1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bình luận các trường hợp áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất được quy định trong bộ luật dân sự 2015

12 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 44,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó: “Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng theo Điều 3 của công ước thì hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”.1 Để xác địn

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THUỘC LUẬT CÓ MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ NHẤT 1

II PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG HỆ THUỘC LUẬT CÓ MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ NHẤT 3

1 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài nói chung 3

2 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong việc xác định pháp luật

áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch 5

3 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài 6

C KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 2

MỞ ĐẦU

Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình Tuy nhiên, giữa các

hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý Ở đó, xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế xảy ra, khi đó các nước sẽ giải quyết bằng thỏa thuận, nếu như không thành công sẽ dựa trên nguyên tắc áp dụng hệ thống pháp luật có mối liên

hệ gắn bó nhất với quan hệ pháp luật đó Để tìm hiểu rõ hơn về hệ thuộc luật có mối liên

hệ gắn bó hay cách áp dụng hệ thuộc luật gắn bó em xin phép được tìm hiểu vấn đề số 7:

“Bình luận các trường hợp áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất được quy định trong BLDS 2015”

Trang 3

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THUỘC LUẬT CÓ MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ NHẤT

1 Hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất dưới góc độ luật pháp quốc tế

Dưới góc độ của luật pháp quốc tế, việc xác định pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất chủ yếu được tiếp cận trên khía cạnh hợp đồng Mô hình xác định luật áp dụng điều

chỉnh quan hệ hợp đồng là luật có mối liên hệ gắn bó nhất lần đầu xuất hiện tại Công ước

Rome năm 1980 về Luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng của Hội đồng châu

Âu (Công ước Rome năm 1980) Tại Điều 4.1 Công ước Rome năm 1980 quy định về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận Theo đó:

“Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng theo Điều 3 của công ước thì hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”.1

Để xác định luật có mối liên hệ gắn bó nhất, Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã quy định các trường hợp xác định luật áp dụng đối với các hợp đồng cụ thể - các giả định (presumtion) theo đó đối với các hợp đồng cung ứng dịch vụ hoặc hợp đồng mua bán là

“luật nơi cư trú của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng” (khoản 2 Điều 4); đối với hợp

đồng sử dụng bất động sản và quyền sở hữu đối với bất động sản “là luật nơi có bất động sản” (khoản 3 Điều 4); đối với hợp đồng vận tải là “luật nơi có trụ sở chính của bên vận chuyển” nếu đó cũng đồng thời là nước nơi bốc, xếp hàng và là nơi có trụ sở của bên giao

hàng trong các hợp đồng vận tải (khoản 4 Điều 4) Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 4 lại đưa

ra một trường hợp ngoại lệ không áp dụng các khoản 2, 3, 4 Điều 4 nói trên: “Nếu mọi yếu tố xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể cho thấy hợp đồng có mối liên hệ mật thiết với một

hệ thống pháp luật khác”.

2.Thực tiễn áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất

Thực tiễn áp dụng Công ước Rome năm 1980 đã gây ra nhiều tranh cãi khi Tòa án giải thích khái niệm luật có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng Điều 4 của Công ước Rome năm 1980 đã gây nhiều tranh cãi trong lý luận cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật. Đặc biệt, quy định này đã gây khó khăn cho việc xác định luật có mối quan hệ gắn

bó nhất đối với hợp đồng trong thực tiễn, vì mặc dù Công ước đã đưa ra các giả định xác định luật có mối quan hệ gắn bó trong các loại hợp đồng cụ thể tại khoản 2, 3, 4 nhưng

1

Trang 4

các giả định này sẽ không được áp dụng nếu cơ quan tài phán chứng minh được một hệ thống pháp luật khác được coi là có mối quan hệ gắn bó hơn trong hợp đồng

Quy định của khoản 5 Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã tạo ra cho thẩm phán một khoảng quyền hạn khá rộng trong việc xét các yếu tố được coi là có mối quan hệ gắn

bó nhất với một hợp đồng cụ thể Thẩm phán có thể không áp dụng các trường hợp giả định đã quy định đối với các hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng vận tải hay hợp đồng liên quan đến bất động sản theo các khoản 2, 3, 4 Điều 4 Công ước Như vậy, khái niệm luật nơi hợp đồng được coi là có mối liên hệ gắn bó nhất trong pháp luật

và thực tiễn quốc tế về cơ bản được giải thích là nước nơi thường trú hoặc nơi có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng vào thời điểm giao kết hợp đồng. 2

Để khắc phục điểm hạn chế của Công ước Rome năm 1980, ngày 17/6/2008 Hội đồng và Nghị viện EU đã ban hành Quy tắc (EC) số 593/2008, còn gọi là Quy tắc Rome I

về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng thay thế Công ước Rome năm 1980

Một trong những điểm thay đổi của Quy tắc Rome I so với Công ước Rome 1980 trước đây là Quy tắc Rome I đã xây dựng các quy định để xác định luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong quan hệ hợp đồng rõ ràng, hiệu quả hơn, nâng cao tính chắc chắn, ổn định của quy định này, trên cơ sở xác định lần lượt thứ tự ưu tiên của luật được coi có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng

Cụ thể, khoản 1 Điều 4 Quy tắc Rome I quy định luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận thông qua một hệ thống các quy tắc chọn luật áp dụng chặt chẽ và rõ ràng cho 8 loại hợp đồng cụ thể với tính chất đây là các hệ thống pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất Chỉ trong trường hợp, hợp đồng không thuộc 8 loại hợp đồng quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố của hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi nhiều hơn một điểm (a) đến (h) của khoản 1 thì luật áp dụng mới được xác định theo khoản 2 Điều 4 dựa trên tiêu chí là luật nước nơi thực hiện nghĩa

vụ đặc trưng Như vậy, nếu đã xác định hợp đồng thuộc khoản 1 thì không được giải thích tùy nghi luật nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng theo khoản 2 nữa

Trường hợp rõ ràng từ tất cả các tình tiết của hợp đồng được coi là có quan hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác theo quy định tại khoản 1 hoặc 2 Điều 4 pháp luật của nước khác đó sẽ được áp dụng

Tóm lại, quy định của Điều 4 Quy tắc Rome I đã lần lượt xác định thứ tự ưu tiên của các luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng, Quy tắc Rome I đã loại trừ

2

Trang 5

điều khoản cho phép xác định tùy nghi luật có mối liên hệ mật thiết nhất như mô hình của Công ước Rome 1980 trước đây

II PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG HỆ THUỘC LUẬT CÓ MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ NHẤT

Nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” là một hệ thuộc khá đặc thù và trừu tượng trong tư pháp quốc tế, việc giải thích và áp dụng hệ thuộc luật này ở các nước cũng khá phức tạp Tại Việt Nam BLDS 2015 ra đời đã có cách tiếp cận khá phù hợp trong việc xác định pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất

1 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung

Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất sẽ được dẫn chiếu tới trong hai trường hợp: Một là không xác định được điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam Hai là trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn nhưng các bên không lựa chọn được pháp luật áp dụng Cụ thể, theo quy định tại Điều 664 BLDS 2015:

“1 Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.

2 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.

3 Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

Như vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định dựa vào quy phạm xung đột thống nhất của Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc quy phạm xung đột thông thường nằm trong luật của quốc gia Việt Nam Tuy nhiên nếu

cả hai căn cứ trên đã được xem xét mà vẫn không xác định được pháp luật áp dụng Lúc này cơ quan có thẩm quyền sẽ vận dụng Khoản 3 nêu trên tức là sẽ dựa vào pháp luật của

Trang 6

nước có mối liên hệ gắn bó nhất để điều chỉnh quan hệ Đây cũng là một quy định mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam

 Bình luận

Nếu trước đây, với những tình huống như vậy thì không xác định được pháp luật áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật Việt Nam thường quy định sẽ áp dụng tập quán quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam với tư cách là pháp luật của

nước nơi có Tòa án (nguyên tắc Lex Fori) để thay thế.3 Ví dụ Khoản 4 Điều 759 BLDS

2005 có quy định: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được

bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế” hoặc khoản 2 Điều 127 luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định: “2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam” Đến BLDS 2015, thay vì áp dụng tập

quán quốc tế, pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất đã được áp dụng Quy định như vậy vừa đảm bảo sự khách quan, công bằng lại tránh được tình trạng hoài nghi về việc không mong muốn hoặc không sẵn sàng áp dụng pháp luật nước ngoài của cơ quan

có thẩm quyền tại nước sở tại Đồng thời để thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan xét xử trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Về bản chất, các hệ thuộc luật được dẫn chiếu đến trong các quy phạm xung đột là hệ thuộc luật có quan hệ gắn bó nhất đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó và thường đã được chỉ rõ (ví dụ: theo hệ thuộc quốc tịch, nơi thường trú…tùy theo từng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể) Tuy nhiên, do quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài rất đa dạng nên trong nhiều trường hợp pháp luật chưa quy định hết được các

hệ thuộc luật áp dụng Cách quy định này sẽ đảm bảo độ mềm dẻo cần thiết để cơ quan xét xử có thể xử lý linh hoạt các vụ việc phát sinh trên thực tế, tránh tình trạng áp dụng trực tiếp pháp luật Việt Nam mà không có căn cứ, đồng thời cũng thể hiện sự hội nhập của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.  Đây cũng là cách tiếp cận được nhiều nước sử dụng khi xây dựng các quy phạm xung đột của nước mình và cũng

3

Trang 7

được sử dụng trong một số điều ước quốc tế có quy định về xung đột pháp luật Trên thực

tế, quy định tại khoản 2 Điều 760 của BLDS 2005 cũng đã có sử dụng thuật ngữ “có quan

hệ gắn bó nhất” Tuy nhiên, việc xác định hệ thuộc luật của nước nơi có quan hệ gắn bó nhất cần được hướng dẫn (bằng nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) nhằm bảo đảm việc vận dụng trên thực tế sẽ thống nhất, tránh tùy tiện.4

2 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong việc xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch

Để xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch, Điều 672 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1 Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.

2 Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất.”

Như vậy tại Khoản 1 nêu trên, nhà làm luật dự liệu trường hợp nếu cá nhân có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất Quy định này có sự khác biệt với quy định tương tự tại Điều 760 BLDS 2005 Theo BLDS 2005 nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam BLDS 2005 dùng cụm từ “nếu người đó không có nơi cư trú” điều này không thực sự chính xác vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú Có thể thấy ngôn ngữ lập pháp như vậy không chặt chẽ bởi suy cho cùng cũng cần phải cư trú tại một địa điểm nào đó

4

Trang 8

chứ không thể là “không có nơi cư trú” Vì vậy BLDS 2015 đã thay thế bằng cụm từ

“không xác định được nơi cư trú” là phù hợp và chính xác hơn

Trường hợp thứ hai là trường hợp nếu cá nhân có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng pháp luật nước nào được coi là gắn bó nhất sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng loại quan hệ mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án quyết định

3 Áp dụng hệ thuộc luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí giữa các bên vì vậy nguyên tắc tự do hợp đồng luôn được đề cao và tôn trọng Cũng chính vì lí do đó, các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác Ví dụ: trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản; hoặc trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng…

Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước

có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng Riêng đối với hợp đồng dân

sự, khái niệm pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất là gì đã được giải thích cụ thể tại Khoản 2 Điều 683 BLDS 2015 như sau:

“a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu

là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa;

b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ;

c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ;

Trang 9

d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân;

đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng”.

Sự thay đổi trong quy định tại Khoản 2 Điều 683 nêu trên là một sự tiệm cận gần hơn với pháp luật quốc tế Cụ thể, trong các điều ước quốc tế, hệ thuộc luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất cũng được áp dụng phổ biến Hơn nữa nếu áp dụng hệ thuộc luật nơi thực hiện hợp đồng sẽ có những trường hợp không thể xác định được hợp đồng thực hiện ở đâu, nhất là đối với các hợp đồng song vụ hoặc hợp đồng liên quan đến tài sản vô hình Theo quy định trên, pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất trong từng trường hợp khác nhau lại có sự khác nhau Cụ thể:

- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn

bó nhất là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi thành lập của pháp nhân bán hàng

- Đối với hợp đồng dịch vụ thì pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi cá nhân cung cấp dịch vụ cư trú hoặc nơi thành lập của pháp nhân cung cấp dịch vụ

- Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân nhận quyền hoặc nơi thành lập của pháp nhân nhận quyền Mặc dù trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không có xung đột pháp luật nhưng những vấn đề liên quan đến hợp dồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ lại hoàn toàn có thể xảy ra xung đột pháp luật vì đây là quan hệ hợp đồng co yếu tố nước ngoài

Quy định chọn luật áp dụng với loại hợp đồng đặc biệt này lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật dân sự Việt Nam với mục đích tạo cơ sở pháp lí khi giải quyêt các vấn đề liên quan, tránh những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định nơi thực hiện hợp đồng như trong BLDS 2005 Trong quy định tại BLDS 2015, pháp luật được lựa chọn được coi là phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam vì hiện nay và trong tương lai, có

Trang 10

lẽ Việt Nam vẫn là nước nhận chuyển giao các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhiều hơn là nước chuyển giao Vì vậy đây là cơ sở để mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật Việt Nam một cách chính đáng

-  Đối với hợp đồng lao động thì pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất

là pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân Đây là quy định lần đầu tiên được ghi nhận trong văn bản pháp luật dân sự Điều

đó thể hiện nhà nước ta hiện nay rất quan tâm tới các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài Việc xây dựng quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lí cho việc chọn luật áp dụng khi có tranh chấp về hợp đồng lao động xảy ra, đồng thời điều này cũng thể hiện rõ ràng các quan hệ lao đọng đặc biệt về hợp đồng lao động ngày càng phổ biến và đòi hỏi phải có quy định riêng phù hợp với quan hệ

-  Đối với hợp đồng tiêu dùng thì pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất

là pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú Quy định này cung là một quy định mới trong BLDS 2015 Lựa chọn pháp luật nơi cư trú của người tiêu dùng là hệ thống pháp luật có mói liên hệ gắn bó nhất trước hết là để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, sau là để tạo thuận lợi cho cơ quan giải quyết tranh chấp trong việc thực hiện các hành vi

tố tụng cần thiết, đồng thời là để tăng trách nhiệm và ý thức tôn trọng người tiêu dùng của bên cung cấp hàng hóa dịch vụ

Nhìn chung, Khoản 2 Điều 683 là trường hợp pháp luật dự liệu các hệ thống pháp luật mà thông thường sẽ được coi là gắn bó nhất với hợp đồng Nếu các bên trong hợp đồng không thỏa thuận chọn luật áp dụng thì hệ thuộc luật mối quan hệ gắn bó nhất sẽ được áp dụng cho các loại hợp đồng cụ thể tương ứng Tuy nhiên thực tế sẽ có những trường hợp, nhừng tình huống mà pháp luật đôi khi không dự đoán được và quy định

hoàn toàn phù hợp được vì vậy Khoản 3 điều này có quy định: “Trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên

hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó” Đây là một

quy định rất linh hoạt và tương đối mở, dựa trên tinh thần tôn trọng ý chí của các bên

Ngày đăng: 09/08/2021, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w