Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 – lớp đầu cấp –việc dạy đọc cho các em thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ởlớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo, các em mới nắm bắt được nh
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh lịch sử đất nước đang chuyển mình bước vào thời kỳ côngnghiệp hoá - hiện đại hoá, nhiệm vụ của ngành giáo dục nói chung và của trườnghọc nói riêng là "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" thì hơnbao giờ hết, những người làm công tác giáo dục phải có cách nhìn mới, địnhhướng mới để từ đó xác định được vấn đề cơ bản đẩy mạnh chất lượng giáo dụcphù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường địa phương mình
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm
vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết chohọc sinh Trong cuộc sống hàng ngày, nếu không biết đọc thì con người khôngthể tiếp thu được nền văn minh của loài người Tập đọc là một phân môn củachương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trongchương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹnăng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học đặcbiệt lớp đầu tiên Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: Đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưuloát, trôi chảy), đọc có ý thức (đọc hiểu được nội dung những điều mình đọc haycòn gọi là đọc hiểu ) và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các emmới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn Từ đó học sinh mớihoàn thành được năng lực giao tiếp của mình Những kỹ năng này không phải tựnhiên mà có Nhà trường phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhậnnhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 – lớp đầu cấp –việc dạy đọc cho các em thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ởlớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo, các em mới nắm bắt được những yêu cầu caohơn của môn Tiếng Việt Việc dạy đọc ở lớp 1 cũng rất quan trọng bởi từ chỗcác em còn phải đọc đánh vần từng tiếng đến việc đọc thông viết thạo được mộtvăn bản là một việc tương đối khó đối với các em mà mục tiêu của giờ dạyTiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh yêu Tiếng Việt bằng cách nêubật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phúcủa ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung Thực trạng hiện nay, ở trường Tiểuhọc, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt là ngữ điệu chưa được chú ý đúng mức
Đó là một trong những lí do mà học sinh của chúng ta đọc và nói chưa tốt Đócũng chính là nguyên nhân khiến cho trong nhiều trường hợp, học sinh khônghiểu đúng được văn bản mình đọc
Lớp học trò nhỏ hôm nay, ngày mai sẽ trở thành chủ nhân tương lai của đấtnước, là đội ngũ tri thức trẻ Việt Nam Vì vậy những người chủ tương lai đóphải làm gì để nắm vững khoa học công nghệ và đảm nhận trọng trách lớn lao
Trang 2của Đảng và Bác Hồ hằng mong ước : "Là đưa đất nước ta tiến lên sánh vaicùng các cường quốc năm châu", cho nên không còn con đường nào khác ngoàicon đường học tập và rèn luyện ngay từ bậc tiểu học Môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Học vần lớp 1 nói riêng chiếm một vị trí đặc biệt, là một yếu tốquan trọng để các con hình thành vốn kiến thức ban đầu qua 29 chữ cái Trên cơ
sở 29 chữ cái (chữ ghi âm) đó các con học sinh phải nắm vững để ghép vần,tiếng, từ, câu có nghĩa Hình thành cho các con biết đọc, biết viết và biết cáchdiễn đạt khi trả lời và tập cho các con tính mạnh dạn trong giao tiếp, khả năng tựphát triển tư duy cao, nâng dần kiến thức phát triển ngôn từ tiếng việt (tiếng mẹđẻ) sẵn có để vận dụng vào nội dung yêu cầu của bài học, giúp các con thể hiện
sự hiểu biết của mình qua hành động: đọc được, viết được các chữ đang học,nhằm giúp học sinh tăng dần tốc độ đọc viết từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, đồng thời các con chứng minh được giờ đây mình không còn bé nhỏnữa mà đã là một học sinh lớp 1 rồi
Là một giáo viên dạy lớp 1, tôi luôn nhận thức được dạy Tiếng Việt lớp 1 cónhiệm vụ rất lớn lao là trao cho các con chìa khóa để học tập, tiếp nhận kiếnthức và là công cụ để các con sử dụng trong suốt cuộc đời Đối với học sinh lớp
1, yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất trong học Tiếng Việt là đọc thông viếtthạo; có đọc được tốt thì học sinh mới hiểu được nội dung văn bản, mới họcđược tốt các môn học khác
Với những lí đo trên mà tôi đã chọn đề tài "Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1".
II Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
Bậc Tiểu học là tiền đề cơ bản để đào tạo và dạy dỗ các thiếu nhi ViệtNam trở thành người có ích , người công dân tốt của xã hội Đặc biệt lớp 1 làlớp nền tảng để các em học tốt các lớp và các cấp bậc học tiếp theo Nếu ngay từkhi bắt đầu cắp sách đến trường các con đã được dạy đọc đúng, viết đúng thì cáccon sẽ rất tự tin và hứng thú học tập Do đó các con mong muốn được đếntrường, để được học hỏi tiếp thu tri thức mới Chính vì vậy, mục đích của đề tàinày, tôi nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân, những điểm còn hạn chế trong dạy
và học môn Tiếng Việt ở lớp 1 để từ đó tìm ra những biện pháp khắc phục nhằmnâng cao chất lượng đọc đúng, đọc nhanh giúp học sinh học tập tốt ngay từ lớpđầu cấp
III Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng dạy đọc cho học sinh lớp 1 ở trườngTiểu học hiện nay nói chung và học sinh lớp 1A1 của tôi chủ nhiệm
Trang 3IV Đối tượng khảo sát và thực nghiệm
Học sinh lớp 1A1
V Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp quan sát
Phương pháp thu nhận tài liệu
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Trao đổi, tọa đàm với đồng nghiệp
Phương pháp thống kê
Nghiên cứu tài liệu
VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
Tôi tiến hành nghiên cứu và áp dụng các biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết Học vần ngay từ khi bắt đầu năm học
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận:
Chương trình Tiểu học đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ các môn học , trong
đó có môn Tiếng Việt về:
- Mục tiêu giáo dục
- Nội dung và phương pháp dạy học
- Cách thức đánh giá học tập của học sinh
Theo đặc trưng của môn Tiếng Việt tập trung vào sự hình thành và pháttriển kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết, góp phần vào quá trình hình thành các giátrị mới như: Năng lực tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnhkiến thức và thực hành vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân
Như chúng ta đã biết, môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụhình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngônngữ đó được thể hiện qua 4 kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết Tập đọc là một phânmôn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học Đây là phân môn có vị trí đặcbiệt quan trọng trong chương trình, vì nó đảm nhiệm việc hình thành và pháttriển cho kĩ năng “đọc” nói chung và “đọc hiểu” nói riêng Một kĩ năng quantrọng hàng đầu của bậc Tiểu học Tập đọc là môn học công cụ, là chìa khoá, làphương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức loài người
Tập đọc giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp tinh tế của nghệ thuậtngôn từ
Tập đọc đặc biệt là đọc hiểu giúp các em học được cách nói, cách viết mộtcách chính xác, trong sáng có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc rènluyện kĩ năng đọc mà còn phát triển cho học sinh vốn từ ngữ Tiếng Việt phongphú Từ đó, các em sẽ học tốt các môn học khác bởi đọc đúng, hiểu được chínhxác nội dung một vấn đề nào đó Từ đó, các em sẽ làm Toán đúng, viết đúng vànói đúng
Với tư cách, nhiệm vụ là một phân môn thực hành Tiếng Việt, Tập đọc ,
cụ thể là đọc hiểu góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nănglực cho học sinh Những bài tập đọc trong chương trình sách giáo khoa lớp 1mới là những bài văn, bài thơ hay trong kho tàng văn học trong nước và nướcngoài Chính vì thế mà các em có vốn văn học dân tộc hay vốn văn học trên thếgiới khá lớn Bên cạnh đó, có các bài tập đọc còn cung cấp cho các em vốn từngữ phong phú, thuộc nhiều chủ đề để sử dụng vào việc tập viết, tập chép đoạnvăn, bài thơ Và đặc biệt là việc viết các bài Tập làm văn của các lớp 2, 3, 4, 5
Sử dụng vào việc giao tiếp, ứng xử hàng ngày Mặt khác các bài Tập đọc còn là
Trang 5bức tranh muôn hình, muôn vẻ về đề tài thiên nhiên, xã hội phong phú, về phongtục tập quán, lối sống và kinh nghiệm sống
II Cơ sở tâm lí:
- Học sinh lớp 1 mới đi học nên tâm lí chưa ổn định, thời gian tập trunghọc của các em không lâu
- Học sinh lớp 1 còn non nớt chưa có ý thức học, ý thức đọc sao chođúng, cho hay
- Bản thân giáo viên mạnh khỏe, ham đọc tài liệu, học hỏi đồng nghiệp
và tự trau dồi kiến thức chuyên môn
- Đọc xong nhưng lại không nắm được nội dung bài
- Vào lớp còn thiếu tập trung vào bài học
- Chưa mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài
- Một số học sinh không thích học, ảnh hưởng do hoàn cảnh gia đình thiếu
sự quan tâm chăm sóc
- Khả năng nhận thức giữa các học sinh còn có sự chênh lệch khá rõ ràng
Trang 62 Khảo sát thực trạng:
Thống kê số lượng học sinh đọc sai
IV Tổ chức dạy ôn vần cho học sinh:
Qua quá trình nghiên cứu trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạyhọc phân môn Học vần nói chung và phần ôn tập vần trong phân môn Học vầnnói riêng, tôi thấy việc dạy - học hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu sách giáo khoamới hiện hành Đa số giáo viên truyền đạt đủ thứ tự các kiến thức ở sách giáokhoa, theo hướng dẫn trong sách giáo viên, song giờ dạy vẫn chưa có hiệu quảcao, chưa phát huy được tính tích cực, tự giác học tập và khả năng suy nghĩ, tìmtòi, sáng tạo của học sinh Phần lớn các em còn dựa vào tập thể, vào giáo viên,
có tính ỷ lại chưa độc lập suy nghĩ dẫn đến hiệu quả chưa cao
Vậy muốn có hiệu quả tốt như mong muốn thì trước hết người giáo viên phảitâm huyết với nghề, yêu nghề, mến trẻ, chịu khó tìm tòi và có những biện pháptốt nhằm tổ chức tốt một tiết dạy ôn tập vần cho học sinh lớp 1 Vì đây là tiếthọc mà giáo viên củng cố, tổng hợp lại tất cả các vần học mà học sinh đã đượchọc trong 1 tuần
Vì vậy để có tiết học có hiệu quả thì người giáo viên cần chú trọng những điềusau đây;
1 Công tác chuẩn bị:
- Công tác chuẩn bị cho một tiết ôn tập vần là rất quan trọng Trước hết giáoviên phải thiết kế bài ôn tập tốt, hệ thống câu hỏi đưa ra ngắn gọn, dễ hiểu, kíchthích hứng thú học tập cho học sinh
- Về đồ dùng: Phải có bảng ôn vần, có tranh minh hoạ về câu, đoạn thơ ứngdụng và tranh minh hoạ cho truyện kể được phóng to, một số trò chơi nhằmcung cấp thông tin, dẫn dắt học sinh đến những tri thức mới; vận dụng các biệnpháp dạy - học hiện đại để học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập theo tiến độphù hợp với sức học và khả năng sáng tạo của mình
2 Tổ chức hoạt động dạy học:
Tiết 1
I Kiểm tra bài cũ
II Bài mới
1 Giới thiệu bài
a Ôn các vần vừa học
Trang 7- Giáo viên kể chuyện lần 1.
- Giáo viên kể chuyện lần 2 kết hợp kề theo tranh
- Học sinh thảo luận câu chuyện theo nhóm và cử đại diện thi tài
- Nêu ý nghĩa câu chuyện
tranh, sử dụng hộp chữ rời Cách dạy này nhằm thoả mãn yêu cầu "học mà
chơi, chơi mà học" duy trì hứng thú ở trẻ
- Cần coi trọng nguyên tắc “học sinh là chủ thể của hoạt động” Theo nguyên
tắc này nên cho học sinh luyện tập nhiều trong khi học: đọc, viết ghép vần sửdụng xen kẽ
Giáo viên cũng cần lưu ý đúng mức đến tính vừa sức trong dạy vần, tránh lốidạy nhồi nhét, quá tải Có một thực tế là khi bước vào lớp, trẻ em không đồngđều về trình độ Có em đã biết đọc ít nhiều, có em đã nhận diện được một sốchữ, có em chưa biết gì Về tính cách, có em bạo dạn, có em nhút nhát Do đógiáo viên phải tìm hiểu thực trạng của lớp ngay từ đầu để có thể chia lớp thànhcác nhóm và có cách dạy phù hợp với từng nhóm
- Trong việc dạy vần, phải tạo mục đích, động cơ cho trẻ Bài dạy phải quán triệttinh thần "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" nhằm phát huy tính tíchcực của trẻ Ngoài ra không được quên yêu cầu giáo dục tư tưởng trong dạy vần.Giáo viên khéo léo vận dụng những tư liệu mà sách giáo khoa cung cấp (hoặctranh ảnh ) để giúp các em có được vốn hiểu biết ban đầu về quê hương, đất
Trang 8nước, con người, xã hội Nếu dạy vần chỉ đạt tới kĩ thuật đọc, viết đơn thuần thìkết quả sẽ rất đơn điệu.
2 Phương pháp dạy học vần:
* Phương pháp trình bày trực quan:
- Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải được quan sát vật thật, tranh ảnh tựnhiên hay việc làm mẫu của giáo viên
- Cách dạy: Hướng dẫn học sinh xem tranh ảnh, vật thật hay mô hình gắn vớinội dung từ khoá, từ ngữ ứng dụng Cho các em nghe giọng đọc nhìn khuônmiệng của giáo viên khi phát âm, đánh vần mẫu
- Tác dụng: phương pháp này được sử dụng nhiều trong bước giới thiệu bài mới,bước luyện tập, giúp các em tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn, cũng cố âm, vầnmới sâu sắc hơn Giáo viên tiết kiệm được lời giảng mà giờ dạy vẫn sinh động
* Phương pháp phân tích tổng hợp:
- Phân tích trong dạy vần thực chất là tách các hiện tượng ngôn ngữ theo cấp độ:
từ - tiếng - vần (âm)
- Tổng hợp là ghép các yếu tố ngôn ngữ đã tách đó trở lại dạng ban đầu
- Các thao tác tách và ghép này phải được phối hợp nhuần nhuyễn, kết hợp đánhvần tiếng với đọc trơn
- Cách dạy:
+ Phương pháp này áp dụng khi giảng bài mới (ở tiết 1) Cho học sinh phântích từ - tiếng - âm (vần), khi các em đã nắm được âm (vần) mới thì tổng hợp trởlại và đọc trơn (đọc xuôi và đọc ngược)
Ví dụ: Dạy bài ươc - ươt
- Từ khoa là rước đèn, cầu trượt
- Tách tiếng rước, trượt Hỏi tiếng mới trong hai từ trên Sau khi học sinh phát
hiện được, lất bìa che các tiếng đã biết (đèn, cầu), chỉ để lại hai tiếng mới
- Tách vần: ươc - ươt.
+ Dùng bìa che tiếng (đèn, cầu) hỏi tiếng mới học
+ Che phụ âm đầu (r, tr) tách vần ươc, ươt dùng sơ đồ gạch ngang ươ-c ươ-t (vần ươc, ươt do các âm ươ, ươ ghép với c và t, âm c - t đứng cuối vần).
+ Sau đó đọc tổng hợp lại: âm đến vần (ư-ơ-c -> ươc)
+ Vần đến tiếng (rờ - ươc – rươc - sắc - rước)
+ Tiếng đến từ (rước đèn)
Cuối cùng cho học sinh đọc trơn vần, tiếng và từ
Tác dụng: Học sinh nắm được chắc bài học, tiếp thu kiến thức có hệ thống mộtcách chủ động
* Phương pháp hỏi đáp:
Trang 9Phương pháp này được tiến hành trên cơ sở các câu hỏi của giáo viên và
sự trả lời của học sinh để cùng tìm ra tri thức mới
Cách dạy:
- Khi soạn bài, giáo viên cần chuẩn bị trước một hệ thống câu hỏi
- Các câu hỏi này tập trung hỏi về nội dung kiến thức của bài học
- Hỏi để tự tìm từ khoá, tiếng khoá mới trong bài mới
- Hỏi để phân tích từ, tiếng và tổng hợp từ
Tác dụng:
- Giúp học sinh tham gia vào việc tìm hiểu bài mới một cách tự giác tíchcực, chủ động Nhờ đó các em nhanh chóng thuộc bài, hào hứng học tập, lớphọc sinh động
- Giáo viên nắm được trình độ học tập của học sinh, từ đó phân loại họcsinh và có phương pháp phù hợp với đối tượng
* Phương pháp luyện tập thực hành
Giờ học vần không có tiết lí thuyết vì vậy phương pháp này cần đượcquán triệt một cách triệt để Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh tập vậndụng tri thức đã học rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và củng cố kiến thức
Tác dụng :
- Phương pháp này giúp các em khắc sâu hơn những kiến thức vừa họcgóp phần hình thành các kĩ năng đọc và viết kết hợp với nghe - nói một cách hệthống
- Phát triển được những đặc trưng tâm lý lứa tuổi, nhất là phát triển quansát, tư duy phân tích
* Phương pháp vui - học sử dụng trò chơi học tập:
Đó là một dạng hoạt động học tập được tiến hành thông qua các trò chơi(chơi là phương tiện, học là mục đích) Thực chất trò chơi ở đây là trò chơi mụcđích
Cách dạy:
- Trò chơi có thể tiến hành sau khi học sinh học bài mới (kết hợp luyệntập) hoặc sau phần luyện tập Tuỳ theo bài dạy và mục đích "chơi" giáo viên sửdụng linh hoạt các trò chơi
Trang 10- Trò chơi có thể bằng vật thật (trực quan), học sinh sử dụng thao tác taychân, bằng biểu tượng, bằng lời Chẳng hạn: chơi đố chữ, thi tìm âm - vần vừahọc (chỉ đúng - nhanh), thi ghép vần, hái hoa dân chủ,
* Quy trình lên lớp thông thường (ở dạng bài cơ bản) Phần: hướng dẫnchung ở Sách giao viên Tiếng Việt 1 (tập l) đã nêu tóm tắt quy trình lên lớp đốivới giáo viên trong giờ dạy Tiếng Việt ở lớp 1 Dưới đây xin phân tích và lưu ýthêm một số điểm để giáo viên có thể vận dụng sáng tạo khi lên lớp trong từngbài cụ thể
* Dạy bài âm - chữ ghi âm (học vần) mới
Trong hai tiết lên lớp cho một bài dạy, ngoài những công việc thông lệnhư: ổn định tổ chức, nhắc nhở, tuyên dương, dặn dò có 2 bước lên lớp cơbản, cần được giáo viên vận dụng linh hoạt, sáng tạo: Kiểm tra bài cũ: Dạy bàimới (thường phân bố như sau: tiết 1 : giới thiệu bài (l); Dạy âm - chữ ghi âm(vần mới) (2); tiết 2: Luyện tập (3); Hướng dẫn học sinh học ở nhà (4)
1 Kiểm tra bài cũ.
Thời gian từ 5 - 8 phút (tuỳ bài dạy)
- Nội dung kiểm tra:
+ Đọc chữ ghi âm (vần) - tiếng mới (hoặc tiếng mới từ khoá), từ ứngdụng (2-3 từ) của bài kế trước đó Có thể kiểm tra thêm phần luyện đọc ở nhàhoặc một vài âm (vần hoặc tiếng) đã học có xuất hiện trong bài sắp dạy
+ Viết: Chữ ghi âm (vần) - chữ ghi tiếng mới - từ khoá của bài kếtrước đó Tuỳ điều kiện có thể viết nâng cao 1 đến 2 từ ứng dụng
- Biện pháp tiến hành: Kiểm tra đọc trước đối với từng học sinh (đọc trênbảng lớp hoặc bảng con viết sẵn, bài ghi chữ, đọc trong sách giáo khoa), kiểmtra viết sau đối với cả lớp (viết bảng con hoặc kết hợp viết cả lớp đối với 2 - 3học sinh) Nói chung giáo viên cần có nhiều biện pháp sáng tạo để đạt hiệu quảcao nhất
Trang 112 Dạy bài mới.
Giới thiệu bài: (2 - 3 phút) có thể gợi ý về từ khoá và chú giải thêm vềnghĩa, nếu cần (qua tranh ảnh hay vật thật) rồi nêu tên bài mới, song cũng có thểnêu ngay tên bài mới rồi gợi mở từ khoá để ghi lên bảng và dạy (ở bài dạy cónhiều âm - vần)
* Dạy âm - chữ ghi âm hoặc vần:
- Phân tích từ khoá, tiếng khoá để rút ra âm - chữ ghi âm hoặc vần mới,giúp học sinh nhận dạng (phân tích) chữ ghi âm (vần) mới, tập phát âm (đánhvần) mới học
Tổng hợp âm - vần trở lại tiếng khoá giúp học sinh biết đánh vần và đọctiếng khoá, từ đó giúp học sinh có thể đọc trơn được các từ khoá
Tiến hành xong, cho vài học sinh đọc "tổng hợp" lại (âm, vần - tiếng, từ)
* Củng cố âm - vần mới bằng hình thức nhận dạng, tái hiện chữ ghi âm(vần) viết thường trên bảng con (có thể kết hợp cho 2 - 3 học sinh viết trên bảnglớp hoặc cho học sinh sử dụng vở tập viết) Để thực hiện tốt khâu này, giáo viêncần lưu ý viết mẫu (để học sinh tri giác "bắt chước"), hướng dẫn đôi điều cầnthiết về quy trình viết chữ, hình dáng chữ viết và cách viết các con chữ gầnnhau
Tuỳ bài dạy cụ thể, giáo viên có thể cho học sinh tập viết ngay cả chữ ghitiếng mới, hoặc chuyển khâu này xuống kết hợp ở khâu viết chữ ghi tiếng
- Dạy bài: âm - chữ ghi âm giáo viên cần lưu ý:
+ Khi rút ra chữ ghi âm (viết bằng chữ in thường), giáo viên có thể giớithiệu ngay cả chữ viết thường trên dòng kẻ (như cách trình bày ở sách giáokhoa) để học sinh nhận dạng và so sánh Khi hướng dẫn học sinh viết bảng con,giáo viên dùng "que chỉ bảng" (hoặc thước) tô lại chữ đã viết để học sinh quansát quy trình, nhận biết hình dáng chữ
+ Trong sách giáo khoa, ngoài tranh minh hoạ từ khoá sau bài mớithường có thêm phần tranh gợi từ với ba cách trình bày, trang không có từ ngữkèm theo, tranh có từ ngữ kèm theo nhưng in bằng hai cỡ chữ (to -nhỏ), tranh có
từ ngữ kèm theo in chữ to học sinh có thể đọc được Tuỳ bài dạy cụ thể giáoviên có thể dạy ở tiết 1 (sau khi tổng hợp xong từ khoá) hoặc tiết 2 ( phần luyệntập trên bảng lớp) Cách dạy như sau: Tranh không có từ ngữ kèm theo, giáoviên dùng tranh để gợi ý dẫn học sinh nêu tiếng trong đó có âm mới học (giáoviên có thể viết vào cho học sinh kết hợp nhận dạng chữ ghi âm) sau đó cần xoángay vì học sinh chưa đánh vần đọc được Tranh có từ ngữ kèm theo: giáo viêndùng tranh để gợi tiếng, từ cần thiết cho học sinh phát âm, sau đó ghi bảng (ghi