1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁCLÊNIN LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

23 91 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 251,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  TIỂU LUẬN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁCLÊNIN ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Giáo viên hướng dẫn: Bùi Xuân Dũng Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 05 năm 2021 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Điểm: ………………………… KÝ TÊN   MỤC LỤC MỞ ĐẦU 5 1. Lí do chọn đề tài: 5 2. Mục tiêu nghiên cứu: 5 Nội dung 6 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ. LIÊN HỆ THỰC TIỄN. 6 1.1. KHÁI NIỆM HÀNG HOÁ 6 1.2. THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ 6 1.3. LƯỢNG GIÁ TRỊ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HOÁ: 10 1.4. SẢN XUẤT HÀNG HOÁ: 11 CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG TRONG TÍNH 2 MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM. 16 1. Thực trạng nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam: 16 2. Đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa ở nước ta 17 3. Phương hướng phát triển sản xuất hàng háo ở nước ta: 19 KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, sản xuất xã hội mang tính tự cung tự cấp, nhu cầu của con người bị gói gọn trong một giới hạn nhất định do sự hạn chế của lực lượng sản xuất. Chỉ đến khi lực lượng sản xuất phát triển và có những thành tựu nhất định, nhu cầu của con người mới dần được đáp ứng nhiều hơn. Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng chính là nhân tố dẫn đến đến sự thay đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa và đỉnh cao là nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về hàng hóa của con người được đáp ứng, thỏa mãn tối đa với số lượng hàng hóa khổng lồ. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường vẫn tồn tại các hạn chế nhất định, đặc biệt là trong chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN). TBCN xem lợi nhuận là yếu tố quan trọng hàng đầu dẫn đến quyền bình đẳng trong xã hội bị xem nhẹ và sự phân hóa xã hội sâu sắc. Điều này đã được MácĂngghen nhận biết trong quá trình nghiên cứu về hình thái kinh tế xã hội: TBCN chắc chắn sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội hoàn thiện hơn, nơi mà con người có quyền tự do, bình đẳng, văn minh, xã hội công bằng, nền kinh tế phát triển bền vững Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam, Đảng ta đã xác định đưa đất nước đi lên theo con đường CNXH. Đại hội Đảng lần thứ VI được xem là bước trong sự nghiệp quá độ lên CNXH của nước ta. Theo đó, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà nước là chủ chương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cho đến ngày hôm nay, sau hơn 10 năm thực thực hiện đổi mới, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại các mặt hạn chế nhất định. Chính vì vậy, em đã lựa chọn chủ đề “ Lý luận của kinh tế chính trị học MácLênin về hàng hoá và tính hai mặt của sản xuất hàng hoá” làm đề tài cho bài tiểu luận kinh tế chính trị MácLênin của mình.” 2. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu cao nhất của kinh tế chính trị MácLênin là nhằm phát hiện ra các quy luật chi phối liên quan giữa người và người trong sản xuất và trao đổi. Từ đó giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy, tạo động lực để không ngừng sáng tạo góp phần thúc đẩy văn minh và sự phát triển của xã hội thông qua việc giải quyết các quan hệ lợi ích. Vì những vấn đề ở trên, nhóm em đã chọn đề tài làm tiểu luận là: “ Lý luận của kinh tế chính trị học MácLênin về hàng hoá và tính hai mặt của sản xuất hàng hoá” để có thể tìm hiểu thêm về các tri thức cơ bản về thị trường và cơ chế thị trường. Đây là sự bổ sung làm rõ lý luận của C.Mác trong bối cảnh ngày nay. Trên cơ sở hệ thống lý luận này, có thể hiểu biết tri thức lý luận nền tảng cho nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.   NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ. LIÊN HỆ THỰC TIỄN. 1.1. KHÁI NIỆM HÀNG HOÁ Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn mong muốn, nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay mua bán. Karl Marx định nghĩa hàng hoá trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thoả mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng Hoá cần phải có: • Tính hữu dụng đối với người dùng • Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động. • Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm. 1.2. THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ”, cò từng hàng hóa một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của cải ấy. Vì vậy,công cuộc nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích hàng hóa. Hàng hóa trước hết là một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thỏa mãn được một số nhu cầu nào đó của con người. Dù cho những nhu cầu đó da dạ dày hay do trí tưởng tượng đẻ ra, thì bản chất của chúng vẫn không làm cho vấn đề thay đổi gì cả. Vấn đề cũng kohong phải là ở chỗ vật đó thỏa mãn nhu cầu của con người thế nào: hoặc giả một cách trực tiếp, với tư cách là tư liệu sinh hoatm tức là với tư cách là vật phẩm tiêu dùng, hoặc một cách gián tiếp, với tư cách là tư liệu sản xuất. Mỗi một vật có ích như sắt, giấy, v.v., đều có thể xét về hai mặt : mặt chất và mặt lượng, mỗi một vật như thế là một tổng thể của nhiều thuộc tính và ì vật mà có thể có ích về nhiều mặt khác nhau. Tìm ra các mặt khác nhau đó, và do đó, tìm ra các công dụng nhiều mặt của các vật, là công việc của lịch sử. Cũng phải nói như vậy đối với việc tì ra các thước đo xã hội để đo lường lượng của các vật có ích. Các thước đo hàng hóa sở dĩ khác nhau một phần là do bản chất khác nhau của chính ngay những vật cần đo lường, một phần là do chúng mang tính chất quy ước. Tính có ích của một vật làm cho vật đó trở thành một giá trị sử dụg. Nhưng tích có ích đó không phải lơ lửng trên không. TÍnh có ích đo do thuộc tính của vật thể hàng hóa quyết định, nó không tồn tại được ở bên ngoài vật thể hàng hóa này. Vì thế, bản thân vật thể hàng hóa đó, như sắt, lúa mì, kim counw, v.v., là một giá trị sử dụng, hay của cải. Tính chất ấy cảu nó không phụ thuộc vào việc người ta phải mất nhiều hay ít lao động để chiếm láy những thuộc tính có ích ấy. Khi xét đến các giá trị sử dụng, bao giờ người ta cũng giải định một số lượng nhất định của các giá trị đó, như một tá đồng hồ, một vuông vải, một tấn sắt, v.v.. Giá trị sử dụng của các hàng háo là đối tượng của các môn học đặc biệt là môn thương phẩm học. Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hya tiêu dùng. Giá trị sử dụng cấu thành nội dung vật chất của của cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó là như thế nào. Trong hình thái xã hội mà chúng ta đang nghiên cứu, giá trị sử dụng đồng thời cũng là những vật mang giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng khác, quan hệ này luôn luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm. Vì vậy, giá tị trao đổi hình như là một cái gì ngẫu nhiên và thuần túy đương đối, còmn giá trị trao đổi nội tại, vốn có của bản thân hàng hóa thì hình như là một thứ không một cái gì có thể có giá trị trao đổi nội tại. Chúng ta hãy xét kỹ vấn đề này hơn nữa Một hoàng hóa tỉnh nào đó ví dụ một chiếc quắctơ lúa mì được trao đổi với x xi giày hay với y lụa hay với z vàng v.v.,nói tóm lại là với nhiều hàng hóa khác theo những tỉlệ hết sức khác nhau do đó lúa mì không phải chỉ có một giá trị trao đổi duy nhất mà còn có nhiều giá trị trao đổi nhưng vì x xi đánh giày cũng như y lụa và z vàng đều là những giá trị trao đổi của quắctơ lúa mì cho nên x đánh giày vàylụa z vàng phải là những giá trị trao đổi có thể thay thế lẫn nhau hay có tải lượng bằng nhau. Từ đó, có thể kết luận rằng, một là, các giá trị trao đổi khác nhau của cùng một thứ hàng hóa đều biểu thị một cái gì đó giống nhau, và hai là, giá trị trao đổi hàng hóa nói chung chỉ có thể là một phương thức biểu thị, chỉ là một hình thái thể hiện của một nội dung nào đó khác với nó mà thôi. Ta hãy lấy hai hàng hóa nữa, như lúa mì và sắt chẳng hạn dù tỉ lệ trao đổi giữa hai thứ đó như thế nào chăng nữa, thì tỉ lệ ấy bao giờ cũng có thể biểu thị được bằng một phương trình, trong đó số lượng lúa mì nhất định được coi là bằng một số lượng sách nào đó ví dụ một quắctơ lúa mì bằng a tạ sắt phương trình ấy nói lên cái gì? Nói lên rằng trong hai vật khác nhau tức là trong một quắctơ lúa mì và a tạ sắt có một cái gì đó của cùng một đại lượng. Vậy cả hai vật đó bằng một bậc thứ ba nào đó và thứ ba này bản thân lại không phải là thứ nhất mà cũng không phải là thứ hai. Như vậy mỗi vật trong hai vật ấy với tư cách là giá trị trao đổi, có thể quy thành và thứ ba đó. Cái chung ấy không thể là những thuộc tính hình học, vật lí, hóa học hay những thuộc tính tự nhiên nào khác của hàng hóa. Các thuộc tính vật theer của hàng hóa nói chung cũng chỉ được xét đến trong chừng mực làm cho các hàng hóa đó trở nên có ích , tức là trong chừng mực làm cho các hàng hóa đó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

Giáo viên hướng dẫn: Bùi Xuân Dũng

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 05 năm 2021

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

Điểm: ………

KÝ TÊN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài: 5

2 Mục tiêu nghiên cứu: 5

Nội dung 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ LIÊN HỆ THỰC TIỄN 6

1.1 KHÁI NIỆM HÀNG HOÁ 6

1.2 THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ 6

1.3 LƯỢNG GIÁ TRỊ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HOÁ: 10

1.4 SẢN XUẤT HÀNG HOÁ: 11

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG TRONG TÍNH 2 MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM 16

1 Thực trạng nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam: 16

2 Đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa ở nước ta 17

3 Phương hướng phát triển sản xuất hàng háo ở nước ta: 19

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 5

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài:

Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, sản xuất xã hội mang tính tựcung tự cấp, nhu cầu của con người bị gói gọn trong một giới hạn nhất định do

sự hạn chế của lực lượng sản xuất Chỉ đến khi lực lượng sản xuất phát triển và

có những thành tựu nhất định, nhu cầu của con người mới dần được đáp ứngnhiều hơn Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng chính là nhân tố dẫn đếnđến sự thay đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa vàđỉnh cao là nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về hàng hóa của con người đượcđáp ứng, thỏa mãn tối đa với số lượng hàng hóa khổng lồ Tuy nhiên, nền kinh

tế thị trường vẫn tồn tại các hạn chế nhất định, đặc biệt là trong chế độ xã hội

tư bản chủ nghĩa (TBCN) TBCN xem lợi nhuận là yếu tố quan trọng hàng đầudẫn đến quyền bình đẳng trong xã hội bị xem nhẹ và sự phân hóa xã hội sâusắc Điều này đã được Mác-Ăngghen nhận biết trong quá trình nghiên cứu vềhình thái kinh tế xã hội: TBCN chắc chắn sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hộihoàn thiện hơn, nơi mà con người có quyền tự do, bình đẳng, văn minh, xã hộicông bằng, nền kinh tế phát triển bền vững - Chủ nghĩa xã hội (CNXH)

Từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam, Đảng ta đã xácđịnh đưa đất nước đi lên theo con đường CNXH Đại hội Đảng lần thứ VI đượcxem là bước trong sự nghiệp quá độ lên CNXH của nước ta Theo đó, xây dựngnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN dưới sự quản lýcủa nhà nước là chủ chương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lênCNXH

Cho đến ngày hôm nay, sau hơn 10 năm thực thực hiện đổi mới, ViệtNam đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn

tồn tại các mặt hạn chế nhất định Chính vì vậy, em đã lựa chọn chủ đề “ Lý luận của kinh tế chính trị học Mác-Lênin về hàng hoá và tính hai mặt của sản xuất hàng hoá” làm đề tài cho bài tiểu luận kinh tế chính trị Mác-Lênin

của mình.”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu cao nhất của kinh tế chính trị Mác-Lênin là nhằmphát hiện ra các quy luật chi phối liên quan giữa người và người trong sản xuất

và trao đổi Từ đó giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy,

Trang 6

tạo động lực để không ngừng sáng tạo góp phần thúc đẩy văn minh và sự pháttriển của xã hội thông qua việc giải quyết các quan hệ lợi ích Vì những vấn đề

ở trên, nhóm em đã chọn đề tài làm tiểu luận là: “ Lý luận của kinh tế chính trị học Mác-Lênin về hàng hoá và tính hai mặt của sản xuất hàng hoá” để

có thể tìm hiểu thêm về các tri thức cơ bản về thị trường và cơ chế thị trường.Đây là sự bổ sung làm rõ lý luận của C.Mác trong bối cảnh ngày nay Trên cơ

sở hệ thống lý luận này, có thể hiểu biết tri thức lý luận nền tảng cho nghiêncứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC –

LÊNIN VỀ HÀNG HOÁ VÀ TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ LIÊN HỆ THỰC TIỄN.

1.1 KHÁI NIỆM HÀNG HOÁ

Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuấthàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đốitượng mua bán trên thị trường Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãnmong muốn, nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay mua bán.Karl Marx định nghĩa hàng hoá trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năngthoả mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Để đồ vật trở thànhhàng Hoá cần phải có:

 Tính hữu dụng đối với người dùng

 Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động

 Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm

1.2 THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ

Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phốithì của cải biểu hiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ”, cò từng hàng hóamột thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của cải ấy Vì vậy,công cuộc nghiêncứu của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích hàng hóa

Hàng hóa trước hết là một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có nhữngthuộc tính của nó mà thỏa mãn được một số nhu cầu nào đó của con người Dùcho những nhu cầu đó da dạ dày hay do trí tưởng tượng đẻ ra, thì bản chất củachúng vẫn không làm cho vấn đề thay đổi gì cả Vấn đề cũng kohong phải là ởchỗ vật đó thỏa mãn nhu cầu của con người thế nào: hoặc giả một cách trựctiếp, với tư cách là tư liệu sinh hoatm tức là với tư cách là vật phẩm tiêu dùng,hoặc một cách gián tiếp, với tư cách là tư liệu sản xuất

Mỗi một vật có ích như sắt, giấy, v.v., đều có thể xét về hai mặt : mặtchất và mặt lượng, mỗi một vật như thế là một tổng thể của nhiều thuộc tính

và ì vật mà có thể có ích về nhiều mặt khác nhau Tìm ra các mặt khác nhau

đó, và do đó, tìm ra các công dụng nhiều mặt của các vật, là công việc của lịch

sử Cũng phải nói như vậy đối với việc tì ra các thước đo xã hội để đo lườnglượng của các vật có ích Các thước đo hàng hóa sở dĩ khác nhau một phần là

do bản chất khác nhau của chính ngay những vật cần đo lường, một phần là dochúng mang tính chất quy ước

Tính có ích của một vật làm cho vật đó trở thành một giá trị sử dụg.Nhưng tích có ích đó không phải lơ lửng trên không TÍnh có ích đo do thuộc

Trang 8

tính của vật thể hàng hóa quyết định, nó không tồn tại được ở bên ngoài vậtthể hàng hóa này Vì thế, bản thân vật thể hàng hóa đó, như sắt, lúa mì, kimcounw, v.v., là một giá trị sử dụng, hay của cải Tính chất ấy cảu nó khôngphụ thuộc vào việc người ta phải mất nhiều hay ít lao động để chiếm láynhững thuộc tính có ích ấy Khi xét đến các giá trị sử dụng, bao giờ người tacũng giải định một số lượng nhất định của các giá trị đó, như một tá đồng hồ,một vuông vải, một tấn sắt, v.v Giá trị sử dụng của các hàng háo là đối tượngcủa các môn học đặc biệt là môn thương phẩm học Giá trị sử dụng chỉ đượcthực hiện trong việc sử dụng hya tiêu dùng Giá trị sử dụng cấu thành nội dungvật chất của của cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó là như thế nào.Trong hình thái xã hội mà chúng ta đang nghiên cứu, giá trị sử dụng đồng thờicũng là những vật mang giá trị trao đổi.

Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng,

là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giátrị sử dụng khác, quan hệ này luôn luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm Vìvậy, giá tị trao đổi hình như là một cái gì ngẫu nhiên và thuần túy đương đối,còmn giá trị trao đổi nội tại, vốn có của bản thân hàng hóa thì hình như là mộtthứ không một cái gì có thể có giá trị trao đổi nội tại Chúng ta hãy xét kỹ vấn

đề này hơn nữa

Một hoàng hóa tỉnh nào đó ví dụ một chiếc quắc-tơ lúa mì được traođổi với x xi giày hay với y lụa hay với z vàng v.v.,nói tóm lại là với nhiềuhàng hóa khác theo những tỉlệ hết sức khác nhau do đó lúa mì không phải chỉ

có một giá trị trao đổi duy nhất mà còn có nhiều giá trị trao đổi nhưng vì x xiđánh giày cũng như y lụa và z vàng đều là những giá trị trao đổi của quắc-tơlúa mì cho nên x đánh giày vàylụa z vàng phải là những giá trị trao đổi có thểthay thế lẫn nhau hay có tải lượng bằng nhau Từ đó, có thể kết luận rằng, một

là, các giá trị trao đổi khác nhau của cùng một thứ hàng hóa đều biểu thị mộtcái gì đó giống nhau, và hai là, giá trị trao đổi hàng hóa nói chung chỉ có thể làmột phương thức biểu thị, chỉ là một hình thái thể hiện của một nội dung nào

đó khác với nó mà thôi

Ta hãy lấy hai hàng hóa nữa, như lúa mì và sắt chẳng hạn dù tỉ lệtrao đổi giữa hai thứ đó như thế nào chăng nữa, thì tỉ lệ ấy bao giờ cũng có thểbiểu thị được bằng một phương trình, trong đó số lượng lúa mì nhất định đượccoi là bằng một số lượng sách nào đó ví dụ một quắc-tơ lúa mì bằng a tạ sắtphương trình ấy nói lên cái gì? Nói lên rằng trong hai vật khác nhau tức làtrong một quắc-tơ lúa mì và a tạ sắt - có một cái gì đó của cùng một đại lượng.Vậy cả hai vật đó bằng một bậc thứ ba nào đó và thứ ba này bản thân lạikhông phải là thứ nhất mà cũng không phải là thứ hai Như vậy mỗi vật tronghai vật ấy với tư cách là giá trị trao đổi, có thể quy thành và thứ ba đó

Cái chung ấy không thể là những thuộc tính hình học, vật lí, hóahọc hay những thuộc tính tự nhiên nào khác của hàng hóa Các thuộc tính vậttheer của hàng hóa nói chung cũng chỉ được xét đến trong chừng mực làm chocác hàng hóa đó trở nên có ích , tức là trong chừng mực làm cho các hàng hóa

đó biến thành những giá trị sử dụng Nhưng mặt khác, rõ ràng nét đặc trưng

Trang 9

của quan hệ trao đổi hàng hóa chính lại là việc phải tạm gạt giá trị sử dụng củahàng hóa qua một bên Trong giới hạn của quan hệ trao đổi hàng hóa, một giátrị sử dụng này trị giá đúng một giá trị sử dụng khác, miễn là theo một tỷ lệthích đáng Hay nói như ông già Bác-bôn:

“Một loại hàng hóa này cũng tốt như một loại hàng hóa khác nếunhư giá trị trao đổi của chúng ngang nhau Giữa những vật mà giá trị trao đổingang nhau thì không có một sự khác nhau, một sự phân biệt nào cả”

Là những giá trị sử dụng, các hàng hóa khác nhau trước hết vè vậtchất; là những giá trị trao đổi, các hàng hóa chỉ có thể khác nhau về lượng màthôi, do đó chúng không chứa đựng một nguyên tử giá trị sử dụng nào cả

Nếu gạt giá trị sử dụng của vật thể hàng hóa ra một bên, thì vâththể hàng hóa chỉ còn có một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩmcủa lao động Nhưng bây giờ, nagy bản thân sản phẩm của lao động cũng mangmột dạng hoàn toàn mới Qua đó nhận thấy rằng hàng hoá có hai thuộc tính cơbản là giá trị sử dụng và giá trị Giữa hai thuộc tính này có mối quan hệ ràngbuộc lẫn nhau, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá

 Giá trị hàng hoá:

Giá trị sử dụng của hàng hóa là gì? Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm

có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người

 Nhu cầu trực tiếp như: ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại…

 Nhu cầu gián tiếp như: các tư liệu sản xuất…

Bất cứ hàng hoá nào cũng có một hay một số công dụng nhất định.Chính công dụng (tính có ích) đó làm cho nó có giá trị sử dụng

Ví dụ: Gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, máy móc để sản xuất,phương tiện để đi lại…

Giá trị sử dụng của mỗi hàng hoá là do những thuộc tính tự nhiên(vật lý, hoá học…) của vật thể hàng hoá đó quyết định nên giá trị sử dụng làphạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sảnxuất Tuy nhiên, việc phát hiện ra và vận dụng từng thuộc tính tự nhiên có ích

đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội

C.Mác viết: “giá trị sử dụng cấu thành cái nội dung vật chất củacủa cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó như thế nào”

Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá,

nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà làgiá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi – mua bán

Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị traođổi, giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng nó, khichưa tiêu dùng thì giá trị sử dụng chỉ ở trạng thái khả năng Để giá trị sử dụng

có khả năng biến thành giá trị sử dụng hiện thực thì nó phải được tiêu dùng

Trang 10

Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối vớisản xuất Đòi hỏi người sản xuất hàng hóa luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của

xã hội, làm cho sản phẩm đáp ứng được nhu cầu xã hội Sự phát triển của nềnkinh tế thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, đặc biệt là sau khi ViệtNam gia nhập WTO, các doanh nghiệp trong nước ngày càng cạnh tranh quyếtliệt

 Giá trị hàng hoá:

Trong nền sản xuất hàng hoá, giá trị sử dụng đồng thời cũng

là vật mang giá trị trao đổi

Muốn hiểu giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi Giátrị trao đổi là quan hệ về lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khácnhau

Ví dụ: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10 kg thóc

Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa mặc dù có giá trị sử dụngkhác nhau nhưng lại có thể trao đổi với nhau được theo một tỉ lệ nhất định nào

đó là vì giữa chúng có một cơ sở chung là cả vải và thóc đều là sản phẩm củalao động (thời gian lao động và công sức lao động) do lao động được chứađựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá

Đây là khái niệm được khẳng định trong các giáo trình kinh

tế chính trị Nếu xét nó trên quan điểm của trường phái hiệu dụng biên thì vẫnđạt được lý lẽ hoàn chỉnh

Theo đó, đối tượng chung của nhu cầu có trong các cá nhânkhác nhau vẫn đảm bảo cơ sở cho trao đổi

Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá:

Hai thuộc tính của hàng hoá có quan hệ chặt chẽ với nhau,vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau

Thống nhất

Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hoá Nếu một vật cógiá trị sử dụng (tức có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội),nhưng không có giá trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh laođộng) như không khí tự nhiên thì sẽ không phải là hàng hoá Ngược lại, một vật

có giá trị (tức có lao động kết tinh), nhưng không có giá trị sử dụng (tức khôngthể thoả mãn nhu cầu nào của con người, xã hội) cũng không trở thành hànghoá

Đối lập

Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá khác nhau vềchất (vải mặc, sắt thép, lúa gạo…) Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thìcác hàng hoá lại đồng nhất về chất, đều là “những cục kết tinh đồng nhất củalao động mà thôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã đượcvật hoá ( vải mặc, sắt thép, lúa gạo… đều do lao động tạo ra, kết tinh lao độngtrong đó)

Trang 11

Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau

cả về mặt không gian và thời gian

+ Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước + Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng

Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trịbắt buộc họ cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùngquan tâm tới giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình

Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra

nó Nếu không thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng Mâu thuẫn giữa giátrị sử dụng và giá trị hàng hoá cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫnđến khủng hoảng sản xuất thừa

1.3 LƯỢNG GIÁ TRỊ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HOÁ:

Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trịcủa hàng hoá cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trịcủa hàng hoá tùy thuộc vào những nhân tố sau:

– Năng suất lao động

+ Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó đượctính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc sốlượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

+ Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất laođộng xã hội nhưng chỉ có năng suất lao động xã hội có ảnh hưởng đến giá trị xãhội của hàng hóa vì trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giátrị cá biệt mà theo giá trị xã hội

+ Năng suất lao động lại tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léocủa người lao động, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụngtiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tưliệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên

+ Ảnh hưởng của năng suất lao động tới lượng giá trị của hàng hóa: năng suấtlao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất rahàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lạinăng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết đểsản xuất ra hàng hoá càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càngnhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao độngkết tinh và tỷ lệ nghịch với năng xuất lao động xã hội Như vậy, muốn giảm giátrị của mỗi đơn vị hàng hoá xuống, thì ta phải tăng năng suất lao lộng xã hội

* Phân biệt giữa tăng năng suất lao động với tăng tường độ lao động:

+ Khái niệm: Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là

sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động

Ngày đăng: 09/08/2021, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w