Trong phạm vi khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một thành viên thân thiện luôn phát triển và giữ gìn mối quan hệ với các nước bạn, xây dựng mối quan hệ đoàn kết như tình bạn Việt-Lào, Việt
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
_
TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
PHÂN TÍCH QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC THẾ GIỚI
THỨ BA SAU KHI GIÀNH ĐỘC LẬP
Giáo viên hướng dẫn: Hoàng Tùng Lan
Sinh viên thực hiện: Bùi Thành Việt, Đỗ Phương Thảo, Phạm
Thanh Phương, Hoàng Thị Nhật Trinh, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Minh Thư, Phạm Hoàng Phương, Nguyễn Mạnh Tùng
Chuyên ngành: Truyền thông quốc tế
Lớp: TT46C
I Lời mở đầu:
Trang 2Sau chiến tranh thế giới thứ 2, với việc giải phóng thuộc địa, một nhân tố mới đã xuất hiện trên sân khấu chính trị quốc tế: “thế giới thứ 3” “Thế giới thứ 3” được gọi để phân biệt với “Thế giới thứ 1” là các nước có nền kinh tế phát triển – đi theo con đường TBCN như Mỹ, Anh, Đức, “Thế giới thứ 2” là những nước có nền kinh tế tương đối phát triển
đi theo con đường XHCN Thuật ngữ “Thế giới thứ ba” đến từ nhà nhân khẩu học người Pháp Alfred Sauvy, trong một bài viết mang tên “ba thế giới, một hành tinh”
Bắt đầu từ những năm 60, dưới góc độ kinh tế, các nước thuộc thế giới thứ ba còn được gọi là các nước đang phát triển có nền nông nghiệp lạc hậu, hoặc các nước công nông nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa Khi nền kinh tế thế giới
có những bước chuyển đổi theo hướng toàn cầu hóa thì khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng nhiều Trong khi
đó con người ngày càng đòi hỏi phải có cuộc sống tốt đẹp hơn Các nước thế giới thứ ba nhận thấy việc thắt chặt và phát triển các mối quan hệ, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo với các nước tư bản là điều cần thiết Ngoài ra, việc hợp tác, giữ mối quan hệ hòa hảo với nhau cũng giúp các nước trong thế giới thứ 3 phát triển về
cả chính trị, xã hội, du lịch,…
Hiện nay, có rất nhiều các nước đang nỗ lực phát triển để thoát ra khỏi danh sách thế giới thứ ba Rất nhiều tình hữu nghị song phương, những buổi hợp tác, họp bào, gặp mặt của các nước trong phạm vi địa phương, các nước có tình gắn bó lịch sử lâu đời,… được diễn
ra Trong phạm vi khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một thành viên thân thiện luôn phát triển và giữ gìn mối quan hệ với các nước bạn, xây dựng mối quan hệ đoàn kết như tình bạn Việt-Lào, Việt Nam-Thái Lan,…
Vì vậy nghiên cứu và phân tích về mối quan hệ giữa các nước là điều quan trọng, đặc biệt với các sinh viên Ngoại giao để góp phần thắt chặt mối quan hệ của Việt Nam đối với các nước khác và đồng thời hiểu rõ hơn về các nước trong thế giới thứ ba Bài luận của nhóm chúng em xin được đưa ra những nghiên cứu về đặc điểm khái quát các nước trong thế giới thứ ba,xung đột giữa các nước, nguyên nhân hợp tác, các cố gắng hợp tác chính của các nước
Trong quá trình làm bài luận, nhóm có nhiều thiếu sót mong các thầy cô giúp đỡ và sửa sai Chúng em xin cảm ơn
II.Nội dung:
A Khái quát chung về các nước Thế giới thứ 3:
Thế giới thứ ba là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả một nước đang phát triển, khi
đó, các nước thuộc thế giới thứ ba đều đứng trước sự cấp bách về giải quyết vấn đề phát triển kinh tế Khái niệm này cũng được dùng để phân biệt với các nước giàu ở phía Bắc, được gọi là các nước phát triển, đây là những nước đã có thời kỳ dài công nghiệp hóa và trở thành các nước công nghiệp phát triển, để chỉ các quốc gia có quan điểm không phù hợp với NATO và chủ nghĩa tư bản hoặc Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản Trong bối cảnh lúc đó, thế giới thứ nhất bao gồm Hoa Kỳ và các đồng minh tư bản chủ nghĩa tại các khu vực như Tây Âu, Nhật Bản và Australia Thế giới thứ hai gồm Liên Xô cộng sản chủ
nghĩa và các quốc gia phụ thuộc của nó ở Đông Âu Trong khi đó, thế giới thứ ba bao
gồm tất cả các quốc gia khác không tích cực liên kết với một trong hai phía trong
Trang 3cuộc Chiến tranh Lạnh Đây thường là những nước thuộc địa cũ nghèo của châu
Âu, bao gồm gần như tất cả các quốc gia châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ Latinh và châu Á
Danh sách các nước thế giới thứ 3
Croatia
Estonia
Litva
Kazakhstan
Rumani
Serbia
Slovenia
Kenya
Mô-ri-xơ
Ma-rốc
Nigeria
Tunisia
WAEMU
Bahrain
Jordan
Cô-oét
Lebanon
Ô-man
Bangladesh
Sri Lanka
Việt Nam
Đặc điểm của các nước thế giới thứ 3
Có thể có một vài cách để phân chia thế giới cho các mục đích phân khúc kinh tế Phân loại các quốc gia là Thế giới thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư là một khái niệm được tạo
ra trong và sau Chiến tranh Lạnh kéo dài từ khoảng năm 1945 đến những năm 1990
Nhìn chung, các quốc gia thường được đặc trưng bởi tình trạng kinh tế và các số liệu kinh
tế quan trọng như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người, tăng trưởng việc làm và tỷ lệ thất nghiệp Các nước thuộc thế giới thứ ba thường
có kết quả thấp hơn các nước thuộc thế giới thứ nhất và thế giới thứ hai ở những khu vực này Ở các nước này, đặc điểm thị trường sản xuất và lao động kém thường được kết hợp
Trang 4với trình độ học vấn tương đối thấp, cơ sở hạ tầng kém, vệ sinh không phù hợp, tiếp cận hạn chế với chăm sóc sức khỏe và chi phí sinh hoạt thấp hơn
Các quốc gia thuộc thế giới thứ ba thường nằm trong số những người theo dõi chặt chẽ bởi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới tìm cách cung cấp viện trợ toàn cầu cho các mục đích của các dự án giúp cải thiện toàn diện cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh
tế Các nước thuộc thế giới thứ ba cũng có thể là mục tiêu của nhiều nhà đầu tư đang tìm cách xác định lợi nhuận cao tiềm năng thông qua các cơ hội tăng trưởng có thể mặc dù rủi ro cũng tương đối cao hơn Trong khi các nước thuộc Thế giới thứ ba thường có đặc điểm là kém hơn về kinh tế, thì những đột phá đổi mới và công nghiệp có thể dẫn đến những cải tiến đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn
B Xung đột giữa các nước Thế giới thứ 3:
1, Chiến tranh Triều Tiên
Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Liên Xô tiến vào Triều Tiên từ phía Bắc đến
vĩ tuyến 38, còn phía Nam là quân Mỹ vào để giải giáp quân Nhật Giữa tháng 8-1948,
Mỹ giúp đỡ Lý Thừa Vãn thành lập nước Đại Hàn dân quốc ở miền Nam Triều Tiên Đầu tháng 9-1948, lãnh tụ Kim Nhật Thành tuyên bố thành lập Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tại miền Bắc
Năm 1949, Mỹ và Liên Xô rút khỏi bán đảo Triều Tiên Sau đó không lâu, tại đảo Jeju xảy ra khởi nghĩa chống chính quyền miền Nam, quân đội Nam Triều Tiên đàn áp và giết chết khoảng 30 ngàn người Đầu tháng 6-1950, khoảng 200 lính biệt kích của Nam Hàn tấn công vào các làng ở bờ biển phía Đông của Bắc Triều Tiên Ngày 25-6-1950, Bắc Triều Tiên sử dụng lực lượng quân đội với 135.438 quân cùng 242 xe tăng, pháo tự hành và 180 máy bay vượt vĩ tuyến 38 tấn công quân đội miền Nam Lúc này, quân đội Nam Triều Tiên có gần 100 ngàn lính nhưng không được trang bị vũ khí hạng nặng nên nhanh chóng bị đánh lui khỏi các vị trí chiến lược Ngày 28-6-1950, Tổng thống Lý Thừa Vãn chạy sang Nhật Bản chuẩn bị thành lập chính phủ lưu vong
Ngày 27-6-1950, Liên hiệp quốc bỏ phiếu thông qua việc cho phép Mỹ cùng 15 thành viên của tổ chức này góp binh sĩ giúp Nam Triều Tiên, trong đó Mỹ góp 50% bộ binh, 86% hải quân và 93% không quân Liên Xô kiên quyết phản đối và đề nghị các nước không can thiệp vào nội bộ của Triều Tiên Đầu tháng 7-1950, quân Mỹ đến Osan
và ngăn chặn thành công các cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên vào thành phố Pusan Cùng lúc này, trên 180 ngàn lính cùng hàng ngàn xe tăng, pháo, xe quân sự của các nước đồng minh đã hội quân về Pusan
Đêm 19-10-1950, 4 quân đoàn bộ binh và 3 sư đoàn pháo binh Quân chí nguyện Trung Quốc bí mật tiến vào Triều Tiên Từ ngày 25-10 đến 5-11-1950, quân Trung Quốc
tổ chức các chiến dịch đẩy lui quân Mỹ đến phía Nam sông Thanh Xuyên Cuối tháng 11, quân Trung Quốc và Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38 đánh về phía Nam, chiếm được Seoul vào ngày 4-1-1951 Từ tháng 1 đến tháng 7-1951, hai bên vừa tổ chức hàng chục cuộc tấn công lẫn nhau, đồng thời thực hiện các cuộc đàm phán hòa bình Ngày
27-7-1953, theo đề nghị của Ấn Độ, hai bên ngừng bắn quay trở lại vĩ tuyến 38 như ban đầu để
Trang 5thành lập vùng phi quân sự theo một thỏa thuận đình chiến Đến nay, cả hai bên chưa ký bất kỳ hiệp định hòa bình nào
2, Chiến tranh Ấn độ - Pakistan
Từ thế kỷ XVI, người Anh đã loại bỏ các thế lực khác để đặt ách thống trị của mình lên toàn cõi Ấn Độ Sau nhiều thế kỷ thống trị, người Anh đã gây ra cho xã hội Ấn Độ những mâu thuẫn sâu sắc và ngày càng trầm trọng về dân tộc, tôn giáo, văn hóa Để giải quyết mâu thuẫn này, Tổng đốc Anh tại Ấn Độ Mountbatten đề nghị chính quyền Anh chia quốc gia này thành 2 nước tự trị, lịch sử gọi là “Phương án Mountbatten”
Theo đó, nước Ấn Độ của những người theo Ấn Độ giáo, nước Pakistan của những người theo đạo Muslim Trung tuần tháng 8-1947, cả Ấn Độ và Pakistan tuyên bố thành lập nhà nước tự trị của riêng mình Nếu theo phương án Mountbatten, vùng đất Kashmir thuộc về Nhà nước Pakistan Tuy nhiên, do vị thủ lĩnh của bang này là người theo Ấn Độ giáo nên đã gia nhập về Ấn Độ Người Muslim giáo chống đối, chính quyền bang Kashmir tổ chức đàn áp dẫn đến các cuộc bạo loạn Ấn Độ đưa 40 ngàn binh lính vào ổn định tình hình, Pakistan kêu gọi thánh chiến và đưa quân vào Kashmir dẫn đến chiến tranh Ấn Độ - Pakistan lần thứ nhất vào năm 1947 Đầu năm 1949, Ấn Độ và Pakistan đạt được thỏa thuận đình chiến và giữ nguyên hiện trạng các vùng đất do các bên đã chiếm Tuy nhiên, trong thỏa thuận đình chiến vẫn không nêu được vấn đề “Ai là chủ nhân của Kashmir?” Tháng 12-1964, Ấn Độ ra tuyên bố, Kashmir là một bang của mình Người Muslim giáo ở Kashmir phẫn nộ và tổ chức biểu tình chống lại tuyên bố nói trên Chính phủ Ấn Độ điều cảnh sát đến ổn định tình hình, nhưng cuộc biểu tình leo thang thành cuộc bạo loạn và Pakistan lại đưa quân vào Cuộc chiến tranh Ấn Độ và Pakistan lần thứ 2 bùng nổ bất phân thắng bại
Pakistan có hai phần Đông và Tây cách nhau 1.600km, còn Ấn Độ nằm giữa Sau khi thành lập nước, lãnh đạo Pakistan chủ yếu là người phía Tây nên phát sinh mâu thuẫn Đông - Tây Pakistan khá nghiêm trọng Năm 1970, người phía Đông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử, thủ lĩnh của họ đề nghị 2 miền Đông - Tây tách thành 2 bang tự quản trong một “Chính phủ liên bang lỏng lẻo” Đề xuất này biến thành cuộc nội chiến giữa 2 miền Đông - Tây Pakistan Tháng 11-1971, Ấn Độ đưa 10 vạn quân tuyên chiến với Đông Pakistan, chiến tranh Ấn Độ và Pakistan lần thứ 3 bùng nổ Tháng 12-1971, cuộc chiến lan rộng sang phía Tây, không quân Ấn Độ tấn công vào các thành phố của hai miền Đông Tây Pakistan Các hạm đội của hải quân Ấn Độ đã cắt đứt đường liên lạc tiếp
tế trên biển của Pakistan Ngày 8-1-1972, nước Cộng hòa nhân dân Bangladesh chính thức được thành lập trên đất miền Đông Pakistan Tháng 2-1974, Pakistan ra tuyên bố công nhận Nhà nước Bangladesh Như vậy, từ một quốc gia có nền văn minh rực rỡ trong lịch sử nhân loại nhưng vì chiến tranh nên Ấn Độ đã bị phân hóa và chia thành 3 nước riêng biệt
3, Chiến tranh Trung Ấn
Vấn đề biên giới Trung - Ấn có nguồn gốc từ năm 1834 khi Vương quốc Sikh chiếm khu vực núi cao Ladakh (một tiểu bang của Jammu và Kashmir, Ấn Độ) Sau khi Thế chiến II kết thúc, trật tự thế giới có nhiều thay đổi khiến vấn đề biên giới lại trở thành chủ
đề nóng Sự độc lập của Cộng hòa Ấn Độ và hình thành nhà nước Cộng hòa Nhân dân
Trang 6Trung Hoa vào năm 1949 đã tạo ra nhiều thay đổi ở châu Á Khi Bắc Kinh công khai ý định chiếm đóng Tây Tạng, New Delhi phản đối và đề xuất đàm phán với Bắc Kinh về khu vực này Năm 1954, Trung - Ấn kết luận 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, trong đó New Delhi thừa nhận chủ quyền của Bắc Kinh ở Tây Tạng Tại thời điểm này, Thủ tướng
Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã nêu câu khẩu hiệu “Hindi-Chini bhai-bhai” (tạm dịch: Trung Quốc và Ấn Độ là anh em)
Các nhà ngoại giao Ấn Độ đã trình bày bản đồ biên giới giữa hai nước, trong đó có khu vực McMahon Line (nằm giữa đông bắc Ấn Độ và Tây Tạng), phía Trung Quốc không phản đối Tháng 7-1954, Thủ tướng Nehru đã viết bản ghi nhớ hướng dẫn sửa đổi bản đồ Ấn Độ để làm rõ ranh giới trên tất cả biên giới Tuy nhiên, bản đồ do phía Trung Quốc phát hành có tới 120.000 km2 lãnh thổ Ấn Độ thuộc về Trung Quốc Thủ tướng Chu Ân Lai sau đó giải thích rằng có sự nhầm lẫn trong khi vẽ bản đồ Đến năm 1956 Chu Ân Lai tiếp tục khẳng định không có vấn đề về biên giới giữa hai nước
Năm 1959, tình hình trở nên căng thẳng khi Ấn Độ cho phép Đạt Lai Lạt Ma tị nạn khi ông chạy trốn khỏi Tây Tạng Căng thẳng gia tăng khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tuyên bố cuộc nổi dậy ở Lhasa, Tây Tạng, là do Ấn Độ “giật dây” Đỉnh điểm của tranh chấp là cuộc đụng độ đẫm máu trên đèo Kongka khiến 9 lính biên phòng
Ấn Độ thiệt mạng vào tháng 10-1959 Khi đó, New Delhi nhận thấy chưa sẵn sàng cho xung đột nên thừa nhận trách nhiệm về vấn đề biên giới và rút quân tuần tra khỏi khu vực
Sau sự cố xung đột vào năm 1959, Trung Quốc đề nghị với Ấn Độ mỗi bên rút lui 20
km từ điểm kiểm soát thực tế Giữa năm 1961, Trung Quốc gia tăng hoạt động tuần tra ở khu vực biên giới, thậm chí vào cả những khu vực Ấn Độ kiểm soát
Đến 20-10-1962, Trung Quốc bất ngờ phát động 2 cuộc tấn công cách nhau 1.000
km tại Ladakh và MacMahon Line Lực lượng phía Trung Quốc ước tính khoảng 80.000 quân Với quân số áp đảo, quân đội Trung Quốc dễ dàng đánh bại lực lượng Ấn Độ trên khu vực biên giới Đến ngày 24-10, lực lượng Trung Quốc đã tiến thêm 16 km từ đường kiểm soát thực tế trước xung đột Ngày 21-11, Trung Quốc bất ngờ tuyên bố đạt được các yêu cầu, ngừng bắn và rút quân Theo các nhà sử học, sau khi rút quân, Trung Quốc chiếm đóng thêm 6.475 km2 ở khu vực Ladakh (nay thuộc huyện Hotan, khu tự trị Tân Cương)
4 Chiến tranh Trung Đông
Cuộc chiến tranh Trung Đông năm 1967 thường được gọi là “chiến tranh sáu ngày”
-được người Ả Rập xem là thảm họa lớn nhất đối với họ trong số bốn cuộc chiến tranh giữa người Ả Rập với Israel kể từ khi nhà nước Do Thái ra đời Bản đồ địa - chính trị Trung Đông biến dạng nghiêm trọng kể từ sau cuộc chiến.
Chiến tranh lần thứ nhất xảy ra năm 1948, còn lại Đông Jerusalem và Bờ Tây sông Jordan nằm dưới quyền kiểm soát của Jordan và Bờ biển dải Gaza do Ai Cập kiểm soát Năm 1956, Israel chiếm đóng dải Gaza và Bán đảo Sinai của Ai Cập Một năm sau đó, Israel buộc phải rời Sinai và Lực lượng Khẩn cấp của LHQ (Unef) được triển khai
Căng thẳng tiếp tục gia tăng và các tổ chức vũ trang Palestine mới thành lập bắt đầu
mở các đợt tấn công xuyên biên giới với sự hỗ trợ của thế giới A-rập Tổng thống Ai Cập
Trang 7Gamal Abdel Nasser muốn đoàn kết thế giới A-rập và tuyên bố sẽ “phá hủy Israel”, còn Israel lo ngại họ có thể sẽ bị xóa bỏ Tháng 5-1967, Tổng thống Nasser yêu cầu rút lực lượng Unef ra khỏi Bán đảo Sinai, gần eo Tiran có tàu thuyền của Israel qua lại, và ký một công ước phòng thủ với Jordan
7 giờ 45 phút (giờ Israel) ngày 5/6, quân đội Israel (IAF) đã mở chiến dịch Operation Focus và tiến hành đợt oanh kích đầu tiên vào 11 sân bay của Ai Cập, phá hủy hàng chục máy bay đang đậu trên đường băng Cuộc tấn công phủ đầu của Israel đã làm hạn chế tối
đa hệ thống phòng không và phòng thủ của Ai Cập
Vào ngày 6/6, cuộc đọ súng xảy ra giữa quân Israel và Jordan tại Ammunition Hill ở phần phía bắc của Đông Jerusalem, sau đó Israel chiếm được khu vực này Trong cuộc đọ súng này, có 106 lính Jordan và 37 lính Israel chết
Trong cuộc chiến, Syria chỉ mở một cuộc tấn công trên bộ, pháo kích vào các khu định cư gần biên giới trước khi mở cuộc tấn công trên bộ Cuộc tấn công bị ngừng do vấp phải sự kháng cự của dân quân của các khu định cư và chấm dứt sau khi máy bay của Israel tấn công
Nguyên soái Ai Cập Abd al-Hakim Amer đã ra lệnh rút quân, ông yêu cầu quân đội ném vũ khí hạng nặng xuống kênh đào Suez, dẫn đến việc hàng nghìn lính bị chết và bị bắt Đêm xuống, Lực lượng phòng thủ Israel (IDF) đã giành quyền kiểm soát Gaza từ Ai Cập và Hebron và Bethlehem từ Jordan Hội đồng Bảo an LHQ đã triệu tập phiên họp khẩn cấp Mỹ đệ trình một lệnh ngừng bắn nhưng bị Liên Xô bác bỏ
Ngày 7/6, IDF tiến vào Bờ Tây sau khi quân đội Jordan ra lệnh rút lui Máy bay của Israel đánh bom vào lực lượng bộ binh của Jordan tại các khu vực ở Jerusalem, Jericho và khu vực rừng núi lân cận Israel kiểm soát được Jericho vào chiều cùng ngày Ngay sau
đó, Thị trưởng Jordan ở Jerusalem Anwar al-Hattib đã chính thức đầu hàng
Ngày 8/6, Lực lượng thiết giáp và cơ giới của Israel do hai tướng Avraham Joffe và Ariel Sharon chỉ huy đã đánh bại lực lượng của Ai Cập do Tướng Abd al-Mohsen Mortagui chỉ huy Hàng nghìn lính Ai Cập chết trận, chết do nóng và khát trên sa mạc Nhiều người bị Israel bắt làm tù binh Cuối ngày hôm đó, Israel đã chiếm được các vị trí quan trọng dọc bờ phía đông của kênh đào Suez Ai Cập chấp nhận thất bại và một lệnh ngừng bắn có hiệu lực sau đó
Ngày 9/6, vài giờ sau khi Syria chấp nhận đề xuất ngừng bắn của LHQ, Israel đã đánh bom thủ đô Damascus và mở chiến dịch trên không và trên bộ tấn công Cao nguyên Golan Quân đội Syria gần như sụp đổ và phần lớn lực lượng của họ rút về hướng đông, không giao chiến với Israel Các đơn vị của Syria nắm giữ các vị trí phòng thủ dọc phía nam đến Damascus, nhưng Israel đã ra lệnh cho binh lính ngừng tiến quân Lệnh ngừng bắn của LHQ có hiệu lực hồi 18 giờ 30 phút
5.Chiến tranh Ethiopia-Somalia
Năm 1948, dưới áp lực từ các Đồng Minh trong Thế chiến II, Anh trao trả Haud và Ogaden cho Ethiopia nhằm để làm mất tinh thần người Somali,, đổi lấy việc Ethiopia
Trang 8trợ giúp chống các thị tộc thù địch tập kích đưa đến mục đích cuối là duy trì bảo hô ̣ tại Somaliland Tuy nhiên, đến năm 1960, Cô ̣ng hòa Somalia thành lâ ̣p, các chính trị gia Somalia tuyên bố Ogaden- nơi mà có đông người Somalia chung sống- là một phần của chính sách Đại Somalia Từ đó, hai bên tranh chấp lãnh thổ Ogenda với các cuô ̣c xung
đô ̣t quy mô nhỏ, đến năm 1977, mở đầu cho ngòi nổ chiến tranh thực sự chính là Somalia Lúc này, Hoa Kỳ ngừng viện trợ cho Ethiopia, dẫn đến nước này đưa ra các thỏa thuận để nhận viện trợ từ Liên Xô sau khi suy xét, Liên Xô quyết định ngừng viện trợ cho Somalia, chuyển sang tập trung cho Ethiopia Mô ̣t số quốc gia khác viê ̣n trợ như Cuba,Yemen, Triều Tiên Về phía Somalia thì nhâ ̣n được viê ̣n trợ từ Trung Quốc - do mâu thuẫn Trung-Xô- và Hoa Kỳ tháng 2 năm 1978, Ethiopia phản công, đẩy lùi được quân Somalia ra khỏi đất nước của mình Đến năm 1981, Tổ chức Châu Phi thống nhất (OAU) thừa nhâ ̣n Ogenda thuô ̣c Ethiopia Tuy nhiên, do Hoa Kỳ viê ̣n trợ Somalia nhằm đổi lấy viê ̣c sử dụng căn cứ của Somalia đã gây ảnh hưởng đến khu vực và mô ̣t cuô ̣c xung đô ̣t xảy ra vào năm 1988 cuối cùng được giải quyết khi hai quốc gia ký hòa ước, chấm dứt chiến tranh Năm 1991, cả hai nước đều rơi vào các cuô ̣c nô ̣i chiến, lâ ̣t đổ chế
đô ̣ cũ
6 Chiến tranh Afghanistan
Ngày 27 tháng 4 năm 1978, Đảng Dân chủ Nhân dân Afragistan lâ ̣t đổ chính quyền, đưa Taraki làm tổng thống, tuyên bố đi theo chủ nghĩa xã hô ̣i, điều này gây phản đối mạnh mẽ của dân chúng vì đi ngược lại với truyền thống Hồi giáo dẫn đến viê ̣c lực lượng người Hồi giáo đấu tranh vũ trang Cuộc xung đột kéo dài mười năm giữa các lực lượng quân sự Liên Xô ủng hộ chính phủ Cộng hòa Dân chủ Afghanistan của Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan (PDPA) Mác xít chống lại lực lượng Mujahideen Afghanistan chiến đấu để lật đổ chính quyền theo chủ nghĩa cộng sản Phe đối lâ ̣p nhận được sự ủng
hộ từ nhiều phía gồm Hoa Kỳ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo khác trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Lạnh Cuô ̣c chiến này đã kéo theo nhiều tổn thất tới Liên Xô về nhân mạng, tài nguyên kinh tế khiến cho làn sóng chỉ trích bên trong Liên Xô gia tăng, buô ̣c Liên Xô phải rút quân ra khỏi Afragistan Năm 1988, chính phủ Pakistan và Afghanistan, với Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết là bên bảo lãnh, đã ký kết một thoả thuận dàn xếp các vấn đề chủ chốt giữa hai nước, được gọi là Hiệp ước Genève Hiệp ước xác định Hoa Kỳ
và Liên Xô không được can thiệp vào công việc nội bộ của Pakistan và Afghanistan và một thời gian biểu cho việc rút quân toàn bộ của Liên Xô Thoả thuận rút quân đã được tuân thủ, vào ngày 15 tháng 2 năm 1989, người lính Liên Xô cuối cùng rút lui theo đúng lịch trình khỏi Afghanistan Ngay sau đó, quân Mujahideen lâ ̣t đổ chính phủ thân Liên
Xô, đưa Afragistan vào cuô ̣c nô ̣i chiến, đến tâ ̣n năm 1994, nhóm người Tablian trổi dâ ̣y, nắm sự điều hành và áp đă ̣t các đạo luâ ̣t của Hồi giáo lên Afragistan
Trang 97 Cách mạng Hồi giáo Iran:
Cuô ̣c cách mạng này được coi là cuô ̣c cách mạng lớn thứ 3 trên thế giới, cuô ̣c cách mạng diễn ra vào năm 1979, trở thành mồi lửa cho sự nổi lên của phong trào Hồi giáo chính thống cuộc cách mạng đã biến Iran từ một chế độ quân chủ do Shah Mohammad Reza Pahlavi đứng đầu trở thành một quốc gia độc tài thần quyền dưới sự lãnh đạo của Ayatollah Ruhollah Khomeini, người lãnh đạo cuộc cách mạng và là người khai sinh ra nước Cộng hòa Hồi giáo Chính điều này đã đem lại nhiều mối quan ngại cho các quốc gia có đông người Hồi giáo, đồng thời những kết quả mà cuô ̣c cách mạng này đem lại cũng ảnh hưởng khá nhiều lên nền kinh tế thị trường trên thế giới đă ̣c biê ̣t là sự kiê ̣n khủng hoảng dầu mỏ năm 1979 Bên cạnh đó, mối quan hê ̣ giữa Iran và Mỹ xấu đi, đă ̣c biê ̣t khi Mỹ cho phép Shah, người đang sống lưu vong, được nhập cảnh vào Hoa Kỳ để điều trị ung thư mà không trao trả cho Iran Vào ngày 4 tháng 11, một nhóm sinh viên đại học Iran tự xưng là Sinh viên Hồi giáo Dòng Imam, đã xông vào Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, bắt giữ 52 nhân viên đại sứ quán làm con tin trong 444 ngày - một sự kiện được gọi là cuộc khủng hoảng con tin Iran Tại Hoa Kỳ, việc bắt giữ con tin được coi là một sự
vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế và làm dấy lên sự tức giận dữ dội cũng như thái độ chống Iran
8 Chiến tranh Irag- Iran:
Mối quan hê ̣ giữa hai nước có mâu thuẫn từ viê ̣c tranh chấp quyền sở hữu vùng nước Shatt al-Arab- nơi mà công nghiê ̣p dầu mỏ hai nước phát triển, đến các hòn đảo thuô ̣c Vịnh Ba Tư Tư tưởng đoàn kết hồi giáo dưới một nhà nước thống nhất, cuộc cách mạng Hồi giáo theo dòng Shia do Ayatollah Khomeini lãnh đạo với sự ra đời của Cộng hòa Hồi giáo Iran; cùng với tư tưởng quốc gia A-rập của chính quyền Saddam Hussein ở Irag là trung tâm của xung đột Saddam Hussein rất muốn đưa Iraq lên tầm một cường quốc khu vực, do đó xâm lược được Iran sẽ tăng tiềm năng dự trữ dầu của Iraq giúp nước này thống trị khu vực vịnh Péc-xích và OPEC Tháng 9 năm 1980, Irag tấn công toàn diê ̣n Iran với cái cớ là cáo buô ̣c các điê ̣p viên Iran sát hại hụt ngoại trưởng nước này Nhân dân Iran tâ ̣p hợp, cùng nhau kháng chiến khiến Irag lâm vào bế tắc trong mô ̣t năm
và quyết định rút quân Tuy nhiên, Iran lại tiếp tục chiến tranh, hòng lâ ̣t đổ Irag đến năm
1985, các cuô ̣c tấn công của Iran bế tắc trước sự phòng thủ của Irag, cả hai quốc gia tấn công vào những nguồn viê ̣n trợ của nhau như cuô ̣c chiến vào các tàu bè chở dầu, tàu chiến Mỹ, Iran nhận được sự hỗ trợ từ các quốc gia như Bắc Triều Tiên, Libya, và Trung Quốc Người Iraq có nhà viện trợ hơn như Liên Xô, các quốc gia NATO, Pháp, Anh Quốc, Brasil, Nam Tư, Tây Ban Nha, Italia, Ai Cập, Ả Rập Xê Út, và Hoa Kỳ Các nước Arab vì cuô ̣c chiến trah này mà cũng bị chia rẽ Ngày 20 tháng 7 năm 1987, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 598 được Mỹ hậu thuẫn, kêu gọi chấm dứt xung đột và quay trở lại các biên giới trước cuộc chiến Iraq, vốn đã mất nhiều vùng lãnh thổ quan trọng trong cuộc chiến, chấp nhận nghị quyết Tuy nhiên, Iran không muốn
Trang 10phải trả lại những gì đã giành được khi một cuộc thắng lợi hoàn toàn đã trong tầm tay, và
vì thế cuộc chiến lại tiếp tục Các thất bại diễn ra liên tiếp ở Iran và cuối cùng Iran đã chấp nhận các điều khoản của Nghị quyết 598 của Liên hiệp quốc và vào ngày 20 tháng 8 năm 1988 hoà bình được tái lập
C Nguyên nhân hợp tác
Trong tình thế đó, các nước Thế giới thứ ba đưa ra quyết định thúc đẩy hợp tác giữa các nước Có rất nhiều nguyên nhân đi đến sự hợp tác như trên Một trong số đó phải kể đến: sự hợp tác hài hoà sẽ góp phần giúp các nước củng cố độc lập về chính trị và kinh tế - những nền móng cơ bản giúp các nước tự chủ và khôi phục sau nhiều cuộc chiến tranh giữa các quốc gia trong Thế giới thứ ba như: chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Ấn
Độ - Pakistan, chiến tranh Trung - Ấn, Các nước cần tái ổn định kinh tế và thiết lập lại những trật tự trong nền chính trị do sự ảnh hưởng sâu sắc của những cuộc chiến tranh gây
ra Ngoài ra, nguyên nhân chống lại chủ nghĩa Đế quốc và chủ nghĩa Thực dân cũng đóng một vai trò quan trọng trong các cố gắng hợp tác dựa trên các nguyên tắc chung Hơn nữa, xung đột Đông – Tây là cuộc xung đột phức tạp mà không một quốc gia trong Thế giới thứ ba nào muốn bị lôi kéo, vì vậy, hợp tác trở thành một lựa chọn tối ưu Đặc biệt, mỗi quốc gia đều có nhu cầu, mong muốn và nỗ lực trong việc đòi quyền lợi cho mình trong quan hệ quốc tế, đồng nghĩa với việc họ phải cùng nhau liên hiệp để đưa đến sự có lợi chung nhất cho tất cả các quốc gia trong Thế giới thứ ba Cuối cùng, sự khẳng định vị thế, nâng cao vai trò của cá nhân là điều mà mỗi quốc gia đều hướng đến, nên thông qua
5 nguyên nhân trên, dẫn đến việc hình thành sự thúc đẩy hợp tác giữa các nước Từ đó những cố gắng hợp tác chính ra đời đảm bảo quyền lợi riêng cho từng quốc gia nói riêng
và thế giới Thứ ba nói chung
D Các cố gắng hợp tác chính:
Năm nguyên tắc chung sống hoà bình.
Năm nguyên tắc chung sống hòa bình (five principles of peaceful co-existence) là tập hợp năm nguyên tắc quan trọng điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia được thừa nhận một cách rộng rãi như những chuẩn tắc trong quan hệ quốc tế Năm nguyên tắc này bao gồm:
· Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau,
· Không xâm lược lẫn nhau,
· Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
· Bình đẳng và cùng có lợi, và