Định nghĩa tranh tụng trong tố tụng dân sự Tranh tụng trong tố tụng dân sự là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỀ BÀI 07:
Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự
Hà Nội, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ BÀI 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2
1.1 Định nghĩa tranh tụng trong tố tụng dân sự 2
1.2 Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong TTDS 2
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự 2
II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 3
2.1 Quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ về tranh tụng của người tham gia tố tụng 4
2.2 Quy định về trách nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự 6
2.3 Các quy định về thủ tục liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 7
III THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 8
3.1 Thực tiễn áp dụng 8
3.2 Một số điểm bất cập của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự 8
3.3 Nhận xét 10
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ BÀI
Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự Bởi thông qua việc tranh tụng giữa các bên đương sự, các tình tiết của vụ án dân sự sẽ dần được làm sáng tỏ Vì
vậy em quyết định chọ đề tài số 7 “Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong
tố tụng dân sự” để làm bài tập học kỳ
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Định nghĩa tranh tụng trong tố tụng dân sự
Tranh tụng trong tố tụng dân sự là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lỹ lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác các yêu cầu đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án
1.2 Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết vụ án dân sự theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lỹ lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác các yêu cầu đối lập trước Tòa án và Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc tranh tụng đề cao tính chất dân chủ, công khai và minh bạch trong hoạt động tố tụng dân sự Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự là
tư tưởng pháp lý chỉ đạo thể hiện rõ nhất tính chất dân chủ, công khai và minh bạch của tố tụng dân sự Trong quá trình thực hiện việc tranh tụng, các đương
sự người đại diện của đương sự đều được bình đẳng, chủ động và công khai
Trang 4đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý và đối đáp nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự
Nguyên tắc tranh tụng tạo cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi
lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án: Với việc giải quyết vụ án dân sự theo nguyên tắc tranh tụng, các đương sự có điều kiện trong việc trình bày, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình Kết quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm mọi cách để thu thập chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp, bác bỏ yêu cầu của đương
sự phía bên kia
Nguyên tắc tranh tụng bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên
là có căn cứ và hợp pháp: Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương
sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa
án xác định được sự thật khách quan của vụ án dân sự Trên cơ sở đó Tòa án giải quyết được các yêu cầu của đương sự, xác định đúng các quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật
Thông qua nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự giúp cho mọi công dân hiểu biết thêm pháp luật, củng cố thêm lòng tin, vào đường lối và chính sách và pháp luật của Đảng và nhà nước Trên cơ sở đó góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc cuộc sống xã hội của Nhân dân, tạo điều kiện cho việc củng cố trật tự pháp luật và pháp chế
xã hội chủ nghĩa
II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Cơ sở pháp lý: Điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 52.1 Quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ về tranh tụng của người tham gia tố tụng
2.1.1 Quy định về quyền bình đẳng trong tố tụng dân sự
Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự năm năm 2015 ghi nhận sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự năm, theo đó:
“1 Trong tố tụng dân sự năm mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, …
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án
2 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”
Quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm năm 2015 tiếp tục ghi
nhận “Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng” Quy
định về sự bình đẳng này là nền tảng căn bản để thực hiện nguyên tắc tranh tụng, tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho các bên đương sự thực hiện tranh tụng một cách thực chất Người đại diện của đương sự là người thực hiện thay các hoạt động tranh tụng của đương sự, họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích đương sự tại Tòa án Do vậy, người đại diện trong tố tụng dân sự năm cũng có quyền bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án như đối với đương sự mà họ đại diện
2.1.2 Quy định về quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và thời điểm được bổ sung yêu cầu trong quá trình Tòa án giải quyết có thể tranh chấp
Quyền yêu cầu phản tố là một trong những quyền liên quan đến tranh tụng trong tố tụng dân sự năm, xét trong mối quan hệ giữa yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với yêu cầu phản tố của bị đơn có thể thấy đã có sự đối kháng nhau về quyền lợi, đòi hỏi cần tranh tụng để giải quyết Tuy nhiên, việc phản
tố của bị đơn được thực hiện sau việc khởi kiện nguyên đơn Do vậy, để yêu cầu phản tố này không gây khó khan cho việc thực hiện tranh tụng của
Trang 6nguyên dơn, pháp luật đã có quy định giới hạn quyền phản tố trong một số trường hợp nhất định
2.1.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng trong việc thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ
Đương sự có quyền và nghĩa vụ “Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng
minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 5 Điều 70 Bộ
luật tố tụng dân sự năm năm 2015) Đây là quyền và nghĩa vụ thể hiện sự chủ động, tích cực của đương sự khi tham gia tố tụng, theo đó các đương sự có quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hoặc phản bác yêu cầu của các đương sự khác Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền cung cấp tài liệu và chứng cứ của đương
sự, tạo điều kiện cho việc thực hiện tranh tụng, Bộ luật tố tụng dân sự năm
năm 2015 quy định: “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc
cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan,
tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý” (điểm d khoản 1, Điều 97
BLTTDS)
2.1.4 Quy định về quyền bảo vệ và tranh luận
Quyền bảo vệ và tranh luận là những quyền về tranh tụng hết sức quan
trọng đối với đương sự Đương sự có quyền “Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình” (khoản 13 Điều 70 BLTTDS
năm 2015) Trước tiên xuất phát từ chính lợi ích của các đương sự pháp luật cho phép họ được quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ
án dân sự đang được giải quyết tại Tòa án Trong trường hợp nếu các đương
sự không tự bảo vệ được quyền lợi của mình hoặc có nhu cầu nhờ người khác
có khả năng tốt hơn (thường là luật sư hoặc người có am hiểu pháp luật) thực hiện quyền này thay mình, sẽ được Tòa án xem xét và chấp nhận
Trang 72.2 Quy định về trách nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự
2.2.1 Sự độc lập, vô tư của tòa án trong tố tụng dân sự - tiền đề cần thiết của việc bảo đản nguyên tắc tranh tụng
Tòa án là cơ quan đại diện cho Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ công lí và con người Do vậy, Tòa án phải thực sự là người trọng tài cầm cân nảy mực trong việc phân xử quyền lợi giữa các bên đương sự theo quy định pháp luật trong quá trình tố tụng, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện việc tranh tụng theo đúng quy định Để làm tốt vai trò này đòi hỏi Tòa án phải thực sự độc lập và khách quan Nội dung của nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật xác định khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, tự mình quyết định việc giải quyết vụ án dân sự không phụ thuộc vào ai, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Không một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của họ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập xét xử nhưng phải căn cứ vào pháp luật để xét xử (Điều 12 BLTTDS năm 2015)
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định rất chặt chẽ về cơ chế bảo
đảm sự vô tư, khách quan của Tòa án trong quá trình tố tụng, cụ thể như sau:
“Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình” (khoản 2 Điều 16)
2.2.2 Quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương
sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp thực hiện tranh tụng trong tố tụng dân sự
Đương sự có quyền tranh luận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền này không những được pháp luật thừa nhận mà khi tham gia giải quyết vụ án dân sự Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của bộ luật
Trang 8này (khoản 1 Điều 24) Các bảo đảm này từ phía tòa án được thể hiện khá rõ
nét trong quy định tại khoản 3 Điều 247 BLTTDS Năm 2015: “Chủ tọa phiên
tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến…” Quy định này cho thấy để bảo
đảm quyền lợi của mình, tại phiên tòa đương sự được trình bày không hạn chế
và tranh luận mọi vấn đề liên quan đến vụ án
Qua nghiên cứu, so sánh cho thấy BLTTDS Năm 2015 có các quy định
về bảo đảm quyền bảo vệ đã cụ thể hơn, điều 9 BLTTDS Năm 2015 quy định:
“1 Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhơ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
…
4 Không ai được han chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự trong tố tụng dân sự.”
2.3 Các quy định về thủ tục liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Các quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lí vụ án dân sự liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Theo quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đơn khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp Khi Tòa án nhận đơn xét thấy đủ điều kiện thụ lý vụ án dân sự thì thông báo cho đương nộp tiền tạm ứng án phí Vụ án dân sự sẽ được Tòa án thụ ly khi đương sự nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí hoặc kể từ khi đương sự (không phải nộp tiền tạm ứng án phí) đã đủ các điều kiện khác theo quy định Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 9Kể từ khi thụ lý vụ án dân sự, quá trình tố tụng bắt đầu, trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ
án
Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
III THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
3.1 Thực tiễn áp dụng
Theo số liệu thống kê tình hình giải quyết vụ việc dân sự của ngành Tòa
án giai đoạn (2009-2015) cho thấy, mặc dù số lượng các vụ án dân sự phải thụ
lý, giải quyết hàng năm của ngành Tòa án rất lớn, tăng cao trong các năm gần đây nhưng các Tòa án đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự năm vnên số lượng các vụ án dân sự được giải quyết trong thời hạn quy định của pháp luật, từng bước khắc phục để các vụ án tồn động, quá hạn luật định
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tôn trọng và bảo đảm cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự năm trên thực tế, các đương sự đã thực hiện khá tốt các quyền tranh tụng của mình từ quyền đưa ra yêu cầu phản tố, phản đối yêu cầu, quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp tự mình không thực hiện được, quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp
và Tòa án thu thập…làm cho tranh tụng dần trở nguyên tắc quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
3.2 Một số điểm bất cập của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự
Tranh tụng chưa được ghi nhận là một nguyên tắc của tố tụng dân sự Quy định tại Điều 23a BLTTDS về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận
Trang 10trong tố tụng dân sự mới chỉ giới hạn phạm vi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm xét xử vụ án dân sự
- Theo báo báo của ngành Tòa án những năm gần dây thì còn nhiều trường hợp Thẩm phán khi tiến hành giải quyết vụ án đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện dẫn đến quyết định giải quyết vụ án bị hủy, sửa Một số Thẩm phán chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trách nhiệm của mình trong việc xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật nên việc giải quyết vụ án bị kéo dài hoặc không đúng pháp luật
- Vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trên thực tế còn hạn chế và nhiều khi chưa được các Tòa án thực sự tôn trọng Biểu hiện đầu tiên là các Luật sư tham gia tranh tụng còn gặp phải khó khăn
từ phía Tòa án Khi tham gia phiên tòa, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng chưa được đánh giá đúng mức
- Việc tranh luận nhiều khi chưa tuân thủ triệt để trình tự pháp luật quy định Thẩm phán chưa hướng cho đương sự trình bày đúng vào nội dung vụ
án, những lý lẽ bảo vệ quyền lợi của họ
- Việc thu thập chứng cứ phục vụ cho việc tranh tụng của các đương sự gặp rất nhiều khó khăn, đương sự không có chứng cứ dẫn đến dẫn đến giảm hiệu quả tranh tụng và kéo dài thời gian giải quyết vụ án
- Về thi hành pháp luật: Trình độ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ Thẩm phán còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Có một bộ phận cán bộ, Thẩm phán thiếu ý thức cầu thị, phấn đấu, học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tư cách, phẩm chất đạo đức của người cán bộ Tòa án, việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của vụ án không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện dẫn đến quyết định sai lầm Đội ngũ Luật sư trong những năm qua tuy đã có sự phát triển tuy nhiên còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội