1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI tập TÌNH HUỐNG môn bảo đảm NGHĨA vụ dân sự

11 1,2K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 19,43 KB
File đính kèm BÀI TẬP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ.zip (22 B)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tình huống môn bảo đảm nghĩa vụ dân sựcác tính huoosnng về thế cháp tình huống về cầm cố tình huống về bảo lãnh các biện pháp xử lý khi vi phạm nghĩa vụ dân sự các căn cứ pháp lý thể hiện rõ bản chất của bảo đảm nghĩa vụ dân sự

Trang 1

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG MÔN BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ I) Tình huống 1

Vào 01/4/2018, bà V có cho ông B thuê một căn nhà và phần đất diện

thuê theo hợp đồng là 03 năm, giá thuê 8.000.000 đồng/tháng Bà V đã giao nhà, đất cho B sử dụng và hợp đồng thuê nhà đã được công chứng Đến ngày 6/6/2018 bà V làm thủ tục thế chấp nhà, đất nêu trên cho Ngân hàng N để vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hợp đồng thế chấp giữa bà V và Ngân hàng N cũng đã được công chứng Khi làm thủ tục vay tiền và thế chấp tài sản bà V có thông bao cho ông B biết và cũng báo cho Ngân hàng N biết về việc tài sản thế chấp đang cho thuê, các bên đều đồng ý Sau khi vay tiền bà V không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N nên Ngân hàng thông báo với bà V sẽ xử lý tài sản bảo đảm Ngân hàng N thông báo cho ông b yêu cầu giao lại tài sản

để ngân hàng xử lý Bà V cũng yêu cầu ông B chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước hạn để bà bán nhà để trả nợ cho ngan hàng Ông B thì không đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà vì ông không có vi phạm hợp đồng với bà V, khi bà V thế chấp tài sản Ngân hàng N cũng đồng ý việc bà V cho ông B thuê nhà, nên ông B yêu cầu được tiếp tục thuê nhà đến hết hợp đồng sẽ trả lại căn nhà trên Các bên phát sinh tranh chấp và yêu cầu

cơ quan có thẩm quyền giải quyết Hỏi:

Trang 2

1 Hãy cho biết hợp đồng thế chấp tài sản của bà B với Ngân hàng N có đúng quy định của pháp luật hay không? Giải thích căn cứ pháp lý?

xác lập đúng theo qui định của pháp luật, thì sự việc nêu trên phải giải quyết như thế nào theo quy định của pháp luật dân sự? Nêu căn cứ pháp lý?

Giải:

- Năng lực chủ thể:

+ Bà V đảm bảo về năng lực cá nhân

+ Ngân hàng N đảm bảo về năng lực tổ chức

- Sự tự nguyện: các bên đều tự nguyện khi xác lập giao dịch

- Qui định của pháp luật:

+ Tài sản được phép giao dịch (nhà đất)

+ Tài sản hợp pháp của bà V nên bà V được phép thế chấp

+ Bà V có thông báo cho ông B về việc đem tài sản đang cho ông B thuê

đi thế chấp và bà V cũng thông báo cho Ngân hàng N đang cho ông B thuê

- Hình thức: làm văn bản, công chứng, đăng kí

→ Ngân hàng N bà bà V đã không tiến hành đăng kí tài sản bảo đảm theo qui định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ - CP

Trang 3

→→ Hợp đồng thế chấp của bà V với ngân hàng N không đúng qui định của pháp luật

nghĩa vụ thì ngân hàng N sẽ được quyền xử lí tài sản bảo đảm

Hợp đồng thuê nhà: Ông B không vi phạm nghĩa vụ, không đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà và giao nhà gtruowsc thời hạn thì ngân hàng

N không được ngang nhiên xử lý tài sản bảo đảm mà phải đợi hết hạn hợp đồng với ông B mới được xử lý tài sản bảo đảm Do ngân hàng N đã đồng

ý với việc ông B thuê nhà khi xác lập hợp đồng thế chấp theo qui định tại Điều 24 Nghị Định 163/2006/ NĐ - CP Hợp đồng thuê nhà được tiếp tục thực hiện cho đến khi hết hạn

II) Tình huống 2:

Ngày 01/01/2017, anh L và chị C là vợ chồng, có vay của bà P số tiền

200 triệu đồng, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất thỏa thuận là 1%/ tháng, mục đích vay là phục vụ việc kinh doanh, mua bán Khi vay tiền có ông

N là chú ruột của chị C viết giấy bão lãnh cho chị C với nội dung “ Hai đứa cháu tôi có vay của cô P số tiền 200 triệu đồng, 06 tháng sau sẽ trả vốn, lãi đầy đủ Nếu hai đứa cháu tôi làm không đúng lời hứa trên thì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật” Đồng thời, ông N có giao cho bà P giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên để làm tin Đến hạn trả nợ thì anh L và chị C làm ăn thua lỗ nên không có tiền trả nợ Ông N không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh như đã hứa trước

Trang 4

đây Ông N cho rằng ông có ký giấy bão lãnh, nhưng nội dung bảo lãnh không thể hiện ông có cam kết trả nợ thay cho anh L và chị C Hỏi:

đúng qui định của pháp luật hay không? Bà P có quyền xử lý tài sản bảo đảm là phần đất của ông N được không? Nêu căn cứ pháp lý?

luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự? Nêu căn cứ pháp lý?

Giải:

1 *Bảo lãnh:

- Năng lực chủ thể:

+ Ông N có đầy đủ năng lực chủ thể

+ Bà P có đầy đủ năng lực chủ thể

- Sự tự nguyện: các bên đều tự nguyện

- Qui định pháp luật: được phép bảo lãnh

- Hình thức không bắt buộc phải đăng kí

→ Biện pháp bảo lãnh trên đúng qui định của pháp luật

*Thế chấp:

Trang 5

- Năng lực chủ thể:

+ Ông N có đầy đủ năng lực chủ thể

+ Bà P có đầy đủ năng lực chủ thể

- Sự tự nguyện: các bên đều tự nguyện

- Qui định pháp luật:

+ Tài sản thuộc sở hữu của ông N

+ Tài sản được phép lưu thông

- Hình thức: công chứng, lập thành văn bản, đăng kí biện pháp bảo lãnh Hai bên không công chứng cũng không đăng kí biện pháp bảo đảm Căn

cứ Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015

→ Biện pháp thế chấp sai

Trang 6

2 Việc bảo lãnh đúng qui định của pháp luật, thế chấp sai.

Bà P phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N

Anh L và chị C phải trả cho bà P 200 triệu đồng và 06 tháng tiền lãi, nếu anh L và chị C không trả số tiền trên thì ông N phải trả số nợ trên cho bà

P Căn cứ Điều 322 Bộ luật Dân sự 2015

III) Tình huống số 3:

Vào năm 2016, anh Trần Văn B và chị Cao Thị M là vợ chồng được

xong do vợ chồng cùng đứng tên Ngày 10/10/2016, anh B đem quyền sử dụng đất nêu trên thế chấp tại ngân hàng thương mại cổ phần A để bảo đảm cho khoản vay 300 triệu đồng, mục đích vay là phục vụ nhu cầu kinh doanh của vợ chồng Hợp đồng vay tiền và hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng kí giao dịch bảo đảm cùng ngày, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp là nếu anh B không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A được xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ Đến ngày

09/6/2017, anh B tiếp tục kí hợp đồng vay thêm của Ngân hàng A số tiền

100 triệu đồng Anh b và Ngân hàng A có làm văn bản thỏa thuận số tiền

100 triệu đồng vay sau này cũng được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất

đã thế chấp cho ngân hàng A trước đây Hai bên không có làm hợp dồng thế chấp mới Đến ngày 10/10/2017, anh B đem số tiền 300 triệu đồng đến trả cho Ngân hàng A sau khi trả xong 300 triệu dồng, anh B yêu cầu

Trang 7

Ngân hàng A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp trước đây, nhưng ngân hàng A không đồng ý vì cho rằng anh B chưa thực hiện xong nghĩa vụ được bảo đảm nên không trả lại tài sản bảo đảm Hỏi:

nêu trên có được giao kết đúng pháp luật không? Sau khi anh B trả xong số tiền 300 triệu đồng thì hợp đồng thế chấp còn hiệu lực không? Căn cứ pháp lý?

luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ? Căn cứ pháp lý?

Giải:

1 Hợp đồng thế chấp tài sản của anh B với Ngân hàng thương mại

cổ phần A (10/10/2016)

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Điều 117 Bộ Luật dân sự 2015)

- Năng lực chủ thể:

+ Anh Trần Văn B đảm bảo về năng lực cá nhân

+ Ngân hàng thương mại cổ phần A đảm bảo về năng lực tổ chức

- Sự tự nguyện: các bên đều tự nguyện khi xác lập giao dịch

- Qui định của pháp luật:

+ Tài sản được phép giao dịch ( đất )

Trang 8

+ Tài sản thuộc sở hữu của chung của M và B ( tài sản thuộc sở chung của vợ chồng ) nhưng M không kí tên trong hợp đồng vay có thế chấp trên, cũng không ủy quyền cho B)

- Hình thức: lập thành văn bản, công chứng, đăng kí biện pháp bảo đảm

→ Hợp đồng thế chấp này không đúng với qui định pháp luật

Phụ lục hợp đồng

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Điều 117 Bộ Luật dân sự 2015)

- Năng lực chủ thể:

+ Anh Trần Văn B đảm bảo về năng lực cá nhân

+ Ngân hàng thương mại cổ phần A đảm bảo về năng lực tổ chức

- Sự tự nguyện: các bên đều tự nguyện khi xác lập giao dịch

- Qui định của pháp luật:

+ Tài sản được phép giao dịch ( đất )

+ Tài sản thuộc sở hữu của chung của M và B ( tài sản thuộc sở chung của vợ chồng ) nhưng M không kí tên trong hợp đồng vay có thế chấp trên, cũng không ủy quyền cho B)

- Hình thức: lập thành văn bản, công chứng, đăng kí biện pháp bảo đảm + Hợp đồng trên cũng không tiến hành công chứng: trái với qui định về hình thức của hợp đồng tại Khoản 2 Điều 119 bộ Luật Dân sự 2015 + Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đây là loạn tài sản bắt buộc đăng

kí biện pháp bảo đảm theo qui định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định

Trang 9

102/2017/ NĐ - CP, Nhưng hai bên không tiến hànhđăng kí biện pháp bảo đảm

→Hợp đồng thế chấp tài sản trên là không đúng với qui định của pháp luật

nên bị vô hiệu Ngân hàng A phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh B.Hợp đồng vay tài sản của anh B với ngân hàng thương mại

cổ phần A sẽ trở thành hợp đồng vay tài sản không có biện pháp bảo đảm Ngân hàng A không có quyề xử lý tài sản bảo đảm nếu như anh B vi phạm nghĩa vụ, còn aanh B vẫn phải trả số tiền đã vay của ngân hàng thương mại cổ phần A là 100 triệu dồng ( do anh B đã trả trước đó cho ngân hàng A là 300 triệu dồng) Căn cứ Điều 131, Điều 302 Bộ luật Dân

sự 2015

IV) Tình huống số 4:

Ngày 05/3/2018, chị Nguyễn Thanh T có cầm cố một xe gắn máy hiệu Honda SH, xe do chị T đứng tên chủ sở hữu cho tiệm cầm dồ

Nguyễn Quốc K làm chủ với số tiền 30 triệu đồng Thời hạn cầm cố là 30 ngày từ ngày 05/3/2018 , nếu sau thời hạn trên không chuộc lại xe thì phải đóng lãi theo mức lãi 5%/ tháng/ số tiền cầm xe Đến ngày

05/4/2018, chị T đã đóng 2 triệu dồng tiền lãi và tiền bảo quản tài sản cầm cố cho ông Quốc K Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chị T phải

đi làm xa nên không kịp về đóng lãi đúng hạn Đến ngày 09/6/2018, chị t

Trang 10

đến gặp ông Quốc K để trả tiền và chuộc xe thì ông Quốc K cho biêt đã bán chiếc xe trên cho anh Trần Minh M, với giá 40 triệu đồng nhưng không rõ địa chỉ của anh M ở đâu Chị T cho rằng ông Quốc k đã bán xe của chị là không đúng nên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Quốc K phải trả lại giá trị chiếc xe là 60 triệu đồng Chị đồng ý khấu trừ tiền cầm cố, tiền lãi và tiền bảo quản xe là 35 triệu đồng Yêu cầu ông Quốc K trả cho chị số tiền còn lại là 25 triệu đồng Ông Quốc K không đồng ý vì cho rằng chị T vi phạm nghĩa vụ nên ông bán tài sản cầm cố là đúng quy định pháp luật Cơ quan định giá cũng xác định chiếc xe của chị T có giá trị còn lại là 60 triệu đồng Hỏi:

có đúng quy định của pháp luật hay không? Nêu căn cứ pháp lý?

pháp luật dân sự? Nêu căn cứ pháp lý?

Giải:

đúng với quy định của pháp luật

- Vi phạm nghĩa vụ:

+ T vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng

+ K không vi phạm nghĩa vụ

- Xử lí tài sản bảo đảm:

Trang 11

+ Không thông báo cho bên cầm cố biết về việc xử lý tài sản cầm cố bảo đảm

+ Không có sự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 314 Bộ luật Dân sự 2015

+ Biện pháp xử lí tài sản bảo đảm sai

→ Ông K bán chiếc xe của chị T là sai

Bộ luật Dân sự 2015 thì do ông Quốc K đã tự bán tài sản cầm cố nên việc thanh toán số tiền có được từ viwwjc xử lí tài sản bảo đảm được thực hiện theo qui định tại Điều 307 Bộ luạt dân sự 2015

Yêu cầu của chị T là khấu trừ tiền cầm đồ, tiền lãi, tiền bảo quản xe là

35 triệu đồng và trả lại cho chị số tiền còn lại là 25 triệu dồng

+ tiền cầm cố là 30 triệu đồng

+ tiền lãi suất do các bên không có thỏa thuận nên áp dụng mức lãi suất tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 là 20%

+ tiền bảo quản xe

→ Sau khi cộng các khoản tiền lại thì số tiền mà chị T yêu cầu được trả lại là hợp lý Do cơ quan định giá cũng xác định chiếc xe của chị T có giá trị là 60 triệu đồng Nên sau khi khấu trừ tiền cầm cố, tiền lãi, tiền bảo quản xe là 35 triệu đồng thì ông K phải bồi thường cho chị T là 25 triệu đồng

Ngày đăng: 10/08/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w