1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận xét đặc điểm dịch tễ học của phụ nữ tham dự chương trình sàng lọc bệnh ung thư vú tại Bệnh viện Bạch Mai

8 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 9,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét đặc điểm dịch tễ học, đánh giá kết quả khám sàng lọc bệnh ung thư vú cho phụ nữ trên 30 tuổi tại bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trên 4250 phụ nữ độ tuổi >30 tuổi tham gia khám sàng lọc ung thư vú từ năm 2015 đến năm 2017 tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trang 1

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA PHỤ NỮ

THAM DỰ CHƯƠNG TRÌNH SÀNG LỌC BỆNH UNG THƯ VÚ

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

PHẠM CẨM PHƯƠNG1, MAI TRỌNG KHOA2, NGUYỄN THỊ HOA MAI3, NGUYỄN THÀNH TRUNG4 VÀ CS

Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét đặc điểm dịch tễ học, đánh giá kết quả khám sàng lọc bệnh ung thư vú cho phụ nữ trên 30 tuổi tại bệnh viện Bạch Mai

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trên 4250 phụ nữ độ tuổi >30 tuổi tham gia khám sàng lọc ung thư vú từ năm 2015 đến năm 2017 tại Bệnh viện Bạch Mai

Kết quả: 65,1% phụ nữ tham gia khám sàng lọc nằm trong độ tuổi từ 40-59 50,2% đối tượng tham gia

khám sàng lọc đến từ Hà Nội; 70,7% đối tượng có trình độ văn hóa học từ cấp 3 trở lên; 30,5% làm trong khối

sự nghiệp hành chính và 89,6% hiện đang có chồng Số lượng phụ nữ có tiền sử bản thân cũng như tiền sử gia đình mắc ung thư vú tham gia khám sàng lọc ít, đều chỉ chiếm lần lượt 4,7% và 5,5% tổng số phụ nữ tham gia khám sàng lọc Trong hai năm 2016 và 2017, có 1775 phụ nữ được phỏng vấn về việc đã tham gia khám sàng lọc những năm trước đó Số lượng phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc năm 2016 và 2017 vẫn ở mức hạn chế với 142 người, chiếm 8% trong tổng số phụ nữ tham gia trong năm 2016 và 2017 19,1% phụ nữ phát hiện thấy bất thường ở vú trong đó số ca ung thư vú phát hiện năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 6, 5, 3 ca,

tương ứng Tỷ lệ phát hiện bất thường có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khác nhau về tuổi, tiền sử ung thư bản thân, nghề nghiệp, BMI, mãn kinh và tình trạng nạo hút thai

Kết luận: Khám sàng lọc có vai trò tuyên truyền ý thức khám vú cho phụ nữ cũng như phát hiện sớm các tổn thương lành tính và ác tinh tại vú

Từ khóa: Ung thư vú, Khám sàng lọc, Bệnh viện Bạch Mai

ABSTRACT

Epidemiological characteristics of women participating in breast cancer screening

at Bach Mai Hospital Objective: Identifying the epidemiological characteristics and breast cancer screening results for women

over 30 years old at Bach Mai Hospital

Patients and Methods: A cross-sectional study was conducted among 4250 women at the age of 30 years and older who participated in the breast cancer screening from 2015 to 2017 at Bach Mai Hospital

Results: 65.1% of women who attended the screening were between the ages of 40 to 59 50.2%

of participants were from Hanoi The education level of high school or higher was recorded among 70.7%

of women; 30.5% of women worked in administrative careers and 89.6% of them was currently married The percentage of women with a history of breast cancer and a family history of breast cancer were 4.7%

1 PGS.TS Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung Bướu-Bệnh viện Bạch Mai

2GS.TS Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung Bướu-Bệnh viện Bạch Mai

3BSNT.Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung Bướu-Bệnh viện Bạch Mai

4 ThS Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung Bướu-Bệnh viện Bạch Mai

Trang 2

and 5.5%, respectively In 2016 and 2017, 1,775 women were interviewed for whether they had participated in previous years’ screening program The number of women re-screened in 2016 and 2017 is still limited, with the total of 142 people, accounting for 8% of all women in the screening program of 2016 and 2017 19.1%

of women were recorded with breast abnormalities in which the number of breast cancer cases were detected in 2015, 2016, 2017 was 6, 5 and 3 cases, respectively The incidence of abnormalities was found with statistically significant differences among groups of age, family history of cancer, occupation, BMI,

menopause, and abortion

Conclusion: Screening plays an important role in propagating breast cancer awareness for women as well

as early detection of benign and malignant lesions in the breast

Keyword: Breast cancer, Screening, Bach Mai Hospital

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú là bệnh ung thư có tỷ lệ mắc và tỷ lệ

tử vong hàng đầu ở nữ giới Theo GLOBOCAN

2012, tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư vú đứng

thứ nhất và đứng thứ ba nguyên nhân gây tử vong ở

nữ giới sau ung thư gan và ung thư phổi Ung thư vú

thường gặp ở độ tuổi trên 40; 6-19% bệnh nhân

ung thư vú có tính chất di truyền Các gen liên quan

đến bệnh ung thư vú được phát hiện bao gồm

BRCA1/2; PTEN; PT53… Ngoài ra, các yếu tố không

di truyền khác như: Tuổi, giới, tiền sử sinh sản,

tuổi mãn kinh, tuổi hành kinh, sử dụng liệu pháp

hormone thay thế, béo phì, hút thuốc lá, ít vận động,

các bệnh lành tính tuyến vú là các yếu tố nguy cơ

cao gây bệnh ung thư vú[1,2]

Ung thư vú là bệnh có thể điều trị khỏi nếu

phát hiện ở giai đoạn sớm và có chiến lược điều trị

tích cực Vì vậy khám sàng lọc phát hiện sớm ung

thư vú có vai trò quan trọng trong việc tăng tỷ lệ điều

trị khỏi, nâng cao chất lượng sống của người bệnh

cũng như giảm tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra

Tại Việt Nam, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung

bướu đã tham gia 3 chương trình sàng lọc ung thư

vú của Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Ngày mai tươi

sáng và 01 chương trình sàng lọc ung thư vú phối

hợp với Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh tiến hành

khám sàng lọc ung thư vú cho đối tượng phụ nữ

độ tuổi >30 tuổi Qua chương trình này, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu:

Nhận xét đặc điểm dịch tễ học của phụ nữ

tham dự chương trình khám sàng lọc bệnh ung thư

vú tại Bệnh viện Bạch Mai

Đánh giá kết quả chương trình khám sàng lọc

ung thư vú

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Th ời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Y học

Hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai từ năm

2015 đến năm 2017

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 4250 phụ nữ

độ tuổi >30 tuổi tham gia khám sàng lọc ung thư vú

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Nội dung nghiên cứu

Bệnh nhân được thu thập các thông tin dịch

tễ học, kết quả khám sàng lọc

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích khoa học, các thông tin của đối tượng tham gia khám sàng lọc đều được bảo mật

KẾT QUẢ

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Địa phương

Hà Nội 2133 50,2

Hà Tĩnh 883 20,8 Các tỉnh khác 1234 29,0

Trình độ văn hóa

Không biết chữ 6 0,1

Cấp II 1047 24,6 Cấp III 1285 30,2 Trung cấp, cao đẳng 524 12,4 Đại học, sau đại học 1191 28,1 Không rõ 76 1,8

Nghề nghiệp Nông, lâm, ngư nghiệp 886 20,8

Trang 3

Công nhân 501 11,8 Buôn bán 438 10,3

Sự nghiệp hành chính

1297 30,5 Khác 1128 26,6

Tình trạng hôn

nhân

Không chồng 104 2,5 Đang có chồng 3811 89,6 Chồng mất 242 5,7

Ly thân, ly dị 93 2,2

Nhận xét: Trong tổng số 4250 đối tượng tham

gia khám sàng lọc, các đối tượng chủ yếu đến từ Hà

Nội (chiếm 50,2%) Bên cạnh đó, đa phần các đối

tượng có trình độ văn hóa học từ cấp 3 trở lên

(70,7%), phần lớn làm trong khối sự nghiệp hành

chính (30,5%) và hiện đang có chồng (chiếm 89,6%)

Bảng 2 Tiền sử ung thư của đối tượng nghiên cứu

Tiền sử bản thân bị ung

thư vú/ung thư buồng

trứng

Có 200 4,7 Không 4050 95,3

Tiền sử có mẹ hoặc chị

em gái bị ung thư vú Có 232 5,5

Không 4018 94,5

Nhận xét: Số lượng phụ nữ có tiền sử bản thân

cũng như tiền sử gia đình mắc ung thư vú tham gia khám sàng lọc ít, đều chỉ chiếm lần lượt 4,7% và 5,5% tổng số phụ nữ tham gia khám sàng lọc

B ảng 3 Nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Nhóm tuổi tham gia nhiều nhất là từ

40 – 49 tuổi với 1884 phụ nữ, chiếm 44,3%, tiếp đó

là độ tuổi từ 50-59 tuổi, chiếm 29,8% với 1267 đối tượng tham gia Thấp nhất là nhóm trên 60 tuổi, với

369 phụ nữ tham gia sàng lọc, chiếm 8,7%

Biểu đồ 1 Tỷ lệ phụ nữ tái khám sau khi đã tham gia các lần khám sàng lọc năm trước đó

Nhận xét: Trong hai năm 2016 và 2017, có 1775 phụ nữ được phỏng vấn về việc đã tham gia khám sàng lọc những năm trước đó Số lượng phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc năm 2016 và 2017 vẫn ở mức hạn chế với 142 người, chiếm 8% trong tổng số phụ nữ tham gia trong năm 2016 và 2017

Trang 4

Bảng 4 Tỷ lệ phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc sau khi đã tham gia các lần khám sàng lọc trước đó

theo năm tổ chức

Đặc điểm

Tham gia

OR (95%CI) (p) Không

n (%)

n (%) Năm tổ chức *

2016 731 (94,1) 46 (5,9) 1,69 (1,17 - 2,44)

Nghề nghiệp (n=1775) *

Nông lâm ngư nghiệp 357 (95,7) 16 (4,3)

Sự nghiệp hành chính 427 (91,6) 39 (8,4)

Trình độ học vấn * (n=1775)

Từ cấp 3 trở lên 1139 (90,8) 116 (9,2)

Tiền sử ung thư của bản thân * (n=1775)

Không 1543 (92,3) 128 (7,7) 1,88 (1,03-3,39)

Tiền sử ung thư của gia đình * (n=1775)

Không 1553 (92,4) 128 (7,6) 2,12 (1,17-3,86)

* p<0,05

Nhận xét: Sau đợt khám sàng lọc 2015, tỷ lệ phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc năm 2017 cao gấp 1,69 lần so với năm 2016 (p<0,05) Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ tái khám ở các nghề nghiệp, trình độ học vấn và tiền sử ung thư khác nhau Tỷ lệ tái khám sàng lọc ở những phụ

nữ có trình độ từ Trung học phổ thông trở lên cao gấp 1,96 lần so với những phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn Những phụ nữ đã từng mắc ung thư hoặc có người thân trong gia đình mắc ung thư có tỷ lệ tái khám sàng lọc cao gấp lần lượt là 1,88 và 2,12 lần so với những phụ nữ không có tiền sử này

Bảng 5 Tỷ lệ phát hiện bất thường

Số lượng bệnh nhân ung thư vú phát hiện được qua 03 năm: 14 trường hợp

Nhận xét: Qua 3 năm tổ chức khám sàng lọc trên 4250 phụ nữ, kết quả sàng lọc cho thấy có 811 phụ nữ

được phát hiện với các bất thường ở vú, chiếm 19,1% Trong đó, năm 2015, 2016 và 2017 phát hiện lần lượt 6

ca, 5 ca và 3 ca ung thư vú

Trang 5

Bảng 6 Tỷ lệ phát hiện bất thường theo một số yếu tố

Đặc điểm

Phát hiện bất thường

OR (95%CI) Không

n (%)

n (%) Nhóm tuổi * (n= 4250)

0-39 tuổi 617 (84,5) 113 (15,5) 40- 49 tuổi 1446 (76,8) 438 (23,2) 50- 59 tuổi 1057 (83,4) 210 (16,6) Trên 60 tuổi 319 (86,4) 50 (13,6)

Tiền sử ung thư bản thân * (n= 4250)

Không 3311 (81,8) 739 (18,2) 2,5 (1,86-3,4)

Nghề nghiệp * (n=4250)

Nông lâm ngư nghiệp 734 (82,8) 152 (17,2)

Sự nghiệp hành chính 1037 (80) 260 (20)

BMI * (n=4250)

Giới hạn bình thường 2296 (81,9) 508 (18,1) 1,2 (1,05-1,45) Ngoài giới hạn bình thường 1135 (78,5) 311 (21,5)

Mãn kinh * (n=4250)

Không 2208 (78,9) 591 (21,1) 0,7 (0,56-0.8)

Nạo hút thai *(n=4250)

Không 1721 (83,1) 351 (16,9) 1,3 (1,12-1,53)

Có ít nhất 1 lần 1718 (78,9) 460 (21,1)

* p<0,05

Nhận xét: Tỷ lệ phát hiện bất thường có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khác nhau về tuổi, tiền sử ung thư bản thân, nghề nghiệp, BMI, mãn kinh và tình trạng nạo hút thai

Trong 4250 phụ nữ tham gia chương trình chỉ có 4151 phụ nữ đồng ý trả lời câu hỏi về việc tự khám vú hàng tháng

Bảng 7 Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú

Nhận xét: Trong số 4151 phụ nữ khám và trả lời câu hỏi về việc tự khám vú của bản thân, tỷ lệ phụ nữ thực hiện tự khám vú đạt mức 25,8%

Trang 6

Bảng 8 Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú theo một số yếu tố

Đặc điểm

Tự khám vú

OR (95%CI) Không

n (%)

n (%) Năm tổ chức * (n=4151)

Nhóm tuổi * (n=4151)

Dưới 40 tuổi 560 (82) 123 (18) 40- 49 tuổi 1339 (72,1) 518 (27,9) 50- 59 tuổi 918 (73,7) 328 (26,3)

≥ 60 tuổi 263 (72,1) 102 (27,9)

Tiền sử ung thư bản thân * (n=4151)

Không 2948 (74,5) 1007 (25,5) 1,4 (1,04-1,91)

Ngh ề nghiệp * (n-4151)

Nông lâm ngư nghiệp 718 (83) 147 (17) Công nhân 400 (80,3) 98 (19,7) Buôn bán 325 (75,4) 106 (24,6)

Sự nghiệp hành chính 855 (69,1) 383 (30,9)

Trình độ học vấn * (n=4151)

Dưới cấp 3 954 (82,5) 202 (17,5) 2 (1,64-2,33)

Từ cấp 3 trở lên 2064 (70,7) 855 (29,3)

* p<0,05

Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy tỷ lệ phụ nữ tự khám vú tăng dần theo các năm, nhóm tuổi và nghề nghiệp của họ Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Bảng 9 Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú theo nhóm tái tham gia khám sàng lọc

Tham gia * (n=1775)

* p<0,05

Nhận xét: Kết quả bảng trên có thấy tỷ lệ tự khám vú trong nhóm có tái khám sàng lọc vào những năm sau cao hơn gần 20% so với nhóm tới khám lần đầu Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05

BÀN LUẬN

Sàng lọc ung thư vú tại Việt Nam là một trong

những chiến lược của Bộ Y tế trong phòng chống

bệnh ung thư Việc sàng lọc ung thư vú bằng khám lâm sàng, siêu âm tuyến vú, chụp X- quang tuyến vú giúp chẩn đoán sớm bệnh và đem lại hiệu quả điều trị khỏi bệnh Trong 3 năm từ 2015-2017, Trung tâm

Trang 7

Y học hạt nhân và Ung bướu đã tham gia 3 chương

trình sàng lọc ung thư vú của Bộ Y tế phối hợp với

Quỹ Ngày mai tươi sáng và 01 chương trình sàng

lọc ung thư vú phối hợp với Bệnh viện đa khoa tỉnh

Hà Tĩnh Trong tổng số 4250 đối tượng tham gia

khám sàng lọc, các đối tượng chủ yếu đến từ Hà Nội

(chiếm 50,2%) Bên cạnh đó, đa phần các đối tượng

có trình độ văn hóa học từ cấp 3 trở lên (70,7%),

phần lớn làm trong khối sự nghiệp hành chính

(30,5%) và hiện đang có chồng (chiếm 89,6%) Điều

này cho thấy, các chương trình sàng lọc đã tiếp cận

được nhiều phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, với các trình

độ khác nhau, tuy nhiên nhóm có trình độ văn hóa từ

cấp 3 trở lên là những đối tượng tiếp cận được

thông tin chương trình khám sàng lọc miễn phí và họ

cũng quan tâm đến sức khỏe để đi khám bệnh, đồng

thời với việc nhà nước ta đang phổ cập các cấp học

nên số lượng người không biết chữ và chỉ có trình

độ học hết cấp 1, cấp 2 ngày càng giảm

Các nghiên cứu cho thấy khoảng 6 - 19%

bệnh nhân ung thư vú có tiền sử gia đình

Các trường hợp này bệnh thường khởi phát ở tuổi

trẻ, tỷ lệ mắc ung thư vú 2 bên cao, trong gia đình có

nhiều người mắc bệnh ung thư Dựa trên dữ liệu

tỷ lệ mắc ung thư vú ở Anh cho thấy xác suất mắc

ung thư vú của một người không có tiền sử gia đình

là 7,8%; có một người mắc ung thư vú trong

gia đình là 13,3%; có hai người trong gia đình mắc

ung thư vú là 21,1% Hiện nay, các gen liên quan

đến bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng mang

tính chất gia đình được phát hiện như gen BRCA1,

BRCA2, PTEN, TP53; CDH1[2,3] Do đó chúng tôi

cũng tập trung truyền thông và động viên các phụ nữ

trong gia đình có người mắc bệnh ung thư vú nên

đến khám sàng lọc và khám định kỳ hàng năm

Đồng thời các bệnh nhân đã điều trị đạt ổn định

bệnh cũng cần đi khám định kỳ theo hẹn để

phát hiện các trường hợp ung thư vú đối bên Trong

số 4250 phụ nữ đi khám sàng lọc, số lượng phụ nữ

có tiền sử bản thân cũng như tiền sử gia đình mắc

ung thư vú ít, chỉ chiếm lần lượt 4,7% và 5,5%

tổng số phụ nữ tham gia khám sàng lọc

Ngoài các nguyên nhân di truyền, một số yếu tố

khác có liên quan đến phát triển ung thư vú như:

tuổi, giới, tiền sử sinh sản, tuổi hành kinh, tuổi mãn

kinh, các bệnh lành tính tuyến vú Ung thư vú

thường gặp ở độ tuổi 50 - 69 tuổi[3] Trong nghiên

cứu của chúng tôi, nhóm tuổi tham gia sàng lọc

nhiều nhất là từ 40 - 49 tuổi với 1884 phụ nữ, chiếm

44,3%, tiếp đó là độ tuổi từ 50-59 tuổi, chiếm 29,8%

với 1267 đối tượng tham gia Thấp nhất là nhóm trên

60 tuổi, với 369 phụ nữ tham gia sàng lọc, chiếm

8,7% Mặc dù chương trình ưu tiên khám sàng lọc

cho phụ nữ vừa qua tuổi 40 nhưng trong quá trình

sàng lọc cũng có 17,2% phụ nữ dưới 40 tuổi tham

gia khám sàng lọc, những phụ nữ này đa số là người xuất hiện đau tại vú hoặc tự sờ thấy tổn thương tại vú, hoặc đã từng siêu âm thấy có khối u nang, viêm xơ, u xơ tại vú nên khi biết đến chương trình này họ chủ động đăng kí đi khám bệnh

Chương trình khám sàng lọc bệnh ung thư vú của Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Ngày mai tươi sáng luôn mong muốn các phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư vú, đã từng đi khám thì nên được khám lại vào các năm sau đó (đây là một hình thức khám sàng lọc ung thư vú định kì) Sau đợt khám sàng lọc 2015, số lượng phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc năm 2016 và 2017 vẫn ở mức hạn chế với

142 người, chiếm 8% trong tổng số phụ nữ tham gia trong năm 2016 và 2017 Điều này cho thấy có thể

do ý thức khám định kì của các phụ nữ hạn chế hoặc do lần trước khám các phụ nữ thấy kết quả bình thường và hiện tại không thấy có biểu hiện gì khác nên cũng ngại đi khám lại, cũng có thể do nguyên nhân họ không thể vào đăng kí khám được khi đăng kí trên mạng hoặc đến đúng Bệnh viện Bạch Mai đăng kí Trên thực tế, khi triển khai chương trình khám sàng lọc ung thư vú này, số lượng người có nhu cầu đăng kí khám miễn phí khá cao Rất nhiều người truy cập internet để đăng kí cũng như đến tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu để đăng kí tại các bàn quầy Tuy nhiên,

số lượng có hạn nên nhiều người không thể đăng kí vào chương trình khám miễn phí được

Sau đợt khám sàng lọc 2015, 2016 tỷ lệ phụ nữ tái tham gia khám sàng lọc năm 2017 cao gấp 1,69 lần so với năm 2016 (p<0,05) Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ tái khám ở các nghề nghiệp, trình độ học vấn và tiền sử ung thư khác nhau Tỷ lệ tái khám sàng lọc ở những phụ nữ có trình độ từ Trung học phổ thông trở lên cao gấp 1,96 lần so với những phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn Những phụ nữ

đã từng mắc ung thư hoặc có người thân trong gia đình mắc ung thư có tỷ lệ tái khám sàng lọc cao gấp lần lượt là 1,88 và 2,12 lần so với những phụ nữ không có tiền sử này Điều này cho thấy

ý thức đi tái khám định kì của các phụ nữ có nguy cơ cao cao hơn hẳn so với các phụ nữ ít có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú

Qua 3 năm tổ chức khám sàng lọc trên 4250 phụ nữ, kết quả sàng lọc cho thấy có 811 phụ nữ được phát hiện với các bất thường ở vú, chiếm 19,1% với các tổn thương u nang, u xơ, viêm xơ, abces… Trong đó, năm 2015, 2016 và 2017 phát hiện lần lượt 6 ca, 5 ca và 3 ca ung thư vú, tất cả các trường hợp này đều là ung thư vú giai đoạn sớm

và hiện nay đã được điều trị ổn định bệnh Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình, đó là phát hiện sớm bệnh, đồng thời

Trang 8

nâng cao ý thức của phụ nữ trong công tác sàng lọc

phát hiện sớm bệnh ung thư nói chung và bệnh

ung thư vú nói riêng

Những bệnh nhân có tiền sử bị ung thư vú,

ung thư buồng trứng, ung thư phúc mạc có nguy cơ

cao mắc bệnh ung thư vú[1] Chỉ số khối cơ thể (BMI)

là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh ung thư

vú đặc biệt là ở phụ nữ da trắng Một số nghiên cứu

đã chỉ ra mối liên quan giữa chỉ số BMI cao làm tăng

nguy cơ ung thư vú sau mãn kinh Sự gia tăng nguy

cơ này là do tăng nồng độ Estrogen nội sinh được

sản xuất từ mô mỡ[1, 4] Kết quả sàng lọc cho thấy

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

khác nhau trong nhóm tuổi, tiền sử ung thư

bản thân, nghề nghiệp, BMI, mãn kinh và tình trạng

nạo hút thai Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho

thấy việc bản thân có tiền sử mắc ung thư làm tăng

khả năng xuất hiện các bất thường ở phụ nữ lên

2,5 lần so với nhóm không có tiền sử mắc ung thư

Chúng tôi cũng nhận thấy những phụ nữ có chỉ số

BMI ở mức bất thường (quá gầy hoặc béo phì)

có khả năng xuất hiện các bất thường ở vú cao gấp

1,2 lần so với những phụ nữ có BMI ở mức độ

bình thường Bên cạnh đó, những phụ nữ đã từng

phải nạo hút thai có nguy cơ xuất hiện các

bất thường gấp 1,3 lần so với nhóm phụ nữ không

phải trải qua việc nạo hút thai Ngoài ra, mãn kinh

cũng là yếu tố bảo vệ phụ nữ trước nguy cơ

xuất hiện các bất thường ở vú

Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú tăng dần theo các

năm, nhóm tuổi và nghề nghiệp của họ Sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Bên cạnh đó,

những phụ nữ có tiền sử mắc ung thư và có trình độ

học vấn cao thực hiện tự khám vú cao gấp lần lượt

là 1,4 và 2 lần so với nhóm có không có tiền sử mắc

ung thư và có trình độ học vấn thấp hơn (p<0,05)

Tỷ lệ tự khám vú trong nhóm có tái khám sàng

lọc vào những năm sau cao hơn gần 20% so với

nhóm tới khám lần đầu Sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p<0,05 Điều này cho thấy nhờ vào

chương trình sàng lọc, sau khi được khám, tư vấn

các phụ nữ đã có ý thức để tự sờ nắn, theo dõi các

biến đổi tại vú hàng tháng Đây cũng là một trong

những mục tiêu của chương trình khám tư vấn sàng

lọc phát hiện sớm ung thư vú của Bộ y tế phối hợp

với Quỹ ngày mai tươi sáng

KẾT LUẬN Đặc điểm dịch tễ học của phụ nữ tham dự chương trình sàng lọc bệnh ung thư vú

Có 4250 phụ nữ tham gia khám sàng lọc, trong

đó 70,7% đối tượng có trình độ từ cấp 3 trở lên 25,8% phụ nữ có ý thức tự khám vú

4,7% phụ nữ có tiền sử mắc u vú, 5,5 % phụ nữ

có tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú

65,1% phụ nữ tham gia khám sàng lọc nằm trong độ tuổi từ 40-59 8% phụ nữ đã từng tham gia khám sàng lọc trước đó

Phụ nữ có trình độ học vấn cao, có tiền sử bị ung thư hoặc có người trong gia đình bị ung thư có ý thức khám sàng lọc cao hơn đối tượng khác

Kết quả chương trình khám sàng lọc ung thư vú

Ý thức tự khám vú ở nhóm đối tượng tái khám sàng lọc cao hơn nhóm khám sàng lọc lần đầu 19,1% phụ nữ phát hiện thấy bất thường ở vú trong đó số ca ung thư phát hiện năm 2015, 2016,

2017 lần lượt là 6, 5, 3 ca ung thư vú

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 National Comprehensive Cancer Network (2018) Breast Cancer Screening and Diagnosis Version 2.2018

2 Janet M Gray, Sharima Rasanayagam, Connie Engel, Jeanne Rizzo (2017) State of the evidence 2017: an update on the connection between breast cancer and the environment Environ Health 2017; 16: 94

3 Familial Breast Cancer: Classification and Care

of People at Risk of Familial Breast Cancer and Management of Breast Cancer and Related Risks in People with a Family History of Breast Cancer NICE Clinical Guidelines, No 164

4 Suzuki R, Iwasaki M, Inoue M, et al (2011) Body weight at age 20 years, subsequent weight change and breast cancer risk defined by estrogen and progesterone receptor status the Japan public health center- based prospective study Int J Cancer; 129: 1214-1224

Ngày đăng: 09/08/2021, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w