Tố tụng hình sự là những trình tự, thủ tục để xem xét, đánh giá một hành vi cụ thể có phải là tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự hay không, người thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự không và một số vấn đề liên quan đến thi hánh án hình sự.
Trang 11 Tội phạm và tình hình tội phạm là hai khái niệm đồng nhất với nhau
=> Nhận định này sai Theo điều 8 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS Còn tình hình tội phạm là diễn biến và thực trạng của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị thời gian và không gian nhất định Vậy tội phạm và tình hình tội phạm không thể là hai khái niệm đồng nhất.
2 Để xác định tội phạm ẩn các nhà tội phạm học thường chỉ dựa vào phương pháp phỏng vấn
=> Nhận định này sai Phỏng vấn thuộc phương pháp điều tra để nghiên cứu về tội phạm ẩn Ngoài phương pháp phỏng vấn còn có phương pháp điều tra, hỏi trả lời
để nghiên cứu về tình hình tội phạm.
3 Tình hình tội phạm không có tính phụ thuộc pháp lý
=> Nhận định này sai Vì đây là một trong những đặc điểm của tội phạm Tội phạm luôn có tính phụ thuộc pháp lý vì được phản ánh trong Luật hình sự Khi quy định của Luật hình sự có sự thay đổi thì tội phạm cũng có xu hướng thay đổi theo.
4 Tội phạm rõ là những tội phạm chỉ bao gồm các tội phạm đã qua xét xử
=> Nhận định này sai Tội phạm rõ chỉ bao gồm tội phạm đã được xử lí về hình sự
mà trong đó có tội phạm đã được khẳng định qua bản án kết tội của toà án đã
có hiệu lực pháp luật và được thể hiện trong thống kê tội phạm.
5 Tội phạm rõ là tội phạm đã bị xử lý về hình sự và có trong thống kê tội phạm
=> Nhận định này đúng Tội phạm rõ chỉ bao gồm tội phạm đã được xử lí về hình
sự mà trong đó có tội phạm đã được khẳng định qua bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật và được thể hiện trong thống kê tội phạm.
6 Tội phạm ẩn có thể là tội phạm đã xảy ra đã bị xử lý về hình sự và đã có trong thống kê tội phạm
=> Nhận định này sai Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.
Trang 27 Tội phạm ẩn là tội phạm đã xảy ra nhưng không có trong thống kê tội phạm
=> Nhận định này đúng Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được
xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.
8 Tội phạm rõ có thể là tội phạm chưa bị xử lí về hình sự
=> Nhận định này sai Tội phạm rõ chỉ bao gồm tội phạm đã được xử lí về hình sự
mà trong đó có tội phạm đã được khẳng định qua bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật và được thể hiện trong thống kê tội phạm.
9 Tội phạm học là khoa học thực nghiệm
=> Nhận định này sai Tội phạm học là khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
10 Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học chỉ bao gồm: tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiên thực
=> Nhận định này sai Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học bao gồm tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm.
11 Kiểm soát tội phạm không phải là đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học?
=> Nhận định này sai Theo khái niệm của Tội phạm học thì đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học bao gồm tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm.
12 Tội phạm học và khoa học Luật hình sự không có mối quan hệ với nhau
=> Nhận định này sai Vì khoa học LHS nghiên cứu tội phạm và hình phạt Các kết quả nghiên cứu của khoa học LHS phục vụ cho việc giải thích việc nhận thức đúng các quy định của luật để áp dụng.
13 Tội phạm học và khoa học luật tố tụng hình sự không có mối quan hệ với nhau
Trang 3=> Nhận định này sai Khoa học luật TTHS nghiên cứu các thủ tục TTHS trong đó LHS được áp dụng cho từng trường hợp cụ thể để xác định tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Các kết quả nghiên cứu của khoa học luật TTHS phục vụ cho việc quy định của pháp luật TTHS giải thích và nhận thức đúng các quy định để áp dụng.
14 Tội phạm học và tâm lý học không có mối quan hệ với nhau
=> Nhận định này sai Vì xã hội học, tâm lý học và tâm thần học tội phạm cũng là
bộ phận của Tội phạm học bởi khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học, buộc Tội phạm học phải dựa vào các ngành khoa học về xã hội và con người nêu trên.
15 Thuật ngữ Tội phạm học theo nghĩa đen là nghiên cứu về tội phạm và hình phạt
=> Nhận định này sai Tội phạm học là khoa học liên ngành thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
16 Thực trạng của tội phạm xét về tính chất được nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu các cơ cấu của tội phạm
=> Nhận định này đúng Vì thông qua cơ cấu của tội phạm theo tiêu thức nhất định
có thể rút ra được nhận xét về tính chất của tội phạm.
17 Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
=> Nhận định này sai Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội.
18 Nguyên nhân của tội phạm chỉ bao gồm nguyên nhân từ môi trường sống
và nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội
=> Nhận định này sai ở mức độ tổng quan có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành: nhóm nguyên nhân từ moi trường sống, nhóm nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội và tình huống cụ thể.
Trang 419 Tình huống cụ thể không đóng vai trò gì trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội
=> Nhận định này sai Trong một số trường hợp phạm tội nhất định, tình huống cụ thể đóng vai trò như là nguyên nhân phát sinh tội phạm Một số tình huống đã trực tiếp tác động đến chủ thể làm chủ thể hình thành động cơ, từ đó hình thành hành vi phạm tội.
20 Nạn nhân không đóng vai trò gì trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội
=> Nhận định này sai Trong một số trường hợp vai trò của nạn nhân là nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm được thực hiện.
Ví dụ: Trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (theo quy định của điều 124 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017).
21 Trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội, nạn nhân luôn đóng vai trò là nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm được thực hiện
=> Nhận định này sai Vì vai trò của nạn nhân của tội phạm có thể hạn chế được phần nào tội phạm xảy ra trên thực tế.
Ví dụ: hạn chế đi đến những nơi vắng vẻ sẽ hạn chế nguy cơ tội cướp tài sản.
22 Nhân thân người phạm tội hỉ bao gồm các đặc điểm sinh học và đặc điểm tâm lý của cá nhân người phạm tội
=> Nhận định này sai Nhân thân người phạm tội bao gồm các đặc điểm thuộc 3 nhóm sau: đặc điểm sinh học, đặc điểm tâm lý và đặc điểm xã hội.
23 Nhóm dấu hiệu sinh học thuộc nhân thân người phạm tội bao gồm giới tính, độ tuổi và các đặc điểm thể chất khác
=> Nhận định này đúng Trong nhóm dấu hiệu sinh học sẽ bao gồm giới tính, tuổi
và một số đặc điểm thể chất khác.
24 Nghề nghiệp là một đặc điểm tâm lý thuộc nhân thân người phạm tội
=> Nhận định này sai Nghề nghiệp là một đặc điểm xã hội thuộc nhân thân người phạm tội.
Trang 525 Tội phạm gây thiệt hại cho nạn nhân luôn luôn có yếu tố lỗi của nạn nhân trong cơ chế hình thanh hành vi phạm tội
=> Nhận định này sai Có những trường hợp tội phạm gây thiệt hại cho nạn nhân
mà nạn nhân không có lỗi trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội.
26 Số liệu tội phạm được thống kê đồng nhất với số liệu tội phạm rõ?
=> Nhận định này sai Vì chỉ có số liệu thống kê tội phạm được quy định tại điều
5 Luật tố cáo VKSND năm 2002 và thông tư liên tịch số 01/2005 giữa VKSTC-TATC-BCA thì số liệu tội phạm được thống kê mới đồng nhất với số liệu tội phạm rõ.
27 Để đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ cần căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện, xử lý
=> Nhận định này sai V phòng ngừa tội phạm bao gồm: tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa XH) khôi phục ng nhân và điều kiện phạm tội
và phát hiện xử lý tội phạm mà trọng tâm là hoạt động điều tra xét xử cải tạo người phạm tội Do đó nếu đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện xử lý là chưa đầy đủ.
28 Sự thay đổi của pháp luật hình sự ko làm thay đổi cơ cấu tình hình tội phạm
=> Nhận định này sai Cơ cấu THTP là thành phần, tỷ trọng sự tương quan giữa các tội phạm, loại tội phạm trong 1 chỉnh thể THTP Hiện nay BLHS thường được
sử dụng làm căn cứ, tiêu chí xác định cơ cấu THTP do đó nếu có sự thay đổi của pháp luật hsự cũng làm thay đổi cơ cấu THTP.
29 Tất cả những tội phạm được thực hiện đều có vai trò khía cạnh nạn nhân trong ngnhân và điều kiện phạm tội
=> Nhận định này sai Không phải bất cứ tội phạm nào trong thực tế cũng có vai trò của nạn nhân Trong thực tiễn phòng chống tội phạm chỉ có 1 số loại tội phạm mới có vai trò của nạn nhân như: tội xâm phạm sở hữu, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm mới phải xem xét đến vai trò của nạn nhân; còn như tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội về chức vụ…ko có vai trò của nạn nhân.
Trang 630 Không phải tội phạm nào được thực hiện cũng có khâu hình thành động
cơ và khâu thực hiện tội phạm
=> Nhận định này đúng Vì căn cứ vào mức độ hoàn thành của cơ chế tâm lý XH thì có 2 loại cơ chế là cơ chế bộc lộ đầy đủ và cơ c hế bộ lộ ko đầy đủ Trong cơ chế bộc lộ ko đầy đủ có 2 trường hợp: 1 là hình thành động cơ và kế hoạch hoá việc thực hiện tội phạm (nhưng ko có khâu thực hiện tội phạm trong thực tiễn) và 2
là chỉ có khâu thực hiện tội phạm trong thực tế như với lỗi vô ý: vô ý vì quá tự tin,
vô ý do cẩu thả TD: vô ý làm chết người…
31 Chữa bệnh ko được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm
=> Nhận định này sai Đối với các bịên pháp chữa bệnh nhằm giúp đỡ các thành viên trong cộng đồng, xoá bỏ các tình huống, hoàn cảnh phạm tội, loại trừ khả năng làm phát sinh, tái phạm các tội phạm cụ thể cũng được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm (TD: Chữa cai nghiện ma tuý tại các trung tâm cai nghiện hoặc chữa cho các bệnh nhân tâm thần).
32 Dự báo tình hình tội phạm bằng phương pháp thống kê đều cho kết quả tin cậy trong mọi điều kiện dự báo và đối với tất cả các loại tội phạm được dự báo.
=> Nhận định này sai Vì dự báo THTP bằng phương pháp thống kê chỉ cho kết quả chính xác đối với dự báo trong đkiện ngắn hạn và chỉ có thể dự báo với các loại tội phạm có độ ẩn thấp trong xh (như tội giết người, gây thương tích,…) và phải đầy đủ thông tin về THTP trong quá khứ và hiện tại và THTP trên địa bàn phải có mức độ ổn định tương đối (nếu có biến động thì cũng phải ổn định về mặt thời gian).
33 Tội phạm là đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học cũng giống như tội phạm là đối tượng nghiên cứu của luật hình sự.
=> Nhận định này sai Vì luật hình sự nghiên cứu những vấn đề trừu tượng, lý luận về tội phạm Còn Tội phạm học nghiên cứu những vấn đề tội phạm cụ thể (dựa trên những người, những vụ phạm tội cụ thể đã xảy ra).
34 Chỉ số tội phạm phản ánh tính chất của tình hình tội phạm
Trang 7=> Nhận định này sai Vì chỉ số tội phạm chỉ phán ánh tình hình tội phạm, còn cơ cấu tội phạm mới phản ánh tính chất của tình hình tội phạm.
35 Việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm không cần nghiên cứu tình hình tội phạm
=> Nhận định này sai Vì cần phải nghiên cứu tình hình tội phạm mới biết nguyên nhân, từ đó mới đưa ra biện pháp phòng ngừa được.
36 Tình huống cụ thể đóng vai trò là nhân tố hình thành động cơ của người phạm tội
=> Nhận định này sai Chỉ có 1 số tình huống cụ thể mới hình thành động cơ của
ng phạm tội, còn các tình huống khác thì có vai trò khác.
37 Tội phạm học cổ điển coi nhẹ vai trò của hình phạt trong hoạt động phòng ngừa tội phạm
=> Nhận định này sai Tội phạm học cổ điển đề cao vai trò của Hình phạt theo quan điểm của Cesare Beccaria.
1 Tố giác của công dân là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ vào K1 Đ100 BLTTHS thì tố giác của công dân không phải là căn cứ để khởi tố VAHS mà là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm
2 Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án là cơ quan tiến hành tố tụng.
NĐ sai, tại vì:
Ngoài CQTHTT thì một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền KTVA như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều 111
3 Mọi hành vi phạm tội do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện đều do cơ
quan điều tra thuộc VKSNDTC khởi tố vụ án
NĐ sai, tại vì:
Theo quy định tại K1 Đ18 Pháp lệnh số 23 về tổ chức điều tra hình sự quy định về thẩm
Trang 8quyền điều tra của VKSNDTC thì CQĐT VKSNDTC điều tra các VAHS về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Như vậy, hành vi phạm tội do cán bộ
tư pháp thực hiện không thuộc các loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp và các tội này không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì CQĐT thuộc VKSNDTC không có quyền điều tra và do đó cũng không có quyền khởi tố vụ án
4 Trong mọi trường hợp việc KTVAHS không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại.
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ vào Điều 105 BLTTHS thì những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171 BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Và trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ
5 KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng.
NĐ sai, tại vì:
Theo quy định tại k1 Đ105 BLTTHS thì KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại được
áp dụng đối với những vụ án án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105,
106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171 BLHS Mà theo quy định tại khoản 1 Điều 111 có mức hình phạt tù tối đa là 7 năm và khoản 1 Điều 113 có mức hình phạt tù tối đa là 5 năm
đã thuộc loại tội nghiêm trọng được quy định tại Điều 8 BLHS
Như vậy, KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại không chỉ được áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng mà còn đối với tội nghiêm trọng
6 Trong mọi trường hợp khi người bị hai rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì
vụ án phải được đình chỉ
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ K2 Đ105 BLTTHS: trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu
Trang 9khởi tố rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể tiến hành tố tụng đối với vụ án Lưu ý: Trong mọi trường hợp khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố một cách hợp pháp thì
cơ quan có thẩm quyền phải đình chỉ vụ án NĐ sai, tại vì: tùy vào giai đoạn mà người bị hại rút yêu cầu để ra quyết định Nếu trong giai đoạn điều tra thì ra quyết định đình chỉ điều
tra theo quy định tại đa k2 Đ164 BLTTHS Nếu trong giai đoạn truy tố thì ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại k1 Đ169 BLTTHS Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì
ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 180 BLTTHS
7 HĐXX có thể thực hiện đồng thời việc yêu cầu VKS khởi tố và tự mình khởi tố
vụ án đó
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ đoạn 3 k1 Đ104 BLTTHS thì HĐXX ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu viện kiểm sát KTVAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người
phạm tội mới cần phải điều tra Như vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện một trong hai hành vi
là yêu cầu VKS khởi tố hoặc tự mình khởi tố chứ không được đồng thời thực hiện hai hành
vi trên
8 Tất cả các hoạt động chứng minh tội phạm chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền.
NĐ sai, tại vì:
Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động chứng minh tội phạm và căn cứ vào k2 Đ150 thì hoạt động khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi KTVAHS
9 Trong mọi trường hợp, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm.
NĐ sai, tại vì:
Đối với trường hợp KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Đ105 thì căn
cứ để KTAHS không chỉ là dấu hiệu tội phạm mà còn có căn cứ là yêu cầu khởi tố của
Trang 10người bị hại.
10 Khi thực hiện chức năng công tố, VKS có quyền hủy bỏ mọi quyết định không khởi tố không có căn cứ của các cơ quan có thẩm quyền.
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ khoản 1 Điều 108 BLTTHS thì HĐXX có quyền ra quyết định không KTVA và căn cứ vào khoản 3 Điều 109 BLTTHS thì cũng tương tự như quyết định KTVA không có căn cứ thì đối với quyết định không KTVA không có căn cứ của HĐXX thì VKS không có
quyền hủy bỏ mà chỉ được kháng nghị lên Tòa án cấp trên
Tuy nhiên, trên thực tế HĐXX không ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự
11 Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ.
NĐ sai, tại vì:
Căn cứ Điều 104 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVAHS bao gồm: CQĐT, VKS, HĐXX và ngoài ra căn cứ vào Điều 111 BLTTHS thì các cơ quan như Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyết định KTVA Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVA nhiều như vậy nhưng không phải tất cả các cơ quan trên đều có quyền thay đổi bổ sung mà theo quy định tại Điều 106 BLTTHS thì chỉ có CQĐT và VKS mới có quyền thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS Mặt khác, theo quy định tại Điều 109 BLTTHS thì đối với các quyết định KTVA không
có căn cứ của HĐXX thì VKS kháng nghị với TA cấp trên còn đối với các quyết định khởi
tố không có căn cứ của các chủ thể còn lại thì VKS ra quyết định hủy bỏ đối với các quyết
định khởi tố đó chứ không phải thay đổi, bổ sung Việc thay đổi bổ sung chỉ áp dụng đối với những quyết định khởi tố có căn cứ nhưng khởi tố không đúng với hành vi phạm tội được quy định tại Điều 106 BLTTHS