1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tốt nghiệp: huy dong von của agribank tai hoi so

34 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiệp Vụ Huy Động Vốn Của Các Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 103,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu phiên giao dịch 98 trên thị trường Mỹ (đêm 98 giờ Việt Nam), chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 92,87 điểm.Đồng bạc xanh tăng nhanh trong bối cảnh Bộ Lao động Mỹ cuối tuần trước bất ngờ công bố số liệu về thị trường lao động ấn tượng với 943.000 việc làm mới được tạo ra trong tháng 7, cao hơn so với mức kỳ vọng 870.000 việc làm. Cùng với đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 5,4%, so với mức 5,9% trong tháng 9.

Trang 1

Bài Luận

Đề Tài:

Nghiệp vụ huy động vốn của các

ngân hàng thương mại

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Bất kỳ một nước nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần một điều kiệnkhông thể thiếu được đó là phải tạo vốn cho nền kinh tế Việt Nam cũng nằmtrong qui luật đó, hay nói cách khác Việt Nam muốn thực hiện được các mục tiêucông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là phải có vốn Nguồn vốn đó có thể làvốn trong nước hay vốn nước ngoài Tiết kiệm để tạo vốn là vấn đề bức bách cótính chiến lược cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta

Trang 3

Thể hiện mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước

ta bước sang thế kỉ 21 là ổn định và phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sốngnhân dân thoát khỏi tình trạng nước nghèo nàn và kém phát triển, củng cố quốcphòng và an ninh, tạo điều kiện phát triển nhanh hơn Vì thế phải huy động nhiềunguồn vốn, xét về mặt chiến lược thì nguồn vốn trong nước là chủ yếu, vững chắc,quyết định và nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng

Nếu xét ở góc độ của Ngân hàng thương mại thì nguồn vốn là cơ sở để tổ chứchoạt động kinh doanh quyết định đến quy mô của hoạt động Ngân hàng nói chung

và quy mô các hoạt động tín dụng nói riêng, nguồn vốn dồi dào là cơ sở tạo uy tínđảm bảo khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Về phía Ngân hàngmuốn giải quyết tốt vấn đề huy động vốn trong dân cư cần phải tìm ra những giảipháp tốt nhất, công cụ lãi suất và các hình thức huy động vốn Vì vậy nguồn vốn

là sự cần thiết không thể thiếu được của Ngân hàng thương mại

Xuất phát từ thực tiễn của Ngân hàng Việt Nam, trước yêu cầu của đời sốngkinh tế xã hội đất nước, trước sự cạnh tranh gay gắt trong nước và trên thị trườngquốc tế nên yêu cầu cấp thiết Ngân hàng thương mại phải xây dựng chiến lược

“Huy động vốn” cho những năm mới của thế kỷ XXI

Qua quá trình nghiên cứu, trên cơ sở lý luận qua các tài liệu; tạp chí Ngânhàng, tài liệu môn lý thuyết tiền tệ Ngân hàng và kiến thức học tập từ cô giáo bộ

môn, em mạnh dạn làm đề tài “Nghiêp vụ huy động vốn của các Ngân hàng thương mại”

Trong quá trình viết, do trình độ nhận thức và hiểu biết có hạn nên bài viết nàycòn có nhiều những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ của côgiáo để bài viết này được hoàn thiện hơn

Nội dung bài gồm:

Chương 1: cơ sở lý luận

Chương 2: thực trạng huy động vốn ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn

Trang 4

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị đối với việc huy động vốn của Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 5

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:

1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại:

Nghề kinh doanh tiền tệ tiền thân của Ngân Hàng ra đời gắn liền với thươngmại, khi có sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các quốc gia với các loại tiền tệkhác nhau gây trở ngại cho việc mua bán thanh toán và đặc biệt phức tạp trongviệc chuyển đổi bảo quản tiền tệ.Vì thế thúc đẩy sự ra đời của những tổ chứcchuyên kinh doanh tiền tệ, để đảm nhận những tổ chức kinh doanh la thực hiệnviệc chuyển đổi tiền tệ giữa các vùng các nước để phục vụ công việc giao lưuhàng hoá Đổi các loại tiền tệ khác nhau ra vàng bạc và ngược lại, theo yêu cầucủa sự phát triển các quan hệ tiền tệ hàng hoá Nghiệp vụ đổi tiền tệ đã kéo theocác nghiệp vụ khác mà trước hết là nhận tiền gửi, nhận bảo quản vàng bạc đã tạo

ra những chuyển biến về chất trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh tiềntệ.Việc nhận tiền gửi và bảo quản vàng bặc ngày càng phát triển,tạo điều kiện chocác tổ chức kinh doanh tiền tệ phát hàng những chứng phiếu (giấy nhận nợ) làphương tiện thanh toán thay cho tiền Lúc đầu các giấy nhận nợ chỉ là những biênlai xác định quyền sở hữu số tiền vàng đó, tiến tới phát hành các loại chứng phiếuđảm bảo cho khách hàng có thể sử dụng nó trong việc mua bán, thanh toán thaycho việc rút tiền vàng Nghiệp vụ nhận tiền gửi phát triển cùng với việc sử dụngrộng rãi các chứng phiếu thanh toán thay cho tiền mặt đã tạo nên nguồn dự trữ đãđược sử dụng để cho vay sinh lời Đây là một sự kiện quan trọng trong việcchuyển các tổ chức hoạt động dịch vụ tiền tệ một cách thuần tuý thành các tổ chứcNgân hàng chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng

Ngân hàng được hình thành phát triển qua một quá trình lâu dài với nhiều hình

Trang 6

18, các Ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năngnhư nhau, đó là làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế

và phát hành giấy bạc Ngân hàng Sang thế kỷ 18, lưu thông hàng hoá ngày càng

mở rộng và phát triển, việc các Ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hànhgiấy bạc Ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc Ngân hàng khácnhau đã gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế Chínhđiều đó đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống Ngân hàng và Ngân hàng thươngmại cũng ra đời từ đó

Thời kỳ đầu, các Ngân hàng thương mại thực hiện tất cả các hoạt động của nónhư nhận tiền gửi và làm dịch vụ thanh toán Ban đầu chủ yếu là nhận tiền gửikhông kỳ hạn, có kỳ hạn và cho vay ngắn hạn, về sau, các Ngân hàng thương mạithực hiện cả cho vay trung - dài hạn bằng nguồn vốn trung hạn, dài hạn do huyđộng tiền gửi trung hạn, dài hạn và phát hành trái khoán

Cho đến cuối những năm 1960, đặc điểm đặc thù để phân biệt một Ngân hàngthương mại với một Ngân hàng trung gian khác là ở chỗ Ngân hàng thương mại làmột đơn vị duy nhất được phép mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho côngchúng Ngân hàng thương mại có thể tồn tại dưới nhiều dạng sở hữu khác nhau.Ngân hàng thương mại có thể được thành lập bằng 100% vốn của tư nhân, 100%vốn của Nhà nước hoặc là sự hùn vốn giữa tư nhân với Nhà nước hoặc với ngườinước ngoài Ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá, qua đó khẳng định hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bắt đầu

tư tín dụng, Ngân hàng thương mại đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chấtlượng và trở thành trung gian tài chính lớn nhất

1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại:

- Với tư cách là một doanh nghiệp, để hoạt động kinh doanh tốt thì phải cóvốn, để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải tìm cách để huy độngđược một số vốn lớn từ các chủ thể kinh tế có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để

bù lại Ngân hàng thương mại phải trả lại cả vốn và lãi cho chủ sở hữu khi đếnhạn Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng thương mại phải đảm bảo trả đúng

Trang 7

hạn vốn huy động hoặc đáp ứng phương thức thanh toán của khách hàng với mộtmón lợi tức hợp lý kèm theo Còn với tư cách người cho vay thì Ngân hàngthương mại sử dụng vốn đi thuê để cho thuê lại, tức là tạm thời bán quyền sửdụng vốn cho người khác và Ngân hàng thương mại cũng luôn mong muốn kháchhàng của mình sử dụng vốn này có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳhạn theo quy định đã cam kết Qua đó Ngân hàng thương mại là một trong nhữngtrung gian tài chính lớn nhất, một trong những trung tâm thanh toán của nền kinh

tế Vai trò của Ngân hàng thương mại còn góp phần giảm chi phí lưu thông, nângcao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển, góp phần mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế

- Ngân hàng thương mại còn có vai trò tập trung vốn của nền kinh tế: Trongnền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng mộtcách triệt để ( ví dụ như vẫn còn cất giấu trong gia đình chưa được mang ra lưuthông) nhưng họ vẫn muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và cónhững chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doamh Nhưng những chủ thể nàykhông quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưađược lưu thông Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền

từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay Thự hiện được điều này Ngân hàng thương mại huy động và tập trung cácnguồn vốn nhà rỗi trong nền kinh tế, mặt khác với số vốn này Ngân hàng thươngmại sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó

nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Ngân hàng thương mại vừa là người cho vay vừa là người đi vay với số lãisuất chênh lệch có được nó sẽ duy trì hoạt dộng của mình.Vai trò trung gian nàytrở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… Ngân hàngthương mại có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giaomệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhiệm việc mua bán trái phiếu côngty…

Trang 8

2 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:

Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nó hoạt động trên cơ

sở huy động vốn và đầu tư vốn Ngân hàng thương mại đi vay để cho vay, thựchiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Việc Ngân hàng thươngmại đi vay để cho vay cũng nhằm mục đích trọng yếu nhất là tìm kiếm lợi nhuận

Đã là một doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tài chính, quá trình hoạt độngnghiệp vụ tín dụng, thanh toán và các nghiệp vụ kinh doanh khác và dùng làmnguồn vốn để kinh doanh Bản chất của nguồn vốn huy động là tài sản của các chủ

sở hữu khác, không thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng nhưng Ngân hàng cóquyền sử dụng trong thời gian hoạt động và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi.Ngân hàng thương mại xây dựng chiến lược huy động vốn bằng nhiều hình thức:

2.1 Nhận tiền gửi:

Đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy độngnói riêng và trong nguồn vốn kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nóichung Các Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cơquan, dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau

Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn) là loại tiền được thể hiện trên cáctài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện chi trả về mua hàng hoá và thựchiện các dịch vụ khác trong hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng mở chokhách hàng một tài khoản tiền gửi thanh toán séc hay tài khoản vãng lai để quản

lý tài sản của khách hàng

Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý là khoản tạm thời nhàn rỗi ở khách hàng Họgửi vào Ngân hàng không mang tính chất của tài khoản tiền gửi thanh toán, chỉnhằm mục đích an toàn tài sản cho khách hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuậnnên để có lợi nhuận Ngân hàng thương mại phải kinh doanh có hiệu quả Hành vi

Trang 9

đi vay để cho vay thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sửdụng vốn đó cho một chủ thể thiếu vốn khác trong nền kinh tế

Trước hết để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải huy động vốnbằng cách nhận tiền gửi: Tiền gửi có thể phát hành séc, tiền gửi tiết kiệm không

kỳ hạn và có kỳ hạn Sau đó họ cho vay thế chấp và để mua các trái khoán Chínhphủ, trái khoán của chính quyền địa phương Huy động vốn và đầu tư vốn là cóquan hệ không thể tách rời, để có nguồn vốn lớn thì các Ngân hàng thương mạiphải tìm nhiều biện pháp hữu hiệu thu nạp một cách nhanh chóng Sau đó dùng sốvốn đó cho vay mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn, đầu tư vốn có hiệu quả haykhông sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại

2.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm :

Nguồn vốn huy động, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn tự dó Ngoài ra còn có cácnguồn vốn được hình thành trong quá trình hoạt động Trong đó mỗi nguồn vốnđều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngânhàng thương mại

Trang 10

Ngân hàng được quyền sử dụng nhưng phải có trách nhiệm hoàn trả cho họ đúngthời hạn cả vốn và lãi Các Ngân hàng thương mại chỉ được sử dụng nguồn vốnnày vào các nghiệp vụ tín dụng như cho vay, đầu tư, chiết khấu mà không được

sử dụng để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản cố định cho Ngân hàngcũng như các mục đích khác ngoài kinh doanh

2.2.2 Nguồn vốn đi vay:

Vốn đi vay là vốn được hình thành qua việc vay vốn trên thị trường và vaycủa Ngân hàng Trung ương Trong tổng số vốn hoạt động của Ngân hàng có một

bộ phận vốn bổ sung chiếm tỷ trọng đáng kể đó là vốn đi vay Các Ngân hàngthương mại đi vay vốn để bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của mình khi đã sửdụng hết vốn tự có, vốn huy động tiền gửi, vốn huy động khác mà vẫn không có

đủ để hoạt động và khi cần sử dụng họ rút tiền ra để chi tiêu

Tiền gửi có kỳ hạn: Là tiền gửi của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh,

nó được chia làm nhiều kỳ hạn khác nhau: ngắn hạn, dài hạn và trung hạn, nhưnghiện nay chủ yếu là kỳ hạn ngắn Tuy vậy do tính chất tương đối ổn định của nónên tiền gửi có kỳ hạn thực sự là nguồn vốn quan trọng đối với Ngân hàng thươngmại Nếu lãi suất hấp dẫn, tiền gửi có kỳ hạn sẽ có xu hướng phát triển, song nếulãi suất không hấp dẫn hoặc bị lãi suất của tín phiếu kho bạc, trong đó có trunghạn sẽ dẫn đến bị biến động đột ngột làm đảo lộn nguồn vốn của Ngân hàngthương mại và gây khó khăn không nhỏ cho công tác chi trả của Ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của một cá nhân hay một gia đìnhgửi vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi suất theo định kỳ Nguồn vốn huy động nàychủ yếu là tiền gửi của những người tiêu dùng Các Ngân hàng thương mại thựchiện huy động tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức, thời hạn khác nhau:

- Tiền gửi tài khoản không kỳ hạn

- Tiền gửi tài khoản có kỳ hạn

2.3 Nguồn vốn huy động khác:

Trang 11

Khi nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động ở các khoản tiền gửi trên không

đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của mình, các Ngân hàng thương mạiđược phép huy động vốn của Ngân hàng, đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phảitạo ra một quỹ dự trữ cần thiết

Bên cạnh việc mở rộng nguồn vốn thì các Ngân hàng thương mại phải đảmbảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình để tránh được những rủi ro

và tổn thất trong việc đầu tư vốn của Ngân hàng thương mại, rủi ro lãi suất khi có

sự chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, sự không cân xứng vềtài sản có và tài sản nợ xảy ra trong quá trình hoạt động

Nói cách khác, khi tạm thời thiếu vốn khả dụng thì Ngân hàng thương mại cóthể đi vay của các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, vay của các tổ chức, cánhân ở nước ngoài Nếu vẫn không đáp ứng đủ trong các trường hợp trên thìNgân hàng thương mại sẽ đi vay của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng trungương đóng vai trò là người đi cho vay cuối cùng phù hợp với chính sách tiền tệ tạithời điểm đó

2.4 Các nguồn vốn khác:

Ngoài các nguồn vốn kể trên, các Ngân hàng thương mại còn có một số vốnkhác có thể sử dụng để cho vay Đó là nguồn vốn hình thành trong quá trình thanhtoán của Ngân hàng, giao dịch trong thanh toán chênh lệch giữa thời gian từ lúcnhận vốn thanh toán đến khi thanh toán thì Ngân hàng thương mại tận dụng đượcmột khoản vốn rồi sử dụng trong kinh doanh Quản lý tốt nguồn vốn này sẽ tạođược nguồn vốn để cho vay ngắn hạn mà không phải trả lãi suất

2.5 Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại luôn đóng vai trò làm trung gian tài chính đó là thunhận tiền gửi tạo nguồn vốn Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại khôngnhững là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếucủa các Ngân hàng thương mại Do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại có

Trang 12

vai trò quyết định khả năng thanh toán và chi trả của một Ngân hàng, gây thanhthế và uy tín cho Ngân hàng đó Để có một khối lượng vốn lớn từ nhiều nguồnvốn phong phú đa dạng phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô hoạt động tíndụng của Ngân hàng thương mại mà vẫn đảm bảo khả năng thanh toán.

2.6 Chức năng của ngân hang thương mại.

2.6.1 Chức năng làm trung gian tín dụng

Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữangười thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho nhữngngười dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế chobản thân nó và nền kinh tế Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bảnthân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồngmôi giới, 80% lợi nhuận của Ngân hàng Công thương - Ngân hàng thương mạiQuốc Doanh là thông qua hoạt động cho vay Lợi nhuận này chính là cơ sở choNgân hàng thương mại tồn tại và phát triển Đối với nền kinh tế, chức năng này

có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhucầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộngquy mô sản xuất Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạtđộng thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sảnxuất kinh doanh

2.6.2 Chức năng trung gian thanh toán.

Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanhtoán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoảnkhác theo yêu cầu của họ Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò làngười "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữtiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng Nền kinh tế thị trường càngphát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng

Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thương

Trang 13

mại góp phần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán quangân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thờitốc độ luân chuyển vốn kinhgóp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông quaviệc thu lệ phí thanh toán Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngânhàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng nàycũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại.

2.6.3 Chức năng tao tiền.

Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một

số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyểnkhoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so vớilượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngânhàng

Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửicủa khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư Với số tiền này sau khi đã để lại mộtkhoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽchuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác Với vòng quay của vốn thôngqua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng Ngân hàng thương mạithực hiện được chức năng tạo tiền

Trang 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN Ở NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM.

Trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước tathành một nước có nền kinh tế phát triển mạnh, Nhà nước ta đã xác định mục tiêuhàng đầu và quan trọng đó là phải có nguồn vốn và trong số nguồn vốn của ngânhàng thương mại thì số vốn huy động chiếm số lượng lớn, hoạt động của các ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay về vấn đề huy động vốn đang diễn ra trongđiều kiện khá thuận lợi vì có thị trường chứng khoán ra đời, tiền nhàn rỗi của dân

cư tăng lên Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn và thử thách Trong một

số năm trở lại đây thì huy động vốn trong nước của các ngân hàng thương mại cóvai trò quyết định và bằng các hình thức huy động truyền thống như nhận tiền gửicòn có thêm các loại hình huy động mới đó là huy động bằng ngoại tệ, phát hành

kỳ phiếu, trái phiếu

1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

1.1Lịch sử hình thành vá phát triển.

- Năm 1988: Được thành lập ngày 26/03/1988 với tên gọi Phát triển Nông nghiệpViệt Nam

- Năm 1990: Đổi tên thành Nông nghiệp Việt Nam

- Năm 1995: Đề xuất thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, nay là Ngân hàngChính sách xã hội

- Năm 1996: Đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp va Phát triển Nông thôn ViệtNam

Trang 15

- Năm 2003: Được phong tặng danh hiệu Anh hung Lao động thời kỳ đổi mới.

- Năm 2006: Đạt giải thưởng Sao Vàng đất việt

- Năm 2008:Đảm nhiệm chức chủ tịch APRACA; Đạt Top 10 Giải thưởng SaoVàng đầt việt

- Năm 2009: Khai trương hệ thống IPCAS II, kết nối trực tuyến toàn bộ hệ thống.Vinh dự được Tổng Bí thư tớ thăm và làm việc Là ngân hàng đầu tiên lần thư 2liên tiếp nhận đạt giải thưởng Top 10 Sao Vàng đất việt

- Năm 2010: Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, tiếp tục là Địnhchế tài chính có vốn điều lệ lớn nhất việt Nam Agribank bứt phá vươn lên vị tríngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ Ngày 28/6/2010,Agribank chính thức khai trương Chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại Campuchia.Agribank chính thức công bố thành lập Trường Đào tạo Cán bộ (tiền thân là Trungtâm Đào tạo) vào dịp 20/11/2010 2010 cũng là năm Agribank tổ chức thành côngĐại hội Đảng bộ lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), Hội nghị điển hình tiên tiếnlần thứ III, Hội thao toàn ngành lần thứ VI

- Năm 2011: Chuyển đổi theo mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn một thànhviên do Nhà nước làm chủ sở hữu

Trang 16

CÔNG TY CON

TỔNG GIÁM ĐỐC

ỦY BAN QUẢN LÝ RỦI RO

HỆ THỐNG KIỂM TRA KIỂM SOÁT NỘI BỘ

PHÒNG GIAO DỊCHHỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN

1.2Hệ thống tổ chức.

Trang 17

2 Các hình thức huy động vốn.

Nguồn vốn huy động là số vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn của các Ngânhàng thương mại, các ngâ hàng thương mại Việt Nam đã xây dựng chiến lược huyđộng vốn bằng nhiều hình thức: Nhận tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, ngoài ra còn cócác hình thức huy động khác như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiềngửi có kì hạn

- Tiền gửi không kì hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứlúc nào Ở nhiều nước thì phần lớn các giao dịch thanh toán được thực hiện bằngséc còn Việt Nam thì tài khoản được thực hiện thường gọi là tài khoản tiền gửithanh toán gồm tài khoản thanh toán dùng cho doanh nghiệp và tài khoản thanhtoán cho cá nhân Hiện nay các Ngân hàng thương mại trả lãi thanh toán cho loạitiền gửi này (Khoảng 0,1%/tháng)

Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại :

Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng đểthực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các khoảnthanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng.Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để

sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, uỷnhiệm chi Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán.Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải

có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào Tuy nhiên ngân hàngcần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh của mình bởi vì trong quátrình lưu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửivào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng

Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách

Ngày đăng: 10/08/2021, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tài chính của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2009 -2011 Khác
2. Trang www.agribank.com.vn Khác
3. Sách nghiệp vụ ngân hàng thương mại Khác
4. Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng Khác
5. Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam 5 năm trên con đường đổi mới và Phát triển Khác
6. Điều lệ Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w