1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị của sorafenib trên bệnh nhân ung thư gan nguyên phát chức năng gan Child-Pugh A

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 9,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị ung thư gan nguyên phát (UTGNP) bằng sorafenib trên bệnh nhân chức năng gan Child-Pugh A. Nghiên cứu mô tả hồi cứu, tiến cứu trên 55 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát giai đoạn muộn, tái phát di căn, chức năng gan Child-Pugh A được điều trị sorafenib tại bệnh viện K từ 2010 đến 2017.

Trang 1

TIÊU HÓA

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA SORAFENIB

TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT

CHỨC NĂNG GAN CHILD-PUGH A

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG1, LÊ VĂN QUẢNG2, NGUYỄN VĂN HIẾU2, TRẦN ĐỨC TOÀN3

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị ung thư gan nguyên phát (UTGNP) bằng sorafenib trên bệnh nhân chức năng gan Child-Pugh A Nghiên cứu mô tả hồi cứu, tiến cứu trên 55 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát giai đoạn muộn, tái phát di căn, chức năng gan Child-Pugh A được điều trị sorafenib tại bệnh viện K từ 2010 đến 2017 Kết quả cho thấy các yếu tố tiên lượng xấu là albumin máu giảm (thời gian sống trung bình 3 tháng so với 12,5 tháng, p<0,01), bilirubin máu tăng (OS trung bình 4 tháng so với 12,5 tháng, p=0,03), men gan tăng trên 80 UI/l (OS trung bình 2,2 tháng so với 12,5 tháng, p=0,02), có huyết khối tĩnh mạch cửa (OS trung bình 4 tháng so với 13,5 tháng, p<0,01), nồng độ AFP cao (OS trung bình 6 tháng so với 13 tháng, p=0,048) Hội chứng tay chân khi điều trị dự báo kết quả tốt khi điều trị với sorafenib (OS trung bình 15,5 tháng so với 4 tháng, p<0,01) Như vậy các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị của sorafenib trên bệnh nhân UTGNP Child-Pugh A khi điều trị sorafenib bao gồm tình trạng huyết khối, albumin, bilirubin, men gan, nồng độ AFP, hội chứng tay chân

Từ khóa: Ung thư gan nguyên phát, sorafenib, Child-Pugh A, yếu tố ảnh hưởng

SUMMARY

Several factors affect the outcome of sorafenib in primary liver cancer

patients with Child-Pugh liver Function class A

The study was done to evaluate some of the factors that affect the outcome of sorafenib in primary liver cancer patients with Child-Pugh A liver function The descriptive study in 55 patients with advantage or recurrence metastasis hepatocellular carcinoma and Child-Pugh liver function class A were treated with sorafenib at K hospital from 2010 to 2017 The worse prognostic factors were portal vein thrombosis (OS: 4 months vs 13.5 months, p<0.01), decreased albumin (OS: 3 months vs 12.5 months, p<0.01), increased bilirubin (OS: 4 months vs 12.5 months, p=0.03), higher pretreatment AFP (OS: 6 months versus 13 months, p=0.048) Patients with hand-foot skin reaction had higher outcome (OS: 15.5 months vs 4 months) Conclusion, the factors affect the outcome of sorafenib in primary liver cancer patients were: portal vein thrombosis, albumin, bilirubin, Aminotransferase, AFP and hand-foot skin reaction

Key word: Primary liver cancer, sorafenib, Child-Pugh A

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư biểu mô tế bào gan hay ung thư gan

nguyên phát (UTGNP) là ung thư đứng vị trí thứ 6

trên toàn thế giới Tại Việt Nam, UTGNP đứng vị trí

thứ 3 về tỷ lệ mắc ở nam, đứng thứ 8 ở nữ giới[1]

Tiên lượng bệnh xấu, tỷ lệ tử vong gần tương

đương với tỷ lệ mắc[2] Trong những năm gần đây,

những hiểu biết về đặc điểm sinh học phân tử của

ung thư gan đã có những tiến bộ đáng kể, song các

biện pháp điều trị còn mang lại kết quả hạn chế

Đối với giai đoạn muộn (có xâm lấn mạch, di căn hạch, di căn xa, chức năng gan còn tốt) nếu không điều trị thời gian sống chỉ đạt 3 tháng, các liệu pháp hoá chất toàn thân với giai đoạn này hầu như không chứng minh mang lại lợi ích Cho đến nay Sorafenib - thuốc ức chế đa tyrosine kinase đường uống là thuốc đầu tiên chứng minh được lợi ích về thời gian sống qua hai nghiên cứu SHARP và AP Kết quả cho thấy thuốc làm giảm 31% nguy cơ tử vong, cải thiện thời gian bệnh tiến triển trung bình 5,5 tháng so với nhóm chứng là 2,8 tháng, tăng thời

Trang 2

gian sống toàn bộ trung bình 10,7 tháng[3],[4]

Chức năng gan là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

lựa chọn phương pháp điều trị Sorafenib được

khuyến cáo điều trị cho những bệnh nhân chức năng

gan Child-Pugh A và B; tuy nhiên trong thực tế đa số

thuốc được sử dụng cho những bệnh nhân chức

năng gan Child-Pugh A ngay cả trong các thử

nghiệm lâm sàng Tại Việt Nam, sorafenib được Bộ

Y tế cấp phép sử dụng điều trị ung thư gan nguyên

phát từ năm 2009 Kết quả bước đầu của thuốc đã

được báo cáo trong một vài nghiên cứu nhỏ và cho

thấy có hiệu quả trong điều trị Tuy nhiên chi phí điều

trị sorafenib tương đối lớn; đối với nước đang phát

triển như Việt Nam khả năng chi trả của bệnh nhân

là vấn đề đáng quan tâm và đôi khi quyết định việc

bệnh nhân có chấp thuận điều trị hay không? Ngay

cả đối với những bệnh nhân chấp thuận điều trị,

không phải bệnh nhân nào cũng mang lại kết quả

tốt Vì lý do trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

nhằm mục tiêu đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng

đến kết quả điều trị của sorafenib trên bệnh nhân

ung thư gan nguyên phát chức năng gan Child-Pugh

A, với hi vọng tạo thêm cơ sở vững chắc hơn khi

quyết định điều trị

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu gồm 55 bệnh nhân ung thư

gan nguyên phát chức năng gan Child-Pugh A được

điều trị sorafenib tại Bệnh viện K từ 2010 đến 2017

Tiêu chuẩn lựa chọn

Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung

thư biểu mô tế bào gan theo tiêu chuẩn của Bộ y tế

Việt Nam với 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:

Có bằng chứng mô bệnh học là ung thư gan

nguyên phát

Hình ảnh ung thư gan nguyên phát điển hình

trên CLVT ổ bụng có cản quang hoặc MRI bụng có

cản từ, và ΑFP lớn hơn 400ng/ml

Hình ảnh ung thư biểu mô tế bào gan điển hình

trên cắt lớp vi tính ổ bụng có cản quang hoặc MRI

bụng có cản từ, cùng với lượng ΑFP tăng cao hơn

bình thường (nhưng chưa đến 400ng/ml) và có

nhiễm HBV hoặc HCV

Ung thư gan nguyên phát giai đoạn muộn (giai

đoạn C theo BCLC), tái phát di căn, thất bại sau điều

trị nút mạch

Chức năng gan Child-Pugh A

Được điều trị sorafenib với liều khởi điểm tối thiểu 400mg/ngày

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân mắc ung thư thứ hai, chức năng gan Child-Pugh B

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả, hồi cứu tiến cứu

Thu thập số liệu dựa trên

 Thăm khám lâm sàng

 Thông tin trong hồ sợ bệnh án lưu trữ

Thông tin cần thu thập

 Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu về tuổi, giới, giai đoạn bệnh, số lượng u, kích thước u, nồng độ AFP

 Đánh giá kết quả điều trị bao gồm: Đánh giá tỷ lệ đáp ứng (theo tiêu chuẩn RECIST 1.1); thời gian sống toàn bộ (tháng)

 Đánh giá mối liên quan một số yếu tố như nồng độ AFP trước điều trị, tình trạng nhiễm viêm gan virus, có hoặc không có huyết khối tĩnh mạch cửa, giảm albumin, tăng bilirubin trong máu với thời gian sống toàn bộ

Xử lý và phân tích số liệu trên máy tính, sử dụng phần mềm SPSS 18.0 Mối liên quan giữa các biến định tính sử dụng kiểm định 2 hoặc kiểm định chính xác Fisher Đánh giá thời gian sống thêm theo Kaplan- Meier

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này thực hiện được sự đồng ý của các cấp lãnh đạo Bệnh viện, được sự đồng ý của bệnh nhân Các thông tin về kết quả nghiên cứu của bệnh nhân được giữ kín Kết quả nghiên cứu phục

vụ cho công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân đồng thời nghiên cứu không ảnh hưởng tới quá trình điều trị của người bệnh nhân

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu trên 55 trường hợp ung thư gan nguyên phát chức năng gan Child-Pugh A chúng tôi thu được kết quả sau:

Trang 3

TIÊU HÓA

Kết quả điều trị

Bảng 1 Kết quả điều trị

Thời gian dùng thuốc trung bình 7,7 ± 2,5 tháng (Min: 1 tháng- Max: 56 tháng) Liều thuốc trung bình 502 mg/ngày

OS trung bình 10 ± 3 tháng (Min: 2 tháng, Max: 56 tháng)

(*Tỷ lệ kiểm soát bênh = Tỷ lệ đáp ứng 1 phần + tỷ lệ bệnh giữ nguyên

**Thời gian sống toàn bộ= thời gian từ khi điều trị sorafenib cho tới khi bệnh nhân tử vong vì bất kể nguyên)

Yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống

Bảng 2 Liên quan một số yếu tố với thời gian sống trung bình

Số bệnh nhân/ Tỷ lệ % Thời gian sống trung bình (tháng) p

Bình thường >35g/l 48 (87,3%) 12,5 ± 2,0 Giảm ≤ 35g/l 7(12,7%) 3 ± 0,5

Bình thường 39 (70,9%) 12,5 ± 3,6

< 80 UI/l 45 (81,8%) 12,5 ± 2,2

Trang 4

A B C

Bi ểu đồ Biểu đồ sống sót theo một số yếu tố

BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 55 bệnh nhân ung thư gan

nguyên phát chức năng gan Child-Pugh A điều trị

sorafenib với liều thuốc trung bình sử dụng 502

mg/ngày, thời gian dùng thuốc trung bình 7,7 tháng

chúng tôi thu được kết quả tỷ lệ kiểm soát bệnh là

70,9%, thời gian sống toàn bộ trung bình 10 tháng

Huyết khối tĩnh mạch cửa là 1 trong những yếu

tố tiên lượng xấu khi điều trị với sorafenib[5] Thời

gian sống trung bình khi có huyết khối tĩnh mạch cửa

thấp chỉ đạt 4 tháng so với 13,5 tháng ở nhóm không

có huyết khối tĩnh mạch cửa (p<0,005) Cơ chế hình

thành huyết khối tĩnh mạch cửa chưa rõ, phần lớn

huyết khối xuất hiện ở quanh u nguyên phát và được

cho là do u xâm lấn trực tiếp gây ra Mức độ lan tràn

của huyết khối tĩnh mạch cửa được chia thành

4 type và có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân sau nút

mạch, type càng cao tiên lượng càng xấu, tuy nhiên

chưa có nghiên cứu áp dụng phân độ này ở bệnh

điều trị sorafenib

Tiên lượng ung thư gan nguyên phát phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó mức độ lan tràn của bệnh và chức năng gan là 2 yếu tố quan trọng nhất Chức năng gan thường được đánh giá theo thang điểm Child-Pugh, được đưa ra lần đầu tiên năm 1964 được sử dụng rộng rãi trong đánh giá giai đoạn và tiên lượng các bệnh gan mạn tính Tuy nhiên 2 chỉ

số tình trạng cổ trướng và hội chứng não gan trong thang điểm Child-Pugh khó đánh giá và dễ bị thay đổi khi quan sát Chỉ có 2 yếu tố khách quan trong thang điểm Child-Pugh là albumin và bilirubin Trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thời gian sống toàn

bộ ở nhóm albumin máu giảm < 35g/l thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân có albumin máu bình thường 35g/l (3 tháng so với 12,5 tháng, p<0,05) Albumin máu có thể giảm do nhiều yếu tố như suy giảm chức năng gan, phản ứng viêm hoặc nhiễm trùng, tính thấm thành mạch, do thuốc và đặc biệt do suy mòn ở bệnh nhân ung thư, nồng độ albumin máu trước điều trị là yếu tố tiên lượng có giá trị trong các bệnh ung thư nói chung, nồng độ thấp thường đi

Trang 5

TIÊU HÓA

kèm với thời gian sống ngắn Cũng trong nghiên

cứu, chúng tôi nhận thấy thời gian sống trung bình ở

nhóm bilirubin tăng thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm

có bilirubin bình thường (≤17,2mmol/l) (4 tháng so

với 12,5 tháng, p=0,03) Vai trò của albumin và

bilirubin trong tiên lượng bệnh được đánh giá trong

một số nghiên cứu của Nhật Bản thông qua điểm

ALBI, tác giả kết luận điểm ALBI là yếu tố tiên lượng

độc lập trong dự báo kết quả điều trị ung thư gan

nguyên phát[6]

Aminotransferase (Men gan AST/ALT) được sử

dụng để xác định và theo dõi tổn thương tế bào gan

Chúng tôi nhận thấy trung bình thời gian sống của

nhóm bệnh có men gan dưới 80 UI/l là 12,5 ± 2,2

tháng, cao hơn của nhóm bệnh nhân men gan tăng

từ 80 trở lên là 4 ± 0,8 tháng; kết quả này có ý nghĩa

thống kê với p=0,02 Như vậy men gan tăng trên 80

UI/l là yếu tố tiên lượng xấu với bệnh nhân chức

năng gan Child-Pugh A

AFP huyết thanh là chất chỉ điểm quan trọng

đánh giá hoạt động của mô u, AFP có xu hướng

tăng nhanh khi u tăng kích thước[7] Thời gian sống

trung bình ở nhóm AFP bình thường cao hơn nhóm

AFP tăng cao trên 20ng/ml (13 tháng so với 6 tháng,

p=0,048) Trong một nghiên cứu khác tại Ý, các tác

giả cũng nhận định AFP là một yếu tố tiên lượng độc

lập với thời gian sống toàn bộ[8]

AFP cũng là yếu tố dự báo độc lập kết quả

sống thêm của người bệnh trong 1 vài nghiên cứu,

nhóm AFP lúc chẩn đoán cao >10.000ng/ml có thời

gian sống thấp hơn đáng kể so với nhóm có AFP

<200ng/ml (7,6% so với 33,9%)[9]

Tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện hội chứng tay chân

trong nghiên cứu chiếm 50,9%, và thời gian sống

trung bình ở nhóm này là 15,5 tháng cao hơn rất

nhiều so với nhóm không có hội chứng tay chân

(4 tháng), p<0,01 Cơ chế cụ thể của hội chứng tay

chân chưa rõ, song sự ức chế đồng thời cả VEGF

và PDGRF có thể là nguyên nhân Các tác giả khác

cũng cùng chung nhận định hội chứng tay chân là

yếu tố tiên lượng tốt khi điều trị với sorafenib, đặc

hiệt mức độ tổn thương độ 2 hoặc cao hơn trong 60

ngày đầu điều trị rất có ý nghĩa[10],[11]

KẾT LUẬN

Các yếu tố dự báo kết quả điều trị kém khi điều

trị sorafenib trên nhóm bệnh nhân UTGNP chức

năng gan Child-Pugh A là huyết khối tĩnh mạch cửa,

albumin giảm, bilirubin tăng cao, AFP cao, tăng men

gan >80UI/l trước điều trị Yếu tố dự báo kết quả

điều trị tốt là sự xuất hiện hội chứng tay chân

Lời cảm ơn:

Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban lãnh đạo

và phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện K đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Bá Đức (2010) ”Báo cáo sơ bộ kết quả thực hiện dự án quốc gia về phòng chống ung thư giai đoạn 2008-2010” Tạp chí ung thư học

Việt Nam, Hội thảo quốc gia phòng chống ung thư lần thứ XV, 21-26

2 International Agency for Research on Cancer, World Health Organization (2012) Liver cancer estimated incidence, mortality and prevalence

http://globocan.iarc.fr/old/FactSheets/cancers/liv er-new.asp

3 Cheng AL, Kang YK, Chen Z, et al (2009)

“Efficacy and safety of sorafenib in patients in the Asia-Pacific region with advanced hepatocellular carcinoma: a phase III randomised, double-blind, placebo-controlledtrial” Lancet Oncol, 10, 25–34

4 Llovet JM, Ricci S, Mazzaferro V, et al (2008)

“SHARP Investigators Study Group Sorafenib in advanced hepatocellular carcinoma” N Engl J Med, 359, 378–390

5 Chow P H W., Gandhi M (2017) Phase III multi-centre open-label randomized controlled trial of selective internal radiation therapy (SIRT) versus sorafenib in locally advanced hepatocellular carcinoma: The SIRveNIB study Journal of Clinical Oncology 35, 15_suppl,

4002–4002

6 Kuo Y.-H., Wang J.-H., Hung C.-H., et al (2017) The ALBI grade predicts the prognosis of patients with advanced hepatocellular carcinoma received sorafenib Journal of Gastroenterology and Hepatolog

7 Tyson GL, Duan Z, Kramer JR, et al (2011)

“Level of α-fetoprotein predicts mortality among patients with hepatitis C-related hepatocellular carcinoma” Clin Gastroenterol Hepatol, 9, 989

8 Di Costanzo G G., Casadei Gardini A., Marisi G., et al (2017) Validation of a Simple Scoring System to Predict Sorafenib Effectiveness in Patients with Hepatocellular Carcinoma Targeted Oncology

9 Nguyễn Thị Thu Hường (2017) Kết quả điều trị

Trang 6

số yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị Tạp chí

ung thư học Việt Nam, 1, 388-392

10 Wang P., Tan G., Zhu M., et al (2017)

Hand-foot skin reaction is a beneficial indicator of

sorafenib therapy for patients with hepatocellular

carcinoma: a systemic review and meta-analysis

Expert Review of Gastroenterology &

Hepatology 1–8

11 Vincenzi B., Santini D., Russo A., et al (2010) Early skin toxicity as a predictive factor for tumor control in hepatocellular carcinoma patients treated with sorafenib The Oncologist 15, 1,

85-92

Ngày đăng: 09/08/2021, 18:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w