bệnh

nhân bị nhiễm trùng vết mổ chưa hài lòng về phẫu

thuật do vùng mổ viêm, xơ dính, dị cảm Trong các

nghiên cứu trong và ngoài nước[2-4-5]đều khẳng định

tính thẩm mỹ, tâm lý tự tin của bệnh nhân sau mổ

bướu cổ nội soi

KẾT LUẬN

Qua 89 trường hợp mổ nội soi bệnh lý tuyến

giáp tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An, chúng tôi có

một số kết luận sau:

Nữ 78 BN chiếm 87,64%, thời gian mổ là

70,35 ± 15,21 phút (35 đến 125 phút), thời gian nằm

viện 5,45 ± 0.36 ngày, không có trường hợp nào

chảy máu sau mổ phải mổ lại, tụ dịch sau mổ 6,74%,

tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ và khàn tiếng tạm thời là

3,37%

Chúng tôi nhận thấy đây là phương pháp phẫu

thuật an toàn, hiệu quả và thẩm mỹ cao, có thể áp

dụng cho nhiều loại bệnh lý tuyến giáp khác nhau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 M Gagner (1996) Endoscopic subtotal parathyroidectomy in patients with primary hyperparathyroidism Br J Surg, 83 (6), 875

2 Trần Ngọc Lương (2005) Một số nhận xét về kỹ thuật mổ nội soi tuyến giáp bằng đường thành ngực trước và đường nách: qua 200 trường hợp bướu nhân ở 1 thùy Tạp chí y học thực hành, 8 (517), tr.38-41

3 Đỗ Hữu Liệt (2015) Phẫu thuật nội soi tuyến giáp đường tiếp cận nách và quầng vú Y học thành phố Hồ Chí Minh, 12 (4), tr 22-27

4 K Jeryong, L Jinsun, K Hyegyong và cộng sự (2008) Total endoscopic thyroidectomy with bilateral breast areola and ipsilateral axillary (BBIA) approach World J Surg, 32 (11),

2488-2493

5 J H Choe, S W Kim, K W Chung và cộng sự (2007) Endoscopic thyroidectomy using a new bilateral axillo-breast approach World J Surg, 31 (3), 601-606

6 Trịnh Minh Tranh (2008) So sánh sử dụng khung nâng với bơm khí CO2 tạo phẫu trường trong phẫu thuật nội soi tuyến giáp Y học thành

phố Hồ Chí Minh, 12 (4), tr.272-276

Ngày đăng: 10/08/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w