Ca dao dân ca là kho tàng văn hóa của các nước Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian đi qua, viên ngọc càng thêm tỏa sáng. Qua ca dao dân ca, giá trị truyền thống và tâm hồn được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất. Trong các chủ đề được ca dao dân ca đề cập đến thì tình yêu đôi lứa là một đề tài rất rộng lớn và có nhiều hình thức diễn bày.
Trang 1DẪN NHẬP
Ca dao dân ca là kho tàng văn hóa của các nước Đông Nam Á nói riêng và thế giớinói chung, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian đi qua, viên ngọc càng thêm tỏasáng Qua ca dao dân ca, giá trị truyền thống và tâm hồn được thể hiện và lưu giữ mộtcách rõ nét nhất Trong các chủ đề được ca dao dân ca đề cập đến thì tình yêu đôi lứa làmột đề tài rất rộng lớn và có nhiều hình thức diễn bày
Tình yêu đôi lứa là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõ ràng nhất trong
ca dao dân ca vì tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thưở của kiếp người Trong ca dao dân caĐông Nam Á thì tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thậtchân thành, mộc mạc, một thứ tình yêu chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênhthang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như đón nước lững lờ nhè nhẹ êm trôi củanhững dòng sông
Đối với văn chương nghệ thuật, nếu như ví nội dung là cái đích tác giả muốn biểuđạt thì nghệ thuật lại chính là con đường dẫn tới vạch đích ấy Tác giả dân gian các nướcĐông Nam Á, bằng sự lao động nghệ thuật tự phát, cần mẫn qua nhiều năm, đã tìm thấynhững con đường – nghệ thuật – sáng tác văn học Vì thế có thể nói, trong kho tàng vănhọc dân gian Đông Nam Á, những câu ca dao dân ca về tình yêu đôi lứa là bông hoa đậmsắc nhất, không những hay và hấp dẫn về mặt nội dung mà còn thuyết phục và lôi cuốnbằng những thủ pháp nghệ thuật đắc địa, đầy tính thẩm mỹ
NỘI DUNG
I Khái quát
1.1 Ca dao dân ca
1.1.1 Ca dao dân ca tình yêu
Ca dao dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình dân gian,kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Hiện nay, người ta có thểphân biệt hai khái niệm ca dao và dân ca Ca dao là lời thơ của dân ca Dân ca là nhữngsáng tác kết hợp lời và nhạc, tức những câu hát dân gian trong diễn xướng
Ca dao thường là những bài hát ngắn, khoảng 3 - 4 câu, cũng có một số ít bài cadao dài Những bài dân ca thường có nguồn gốc ca dao; dân ca khi tước bỏ làn điệu, lời
ca lại đi vào kho tàng ca dao Ca dao, dân ca vốn được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau:
hò, ví, ngâm, ca, lí, kể…
Trang 2“Tay cầm bó mạ xuống đồng, Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai.”
“Ai có chồng nói chồng đừng sợ
Ai có vợ nói vợ đừng ghen Đến đây hò hát cho quen.”
“Ví ví rồi lại von von Đến đây cho một chút con mà bồng."
Trong ca dao dân ca, tư tưởng và tình cảm được chắp đôi cánh kỳ diệu của sựtưởng tượng; tuy nhiên, tính lãng mạn và sự tưởng tượng phong phú đem lại cho ca dao,dân ca không hề tách rời tính hiện thực Ngoài các yếu tố biểu hiện về tinh thần dân tộctrong đấu tranh dựng nước và giữ nước, tinh thần lạc quan trong lao động sản xuất, tinhthần tương thân, tương ái… còn là tình yêu đôi lứa
Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõnhất trong ca dao dân ca, vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thưở của kiếp người.Trong ca dao dân ca, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúcthật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏnội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như đòn nước lững lỡ nhè nhẹ
êm trôi của những dòng sông
“Yêu nhau cau sáu bổ ba Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.”
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chọn điếu xuống lại đào điếu lên.”
Trang 3“Mặc cho cha đánh mẹ treo Đứt dây rớt xuống cũng theo chung tình.”
1.2.2 Ca dao dân ca tình yêu ở các nước Đông Nam Á
Ca dao dân ca là thể loại văn học dân gian phổ biến ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở
ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia Ca dao dân ca gắn bó rất chặt chẽ vớicác lễ hội, với lao động sản xuất nhưng bao trùm toàn bộ ca dao dân ca là chủ đề tình yêuđôi lứa Ca dao dân ca tình yêu ở đây có những nét tương đồng, chính những nét tươngđồng ấy tạo nên bản sắc riêng cho ca dao dân ca Đông Nam Á
Ở Việt Nam:
“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau ba vạn sáu nhìn ngày cũng thương.”
So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng
về nghĩa nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
So sánh trực tiếp:
Đây là kiểu so sánh trực tiếp với sự hiện diện của các từ liên từ: “như”, “như thể”,
“giống”, “là”…Cấu trúc so sánh trực tiếp này có hai dạng:
Cấu trúc so sánh triển khai:
Trang 4Là câu lục (6) nêu lên định đề có tính chất khái quát: A như B (A và B là hai đốitượng khác loại) Còn câu bát (8) là B’ nêu rõ đặc tính nào đấy của B theo dấu hiệu tươngđồng:
“Đôi ta như thể con tằm (A như B) Cùng ăn một lá cùng nằm một nong.” (B’)
Nếu chỉ ví đôi ta như thể con tằm mà không có sự triển khai tiếp theo, chắc chắnngười nghe sẽ thấy khó hiểu, không rõ “con tằm” ở đây được nhấn mạnh với đặc điểm gì
Vì vậy B’ đã triển khai rõ ràng cùng ăn một lá cùng nằm một nong để diễn tả một cáchđặc sắc phù hợp với việc bộc lộ tình cảm của đôi lứa yêu nhau
Cấu trúc so sánh tương hỗ bổ sung:
Ở kết cấu này không có mệnh đề triển khai mà nêu lên một hoặc hai đối tượng cùng lúc
so sánh với nhiều sự vật khác nhau Các sự vật này có nét tương đồng hoặc đối lập nhau
Có thể là một đối tượng (cái so sánh) được nhấn mạnh trong quan hệ liệt kê bổsung:
“Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.”
“Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi.”
Đối tượng so sánh được so sánh với nhiều sự vật khác nhau nhằm nhấn mạnh đốitượng:
Có thể hai đối tượng trong quan hệ so sánh tương đồng:
“Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương.”
Anh và em đều được so sánh như nhau nhằm nhấn mạnh sự sâu sắc trong tình cảm của cảhai đối tượng
Trang 5Có thể hai đối tượng trong quan hệ so sánh đối lập:
“Anh như chỉ gấm thêu cờ
Em như rau má mọc bờ giếng khơi.”
Hai hình ảnh so sánh này hoàn toàn đối lập với nhau Hình ảnh so sánh với anh thì caoquí, hình ảnh so sánh với em thì dân dã, nhỏ nhoi
Trong cấu trúc so sánh bổ sung này, sự liệt kê, điệp ý có tác dụng nhấn mạnh đặcđiểm tương đồng hoặc đối lập của các sự vật, cái này bổ sung cho cái kia mà không cần
có sự giải mã hoặc triển khai
Giữa hai vế (A) (bức tranh thiên nhiên), nêu lên những đặc điểm có tính ổn địnhmang tính qui luật của thiên nhiên và vế (B) (bức tranh tâm trạng) có nét tương đồng tạonên một sự so sánh ngầm (nhưng chưa hẳn là ẩn dụ vì chủ thể chưa ẩn đi hoàn toàn) Sự
so sánh này làm tăng sức mạnh của lí lẽ được nêu ra, tạo nên sức mạnh của đòn bẩy nghệthuật
1.2.2 Ẩn dụ
Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thểhiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì được ẩn đi một cách kín đáo
Các hình thức ẩn dụ:
Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong ca dao thực chất là lối so sánh ngầm dựa trên cơ
sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, nhưng ở đây đối tượng so sánh ẩn đi chỉ còn một
vế là cái được dùng để so sánh Ần dụ chỉ tồn tại vào vế so sánh nên không dùng các từchỉ quan hệ Suy nghĩ, tình cảm trong ẩn dụ được thể hiện không ở dạng trực tiếp mà ởdạng gián tiếp.Ở ẩn dụ, phương pháp chuyển nghĩa thông qua những sự vật cụ thể lại có
Trang 6khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa một vấn đề nào đó Do vậy lối biểu đạt trong ẩn
dụ luôn cô đọng hàm xúc, tế nhị đồng thời cảm xúc bộc lộ mạnh mẽ, ẩn dụ là cách tạonghĩa mới Ẩn dụ bao giờ cũng chứa đựng nghĩa đen và nghĩa bóng Biện pháp ẩn dụ đưađến cho ta một nhận thức mới, một quan hệ mới của hình tượng nghệ thuật, thực chất làđưa đến lối tư duy mới về đối tượng
Ví dụ:
“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm.”
Cái hạt gạo trắng ngần, nước đục, than rơm ấy chính là ẩn dụ Câu ca dao trên làtrạng thái tiếc nuối của con người nhưng lại dùng hình ảnh ẩn dụ để bộc lộ trạng thái:
“Tiếc thay hạt gạo tám xoan Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.”
Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệgiữa gạo tám xoan, nồi đồng (những thứ đáng giá) với nước cà (là thứ không giá trị) làmối quan hệ khập khiễng không tương xứng Từ nhận thức về mối quan hệ giữa các sựvật ấy, người tiếp nhận liên tưởng đến những sự khập khiễng trong cuộc đời, về những sự
vô tâm vô tính, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người
Ẩn dụ trong ca dao, dân ca mang đặc điểm rõ nhất của kiểu nghệ thuật sáng táctheo phương thức trữ tình Cái đọng lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vậthiện tượng ấy được phản ánh ra sao mà cái quan trọng là trạng thái tâm hồn con ngườiđược thể hiện qua cách phản ánh ấy
Một số hình ảnh ẩn dụ trong ca dao được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần mang ýnghĩa kết quả cao, mang tính kí hiệu bền vững, trở thành những biểu tượng, những hìnhảnh ước lệ
Ví dụ:
“Bây giờ rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời.”
Ta thấy rồng và mây là biểu tượng cho sự xa cách và gặp gỡ vui vầy
Trang 7“Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”
Mận, đào là biểu tượng cho người con trai và người con gái trong mối quan hệ lứađôi Biện pháp ẩn dụ trong ca dao giúp cho tác giả dân gian diễn tả được những điều thầmkín, thậm chí những điều khó nói nhất, khó diễn đạt nhất bằng những hình tượng nghệthuật vừa khái quát vừa giàu chất thơ
“Quả đào tiên ruột mất vỏ còn Buông lời hỏi bạn lối mòn ai đi.”
Quả đào tiên là loại quả quý nhưng cái quý nhất là ruột thì lại mất rồi, chỉ còn lạicái vỏ mà thôi Ngụ ý bài ca dao này nói về người con gái không còn giữ được phẩm chấtnhân cách Đây là cách diễn đạt rất tế nhị nhưng lại bóng bẩy
II Nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong ca dao dân ca tình yêu ở các nước Đông Nam Á 2.1 Ở Việt Nam
2.1.1 Nghệ thuật so sánh
Trong ca dao dân ca về tình yêu đôi lứa, nghệ thuật so sánh trở thành một phươngtiện để các cặp trai gái thể hiện tình cảm một cách kín đáo, tế nhị mà sâu sắc vô cùng
“Cán trúc lắp lưỡi dao vàng Như em được bén duyên chàng, chàng ơi!”
Trúc là một loại cây thanh cao, tao nhã, dùng làm cán dao thì còn gì sang trọngbằng Nhưng lưỡi dao cũng rất phải xứng tầm “lưỡi dao vàng”, lưỡi dao đó bằng vàngcũng sang trọng đâu kém gì cán trúc kia Đúng là một sự kết hợp đầy khéo léo Nhưng có
lẽ cái kết hợp đó vẫn không nhuần nhụy bằng sự kết hợp của “em” và “chàng”.Thông quahình ảnh so sánh “cán trúc lắp lưỡi dao vàng” với sự “bén duyên” của “em” và “chàng”,
ta thấy được sự thể hiện hết sức tinh tế tình cảm của chủ thể trữ tình Duyên em và chàngcũng tương hợp, hài hòa, cân đối giống như “cán trúc” và “lưỡi dao” vậy đó, đẹp đến vôcùng
Hoặc:
“Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương.”
Trang 8Câu ca dao này muốn nói tình yêu của đôi nam nữ ở đây đều tha thiết như nhau,nhưng tính cách yêu đương của mỗi người lại khác nhau Hình ảnh thủy triều dần dầndâng lên, được so sánh với tình yêu chủ động của người thanh niên đang thời kì bồng bộtsôi nổi mãnh liệt Trong khi đó, hình ảnh “dải lụa đào tẩm hương” được ví với tình yêucủa người thiếu nữ, tuy ở thế thụ động, nhưng đầy sức quyến rũ, vừa dịu dàng kín đáo,vừa thắm thiết nồng nàn Nhưng khi phải xa nhau thì người con gái cảm thấy không gianthật là xa vời:
“Thiếp xa chàng như rồng xa mây Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi.”
Hình ảnh người con gái xa người yêu được ví như “rồng xa mây”, “chim chèobẻo” không thể xa được nơi thân thuộc của mình Đúng là lối so sánh độc đáo, rồng thìkhông thể nào xa mây được có thể nói, người con gái ở đây sẽ như thiếu sức sống nếuphải chia cách người mình yêu Duyên đôi ta đẹp là vậy đó, nhưng đôi lúc:
“Em như ngọn cỏ phất phơ Anh như con nghé ngơ ngơ ngoài đồng.”
Em như ngọn cỏ tươi non đầy sức sống “phất phơ” đầy mời gọi, vậy mà anh lại
“như con nghé ngơ ngơ” Phải chăng anh quá vô tình hay giả vờ cố ý không thèm để ýđến ngọn cỏ kia, để nó cứ đứng đợi, ngồi chờ mà phất phơ Ý nghĩa của biện pháp sosánh đâu chỉ có vậy Tại sao “em” lại như “ngọn cỏ” nhỏ bé, còn “anh” như “con nghé”lớn lao thế kia? Có lẽ khi yêu người ta lí tưởng hóa người yêu, luôn thấy mình bé nhỏ,lúng túng còn người yêu thì cao vời vợi Ở đây, ta thấy có chút tâm trạng bối rối, ngạingùng của người con gái đang yêu
Hay trong tình yêu, chàng trai có một cách thể hiện tình cảm hết sức dí dỏm:
“Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”
Trúc là một loại cây mang vẻ đẹp thanh cao Vẻ đẹp đó càng nổi bật hơn khi nó
“mọc đầu đình” - là nơi trang nghiêm Trúc có xinh, có mọc đầu đình thì cũng phải cókhóm mới đẹp, mới quý, một thân trúc không thể tự mình làm nên vẻ đẹp Nhưng “em”thì khác, “em xinh em đứng một mình cũng xinh”
Rõ ràng vẻ đẹp của em hơn hẳn trúc kia, bởi “em” đứng một mình, không cần vật
gì làm nền mà vẫn xinh, vẫn duyên dáng làm say đắm lòng anh Vậy là câu thơ sử dụng
Trang 9biện pháp so sánh ngầm mà tình yêu được thể hiện vừa kín đáo vừa sâu sắc vô cùng, vừasinh động, vừa giàu hình ảnh.
Trong tình yêu, các đôi nam nữ yêu nhau thường ví mình với những hình ảnh gì?
Họ gọi nhau bằng cái tên rất gần gũi, thân thiết “đôi ta” để từ đó bộc lộ tình cảm củamình vừa ý nhị, vừa sâu sắc:
“Đôi ta bắt gặp nhau đây Như con bò gầy gặp bãi cỏ non.”
“Đôi ta như mưa ướt ao rồi Kiếm nơi đỏ lửa vô ngồi hơ chung.”
Ở câu thứ nhất ta bắt gặp một hình ảnh so sánh thật tinh nghịch, vui tươi “đôi ta”gặp nhau mà như “bò gầy gặp bãi cỏ non” Cách nói hình ảnh này đã gợi cho người đọcđược thật nhiều điều Đó vừa là tâm trạng vui mừng, sung sướng bởi “bò gầy” mà gặp bãi
cỏ non thì còn gì bằng Cái gặp nhau đầy bất ngờ của “đôi ta” dường như đã làm cho tâmtrạng nhân vật trữ tình bừng sức sống, cảm thấy hạnh phúc Khác với cách thể hiện tìnhcảm ở câu thứ nhất, ở câu thứ hai, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu sắc của hình ảnh đó, thì
ra “mưa ướt áo” đã trở thành cái cớ để “đôi ta” “ngồi hơ chung” tạo nên sự gắn kết
Thể hiện tình cảm là vậy, còn khi đã yêu nhau rồi, cái tình yêu chớm nở thì sao:
“Đôi ta như áo mới may Như chuông mới đúc, như cây mới bào.”
Đó là tình yêu đầu, duyên mới rất trong trắng, trinh nguyên Tình yêu cũng đồngnghĩa với sự gắn bó, thủy chung không xa rời:
“Đôi ta như quế với gừng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau.”
“Đôi ta là nghĩa tào khang Trăm năm vẹn giữ lòng vàng thủy chung.”
Trang 10“Đôi ta như đá với dao Năng liếc năng sắc, năng chiều năng quen.”
Những hình ảnh so sánh thật giản dị mà ý nghĩa vô cùng Đôi ta là vậy, luôn gắn
bó thủy chung, dù cho sóng gió cuộc đời cũng không thể cách xa Tình cảm ấy mặn màchia ngọt sẻ bùi như “tằm cùng ăn một lá, cùng nằm một nong” Ở câu ca dao “Đôi tanhư quế với gừng / Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau” và “Đôi ta như đá với dao /Năng liếc năng sắc, năng chiều năng quen”, ta thấy “đôi ta” được so sánh không chỉ vớimột hình ảnh, mà ở đây có sự kết hợp của hai hình ảnh: “ đôi ta như đá với dao”, “ đôi tanhư quế với gừng” cho thấy sự gắn bó không thể tách rời, bởi dao cần đá mài mới sắc,
“quế với gừng” là tình cảm sâu nặng, mặn mà không thể chia lìa Hình ảnh so sánh đãlàm tăng khả năng diễn đạt lên rất nhiều
Trong cuộc sống có biết bao điều để thương để nhớ, nhưng với tình yêu, nỗi nhớquả là rất đặc biệt:
“Nhớ ai con mắt lim dim Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
Nhớ ai hết đứng lại ngồi Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”
Chỉ với mấy từ “thất thểu”, “tơ tưởng’’, hình ảnh và tâm trạng của người đang yêuđến độ si tình hiện lên rõ nét với tất cả sự buồn rầu, bồn chồn, ủ dột:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.”
Trong ca dao, so sánh là thủ pháp nghệ thuật thường gặp Với câu ca dao này có lẽkhông một ai có cách diễn đạt đắc địa hơn
Yêu nhau, người ta nhớ nhau mọi lúc mọi nơi, không kể cả không gian và thờigian:
“Bốn mùa xuân hạ thu đông Thiếp ngồi dệt vải những trông bang chàng
Trang 11Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu.”
Cặp từ chỉ số lượng không hạn định diễn tả rất thành công nỗi nhớ nhung vô hạncủa “thiếp” khi xa “chàng”
Tóm lại, chỉ với các hình ảnh so sánh hết sức quen thuộc, gần gũi mà tình cảm đôilứa hiện lên đầy nghĩa tình, thủy chung son sắc Nhờ cách ví von ấy mà tình yêu hiện lênthật sinh động vừa cụ thể, vừa trừu tượng
2.1.2 Nghệ thuật ẩn dụ
Biện pháp ẩn dụ đưa đến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật
Ẩn dụ đã tạo ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả sự vật cụ thể lẫn những
khái niệm trừu tượng, không định hình, khó đong đếm Bên cạnh đó, Biện pháp ẩn dụ
giúp cho tác giả dân gian diễn tả được những điều thầm kín, thậm chí những điều khó nóinhất, khó diễn đạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát vừa giàu chấtthơ
“Con cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?”
Hình ảnh “con cò” nói đến người chú lam lũ, chịu thương chịu khó, nhọc nhằn đểmưu sinh vì cuộc sống Đời sống người chú khổ cực như thế, liệu rằng một cô gái đẹp
“yếm đào”có chịu lấy một người khổ cực không?
“Còn trời còn nước còn non Còn cô bán rượi anh còn say sưa.”
Trang 12“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay.”
Hình ảnh ẩn dụ “muối” và “gừng” cho ta thấy sự mặn nồng, chung thủy của conngười trong tình cảm Dù thời gian xa cách tới đâu, nhưng tình cảm con người luôn sắcson, thủy chung
Chuyện tình cảm không như ta suy nghĩ, người con gái như hối tiếc, than vãn lòngnhẹ dạ cã tin của mình Tình cảm đã bỏ ra rất nhiều cho chàng trai vì nhầm tưởng tìnhcảm của chàng trai là mặn nồng, thật lòng Nhưng sự thật không theo suy nghĩ của cô gái,chàng trai lại hửng hờ, vô tâm; tình cảm ấy chỉ phí hoài được thể hiện qua hình ảnh
“giếng nước” và “sợi dây”:
“Em tưởng nước giếng sâu em nối sợi gầu dài
Ai ngờ nước giếng cạn em tiếc hoài sợi dây.”
Hối tiếc thay tình cảm của chàng trai đã vun đắp, xâp dựng lên nhưng lại phí hoài!Chàng trai lo lắng, chăm sóc cho người mình yêu nhưng đến khi cô gái trưởng thành thìlại phụ tình chàng, bay đi nơi chân trời mới Thông qua hình ảnh của “con cò” để nói lêntình cảm hối tiếc của chàng trai:
“Công anh bắt tép nuôi cò
Cò ăn cò lớn cò dò lên cây.”
Hình ảnh “thuyền” và “bến” được nói đến như tình cảm gắn kết với nhau Thuyền
là người con trai, bến là hình ảnh người con gái Người con gái than thân mình, nỗi đauxót xa trong lòng, không biết chàng trai có còn yêu thương và nhớ tới mình không Ngườicon gái luôn luôn dõi theo, chờ đợi người con trai quay trở về:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
Đây là một trong những câu ca dao hay nhất về tình yêu, con thuyền tình trong nghệ thuật
ẩn dụ làm cho lời thơ gợi cảm thắm thiết và đẹp biết nhường nào
Bên cạnh đó còn là những lời hờn trách người bạc tình, không chung thủy sắc son.Dùng hình ảnh “tằm” và “cành dâu” ẩn dụ cho chàng trai (cô gái) mãi vui đùa với duyêntình mới, bỏ quên người yêu thương mình nơi đây: