1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MACLENIN TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM LIÊN HỆ THỰC TIỄN

42 151 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Tất Yếu Khách Quan Của Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hóa Ở Việt Nam Liên Hệ Thực Tiễn
Người hướng dẫn T.S Bùi Xuân Dũng
Trường học Khoa Lý Luận Chính Trị
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị Mac-Lenin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 433,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hang đầu của nước ta. Mục tiêu của nó là làm cho xã hội phát triển về kinh tế văn hóa nâng cao đời sống nhân dân Việt Nam ngày càng ấm no hạnh phúc, hưởng tới sự hoàn thiện về mọi mặt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng xác định “ Muốn cải tiến trình trạng nhà nước lạc hậu hiện nay của nước ta đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên chế độ sản xuất lớn thì chúng ta không còn đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Vì vậy công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ ở nước ta. Điều đó đòi hỏi phải huy động mọi sự cố gắng sáng tạo của toàn xã hội, trong và ngoài nước của công dân Việt Nam. Xã hội loài người đã và đang trong giai đoạn phát triển. Từ khi còn là một xã hội sơ khai nguyên thủy, giờ đây đã trở thành một xã hội văn minh hơn. Để đạt được sự phát triển đó cần phải thực hiện công nghiệp hóa. Lịch sử công nghiệp hóa trên nhiều nước cho thấy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình lâu dài, khó khăn, không dễ dàng gì mà đạt được song nó lại là con đường phát triển xã hội nhanh nhất. Chúng ta vẫn còn là nước nghèo, lạc hậu và để không bị tụt lại so với các nước khác. Thì chúng ta không còn cách nào khác phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Mọi người cần phải nắm rõ nội dung cũng như biết mình nên phải làm gì để thực hiện quá trình ấy một cách hiệu quả nhất và đúng đắn. Đây là vấn đề quan trọng liên quan đến cách thức cũng như phương hướng phát triển đất nước. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và đây cũng là đề tài cần thiết để nghiên cứu. Nhóm chúng em đã thống nhất chọn đề tài này làm tiểu luận “Tính tất yếu khách quan và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.” 2. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nền kinh tế là một trong những vấn đề bức xức, xôn xao trong nhiều năm nay. Đồng thời cũng được đông đảo mọi người quan tâm. Nghiên cứu nhằm nhận thức rõ để từ đó đưa ra các hướng, biện pháp để phát huy, tận dụng mọi nguồn lực cũng như sự ủng hộ của các nước nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vận dụng kiến thức đã học, qua tìm hiểu để hiểu rõ vai trò của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa sẽ mang lại nhiều tác dụng to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Phân tích để thấy rõ mối quan hệ gắn bó trực tiếp giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với lực lượng sản xuất. 3. Phương pháp nghiên cứu: Tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích thông tin, nghiên cứu và đưa ra những nhận xét, đánh giá. Vận dụng các quan điểm toàn diện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô tả, phân tích và tổng hợp, các phương pháp liên ngành xã hội và nhân văn. 4. Bố cục đề tài: Tiểu luận được trình bày với nội dung gồm 6 chương chính: Chương 1: Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chương 2: Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay và tính tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chương 3: Nội dung của công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta. Chương 4: Tiền đề thực tiễn, kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chương 5: Những quan điểm, lý luận thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chương 6: Tác dụng của công nghiệp hóa hiện đại hóa. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT. 1. Khái niệm lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người. Các yếu tố tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trọng). Trong hai nhóm yếu tố nói trên, người lao động là nhân tố quan trọng nhất (bởi vì, tư liệu sản xuất có nguồn gốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi con người). 2. Khái niệm quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mối quan hệ kinh tế (quan hệ giữa người với người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó. 3. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng (phụ thuộc, ràng buộc nhau, tác động lẫn nhau) tạo thành quá trình sản xuất hiện thực của xã hội. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó. Trong đòi sống hiện thực, không thể có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định. Ngược lại, cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó. Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau. Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội. Tương ứng với thực trạng phát triển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thực trạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý và phân phối. Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác sử dụng và không ngừng phát triển. Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác sử dụng và phát triển trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện chứng nhưng trong đó, vai trò quyết định thuộc về lực lương sản xuất, còn quan hệ sản xuất giữ vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất. Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ TÍNH TẤT YẾU PHẢI TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA. 1. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. 2. Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa: Việt Nam không phải là nước đầu tiên lấy công nghiệp hóa làm trọng tâm của sự phát triển. Lịch sử nhân loại đang chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên và máy móc sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào dữ liệu, thông tin và tri thức. Thực chất các nước thực hiện công nghiệp hóa trong vòng trên 200 năm từ cuộc đại cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII. Được bắt đầu ở Anh vào những năm 80 của thế kỷ XVII bằng sự đổi mới công nghệ se sợi và dệt làm cho năng suất công việc ngày càng tăng lên và sự tăng trưởng của hang dệt trở thành một loại sản phẩm dẫn đầu công nghệ chế tạo nhờ ở chuyên môn hóa. Sau đó là sự ra đời của máy hơi nước. Sau những thay đổi về dệt, luyện sắt và máy hơi nước. Công nghiệp hóa lại tiếp tục tập trung vào sản xuất thép, đường sắt, đường thủy chạy bằng hơi nước tạo nên cuộc cách mạng giao thông vận tải và thị trường toàn cầu. Kể từ đầu thế kỷ XX thì khoa học và công nghệ có bước tiến lớn trong việc phát minh ra quy trình cho phép chế tạo thép từ quặng sắt có hàm lượng photpho cao đã thúc đẩy sự phát triển công nghiệp ở những nước có nhiều quặng này. Những đổi mới trong thời kỳ này về điện làm lạnh, hóa hữu cơ, động cơ đốt trong được xem như là cơ sở của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai.

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BỘ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MAC-LENIN

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

-* -* -* TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

Ở VIỆT NAM LIÊN HỆ THỰC TIỄN

GVHD: T.S BÙI XUÂN DŨNG SVTH:

Mã lớp học: LLCT120205_31CLC

TP Hồ Chí Minh, tháng 5, năm 2021

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hangđầu của nước ta Mục tiêu của nó là làm cho xã hội phát triển về kinh tế - văn hóanâng cao đời sống nhân dân Việt Nam ngày càng ấm no hạnh phúc, hưởng tới sự hoànthiện về mọi mặt Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng xác định “ Muốn cảitiến trình trạng nhà nước lạc hậu hiện nay của nước ta đưa nước ta từ chế độ sản xuấtnhỏ là chủ yếu lên chế độ sản xuất lớn thì chúng ta không còn đường nào khác ngoàicon đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Vì vậy công nghiệp hóa – hiệnđại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ ở nước ta Điều đó đòihỏi phải huy động mọi sự cố gắng sáng tạo của toàn xã hội, trong và ngoài nước củacông dân Việt Nam

Xã hội loài người đã và đang trong giai đoạn phát triển Từ khi còn là một xã hội

sơ khai nguyên thủy, giờ đây đã trở thành một xã hội văn minh hơn Để đạt được sựphát triển đó cần phải thực hiện công nghiệp hóa Lịch sử công nghiệp hóa trên nhiềunước cho thấy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình lâu dài, khó khăn,không dễ dàng gì mà đạt được song nó lại là con đường phát triển xã hội nhanh nhất.Chúng ta vẫn còn là nước nghèo, lạc hậu và để không bị tụt lại so với các nước khác.Thì chúng ta không còn cách nào khác phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước Mọi người cần phải nắm rõ nội dung cũng như biết mình nênphải làm gì để thực hiện quá trình ấy một cách hiệu quả nhất và đúng đắn Đây là vấn

đề quan trọng liên quan đến cách thức cũng như phương hướng phát triển đất nước.Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và đây cũng là đề tài cần thiết để nghiên cứu.Nhóm chúng em đã thống nhất chọn đề tài này làm tiểu luận “Tính tất yếu khách quan

và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nền kinh tế là một trongnhững vấn đề bức xức, xôn xao trong nhiều năm nay Đồng thời cũng được đông đảomọi người quan tâm Nghiên cứu nhằm nhận thức rõ để từ đó đưa ra các hướng, biệnpháp để phát huy, tận dụng mọi nguồn lực cũng như sự ủng hộ của các nước nhằmphục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vận dụng kiến thức đãhọc, qua tìm hiểu để hiểu rõ vai trò của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa sẽ mang lại nhiều tác

Trang 3

dụng to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Phân tích để thấy rõ mốiquan hệ gắn bó trực tiếp giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với lực lượng sản xuất.

3 Phương pháp nghiên cứu:

Tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích thông tin, nghiên cứu và đưa ra những nhận

xét, đánh giá

Vận dụng các quan điểm toàn diện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô tả, phântích và tổng hợp, các phương pháp liên ngành xã hội và nhân văn

4 Bố cục đề tài:

Tiểu luận được trình bày với nội dung gồm 6 chương chính:

Chương 1: Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Chương 2: Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay và tính tất yếu phải tiến hành côngnghiệp hóa - hiện đại hóa

Chương 3: Nội dung của công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta

Chương 4: Tiền đề thực tiễn, kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc phát triểncông nghiệp hóa - hiện đại hóa

Chương 5: Những quan điểm, lý luận thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam về côngnghiệp hóa - hiện đại hóa

Chương 6: Tác dụng của công nghiệp hóa - hiện đại hóa

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT.

1 Khái niệm lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất,

kỹ thuật, công nghệ, của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biếngiới tự nhiên của con người Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai tròphản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người

Các yếu tố tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong đó, công

cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của conngười) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quantrọng)

Trong hai nhóm yếu tố nói trên, người lao động là nhân tố quan trọng nhất (bởi vì,

tư liệu sản xuất có nguồn gốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi conngười)

Trang 4

2 Khái niệm quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mối quan hệ kinh tế (quan hệ giữa ngườivới người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xãhội)

Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong

tổ chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trìnhsản xuất đó

3 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thốngnhất biện chứng (phụ thuộc, ràng buộc nhau, tác động lẫn nhau) tạo thành quá trìnhsản xuất hiện thực của xã hội

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trìnhsản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, cònquan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó Trong đòi sống hiện thực,không thể có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễncải biến các đối tượng vật chất tự nhiên lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thứckinh tế nhất định Ngược lại, cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ratrong đời sống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chấtcủa nó

Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫnnhau, thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quátrình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với thực trạng phát triển nhất định củalực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thựctrạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý và phânphối Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác - sử dụng

và không ngừng phát triển Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thểđược duy trì, khai thác - sử dụng và phát triển trong một hình thái kinh tế - xã hội nhấtđịnh

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biệnchứng nhưng trong đó, vai trò quyết định thuộc về lực lương sản xuất, còn quan hệ

Trang 5

sản xuất giữ vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất Mối quan hệ thống nhất giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sảnxuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giaiđoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trìnhsản xuất còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ TÍNH TẤT YẾU PHẢI TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA.

1 Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng kinh tế và quản lý kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phươngpháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

2 Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa:

Việt Nam không phải là nước đầu tiên lấy công nghiệp hóa làm trọng tâm của sựphát triển Lịch sử nhân loại đang chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin,

từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên và máy móc sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào dữliệu, thông tin và tri thức Thực chất các nước thực hiện công nghiệp hóa trong vòngtrên 200 năm từ cuộc đại cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII Được bắt đầu ởAnh vào những năm 80 của thế kỷ XVII bằng sự đổi mới công nghệ se sợi và dệt làmcho năng suất công việc ngày càng tăng lên và sự tăng trưởng của hang dệt trở thànhmột loại sản phẩm dẫn đầu công nghệ chế tạo nhờ ở chuyên môn hóa Sau đó là sự rađời của máy hơi nước Sau những thay đổi về dệt, luyện sắt và máy hơi nước Côngnghiệp hóa lại tiếp tục tập trung vào sản xuất thép, đường sắt, đường thủy chạy bằnghơi nước tạo nên cuộc cách mạng giao thông vận tải và thị trường toàn cầu

Kể từ đầu thế kỷ XX thì khoa học và công nghệ có bước tiến lớn trong việc phátminh ra quy trình cho phép chế tạo thép từ quặng sắt có hàm lượng photpho cao đãthúc đẩy sự phát triển công nghiệp ở những nước có nhiều quặng này Những đổi mớitrong thời kỳ này về điện làm lạnh, hóa hữu cơ, động cơ đốt trong được xem như là cơ

sở của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Tiếp đến giai đoạn 1913-1950, mặc dù được thừa hưởng nhiều đổi mới công nghệ

từ giai đoạn đó và có những đóng góp riêng Nhưng sang quá trình trong giai đoạnnày thì việc đổi mới bị chậm lại do những rối loạn về kinh tế - chính trị Xảy ra cuộcchiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai làm cho chủ nghĩa tự do hóa và toàn cầu hóa

Trang 6

bị sụp đổ Cho đến giữa năm 1950 thì nền kinh tế được bước vào một thời kỳ pháttriển chưa từng có với sự ra đời của những tiến bộ khoa học công nghệ Đã có mộtbước tiến dài trong công nghệ viễn thông, điện tử và công nghệ robot tác động đếnquá trình sản xuất với những thành công cực kỳ to lớn.

3 Thực trạng nền kinh tế nước ta ngày nay:

Thị trường Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền vớitiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước Cho đến nay, mặc dù thị trườngViệt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng nó đã đóng vai trò quan trọng trong việcđiều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế Trong quá trình pháttriển của mình, nền kinh tế nước ta gặp vô vàn khó khăn, chịu sự tàn phá khắc nghiệtcủa các cuộc chiến tranh, sự chủ quan của đội ngũ lãnh ngũ lãnh đạo các cấp trongquá trình khôi phục và phát triển kinh tế Vì vậy trong một thời gian dài nền kinh tếViệt Nam lâm vào sự phát triển trì trệ và lạc hậu Sớm nhận thức được thực trạng đó,

kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay chúng ta đã có những sự thay đổi mới trong việcnhận thức đúng đắn quá trình đổi mới đưa nền kinh tế phát triển trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Mặc dù gặpnhiều khó khăn, song nhờ vào sự nổ lực toàn diện của dân và Đảng, nền kinh tế nước

ta thoát khỏi trình trạng suy thoái, bước vào thời kỳ phát triển liên tục với trình độcao, đuổi kịp theo sự phát triển của các nước khác Và đó là lý do vì sao chúng ta cầnphải tiến hành công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước:

+Thứ nhất, nó có tác dụng quyết định trong việc phát triển lực lượng sản xuất,củng cố và hoàn thiện Biến nền sản xuất nhỏ, thủ công, lạc hậu thành nền sản xuấtlớn cơ khí hóa và hiện đại hóa, không ngừng nâng cao năng suất lao động, bảo đảmtái sản xuất mở rộng

+Thứ hai về chính trị, có tác dụng trong việc xây dựng và tăng cường cơ sở xãhội, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, củng cố khối liên minh côngnông, bình đẳng giữa các dân tộc

+Thứ ba về tư tưởng và văn hóa, thúc đẩy lực lượng sản xuất nâng cao ý thức laođộng, nâng cao trình độ văn hóa kỹ thuật Tạo điều kiện vật chất để thay đổi tư tưởng

và văn hóa cũ xây dựng nền văn hóa mới và con người mới

+Thứ tư về quốc phòng, không ngừng củng cố, tăng cường và hiện đại hóa nềnquốc phòng toàn dân

Trang 7

Với những tác dụng to lớn và quan trọng công nghiệp hóa là nhân tố quyết định sựthắng lợi của những nước kinh tế chậm phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội.V.I.Lênin cũng đã khẳng định không một ai có thể tranh cãi được vấn đề vai trò quyếtđịnh của nhân tố kinh tế “ phải chuẩn bị chiến tranh một cách lâu dài nghiêm túc bắtđầu từ việc phát triển nền kinh tế trong nước Tạo ra nhiều khả năng cho việc thựchiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ Qúa trìnhcông nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung côngnghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá trình phát triển Quá trình ấy, không chỉ đơnthuần phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từngngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và côngnghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự độnghoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống với côngnghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tínhquyết định Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất – kỹthuật tương ứng Cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu

tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ)tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đápứng nhu cầu xã hội.Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất – kỹ thuật củamột xã hội là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học– kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuấtthống trị.Nói cơ sở vật chất – kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ

sở vật chất – kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phươngthức sản xuất đó.Đặc trưng của cơ sở vật chất – kỹ thuật của các phương thức sản xuấttrước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc trưng của cơ

sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá.Chủnghĩa xã hội – giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản– đòi hỏi một cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơcấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.Dovậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớnhiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch Đối với các nước

có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội như nước ta, xây dựng cơ

sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu, từ không đến có, từgốc đến ngọn thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi bước tiến của quá trình

Trang 8

công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật chochủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.Như khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa là cuộccách mạng về lực lượng sản xuất làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất,thực tiễn và xã hội hóa về mặt kinh tế, kỹ thuật góp phần tăng năng suất, tăng trưởng

và phát triển kinh tế với tốc độ cao Tạo được sự ổn định và nâng cao đời sống củangười dân Có ý nghĩa cách mạng rất sâu sắc và toàn diện với sự nghiệp xây dựng xãhội

4 Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là xu hướng mang tính quy luật của các nước

đi từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn:

Nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã được thực hiện ở nước ta trongnhững năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quantrọng tạo thế và lực cho thời kỳ phát triển tiếp theo Bên cạnh những thành tựu đã đạtđượ c chúng ta không tránh khỏi những sai lầm Để giải quyết những nhiệm vụ mớiđặt ra cùng khắc phục những thiếu xót khiếm khuyết, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về kinh

tế đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cườngtiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia thìkhông có con đường nào khác con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đấtnước

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA.

1 Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa

xã hội:

Như chúng ta đã biết lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên, bao gồm con người, tư liệu sản xuất; nó thể hiện năng lực của con ngườitrong việc chinh phục giới tự nhiên, là nội dung của phương thức sản xuất, cơ sở củalịch sử

Trong lực lượng sản xuất, con người là yếu tố quan trọng nhất Nhưng con ngườikhông phải là cái nhất thành bất biến mà trong mỗi thời đại kinh tế, với tư cách là yếu

tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất nó cũng có sự thay đổi Chẳng hạn, trongthời kỳ công trường thủ công, trong các khía cạnh của con người tham gia vào lựclượng sản xuất thì khía cạnh sức lực cơ bắp có vẻ nổi trội; trong thời kỳ cơ khí máymóc thì khía cạnh năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm lao động lại nổi trội hơn; trong thời

Trang 9

đại kinh tế tri thức hiện nay (hàm lượng tri thức trong sản phẩm chiếm đến 70%) thìkhía cạnh tri thức lại nổi trội Như vậy, cái quan trọng có tính chất quyết định tronglực lượng sản xuất hiện nay không phải là sức lực cơ bắp, không phải là kỹ năng, kinhnghiệm sử dụng, vận hành máy móc, mà là tri thức, là đầu óc của con người Một yếu

tố nữa của lực lượng sản xuất là tư liệu sản xuất hay tư liệu lao động bao gồm công cụlao động và đối tượng lao động Trong lực lượng sản xuất, nếu con người là yếu tốquan trọng nhất thì công cụ lao động là yếu tố động nhất Trình độ phát triển của công

cụ lao động thể hiện trình độ hay thước đo việc chinh phục giới tự nhiên của conngười Sự thay đổi một cách căn bản công cụ lao động theo nghĩa nào đó đã góp phầnquyết định kéo theo sự thay đổi của các thời đại kinh tế Theo nghĩa đó, C.Mác nói:''Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơinước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp'' Trong lịch sử, trình độ của công cụlao động nhìn chung đã trải qua ba giai đoạn sau chủ yếu: thủ công, cơ khí, máy móc

và tự động hóa Cái cối xay hiện nay không phải quay bằng tay không phải chạy bằnghơi nước mà là tự động hóa

Ngay đối tượng lao động hiện nay cũng khác trước rất xa Nếu trong nền văn minhnông nghiệp, đối tượng lao động chủ yếu là ruộng đất; trong văn minh cơ khí, đốitượng lao động lại được mở rộng ra, ngoài ruộng đất đối tượng lao động chủ yếu củathời kỳ này là các nguyên vật liệu như than đá, chất đốt, dầu khí, các nguyên liệu hóathạch, các hầm mỏ, nói chung là các nguyên vật liệu cần cho các ngành công nghiệpnhư sắt, thép, sợi, dệt vải, ô tô, cơ khí chế tạo máy, , thì đối tượng lao động trongthời đại ngày nay ngoài những đối tượng trên, chủ yếu lại là thông tin

Trong tư liệu sản xuất còn bao gồm cả phương tiện sản xuất như đường xá, cầucống, xe cộ, bến cảng, kho chứa,

Hiện nay khoa học kỹ thuật cũng đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp theonghĩa nó là nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi trong sản xuất; nó ngày càngđược áp dụng rộng rãi trong sản xuất và trở thành một nhân tố không thể thiếu đượccủa quá trình sản xuất; nó thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và đem lại

sự thay đổi về chất của lực lượng sản xuất; nó làm cho quá trình sản xuất chính là quátrình ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật; nó có ý nghĩa sống còn đối với nhiều quátrình sản xuất Nếu con người là yếu tố quan trọng nhất xuyên suốt trong lịch sử củalực lượng sản xuất thì khoa học kỹ thuật, theo Đặng Tiểu Bình, hiện là lực lượng sảnxuất số một, còn theo Giang Trạch Dân, là biểu hiện tập trung, tiêu chí chủ yếu của

Trang 10

lực lượng sản xuất tiên tiến Hiện nay, tri thức, thông tin cũng là của cải Theo đà pháttriển của sản xuất, khối lượng và chất lượng của cải xã hội sẽ được quyết định bởi ứngdụng khoa học vào sản xuất Từ đó một số học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản đã

đi đến chỗ tuyệt đối hóa, thổi phồng, khuếch đại vai trò của khoa học kỹ thuật, chẳnghạn như học thuyết các nền văn minh, học thuyết xã hội hậu công nghiệp, xã hộithông tin, học thuyết kỹ trị, nhằm mục đích thay thế học thuyết học thuyết hình tháikinh tế xã hội của C.Mác

Nhưng như chúng ta đã biết dù có trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học

kỹ thuật cũng chỉ là một bộ phận của lực lượng sản xuất Trong lực lượng sản xuất,yếu tố quyết định vẫn là con người, mặc dù khoa học kỹ thuật nâng cao địa vị, vị thế,vai trò, sức mạnh của con người Những máy vi tính có thể tính nhanh và chính xácgấp triệu lần con người; những rô bốt người máy có thể làm được những việc mà conngười không thể làm nổi Nhưng những cái đó suy cho cùng đều do con người chế tạo

ra, nếu thiếu con người, thì tự bản thân chúng cũng không thể phát huy tác dụng, cũngkhông thể làm gì được Khoa học kỹ thuật muốn phát triển, tác động phải thông quacon người, chịu sự chi phối bởi con người

Lực lượng sản xuất tồn tại một cách khách quan, “người ta không được tự do lựachọn lực lượng sản xuất cho mình vì mọi lực lượng sản xuất là lực lượng đã đạtđược, tức là một sản phẩm của một hoạt động đã qua không phải do họ tạo ra, mà dothế hệ trước tạo ra Mỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do những thế

hệ trước xây dựng lên và được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sự sản xuấtmới, ''

Lực lượng sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, nó không chỉđược xã hội hóa như trước kia, mà nó ngày càng được toàn cầu hoá, quốc tế hoá Toàncầu hoá kinh tế trước hết là toàn cầu hoá lực lượng sản xuất, cái mà thời C.Mác gọi làquá trình tư bản hóa Ông viết :''Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm chocác phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cảnhững dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ của những sản phẩm củagiai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộcnhững người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục Nóbuộc các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư bản, nếu không sẽ bị tiêudiệt''

Trang 11

Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độkhoa học kỹ thuật, trình độ của người lao động (kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức, trình

độ tổ chức, quản lý, phân công, trình độ ứng đụng khoa học kỹ thuật)

Như vậy, phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay là phải phát triển khoahọc kỹ thuật, khoa học công nghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đối tượng laođộng, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao thông quacông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chấn hưng nền giáo dục nước nhà.Đảng ta chủ trương phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học côngnghệ ngày càng cao là hoàn toàn đúng đắn, là cái lõi quan trọng của sự phát triển lựclượng sản xuất hiện nay ở nước ta

Nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; vừa vận động theo những quy luật của kinh tếthị trường, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa

xã hội; trong đó, cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh

mẽ, có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế,khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Hiện nay, nhìn chung, trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta là khá đa dạng,không đồng đều, nhiều trình độ Điều này thể hiện ở chỗ:

- Công cụ lao động hiện nay ở nước ta cũng rất đa dạng Công cụ lao động thủcông chiếm phần lớn trong nông nghiệp, còn trong công nghiệp chiếm đến 60% laođộng giản đơn Nhưng bên cạnh đó ta cũng đã có công cụ lao động ở trình độ cơ khíhóa, hiện đại hóa, tự động hóa Những công cụ lao động này thậm chí đan xen nhautrong một cơ sở sản xuất, trong một nhà máy Nếu như phương Tây nhìn một cách đạithể đi từ lao động thủ công lên máy móc cơ khí, rồi lên tự động hóa, thì ở ta hiện nay

có tất cả Điều này nói lên tính chất nhiều trình độ của công cụ lao động nước ta hiệnnay

- Thích ứng với nhiều loại trình độ của công cụ lao động sản xuất như vậy, kinhnghiệm và kỹ năng lao động của con người Việt Nam hiện nay cũng rất khác nhau, cókinh nghiệm và kỹ năng của người lao động thủ công, giản đơn; có kinh nghiệm và kỹnăng của người lao động cơ khí, máy móc; có kinh nghiệm và kỹ năng của người lao

Trang 12

động đối với những máy móc hiện đại, tự động hóa Từ đó, trình độ tổ chức và phâncông lao động, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở Việt Nam hiện nay

ở những cơ sở sản xuất khác nhau cũng rất khác nhau

- Về khoa học kỹ thuật ở nước ta hiện nay, nhìn chung là thấp, chậm phát triển,nhưng cũng có những yếu tố hiện đại, đi trước, đón đầu Từ đó, ta thấy trình độ khoahọc kỹ thuật nước ta hiện nay cũng rất đa dạng

2 Những nội dung cụ thể của công nghiệp hóa - hiện đại hóa:

2.1 Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất:

- Thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội

- Áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào các ngành của nềnkinh tế quốc dân

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

2.2 Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển đổi từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệuquả và bất hợp lí, sang một cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả Xu hướng của

sự chuyển dịch này là đi từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp lên cơ cấu kinh tế công, nôngnghiệp và dịch vụ hiện đại Đi đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải chuyển dịch cơcấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức

3 Mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại:

3.1 Triển khai tích cực công tác ngoại giao kinh tế:

Năm 1972, để chuẩn bị cho việc tái thiết sau chiến tranh, Bộ Ngoại giao đã thànhlập Tổ Kinh tế, thuộc Văn phòng Bộ Ngày 27-2-1974, Hội đồng Chính phủ ban hànhQuyết định số 30/QĐ-CP về việc thành lập Vụ Kinh tế thuộc Bộ Ngoại giao Công tácngoại giao kinh tế chính thức trở thành nhiệm vụ của ngành Nội dung kinh tế tronghoạt động ngoại giao được gắn chặt với công tác chính trị

Trang 13

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động ngoại giao tập trung vào việctranh thủ viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, khắc phục hậu quả từ thế bao vâycấm vận của phương Tây đối với Việt Nam Bộ Ngoại giao tích cực đóng góp vàoviệc hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế,đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Năm 1985, ngoại giao phục vụ kinh tế đượcxác định là nhiệm vụ chính của ngành Bước vào thời kỳ đổi mới, Bộ Ngoại giao dànhnhiều quan tâm và nguồn lực hơn cho các hoạt động kinh tế nhằm tạo môi trườngthuận lợi cho các hoạt động thương mại, đầu tư Công tác ngoại giao kinh tế đã cónhững bước phát triển quan trọng, góp phần tích cực vào việc duy trì môi trường hòabình, ổn định, phá bỏ thế bao vây cấm vận; tháo gỡ, khai thông bế tắc giữa Việt Namvới các đối tác lớn, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF), triển khai chính sách hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động.

Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến năm 2006, công tác ngoại giao kinh

tế được triển khai với ba trọng tâm: Tiếp tục mở rộng quan hệ giữa Việt Nam với cácnước; thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc gia nhập Diễn đàn Hợp tácKinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO), tích cực tham gia các diễn đàn khu vực và cơ chế hợp tác của Liênhợp quốc; mở rộng hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong các hoạtđộng xúc tiến kinh tế đối ngoại, như thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), việntrợ phát triển chính thức (ODA); đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu lao động vàxúc tiến du lịch

Trong giai đoạn này, nhận thức về ngoại giao kinh tế được nâng cao Hoạt độngngoại giao kinh tế được triển khai một cách đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọngđiểm Ngoại giao kinh tế đã kết hợp hài hòa với ngoại giao chính trị và ngoại giao vănhóa Qua các chuyến thăm cấp cao, nhiều thỏa thuận hợp tác kinh tế lớn được triểnkhai; các hoạt động xúc tiến kinh tế đối ngoại được tổ chức thành công và đạt hiệuquả tích cực Nhiều cơ quan đại diện tích cực trong việc giới thiệu các cơ hội, đối tác,khai thác các thị trường tiềm năng, cũng như phối hợp, hỗ trợ các cơ quan, doanhnghiệp trong nước kịp thời xử lý các tranh chấp kinh tế quốc tế

Ngoại giao kinh tế thường xuyên tăng cường thông tin, nghiên cứu để tham mưucho Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành kinh tế vĩ mô, đưa ra các giải pháp để khắcphục các thách thức, khó khăn Ngoài ra, ngoại giao kinh tế chủ động hỗ trợ các yêu

Trang 14

cầu cụ thể của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tham gia xử lý các vụ kiệntranh chấp thương mại, ; hỗ trợ các địa phương trong việc mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại, như giới thiệu các tổ chức xúc tiến đến tìm hiểu các địa phương Việt Nam,

tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư của địa phương trong nước

Ngoại giao kinh tế còn chú trọng vận động kiều bào ở nước ngoài Tháng 7-2006,lần đầu tiên Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị các doanh nghiệp Việt kiều tại ĐàNẵng, thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp Việt kiều Nhiều cơ quan đại diện, nhất làtại Nga và Trung - Đông Âu, đã vận động các doanh nghiệp Việt kiều kết nối, đưahàng hóa của Việt Nam vào khu vực này Tuy nhiên, do đây là thời kỳ “chuyểnmình”, “tìm đường” nên hoạt động ngoại giao kinh tế không tránh khỏi những lúngtúng, bỡ ngỡ ban đầu Cách thức thực hiện, tổ chức bộ máy vẫn chưa theo kịp thựctiễn Nội hàm của ngoại giao kinh tế vẫn cần tiếp tục được điều chỉnh và hoàn thiện.Giai đoạn từ năm 2007 đến nay, vai trò của ngoại giao kinh tế đã được xác định rõhơn, đó là: Vai trò mở đường, phát huy sức mạnh của ngoại giao kinh tế cùng vớingoại giao chính trị, ngoại giao văn hóa để khai thông, mở rộng và đưa quan hệ hợptác của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, đi tiên phong trong việc khai mởcác thị trường, các lĩnh vực hợp tác quốc tế mới Vai trò tham mưu cho Đảng, Nhànước, các bộ, ngành, địa phương trong việc hoạch định chính sách vĩ mô, chiến lượcphát triển, các vấn đề kinh tế - chính trị quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế Vai trò hỗtrợ cùng các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế đối ngoạitrên tinh thần các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp là chủ đạo, ngoại giao kinh tế

hỗ trợ, giải quyết những vấn đề vướng mắc trong triển khai các kế hoạch, dự án hợptác với nước ngoài Vai trò đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ,các cam kết quốc tế về kinh tế đối ngoại

Đến nay, công tác ngoại giao kinh tế được triển khai trên nhiều lĩnh vực và đạtđược những kết quả quan trọng:

Một là, chủ động đề xuất, gia tăng nội hàm kinh tế trong các chuyến thăm củalãnh đạo cấp cao, nâng cao hiệu quả cơ chế điều hành và phối hợp của ngoại giao kinh

tế Những chuyến thăm này khác trước ở chỗ, vừa tăng cường quan hệ chính trị, vừatăng cường quan hệ kinh tế Năm 2018, ngoại giao kinh tế đã đi đầu thúc đẩy hìnhthành có trọng tâm các kênh hợp tác mới, khả thi, dài hạn, nhất là với các đối tác

Trang 15

chiến lược, đối tác toàn diện, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ kinh

tế song phương Về bình diện đa phương, Bộ Ngoại giao cùng các bộ, ngành đã vậnđộng các nước, thúc đẩy các đàm phán, ký kết và phê chuẩn các hiệp định thương mại

tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới, bảo đảm lợi ích then chốt, vị thế đối ngoại

và quan hệ của Việt Nam với các đối tác quan trọng Góp phần hiệu quả vào việc vậnđộng các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường Đến nay đã có 71 nướccông nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường(1)

Hai là, thúc đẩy, tạo bước đột phá trong quan hệ của Việt Nam với các nước, tạomôi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế Năm 2018 ghi nhận nỗ lực thúcđẩy những lợi ích kinh tế thiết thực, nâng cao hình ảnh và vị thế đối ngoại của ViệtNam tại các diễn đàn đa phương, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),APEC, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), các cơ chế hợp tác tiểu vùng như Tiểuvùng sông Mê Công mở rộng (GMS), Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tếAyeyarwady - Chao Phraya  - Mê Công (AMECS), Đặc biệt, Hội nghị Diễn đànKinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) được tổ chức tại Việt Nam năm 2018 đãtạo được nhiều dấu ấn sâu đậm WEF ASEAN 2018 đem lại nhiều ý tưởng hữu íchcho Việt Nam trong xây dựng, triển khai các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội cũng như trong công tác chuẩn bị cho việc đảm nhận cương vị Chủ tịchASEAN 2020

Ba là, với thế mạnh đặc thù quản lý mạng lưới cơ quan đại diện ở nước ngoài vàđược tiếp xúc các cơ chế tham vấn chính sách quốc tế, ngoại giao kinh tế kịp thời thựchiện các báo cáo đánh giá, dự báo về tình hình kinh tế thế giới, cung cấp kinh nghiệmquốc tế về xử lý các vấn đề kinh tế, tham mưu cho Chính phủ trong điều hành kinh tế

vĩ mô, ứng phó với khủng hoảng

Đối với doanh nghiệp, các cơ quan đại diện và các đơn vị của Bộ Ngoại giao đãtích cực hỗ trợ việc tìm hiểu tập quán kinh doanh, tìm kiếm cơ hội đầu tư, thâm nhậpthị trường nước ngoài, bảo hộ lợi ích và hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trongtranh chấp thương mại Phát huy vai trò cầu nối, các cơ quan đại diện cung cấp thôngtin về môi trường đầu tư, kinh doanh, giải đáp các thắc mắc về quy định kinh doanhcủa Việt Nam, hỗ trợ nhiều tập đoàn nước ngoài mở rộng, tăng cường đầu tư, kinhdoanh tại Việt Nam Bộ Ngoại giao cũng đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển

Trang 16

khai các hoạt động xúc tiến kinh tế đối ngoại mang tính đột phá vào một số thị trườngtrọng điểm.

Bốn là, đổi mới vai trò của ngoại giao kinh tế trong việc góp phần kiến tạo nhữngđiều kiện cần cho chuyển tiếp kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới BộNgoại giao đã đa dạng hóa, đa phương hóa các kênh, nguồn thông tin, tranh thủ tối đahợp tác của các đối tác nước ngoài Đa dạng hóa các sản phẩm thông tin kinh tế, nhưngoại giao kinh tế trực tuyến, bản tin nhanh nhằm cung cấp thông tin cập nhật và kịpthời về tình hình và chính sách kinh tế của các nước lớn, của khu vực, các bài nghiêncứu về các vấn đề “nóng”, các vấn đề mới nổi

Các hoạt động hỗ trợ địa phương được coi trọng và triển khai dưới nhiều hìnhthức như hỗ trợ tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư tại chỗ, hỗ trợ kết nối hợp tác giữacác địa phương Việt Nam với các địa phương nước ngoài, tổ chức các đoàn xúc tiếncủa địa phương ở nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm Trong năm 2018, nhân dịpHội nghị Ngoại giao lần thứ 30, Bộ Ngoại giao lần đầu tiên tổ chức tọa đàm giữa các

cơ quan đại diện của Việt Nam ở hơn 90 quốc gia với gần 400 doanh nghiệp để traođổi về nhu cầu cần hỗ trợ của doanh nghiệp và cùng thảo luận về cơ chế hỗ trợ trongnhững năm tiếp theo

Năm là, ngoại giao kinh tế góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việchuy động cộng đồng và doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp trí tuệ,vốn, tài sản và tiềm năng khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của đất nướcđược quan tâm thỏa đáng Bộ Ngoại giao đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động thiếtthực, tranh thủ nguồn lực tri thức và tài chính của kiều bào đóng góp cho phát triểnđất nước, phát huy vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp người Việt Nam ở nướcngoài để mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ Việt Nam tại địa bàn

3.2 Tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao kinh tế:

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có những chuyển động nhanhchóng và khó lường, đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tếsâu rộng, công tác ngoại giao kinh tế cần khắc phục kịp thời một số tồn tại, đó là:Tuy nhận thức về công tác ngoại giao kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực trong thờigian qua, nhưng có lúc, có nơi và ở một số bộ, ngành vẫn có cách hiểu chưa đúng về

Trang 17

ngoại giao kinh tế, chưa tích cực và chủ động trong hợp tác với Bộ Ngoại giao và các

cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài Sự phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và các

bộ, ngành nhiều khi chưa đạt hiệu quả mong muốn Sự phối hợp giữa cơ quan đại diện

và thương vụ tại nhiều địa bàn chưa đạt được kết quả thiết thực

Hiệu quả gắn kết giữa chính trị và kinh tế còn chưa cao Thời gian qua, Bộ Ngoại giao

đã chủ động và tích cực gắn kết hai nội dung trên với nhau, nhất là trong các chuyếnthăm cấp cao Tuy nhiên, một số bộ, ngành vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc tậndụng thế mạnh chính trị để đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, mới chỉ dừng lại trongphạm vi chuyên ngành hẹp Sự phối hợp giữa các cơ quan đại diện với các doanhnghiệp chưa chặt chẽ và thường xuyên, một số hoạt động còn mang tính hình thức

Cơ chế triển khai công tác ngoại giao kinh tế còn chưa hoàn thiện Cơ chế phối hợpcác hoạt động ngoại giao kinh tế chủ yếu được áp dụng trong khuôn khổ các đơn vịthuộc Bộ Ngoại giao Các bộ, ngành, địa phương mới chỉ triển khai các hoạt độngngoại giao kinh tế trong lĩnh vực phụ trách, mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc phốihợp với các cơ quan, doanh nghiệp liên quan

Đội ngũ nhân lực còn thiếu về số lượng Kỹ năng làm công tác ngoại giao kinh tế củacán bộ ngoại giao nói chung, nhất là về ngoại ngữ, kiến thức về luật kinh tế quốc tế,

kỹ năng thương lượng, đàm phán chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu chung Kinhphí cho công tác ngoại giao kinh tế còn hạn hẹp

Để góp phần thực hiện tốt chủ trương “triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đốingoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” mà Đại hội lần thứ XII của Đảng đề ra,trong những năm tới, công tác ngoại giao kinh tế cần được đẩy mạnh toàn diện và tậptrung vào những phương hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất, nắm vững chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước trong giaiđoạn hiện nay, đặc biệt chú trọng yêu cầu đối ngoại đa phương trong lĩnh vực kinh tếđược xác định là trọng tâm ưu tiên để gia tăng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bám sát Chỉ thị số 25-CT/TW,ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đếnnăm 2030 để đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia thực chất vào các diễn đànkinh tế khu vực, các diễn đàn quản trị kinh tế toàn cầu, chuẩn bị tiền đề tốt cho NămChủ tịch ASEAN 2020

Trang 18

Thứ hai, cần thống nhất nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế.

Từ đó thiết kế, xây dựng các đề án, kế hoạch tổng thể và chi tiết với tầm nhìn phù hợp

về lĩnh vực, địa bàn, đối tác trong trung và dài hạn Cách thức triển khai công tácngoại giao kinh tế cần được thực hiện theo hướng ngày càng bài bản, đa dạng và thiếtthực hơn; các yếu tố kinh tế, thương mại và chính trị cần được gắn kết chặt chẽ, vậndụng linh hoạt, phù hợp với “thế” và “lực” mới của nước ta Công tác phối hợp, traođổi thông tin giữa trong nước và ngoài nước cũng như giữa các bộ, ngành, địa phươngcần được đẩy mạnh Hoạt động hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp tiếp tục theo hướng

cụ thể, thiết thực, bám sát nhu cầu của địa phương và doanh nghiệp để có biện pháp

hỗ trợ quyết liệt nhằm đem lại những kết quả cụ thể

Thứ ba, tiếp tục gắn kết nhuần nhuyễn ba trụ cột ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh

tế và ngoại giao văn hóa Trong bối cảnh vị thế và hình ảnh của Việt Nam đã và đangngày càng được nâng cao, chúng ta cần xây dựng “một chiến lược ngoại giao cấp cao”

để “gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế và chính trị” làm cơ sở “đàm phán” với các nước.Đây thực sự là một thách thức không nhỏ đối với ngoại giao kinh tế, đòi hỏi các bộ,ngành, doanh nghiệp, địa phương phải thống nhất về mặt nhận thức cũng như nhấtquán về mặt triển khai, thực hiện để có thể phối hợp chặt chẽ

Thứ tư, tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ quan đại diện, đặc biệt là tronglĩnh vực kinh tế đối ngoại, tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường, phục vụ và hỗ trợ cácdoanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp làm ăn với nước ngoài Những kết quả vềngoại giao kinh tế cần được coi là một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu trongviệc đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện

Thứ năm, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Ngoại giao với các bộ, ngành, trong đó chútrọng tăng cường hợp tác giữa các đơn vị đầu mối của các bên Thiết lập cơ chế cungcấp thông tin hai chiều, cơ chế phối hợp, tiến hành các hoạt động xúc tiến kinh tế đốingoại, hỗ trợ các doanh nghiệp và địa phương

Thứ sáu, xây dựng bộ máy phù hợp để chỉ đạo thống nhất và hiệu quả công tác ngoạigiao kinh tế Kiện toàn cơ cấu tổ chức công tác ngoại giao kinh tế tại cơ quan đạidiện Tổ chức bộ máy theo hướng thiết thực, hiệu quả, dựa trên kết quả công việc hơn

là trên tiêu chí chế độ, chính sách

Trang 19

Thứ bảy, tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, thương mại, nâng caohình ảnh quốc gia với nhiều hình thức đa dạng Đẩy mạnh công tác tìm kiếm các dự

án, lĩnh vực, phương thức hợp tác mới nhằm tăng cường đan xen lợi ích với các đốitác chiến lược, đối tác toàn diện; tận dụng lợi thế của các FTA (CPTPP, EVFTA ) đểcủng cố các thị trường truyền thống và tiếp tục mở rộng thị trường

Thứ tám, hỗ trợ xây dựng mạng lưới kiều bào vững mạnh, góp phần tăng cường quan

hệ song phương, hình thành nguồn lực vận động với chính quyền sở tại Tận dụng trílực và tài lực, tạo thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào

sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

CHƯƠNG 4: TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN, KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐI TRƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA.

1 Vai trò của nguồn lực con người trong việc phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưngkhông có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Vậy nguồn nhân lực là gì?

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể

Trang 20

lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

Theo tổ chức lao động quốc tế thì.Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quátrình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân

số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ;

về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồnlao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc

độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại vàtương lai của đất nước.Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '''' tài nguyên đặc biệt '''', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong

hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con

Trang 21

vững.Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực Theo quan niệm của Liênhiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực.Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là giatăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũngnhư kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lựcthông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế-

xã hội.Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia: chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia.Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.Giữa chất lượng NNL và NNL CLC

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL CLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về NNL CLC không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước.Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác;

có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc.Như vậy, NNL CLC cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao

Ngày đăng: 09/08/2021, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w