Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: Bước đầu đánh giá đáp ứng điều trị của phác đồ TCX trong điều trị Ung thư dạ dày giai đoạn muộn. Thiết kế nghiên cứu can thiệp không có nhóm đối chứng. 51 bệnh nhân ung thư dạ dày (UTDD) giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn đến điều trị tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội tham gia vào nghiên cứu.
Trang 1ĐÁP ỨNG CỦA PHÁC ĐỒ TCX TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY
GIAI ĐOẠN MUỘN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
NGUYỄN TRỌNG HIẾU1, TRẦN THẮNG2
Hóa trị có vai trò chủ đạo, giúp cải thiện triệu chứng và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân ung thư gia i đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn Trong số các phác đồ hóa trị, phác đồ Paclitaxel kết hợp nhóm Platinum và Capecitabin (TCX) cho thầy đáp ứng điều trị cao và các tác dụng ngoại ý nhẹ nhàng hơn, phù hợp với thể trạng của bệnh nhân giai đoạn muộn, khi thể trạng suy yếu Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: Bước đầu đánh giá đáp ứng điều trị của phác đồ TCX trong điều trị Ung thư dạ dày giai đoạn muộn Thiết kế nghiên cứu can thiệp không có nhóm đối chứng 51 bệnh nhân ung thư dạ dày (UTDD) giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn đến điều trị tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội tham gia vào nghiên cứu Kết quả cho thấy, sau 3 chu kỳ điều trị, tỷ lệ đáp ứng của quần thể nghiên cứu là 51% Bệnh nhân cải thiện đáng kể toàn trạng so với trước điều trị Không có mối liên quan giữa tỉ lệ đáp ứng và một số yếu tố như tuổi, giới, toàn trạng trước điều trị, liều điều trị và tình trạng di căn xa
Từ khóa: Ung thư dạ dày, giai đoạn muộn, phác đồ TCX, đáp ứng điều trị
ABTRACT
Chemotherapy plays an important role in the treatment; which significantly provides symptom palliation and prolongs survival in patients with locally advanced unresectable and metastatic gastric cancer Among regimens, Paclitaxel plus Platinum based and Capecitabine (TCX) demonstrated a higher response rate and acceptability side effects It is suitable for later stage patients who retain an adequate performance status The study aims to primary evaluate the efficacy and the toxicity in the treatment for patients with advanced gastric
Method: Interventional study not case - controlled Fifty - one patients with locally advanced unresectable
and metastatic gastric cancer in Ha Noi Oncology Hospital were enrolled
Results after three cycles, overall response rate is 51% Performance status improved significantly after treatment There is no relationship between response rate and some determinants such as: age, sex, PS, dosage, number site of metastasis
Keyword: Gastric cancer, advanced stages, TCX regimen, responses rate
1 BS Trưởng Khoa Nội 2 - Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong số bệnh
ung thư phổ biến nhất trên thế giới UTDD là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư, đặc biệt là ở
các nước đang phát triển Theo thống kê Globocan
năm 2012, hàng năm trên thế giới có khoảng
989,600 ca mới mắc và 738,000 ca tử vong do
UTDD[1] Tại Việt Nam theo ghi nhận ung thư Hà Nội
năm 2011 cho tỉ lệ mắc là 23,4/100.000 dân và
UTDD đứng hàng thứ 2 các loại ung thư trong cả hai
giới[1]
Trong điều trị UTDD, phẫu thuật là phương
pháp điều trị chính Bệnh nhân UTDD giai đoạn sớm
được điều trị triệt căn bằng phẫu thuật Hóa trị đóng
vai trò bổ trợ hoặc tân bổ trợ trong những trường hợp bệnh nhân giai đoạn phẫu thuật khó có thể phẫu thuật triệt căn Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn, bệnh nhân tái phát, di căn sau phẫu thuật còn cao, bên cạnh đó có tới 2/3 các trường hợp khi phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, không còn khả năng phẫu thuật triệt căn[2] Hóa trị trong các giai đoạn này có vai trò chủ đạo, giúp cải thiện triệu chứng và kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh
Có nhiều nghiên cứu và hướng dẫn thực hành lâm sàng trên thế giới đã sử dụng điều trị các phác
đồ Paclitaxel kết hợp nhóm Platinum và Capecitabin (TCX) điều trị cho bệnh nhân, ngoài cho những kết quả khả quan trong điều trị, tính dung nạp của phác
Trang 2đồ cũng tốt hơn, thể hiện số chu kỳ hóa trị bệnh
nhân được điều trị, các tác dụng ngoại ý nhẹ nhàng
hơn và kiểm soát tốt, phù hợp với thể trạng của
bệnh nhân giai đoạn muộn, khi thể trạng suy yếu
nhiều[3]
Tại Việt Nam hiện nay, nhiều bệnh viện và trung
tâm ung bướu đã sử dụng phác đồ DCF và các phác
đồ sử dụng Paclitaxel kết hợp thuốc Platinum và
Capecitabin (TCX) là điều trị bước một trong điều trị
UTDD giai đoạn muộn Bệnh viện Ung bướu Hà Nội
cũng đã áp dụng phác đồ TCX trong điều trị bước
một UTDD giai đoạn muộn, tuy nhiên cho đến nay
vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào đánh giá
đáp ứng điều trị của phác đồ này Chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này với mục tiêu: “Bước đầu đánh
giá tỷ lệ đáp ứng của phác đồ TCX trong điều trị Ung
thư dạ dày giai đoạn muộn tại bệnh viên Ung bướu
Hà Nội và các yếu tố liên quan”
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là can thiệp lâm sàng
không đối chứng
Công thức tính cỡ mẫu
n = Z
2 1 - /2 p (1- p)
2
Trong đó n: cỡ mẫu
Z: Hệ số tin cậy, giá trị Z1 - /2 = 1,96,
tương ứng với α=0,05
p: Những nghiên cứu hóa trị điều trị ung thư
dạ dày giai đoạn muộn gần đây như DCF, EOX,
TCX trên thế giới cho các tỷ lệ đáp ứng từ 0,37 đến
0,41; do đó chúng tôi lấy tỷ lệ p=0,4[4]
Chúng tôi dự định chọn ít nhất 41 BN đủ tiêu
chuẩn
Đối tượng
Bệnh nhân được chẩn đoán UTDD giai đoạn
muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn và
chưa từng điều trị hóa chất
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Bệnh viện Ung bướu Hà Nội
Thời gian: từ tháng 1/2016 đến hết tháng
6/2018
Phương pháp
Bệnh nhân UTDD giai đoạn muộn được điều trị
Bệnh nhân được đánh giá đáp ứng tại hai thời điểm, thời điểm sau kết thúc 03 chu kỳ điều trị và thời điểm sau kết thúc 6 chu kỳ điều trị
Sau 03 chu kỳ
Bệnh nhân bệnh đáp ứng hoặc bệnh giữ nguyên: Tiếp tục điều trị khi bệnh không tiến triển sau mỗi chu kỳ điều trị đến đủ 06 chu kỳ điều trị Bệnh tiến triển: Bệnh nhân sẽ được chuyển phác đồ nếu thể trạng cho phép hoặc chuyển điều trị chăm sóc giảm nhẹ
Sau kết thúc 06 chu kỳ
Bệnh đáp ứng hoặc bệnh giữ nguyên: Bệnh nhân sẽ được theo dõi định kỳ 03 tháng/lần bằng thăm khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng siêu âm, Xquang Được thăm khám cận lâm sàng bằng các phương pháp chụp CLVT, MRI, xạ hình sau 06 tháng, hoặc khi qua thăm khám bệnh có biểu hiện tiến triển hoặc tái phát
Bệnh tiến triển: Bệnh nhân sẽ được chuyển điều trị phác đồ khác nếu thể trạng cho phép hoặc điều trị chăm sóc giảm nhẹ
Đánh giá đáp ứng với điều trị chia 4 mức độ theo REIST 1.1
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đạo đức của nghiên cứu y học Bệnh nhân được giải thích kỹ mục đích của nghiên cứu trước khi tự nguyện tham gia nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào Thông tin bệnh nhân được bảo mật, chỉ được sử dụng nhằm theo dõi và thăm khám bệnh nhân theo đúng phác đồ điều trị
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2018 có tổng cộng 51 bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn được tham gia vào nghiên cứu Đặc điểm của các bệnh nhân được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Đặc điểm về tuổi, giới của quần thể nghiên cứu
Trang 3Trong quần thể nghiên cứu, số bệnh nhân nam
nhiều gấp đôi số bệnh nhân nữ Nhóm tuổi từ 50-59 chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm hơn 50% quần thể nghiên cứu
Bảng 2 Các chỉ số lâm sàng trước điều trị
Đặc
điểm
Trước khi điều trị bằng phác đồ TCX, 28 bệnh nhân ở giai đoạn ung thư đang lan rộng tại chỗ và 23 bệnh nhân đã có di căn xa Chỉ số toàn trạng theo thang điểm ECOG chủ yếu là 1 (53,0%) và 0 (43,1%), 3,9% có chỉ
số toàn trạng là 2 Đặc điểm mô bệnh học, tuyến biệt hóa cao chiếm tỷ lệ cao nhất (43,1%), tiếp đến là tuyến biệt hóa vừa (29,4%), tuyến biệt hóa kém chiếm 17,7%
Bảng 3 Đánh giá đáp ứng điều trị của quần thể nghiên cứu
Tất cả 51 bệnh nhân đều điều trị qua 3 chu kỳ theo phác đồ TCX Trong số đó có 46 bệnh nhân hoàn thành 6 chu kỳ điều trị Sau 3 chu kỳ điều trị, tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng điều trị một phần chiếm tỷ lệ cao nhất (45,1%), giai đoạn bệnh ổn định chiếm tỷ lệ 39,2% và 5,9% bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn Có 9,8% bệnh nhân bệnh tiến triển Tỷ lệ đáp ứng điều trị cũng tương tự như vậy đối với bệnh nhân điều trị 6 chu kỳ, lần lượt
là 54,4%; 19,6%; 10,8%; 15,2%
Biểu đồ 1 Chỉ số toàn trạng qua 6 chu kỳ điều trị
Trang 4Tỷ lệ PS ≤ 1 trước điều trị là 96,1% Sau 1 chu kỳ điều trị, tỷ lệ này giảm 1 chút còn 92,2% và tiếp tục giảm sau 2 chu kỳ còn 90% và xuất hiện 1 bệnh nhân có PS = 4 Tuy nhiên, sau chu kỳ 3 tỷ lệ này tăng lên cao nhất là 98,0% và giảm dần sau chu kỳ 4 và 5 Đến chu kỳ 6 thì tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 91,4%
Bảng 4 Một số yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị qua 3 chu kỳ
Đặc điểm bệnh nhân Có đáp ứng (n) Không đáp ứng (n) RR (95% CI)
Tiến triển tại chỗ 16 12 1.31 (1.02-3.34)
Tỷ lệ đáp ứng với phác đồ TCX sau 3 chu kỳ ở nhóm tiến triển tại chỗ, ban đầu chưa có khả năng phẫu thuật bằng 1,31 lần nhóm đã có di căn ở các tạng khác và khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05 Nhóm tuổi từ 55 trở lên có đáp ứng điều trị chỉ bằng 0,56 lần so với nhóm chưa đến 55 tuổi là khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, khi tìm mối liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng theo giới và liều điều trị thì sự khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu chưa có ý nghĩa thống kê
Bảng 5 Một số yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị qua 6 chu kỳ
Tiến triển tại chỗ 15 4 0.97 (0.47-2.01) Nghiên cứu mối liên quan giữa đáp ứng điều trị sau 6 chu kỳ với các nhóm giơi, tuổi, liều điều trị, giai đoạn bệnh thì không có sự khác biệt giữa các nhóm có thể do cỡ mẫu lúc này còn lại ít và phân bố bệnh nhân giữa các nhóm không đồng đều
BÀN LUẬN
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tuổi và giới
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên
51 bệnh nhân ung thư dạ dày tái phát di căn, trong
đó có 35 bệnh nhân nam và 16 bệnh nhân nữ Tỷ lệ
nam/ nữ = 2,18 Nhóm tuổi 50 - 59 chiếm tỷ lệ cao
nhất ở cả 2 giới, bệnh nhân dưới 50 tuổi và trên 70
Về tuổi, theo nghiên cứu Nguyễn Thị Vượng (2013) tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu
là 56,36 ± 8,372[4] Theo Furukawa K và cộng sự (2011) tuổi trung bình 66,4 ± 10,5; Chiao-Yun Chen (2007) tuổi hay gặp 37 đến 84, trung bình 63 tuổi; Ajani và cộng sự (2005) tuổi trung bình 57 tuổi; Dank
và cộng sự (2016) tuổi trung bình 58; Guimbaud và cộng sự (2014), tuổi trung bình 61[5,6,7,8,9] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với các
Trang 5Về giới, theo nghiên cứu Vũ Văn Thế, tỷ lệ nam
giới/ nữ giới là 2,43/1, Nguyễn Thị Vượng (1,25/1),
Nguyễn Khánh Toàn (2,05/1), Trịnh Hồng Sơn (2/1),
nhưng lại thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Lam Hòa (2,5/1), Vũ Quang Toản (3,2/1)[4,
10,11,12,13] Nhìn chung thì tỷ lệ nam giới mắc bệnh
thường cao hơn nữ giới Tỷ lệ của chúng tôi là 2,18
là khá tương đồng so với các nghiên cứu trong
nước
Chỉ số toàn trạng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ yếu các
đối tượng có PS=1, chiếm 53%; PS=0 chiếm 43,1%;
PS=2 chiếm 3,9% Nghiên cứu của Vũ Văn Thế cho
thấy hầu hết các BN có thể trạng tương đối tốt Tỷ lệ
BN có chỉ số đánh giá thể trạng theo ECOG PS=0-1
là 93,8%; chỉ có 6,2 % BN có chỉ số toàn trạng
PS=2[13] Nghiên cứu của Nguyễn Khánh Toàn
(2013) PS=0-1 là 96,1%; Ajani và cộng sự (2005)
PS=0-1 là trên 90%[9],[4] Nghiên cứu V325 của Van
Cutsem và cs cũng được thực hiện trên các BN
UTDD có chỉ số Karnofsky từ 80% trở lên[14]
Bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi có thể
trạng PS=2 chiếm tỷ lệ thấp hơn các nghiên cứu trên
do chúng tôi cũng chỉ lựa chọn những bệnh nhân có
thế trạng tương đối tốt, có đủ tiêu chuẩn để dùng
hóa chất vì phác đồ TCX là sự phối hợp của ba
nhóm hóa chất, bệnh nhân có thể trạng tốt sẽ có sự
dung nạp thuốc tốt và hạn chế tác dụng phụ về sau
Mô bệnh học
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ung thư biểu
mô tuyến biệt hóa cao chiếm tỷ lệ cao nhất 43,1%;
tiếp đó là ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa và ung
thư tuyến biệt hóa thấp lần lượt chiếm tỷ lệ 29,4 %
và 17,7% Tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào nhẫn thấp
nhất chiếm 2%
Theo nghiên cứu của Vũ Văn Thế, tất cả các bệnh nhân đều có mô bệnh học thuộc loại UTBM tuyến Trong đó loại biệt hóa thấp và không biệt hóa chiếm tỷ lệ cao nhất (72,9%), sau đó đến loại biệt hóa trung bình 25%, biệt hóa cao chiếm 2,1%[13] Tác giả Nguyễn Đức Huân khi nghiên cứu đặc điểm
mô bệnh học của UTDD tại Bệnh viện K cũng cho kết quả loại kém biệt hóa chiếm tỷ lệ cao nhất 41,1%, biệt hóa vừa 38,4%, biệt hóa cao 19,5% Trong khi đó, tác giả Trịnh Hồng Sơn nghiên cứu thấy loại biệt hóa cao chiếm tỷ lệ cao nhất (40,2%) còn loại kém biệt hóa chiếm tỷ lệ thấp (20,7%)[10] Tác giả Nguyễn Văn Hiếu khi nghiên cứu đặc điểm bệnh học ở những BN UTDD sớm được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện K thấy độ biệt hóa cao chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,37% còn thể biệt hóa thấp chiếm tỷ lệ thấp hơn 36,84[12]
Nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng so với các nghiên cứu trên, bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là những trường hợp được chẩn đoán giai đoạn muộn; độ biệt hóa cao chiếm tỷ lệ cao nhất dự báo khả năng đáp ứng hóa chất tốt hơn
so với kém biệt hóa và tế bào nhẫn Thể mô bệnh học liên quan nhiều đến tiên lượng bệnh, trong đó những thể tế bào nhẫn, kém biệt hóa có khả năng xâm lấn và di căn cao, nguy cơ tái phát cao Trong thực tế nghiên cứu, tỉ lệ đáp ứng của chúng tôi khá cao 51% cho thấy mối liên quan giữa đáp ứng và thể
mô bệnh học
Đáp ứng điều trị
Tỷ lệ đáp ứng
Bảng 6 Một số phác đồ được nghiên cứu trong UTDD giai đoạn muộn
Sakamoto 2006 55 Capecitabine 25,5% -
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy,
trong ung thư dạ dày giai đoạn muộn, nếu thể trạng
bệnh nhân còn tốt, thì việc lựa chọn phác đồ phối
hợp các thuốc cho tỷ lệ đáp ứng cao tuy nhiên độc tính độ 3, 4 cao hơn Nền tảng của các phác đồ hóa chất là nhóm Taxan, Platinum và 5 Fluorouracil
Trang 6Sự thay thế của oxaliplatin cho cisplatin trong
phác đồ có epirubicin và fluoropyrimidin đã được
đánh giá trong nghiên cứu REAL-2, một thử nghiệm
pha III so sánh phác đồ ECF (epirubicin, cisplatin,
5-FU), ECX (epirubicin, cisplatin, capecitabine),
EOF (epirubicin, oxaliplatin, 5-FU) và EOX
(epirubicin, oxaliplatin, capecitabine) Kết quả cho
thấy thời gian sống thêm không bệnh tiến triển và tỉ
lệ đáp ứng không khác nhau giữa bốn phác đồ, thời
gian sống thêm giữa hai phác đồ có oxaliplatin và
hai phác đồ có cisplatin là như nhau Tuy nhiên, khi
bốn phác đồ trên được phân tích một cách độc lập,
thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân điều
trị bằng phác đồ EOX cao hơn một cách khiêm tốn
so với phác đồ ECF (11.2 tháng so với 9.9 tháng,
HR 0.80, CI 0.66-0.97)
V-325 là một nghiên cứu pha III được Van
Cutsem và cộng sự công bố năm 2006 so sánh phác
đồ CF (chỉ có cisplatin và 5-FU) và phác đồ DCF (có
thêm docetaxel) tiến hành trên 445 bệnh nhân UTDD
giai đoạn tiến xa, di căn[14], kết quả cho thấy phác đồ
DCF cho tỉ lệ đáp úng cao hơn (37% so với 25%), có
thời gian sống cho tới khi bệnh tiến triển cao hơn
(5.6 tháng so với 3.7 tháng) với p<0.001 Sau thời
gian theo dõi trung bình là 23.4 tháng, phác đồ TCX
cho thời gian sống thêm trung bình cao hơn phác đồ
CF (9.2 tháng so với 8.6 tháng) và cho chất chất
lượng sống của người bệnh được cải thiện hơn
Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ đáp ứng sau
3 chu kì khá ấn tượng 51%, so với các nghiên cứu
trên có sự khác biệt - cao hơn rõ rệt, phần vì nhóm
đối tượng nghiên cứu của chúng tôi tuy được chẩn
đoán UTDD giai đoạn muộn nhưng thể trạng còn tốt,
điều trị hóa chất TCX ngay từ đầu nên dung nạp
thuốc tốt và đặc điểm mô bệnh học thuận lợi dự báo
tiên lượng điều trị tốt hơn Ngoài ra, sự khác biệt về
cỡ mẫu và cách chọn đối tượng cũng khác nhau
trong các nghiên cứu nên cần có cỡ mẫu lớn hơn,
đa trung tâm để so sánh
Chỉ số toàn trạng sau điều trị
Nhờ sự cải thiện rõ rệt của các triệu chứng cơ
năng, thể trạng chung của người bệnh cũng có những
tiến triển tốt Tỷ lệ BN có PS ≤ 1 tăng rõ rệt 98% sau 3
chu kì sau đó giảm xuống 91,4% sau 6 chu kì Chỉ số
toàn trạng không phải là một chỉ tiêu đánh giá một
dấu hiệu đáp ứng cụ thể, nhưng nó giúp cho việc
đánh giá một cách tổng thể sức khỏe của BN có thay
đổi hay không sau điều trị, có thể coi là một phép tính
nhanh ảnh hưởng của việc điều trị đến với người
bệnh Đặc biệt là đối với BN điều trị triệu chứng, việc
nâng cao thể trạng BN làm tăng thêm chất lượng
cuộc sống thì lại càng quan trọng hơn
BN có PS=0 sau điều trị tăng lên gấp 2 lần so với trước điều trị Sự cải thiện này có lẽ một phần là do
độ tuổi BN trong nghiên cứu của Tô Như Hạnh thấp hơn (28 - 70 tuổi) do vậy khả năng phục hồi sau điều trị tốt hơn[15]
Gần đây nghiên cứu của Van Cutsem (2006) cũng đều cho thấy sự cải thiện về chất lượng cuộc sống và chỉ số toàn trạng ưu thế hơn ở nhóm những
BN được điều trị hóa chất[14]
Liên quan đáp ứng và một số yếu tố
Tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa đáp ứng điều trị và nhóm tuổi sau 3 chu
kỳ nhưng lại không có khác biệt sau 6 chu kỳ Tuổi càng cao thì nguy cơ mắc các bệnh lý phối hợp càng cao, có khả năng làm giảm dung nạp thuốc, tuy nhin cần cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá mối liên quan qua
6 chu kì
Giới
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy với nữ giới, mặc dù không có sự khác biệt về đáp ứng điều trị so với nam, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển dài hơn nam giới có ý nghĩa thống kê (p<0,05) PFS của nữ giới dài hơn nam có thể do đặc điểm chung của nữ giới có tuổi thọ cao hơn, tuân thủ điều trị hơn, ít sử dụng các chất có nguy cơ cao như rượu, thuốc lá, đồng thời tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào nhẫn gặp nhiều hơn ở nữ giới nên việc đáp ứng với điều trị sẽ tốt hơn
Liều điều trị
Không có nhiều ghi nhận đánh giá sống thêm theo liều điều trị được công bố Tuy nhiên, theo nhiều đề tài trước đây nhận thấy điều trị gần liều chuẩn mang lại kết quả tốt hơn[4],[13] Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có mối liên quan giữa thời gian sống thêm bệnh không tiến triển, đáp ứng điều trị với liều điều trị Mục đích điều trị bệnh nhân giai đoạn tái phát, di căn liên quan trực tiếp đến thời gian sống còn và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân,
do đó việc bệnh nhân tiếp tục duy trì được điều trị hóa chất mà chịu ít tác dụng không mong muốn là cực kỳ quan trọng Do đó chúng tôi đề xuất việc dùng liều phù hợp, giảm liều so với liều chuẩn để giảm thiểu tác dụng không mong muốn, bệnh nhân duy trì điều trị hơn là việc cố duy trì liều tối đa đối với tất cả các bệnh nhân
Tình trạng di căn xa
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa đáp ứng điều trị và tình trạng bệnh ban
Trang 7trải qua quá trình phẫu thuật cắt bỏ u dạ dày thuận
lợi, sau đó tiếp tục nhận đủ liều điều trị TCX và giữ
nguyên đáp ứng hoàn toàn đến 6 chu kỳ Mối liên
quan này bước đầu cho thấy việc sử dụng phác đồ
TCX như liệu pháp hóa chất dẫn đầu nhằm giảm giai
đoạn bệnh và cơ hội phẫu thuật cho những bệnh
nhân ung thư dạ dày giai đoạn muộn lan rộng tại
chỗ, tại vùng và chưa thể phẫu thuật được ngay tại
thời điểm ban đầu
KẾT LUẬN
Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của
ung thư dạ dày giai đoạn muộn
Nhóm tuổi hay gặp nhất 50 - 59 tuổi Tỷ lệ nam/
nữ = 2,18
Bệnh tái phát tại chỗ, tại vùng chiếm 54,9%
Di căn xa chủ yếu 1 vị trí chiếm 45,1%
Mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến biệt hóa
cao gặp nhiều nhất 43,1%, tiếp sau là ung thư biểu
mô tuyến biệt hóa vừa chiếm 29,4%, ung thư biểu
mô tuyến kém biệt hóa chiếm 17,7% và tế bào nhẫn
chiếm 2%
Chỉ số toàn trạng trước điều trị PS=0 chiếm tỷ
lệ cao nhất 43,1%, PS=1 chiếm 53%, có 2 bệnh
nhân toàn trạng ban đầu PS=2 chiếm 3,9%
Tỷ lệ đáp ứng điều trị và một số yếu tố có liên
quan
Tất cả 51 BN đều trải qua 3 chu kì hóa chất
trong đó 46 BN điều trị qua 6 chu kì
Đáp ứng toàn bộ sau 3 chu kì là 51%; đáp ứng
hoàn toàn là 5,9%; đáp ứng một phần là 45,1% Tỷ
lệ bệnh ổn định là 39,2%; tiến triển là 9,8% Có mối
liên quan giữa đáp ứng điều trị và tuổi, tình trạng di
căn trước điều trị và không có mối liên quan giữa
đáp ứng điều trị và giới, liều điều trị
Đáp ứng toàn bộ sau 6 chu kì là 65,2%; đáp
ứng hoàn toàn là 10,8%; đáp ứng một phần là
54,4% Tỷ lệ bệnh ổn định là 10,8%; tiến triển là
15,2%
Không có mối liên quan giữa đáp ứng điều trị và
tuổi, giới, toàn trạng trước điều trị, tình trạng di căn
và liều điều trị
Tỉ lệ PS≤ 1 trước điều trị là 96,1% và sau 3 chu
kì điều trị là 98%, sau 6 chu kì điều trị là 91,4%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Diệu và Nguyễn Bá Đức (2012) Gánh nặng
bệnh ung thư và chiến lược phòng chống ung
thư quốc gia đến năm 2020 Tạp chí ung thư học
Việt Nam, 13-19
2 Đoàn Lực (2002), Đánh giá hiệu quả điều trị triệu
chứng cho bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn
muộn, Luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà
Nội
3 Ruoff C.A., Hong B., Kaplan B.H và cộng sự (2013) Single-center experience with paclitaxel (T), carboplatin (C), and capecitabine (X) in the treatment of advanced esophagogastric cancer JCO, 31(4_suppl), 116-116
4 Nguyễn Khánh Toàn (2013) Đánh giá kết quả hóa trị triệu chứng phác đồ XELOX cho ung thư
dạ dày giai đoạn muộn, Luận văn Thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
5 Dank M., Zaluski J., Barone C et al (2008) Randomized phase III study comparing irinotecan combined with 5-fluorouracil and folinic acid to cisplatin combined with 5-fluorouracil in chemotherapy naive patients with advanced adenocarcinoma of the stomach or esophagogastric junction Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol ESMO, 19(8), 1450-1457
6 Guimbaud R., Louvet C., Ries P et al (2014) Prospective, randomized, multicenter, phase III study of fluorouracil, leucovorin, and irinotecan versus epirubicin, cisplatin, and capecitabine in advanced gastric adenocarcinoma: a French intergroup (Fédération Francophone de Cancérologie Digestive, Fédération Nationale des Centres de Lutte Contre le Cancer, and Groupe Coopérateur Multidisciplinaire en Oncologie) study J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol, 32(31), 3520-3526
7 Furukawa K., Miyahara R., Itoh A et al (2011) Diagnosis of the invasion depth of gastric cancer using MDCT with virtual gastroscopy: comparison with staging with endoscopic ultrasound AJR Am J Roentgenol, 197(4),
867-875
8 Chen C.Y., Hsu J.S., Wu D.C et al (2007) Gastric cancer: preoperative local staging with 3D multi-detector row CT correlation with surgical and histopathologic results Radiology, 242(2), 472-482
9 Ajani J.A., Fodor M.B., Tjulandin S.A et al (2005) Phase II multi-institutional randomized trial of docetaxel plus cisplatin with or without fluorouracil in patients with untreated, advanced gastric, or gastroesophageal adenocarcinoma J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol, 23(24), 5660-5667
10 Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Phúc Cường và Đỗ Đức Vân (1998) Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và
Trang 8giải phẫu bệnh, các phương pháp điều trị ung
thư dạ dày không thuộc ung thư biểu mô tuyến
Tạp Chí Học Thực Hành, 4, 43-46
11 Nguyễn Lam Hoà (2008) Nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng, giải phẫu bệnh, kết quả điều trị phẫu
thuật ung thư dạ dày và hóa trị bổ trợ tại Bệnh
viện Việt Tiệp Hải Phòng, Luận văn Tiến sỹ y
học, Học viện Quân Y, Hà Nội
12 Vũ Quang Toản và Nguyễn Thị Tuyết Mai
(2012) Bước đầu đánh giá điều trị bệnh ung thư
dạ dày giai đoạn muộn (IIB-IIIC: T4,M0) bằng
phẫu thuật và hóa trị bổ trợ phác đồ EOX Tạp
Chí Ung Thư Học Việt Nam, 79-86
13 Vũ Văn Thế (2015) Đánh giá kết quả hóa trị
phác đồ Docetaxel-Cisplatin bệnh ung thư dạ
dày giai đoạn muộn tại Bệnh viện K, Luận văn
Thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
14 Van Cutsem E, Moiseyenko VM, Tjulandin S et
al (2006) Phase III study of docetaxel and cisplatin plus fluorouracil compared with cisplatin and fluorouracil as first-line therapy for advanced gastric cancer: a report of the V325 Study Group, J Clin oncol
15 To Nhu Hanh (2002), Nghiên cứu đánh giá kết quả hóa trị liệu phác đồ EOX cho UTDD giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn 2002: p 1-76
16 Kang E.J., Im S.A., Oh D.Y et al (2013) Irinotecan combined with 5-fluorouracil and leucovorin third-line chemotherapy after failure of fluoropyrimidine, platinum, and taxane in gastric cancer: treatment outcomes and a prognostic model to predict survival Gastric Cancer, 16(4), 581-589