1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên thần sa phượng hoàng, tỉnh thái nguyên

78 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu là những dẫn liệu cập nhật và là cơ sở khoa học choviệc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc trong hệ

Trang 1

-PHẠM THẾ VIỆT

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Lâm học

Mã ngành: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM

NGHIỆPNgười hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thoa

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả trình bày trong luận văn làtrung thực, do bản thân tôi thực hiện và chưa từng được công bố Mọi sự giúpđỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trongluận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng 01 năm 2021

Tác giả

Phạm Thế Việt

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao họcLâm nghiệp của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên khóa 26

Luận văn là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của đề

tài “Điều tra hiện trạng phân bố và xây dựng kế hoạch bảo tồn tại chỗ các

loài dược liệu trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng” do

Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng thực hiện và

TS Nguyễn Thị Thoa đại diện nhóm tư vấn

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận đượcsự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy, cô giáoTrường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, các cán bộ kiểm lâmKhu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, bà con nhân dân các xãtrong khu bảo tồn Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúpđỡ quý báu đó

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS NguyễnThị Thoa - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tìnhgiúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốtđẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thờigian thực hiện luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập Ban Giám đốc Khu bảo tồn thiênnhiên Thần Sa – Phượng Hoàng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giảtriển khai đề tài cũng như thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè vàngười thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gianhọc tập và hoàn thành luận văn này

Tác giả

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

BVTV : Bảo vệ thực vật

BTTN : Bảo tồn thiên nhiên

IUCN : International Union for Conservation of Nature and Natural Resources

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế

KBT : Khu bảo tồn

LSNG : Lâm sản ngoài ghỗ

NXB : Nhà xuất bản

QĐ : Quyết định

QLKBT : Quản lý khu bảo tồn

UBND : Ủy ban nhân dân

WHO : Orld Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.1.2 Nghiên cứu về đa dạng cây dược liệu 5

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10

1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 23

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 23

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Thời gian nghiên cứu: 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Kế thừa các tài liệu 27

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 28

2.4.3 Xử lý số liệu 32

CHƯƠNG 3 34

Trang 6

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 34

3.1.1 Đa dạng về bậc ngành 34

3.1.2 Đa dạng bậc họ 36

3.1.3 Đa dạng bậc chi 37

3.1.4 Đa dạng về giá trị bảo tồn nguồn gen cây thuốc 38

3.2 Hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 39

3.2.1 Đặc điểm phân bố của một số loài cây thuốc trên các tuyến điều tra 39

3.2.2 Hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu 42

3.3 Kiến thức bản địa của người dân trong việc sử dụng, chế biến cây thuốc của cộng đồng 45

3.3.1 Các nhóm bệnh và số loài cây thuốc để chữa trị 45

3.3.2 Sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc 48

3.4 Bản đồ phân bố một số loài cây được sử dụng làm thuốc có giá trị 51

3.5 Những hạn chế, thuận lợi trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng 51

3.5.1 Những hạn chế 51

3.5.2 Những thuận lợi 52

3.6 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa -Phượng Hoàng 52

3.6.1 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên dược liệu 53

3.6.2 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý về dược liệu 53

3.6.3 Giải pháp chế biến, tiêu thụ sản phẩm dược liệu 54

3.6.4 Giải pháp về kỹ thuật 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Tồn tại 58

3 Kiến nghị 58

Trang 7

- Thử nghiệm nhân giống một số loài cây thuốc đặc biệt là các loài quý hiếm

58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC 40

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tuyến điều tra thực địa 29

Bảng 3.1 Sự phân bố cây dược liệu theo từng ngành thực vật tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 34

Bảng 3.2 Các họ đa dạng nhất của tài nguyên cây thuốc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng 36

Bảng 3.3 Các chi đa dạng nhất của tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng 37

Bảng 3.4: Tình trạng bảo tồn các loài quý hiếm theo mức độ phân hạng 38

Bảng 3.5 Đặc điểm phân bố của một số loài cây thuốc quý hiếm 40

Bảng 3.6 Danh mục loài cây thuốc ưu tiên phát triển ở khu vực Thần Sa - Phượng Hoàng 43

Bảng 3.7 Đa dạng về nhóm loài cây thuốc chữa bệnh và các nhóm bệnh 45

Bảng 3.8 Các bộ phận dùng của cây thuốc ở Thần Sa - Phượng Hoàng 48

Bảng 3.9 Các cách dùng cây Dược liệu ở Thần Sa - Phượng Hoàng 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trườngsống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừngkhông chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứukhoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu,phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chốngxói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thờirừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng

Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ởchâu Á, được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và

đa dạng của sinh vật Hệ thực vật Việt Nam cũng được biết đến rất đa dạng vàphong phú Theo ghi nhận của Phạm Hoàng Hộ (1999) có khoảng 10.500 loàithực vật bậc cao có mạch và dự đoán có đến 12.000 loài; trong đó, số loài câydùng làm thuốc chiếm khoảng 36% Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu,

Bộ Y tế đã xác định ở Việt Nam có 3.948 loài cây thuốc Võ Văn Chi (2012)đã thống kê ở Việt Nam hiện có gần 4.700 loài thực vật làm thuốc

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thếgiới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻ cộngđồng (Akérelé) Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và "Hướng dẫn đánhgiá y học cổ truyền" năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổtruyền vào chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quảcũng như bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này

Lợi ích nhiều mặt thu được từ nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Namthực sự là lớn lao Song thực trạng hiện nay do con người đang gây ra là mộtthảm hoạ, nạn phá rừng tràn lan, khai thác dược liệu bừa bãi, chưa có kế hoạchtái sinh phát triển, nhiều loài cây thuốc mọc tự nhiên cho nhiều loại dược liệu

Trang 10

quý trong rừng bị phá huỷ đã và đang làm cho vốn quý đa dạng sinh học câydược liệu ngày càng bị cạn kiệt.

Việt Nam cũng có một lịch sử lâu đời trong sử dụng cây cỏ tự nhiên vàmột nền y học cổ truyền có bản sắc riêng để phòng và chữa bệnh cho conngười Nằm trong khu vực nhiệt đới Đông Nam Á có đa dạng sinh học rất cao.Theo ước tính Việt Nam có khoảng trên 12.000 loài thực vật bậc cao, chiếmkhoảng 4-5% tống số loài thực vật bậc cao đã biết trên thế giới và khoảng 25%số loài thực vật bậc cao đã biết ở châu Á Trong số này, có khoảng 4.000 loàithực vật và 400 loài động vật được dùng làm thuốc Thế nhưng, các thuốc nàymới chủ yếu được sử dụng trong điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền và

y học dân gian Việt Nam Thị trường dược liệu ở Việt Nam vẫn trong tìnhtrạng thả nổi, thiếu sự quản lý của các cơ quan có chức năng quản lý ví dụ:khai thác thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá cả quản lý thịtrường, chất lượng dược liệu thuộc Sở Y tế

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập tạiQuyết định số 3841/QĐ-UB ngày 01 tháng 12 năm 1999 của Ủy ban nhân dântỉnh Thái Nguyên, được tổ chức lại tại Quyết định số 1963/QĐ-UBND, ngày31/8/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên, diện tích được Nhà nước giaoquản lý, bảo vệ, phát triển là 19.913,54 ha Khu bảo tồn có hệ sinh thái rừngnúi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn genđộng thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá, tàinguyên rừng còn nhiều cây gỗ lớn là rừng tự nhiên giáp ranh với 3 tỉnh TháiNguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, có chiều dài trên 40 km vùng rừng giáp ranh,là khu vực phòng thủ an ninh quốc phòng của Nhà nước và là khu rừng quýduy nhất của tỉnh Thái Nguyên

Đề tài: Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải

pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên, nhằm xác định thực trạng và tiềm năng, làm cơ sở quan trọng

Trang 11

đề xuất xây dựng các giải pháp bảo tồn tại chỗ, xây dựng vườn dược liệu, cácgiải pháp đồng bộ về khai thác có kiểm soát trong việc bảo tồn và đi đôi vớiphát triển bền vững cây dược liệu trong khu vực Luận văn là một phần nộidung của nhiệm vụ: “Điều tra hiện trạng phân bố và xây dựng kế hoạch bảotồn tại chỗ các loài dược liệu trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – PhượngHoàng”, của khu bảo tồn được thực hiện năm 2019-2020.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần

Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên cây thuốc tạiKhu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài câythuốc nói riêng và hệ thực vật nói chung tại khu vực nghiên cứu

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiêncứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biếtcách thu thập, phân tích và xử lý thông tin

- Bổ sung dẫn liệu về tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTNThần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là những dẫn liệu cập nhật và là cơ sở khoa học choviệc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc trong hệ sinhthái rừng tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu

Từ ngày xưa, thậm chí đến ngày nay Người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sựtrừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằngcác lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ Cây cỏ làmthuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng.Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải quanhiều thế hệ Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraqtừ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sửdụng trong y học cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từnhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay đượcbiết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn (Theo Farnsworth N.R and SoejartoD.D (1991)

Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổđại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc vàtrên 700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung), hoàng thảo tam bảosắc, hoàng thảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chânchim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâmđương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấmhác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó,cây chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo(khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người Ấn Độ cổđại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó cócác loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Theo Farnsworth N.R andSoejarto D.D (1991)

Trang 13

Tư liệu từ Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế(IUCN) cho biết, trong số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin, thìcó tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khácnhau Trong tài liệu “Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ” xuất bản năm 1980 đã

đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là cây thuốc Hay trong bộ “Trung Quốcthực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giớithiệu tới gần 200 loài được sử dụng làm thuốc cần bảo vệ Vấn đề bảo tồn đadạng nói chung và vào tồn cây thuốc nói riêng đang được nhiều Quốc gia và các

tổ chức quốc tế quan tâm (Theo Nguyễn Tập, 2007)

1.1.1.2 Nghiên cứu về đa dạng cây dược liệu

Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn tàinguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe conngười, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiếtphải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của cácdân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyềnđã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Chonên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quantrọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kếthợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 1985, trên toàn thế giới đãbiết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao (trong tổng số hơn250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp để làm thuốc hay có xuất xứcung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N R Farnsworth & D D Soejarto, 1985).Con số này được ước tính từ 30.000 – 70.000 loài (Napralert, 1990) Trong đó ởTrung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6.500 loài,… (N R Farnsworth,1985; S K Alok, 1991; P G Xiao, 2006) Tại các quốc gia đang phát triển, hiện

Trang 14

vẫn có một tỷ lệ lớn dân số đã hoặc đang được chăm sóc sức khỏe bằng y học cổtruyền, mà trong đó có sử dụng cây thuốc (Nguyễn Tập, 2007).

Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 – 70.000 loài cây trong số250.000 - 300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơitrên thế giới Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, ấn Độ có khoảng 7.500loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal cóhơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550 – 700 loài Theo Jukovski (1971), có 12trung tâm đa dạng sinh học cây trồng trên thế giới là Trung Quốc – Nhật Bản,Đông Dương – Indonesia, Châu úc, ấn Độ, Trung á, Cận Đông, Địa Trung Hải,Châu Phi, Châu Âu – Siberi, Nam Mexico, Nam Mỹ và Bắc Mỹ Nhiều loài câythuốc đã được thuần dưỡng và trồng trọt từ lâu đời tại các trung tâm đó như Gaidầu, Thuốc phiện, Nhân sâm, Đinh hương, Nhục đậu khấu, Quế xây lan, Bạc hà,Canh kina, v.v… (Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích, 2018)

Theo các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập

cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc vàtrên 700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung) lan thạc hộc tía, hoàngthảo tam bảo sắc, hoàng tảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàngliên chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳngsâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giácniên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái,máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nôngBản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người

Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước,trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Farnsworth N.R andSoejarto D.D., 1991)

Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong yhọc cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc,… Người dân bản xứ Mexico từ nhiều nghìn

Trang 15

năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay được biết là chứachất gây ảo giác, kháng sinh Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đãđược người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đâyvới 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu,v.v… ; người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo trongkhoảng thời gian gần 5.000 năm trước đây với 365 vị thuốc; người ấn Độ cổ đạiđã ghi chép nền y học của người Hindu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có cácloài cây cỏ gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Dẫn theo Trần Văn Ơn, Lê ĐìnhBích, 2018).

Manju Panghal và cs (2010), nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loàicây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ Kết quảcho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật.Trong đó có 19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn Có 48 loài thuộc 34họ được sử dụng để chữa trị các bệnh khác Phân theo dạng sống có 20 loài câythân thảo (36%), 16 loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi(16%) và 1 loài thân bò (2%) Những họ có số loài nhiều nhất là họ Đậu(Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họCúc (Asteraceae) mỗi họ có 3 loài

Koushalya Nandan Singh (2013), nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng câythuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn Độ Kết quả ghi nhận có 86 loài thựcvật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau.Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc vềcác họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae Hầu hết cácloại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái cây và dịchtriết Trong số các bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử dụng phổbiến, tiếp theo là hoa

Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chứcNông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản

Trang 16

ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập chongười dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏđói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và

bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002).

Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại

Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức

tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội

dung đề cấp là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ

bản, công dụng và thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002).

Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.dePadua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu vềcác cây thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặcđiểm phân loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật họcvà sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng,chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trênthế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)

Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trêntoàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá củacác dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinhtế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầuchăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chấtchiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006)

-Parinitha M và cs (2005), nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài câythuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ Kết quảcho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm Mười hai tuyên bố mới về

Trang 17

kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như môtả đã có trong văn học.

Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong yhọc cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìnnăm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứachất gây ảo giác, kháng khuẩn (Farnsworth N.R and Soejarto D.D., 1991)

Rey G Tantiado (2012), nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tạiIloilo, Philippines Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92 chi và 44họ Bộ phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả, 10% số loàidùng thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài dùng cả cây và2% số loài dùng hạt

Gidey Yirga (2010), điều tra tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại phíaBắc Ethiopia Kết quả thống kê có 16 loài cây được sử dụng để trị các bệnh chongười Phần lớn các loài cây (68,75 %) cây hoang dại và gây trồng được sử dụng

lá Mahwasane và cs (2013), điều tra thi thức bản địa sử dụng cây thuốc của cácthầy lang tại khu vực Lwamondo, tỉnh Limpopo, Nam Phi Kết quả điều tra chothấy có 16 loài cây thuốc, thuộc 7 họ và 14 chi Họ Đậu (Fabaceae) có số lượngloài nhiều nhất (43,8%), tiếp theo là họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) với 18.8%

Rễ được sử dụng nhiều nhất (44,5%), tiếp theo là lá (25,9%), vỏ (14,8%), cả cây(11%), và hoa (3,7%)

Gangwar và cs (2010), nghiên cứu đa dạng thực vật dân tộc tại huyệnKumaun Himalaya, bang Uttarakhand, Ấn độ Kết quả cho thấy các loài câythuốc dân tộc truyền thống rất đa dạng Đã thống kê được 102 loài cây thuộc 48họ được sử dụng như là cây thuốc truyền thống của người dân bản địa, số loàithuộc các họ được thống kê từ cao tới thấp là: các họ Asteraceae, Limiaceae vàRosaceae (mỗi họ có 9 loài) tiếp theo là các họ Solanaceae và Poaceae (4 loài);Araceae, Euphorbiaceae, Polygonaceae, Ranunculaceae, Scrophularaceae và

Trang 18

Valerianaceae (3 loài mỗi họ); Apiaceae, Apocynaceae, Liliaceae, Meliaceae,Moraceae, Pinaceae, Plantaginaceae, Rutaceae, Saxiferagaceae, Verbenaceae vàZingiberaceae (2 loài mỗi họ); và 25 họ khác (mỗi họ 1 loài) Về dạng sống, có

50 loài cây thân thảo, 24 loài cây bụi, 22 loài cây gỗ, thân bò và dây leo mỗidạng có 3 loài Bộ phận sử dụng, có 21 loài sử dụng cả cây; 43 loài sử dụng mộtvài bộ phận (nhiều hơn 1 bộ phận như lá, cành và rễ, thân, rễ và vỏ…); 14 loài sửdụng rễ; 8 loài sử dụng lá; 4 loài sử dụng quả; vỏ, thân ngầm và hạt mỗi loại có 3loài; 2 loài sử dụng thân và 1 loài sử dụng hoa

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự pháttriển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khíhậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát Đặc biệt lànước nhân dân sống gần đó mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứuchữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất

Nguyễn Tập (2007), trong cuốn “Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở ViệtNam” giới thiệu chung về nguồn tài nguyên cây thuốc và vấn đề bảo tồn câythuốc ở Việt Nam hiện nay Tài liệu đề cập danh sách 144 loài, thuộc 93 chi, 57họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 18 loài ở bậc Cực kỳ nguycấp (CR), 57 loài Đang bị nguy cấp (EN) và 69 loài Sắp bị nguy cấp (VU) Trongsố đó tác giả chọn ra 102 loài tiêu biểu đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ởcác mức độ khác nhau để giới thiệu về đặc điểm hình thái cơ bản, phân bố, đặcđiểm sinh thái, tái sinh, hiện trạng, giá trị bảo tồn, biện pháp bảo tồn Tài liệunhằm góp phần vào những nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tàinguyên lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

Theo Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phảitiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cườngcây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn

Trang 19

chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại câythuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêmnguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng.

Nguyễn Văn Tập (2006), tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tạixã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loàithuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dạitrong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi làmới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền (2000), tại xã Địch Quả huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn câythuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốccủa đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiềuloại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quýbáu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đãchỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố,công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết

-về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức

độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tàinguyên cây thuốc

Trong công trình cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang cónguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo (2003) đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạnkiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừngsuy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tácgiả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái,sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm,đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốcphải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân giangắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc

Trang 20

Trong 2 năm 2004-2005, Ngô Quý Công đã tiến hành điều tra việc khaithác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiêncứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn vàphát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu củaDự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II tài trợ,nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu háibằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loàisuy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chílà sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằmmục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng nhưxây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốctrong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp và đềxuất hợp lý để bảo tồn và phát triển.

Đỗ Hoàng Sơn và cs (2009), đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác,

sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùngđệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có

459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là:

Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc

vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc đểchữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trongrừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia TamĐảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suygiảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giảđã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn

Theo Nguyễn Văn Tập, 2005, trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam,cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sửdụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm

2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật(kể cả

Trang 21

Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là câythuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợphầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai tháckhông chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác,nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiệnqua các thực tế sau:

- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làmnương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phíaNam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tựnhiên chưa kịp khai thác

- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù cóvùng phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng

(Coscinium fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania spp)… hoặc hàng

trăm tấn như Hoằng đằng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá

mức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác

Một số loài thuộc nhóm này như Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh

lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ

- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâmmọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt

chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2005).

Ninh Khắc Bản và cộng sự (2013), nghiên cứu tri thức sử dụng các loàicây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc giaBạch Mã Kết quả thống kê cho thấy, các loài cây thuốc dùng để chữa bệnhkhông những đa dạng về thành phần loài (249 loài thuộc 82 họ của người Cơ Tu,

27 loài thuộc 21 họ của người Vân Kiều), về dạng sống (thân thảo 61,0%, dạng

gỗ, bụi 39,0%), về bộ phận sử dụng (người Cơ Tu sử dụng làm thuốc vẫn làcành, lá 77 loài chiếm 31%; tiếp đến là cả cây 73 loài chiếm 30%; rễ, củ 68 cây

Trang 22

chiếm 28%; hoa quả 15 loài chiếm 7%; các bộ phận khác 9 loài chiếm 4%.Người Vân Kiều sử dụng rễ củ 13 loài chiếm 42%; cành lá 8 loài chiếm 26%; cảcây 5 loài chiếm 16%; các bộ phận khác (nhựa, dịch thân, ) 4 loài chiếm 13%và hoa quả 1 loài chiếm 3%) mà còn đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị (11nhóm bệnh).

Bùi Văn Hướng và cộng sự (2013), nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyêncây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai Qua điều tra nghiên cứu, bướcđầu đã xác định được 145 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 112 chi và

61 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là Ngọc lan (Magnoliophyta),Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông đất (Lycopodiophyta) Ngành Ngọc lan(Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 53 họ, chiếm 86,9%; 105 chi, chiếm 93,8% và

137 loài, chiếm 94,5% so với tổng số họ, chi, loài cây thuốc đã điều tra Về dạngsống của cây thuốc thì nhóm cây bụi với 62 loài, chiếm 42,8%; tiếp đến là nhómcây thân thảo với 31 loài, chiếm 21,4%; nhóm cây dây leo với 25 loài, chiếm17,2%; nhóm cây gỗ với 21 loài, chiếm 14,5% và cuối cùng là nhóm cây thân rễvới 6 loài, chiếm 4,1% tổng số loài cây thuốc đã điều tra được Trong các bộphận của cây thuốc, rễ là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với 51 loài chiếm35,2%; thân với 33 loài chiếm 22,8%; lá và cả cây được sử dụng với tỷ lệ bằngnhau là 17,2% Các bộ phận khác như: Vỏ, củ, quả tuy được sử dụng nhưng tỷlệ không đáng kể Có 13 nhóm bệnh chủ yếu được chữa trị bằng cây thuốc bảnđịa với kiến thức của đồng bào dân tộc Trong đó, nhóm bệnh về tiêu hoá lànhiều nhất với 14 loài chiếm 9,7%; tiếp đến là nhóm bệnh phụ nữ với 13 loài,chiếm 9,0% Các bệnh về ngoài da và động vật côn trùng cắn có số loài lần lượtlà 12 loài, chiếm 8,3% và 9 loài, chiếm 6,2% Một số bệnh về răng và dạ dày tỷlệ sử dụng cây thuốc để chữa trị là khá ít

Võ Văn Minh và cộng sự (2014), nghiên cứu cây thuốc của người Hre tạihuyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Kết quả đã điều tra xác định được 45 loài câythuốc, thuộc 26 họ, thông qua việc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của cộng

Trang 23

đồng người Hre huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi Trong đó có 2 loài thuốc quý trongDanh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, 6 loài quý theo kiến thức bản địa của ngườidân Cây thuốc được khai thác chủ yếu từ tự nhiên (84,44%), kiến thức bản địaphong phú thể hiện ở kinh nghiệm sử dụng để chữa trị 12 nhóm bệnh khácnhau, số lượng các loài cây thuốc được sử dụng chữa các nhóm bệnh cơ - xương

- khớp, thận, nội tiết, gan là nhiều nhất Cách thức chế biến sử dụng khá đa dạng

Những loài cây thuốc quý cần ưu tiên bảo tồn là Ba kích (Morinda officinalis), Thổ phục linh (Smilax glabre), Sa nhân tím (Amomum longiligulare).

Lê Thanh Hương và cộng sự (2012), đánh giá thực trạng cây thuốc quý

hiếm tại tỉnh Thái Nguyên, kết quả bước đầu đã xác định được 25 loài thực vật

bậc cao có mạch sử dụng làm thuốc cần đươc phải bảo tồn Trong đó, theo Sách

đỏ Việt Nam có 20 loài (cấp EN có 6 loài, cấp VU có 11 loài và cấp K có 3 loài);theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP có 6 loài (1 loài ở mức độ nghiêm cấm khaithác sử dụng - IA và 5 loài hạn chế khai thác sử dụng - IIA); theo Danh lục đỏcây thuốc có 15 loài (cấp EN có 10 loài và cấp VU có 5 loài)

Theo Nguyễn Thế Cường và cs (2015), bổ sung một số kết quả điềutra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hangtỉnh Tuyên Quang, đã thống kê được 275 loài cây thuốc thuộc 204 chi và 96họ thực vật bậc cao có mạch được người Dao và người Tày sử dụng để làmthuốc trị bệnh

1.1.2.2 Nghiên cứu đa dạng cây dược liệu tại Việt Nam

Để khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc ởViệt Nam, từ nhiều chục năm trở lại đây, các ngành Y tế, Lâm nghiệp, Sinh họcđã có nhiều đợt điều tra cơ bản Trong đó đáng chú ý nhất có công tác điều tranghiên cứu của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, đã được tiến hành một cách tương đốicó hệ thống ở tất cả các địa phương trên phạm vi toàn quốc Kết quả điều tra từnăm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận được ở nước ta có 3.948 loài câythuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp (kể cả nấm),

Trang 24

trong số 3.948 loài cây thuốc đã biết có trên 3.500 loài (hơn 90%) là cây mọc tựnhiên, mọc chủ yếu trong các quần xã rừng Trong số 3.948 loài cây thuốc, phầnlớn được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp cácđịa phương Hiện đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng,thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi nămcung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu (Theo Nguyễn Tập, 2007).

Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vậttrong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) BạchMã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt Theo thống kê của ngành Dược, cảnước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền trongcác bệnh viện đa khoa Có 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần4.000 cơ sở chuẩn trị đông y Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trongsách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở cácbệnh viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng nhưcác cây thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho yhọc cổ truyền khoảng 30.000 tấn/năm

Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dàylịch sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừngphát triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được ápdụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quýbáu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãitrong nhân dân, nghiên cứu cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vữngnguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụngcây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loạidược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướngnghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai Hiện nay, nhiều loài cây dược liệuquý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng

do lạm dụng khai thác quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra,

Trang 25

tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa vềcây

cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm gópphần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây

thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc

Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu

của Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trongsố đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thìcon số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồngbào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ.Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khaithác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉriêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khôđã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000tấn nguyên liệu thô

Trong tài liệu: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi(2004), bao gồm có 2 phần: Phần I tác giả trình bày một số chú ý khi sử dụngthuốc nam; cơ sở lý luận về tìm thuốc và tác dụng thuốc theo đông y; bào chếthuốc theo đông y; cơ sở để xem xét tác dụng của thuốc theo khoa học hiện đại;

kê đơn thuốc đông y Phần II: Những cây thuốc và vị thuốc bao gồm có 20 nhómcây thuốc và vị thuốc chữa bệnh khác nhau, các cây thuốc trong mỗi nhóm được

mô tả hình dạng, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược

lý, công dụng và liều dùng

Số loài cây thuốc được phát hiện ở Việt Nam tăng liên tục theo thời gian.Trước năm 1952, toàn Đông Dương có 1.350 loài cây làm thuốc, GS Đỗ Tất Lợi(2004) giới thiệu 800 cây, con và vị thuốc Viện Dược liệu (2003) Việt Nam có

Trang 26

3.850 loài cây thuốc Tính đến nay theo thống kê của Viện Dược liệu đã ghi nhận5.117 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụnglàm thuốc ở Việt Nam Trong số đó, có khoảng 70 loài có tiềm năng khai thácvới tổng trữ lượng khoảng 18.000 tấn/năm như diếp cá (5.000 tấn), cẩu tích(1.500 tấn), lạc tiên (1.500 tấn), rau đắng đất (1.500 tấn) Dự đoán, nếu đượckhảo sát đầy đủ, số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể là 6.000 loài Những nămgần đây, nhiều loài cây thuốc hoang dại đã được nghiên cứu và đã trở thànhnhững dược phẩm có giá trị chữa bệnh và kinh tế như Chè dây, Giảo cổ lam,Thìa xanh, Diệp hạ châu, Cà gai leo, Sâm Ngọc Linh… Song song với sự pháthiện và đưa vào sử dụng cây thuốc ngày càng nhiều, thì sự mất đi về nguồn gencây thuốc và các tri thức sử dụng cây thuốc do nhiều nguyên nhân khác nhauđang là thử thách lớn cho sự suy thoái về tài nguyên sinh vật nói chung và câythuốc nói riêng (Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích, 2018).

Theo Trần Văn Ơn và cs (2018), số loài cây thuốc chính thức ở Việt Namđược thống kê hiện nay là 4.700 loài Số loài cây thuốc được phát hiện ở ViệtNam tăng liên tục theo thời gian Theo tài liệu của Pháp, trước năm 1952, toànĐông Dương có 1.350 loài cây làm thuốc trong 160 họ thực vật Bộ sách “Nhữngcây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2004) giới thiệu 800 cây, convà vị thuốc Bộ sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) cóghi 830 loài cây thuốc Theo số liệu điều tra của Viện dược liệu (2003), ViệtNam có 3.850 loài cây thuốc và đã mô tả khoảng 1300 loài cây, con làm thuốctrong tác phẩm “Cây thuốc và động vật làm thuốc” Có khoảng 657 loài trong

357 chi thuộc 114 họ cây có tinh dầu Dự đoán, nếu được khảo sát đầy đủ, số loàicây thuốc ở Việt Nam có thể là 6.000

Chuyên đề “Tài nguyên cây thuốc” dùng cho sinh viên Đại học Dược saukhi đã học môn Thực vật dược, Dược liệu, Dược cổ truyền của Trần Văn Ơn, LêĐình Bích (2018) đã trình bày về khái niệm tài nguyên cây thuốc, sự hình thànhtài nguyên cây thuốc, đặc điểm của tài nguyên cây thuốc, tài nguyên cây thuốc ở

Trang 27

Việt Nam, bảo tồn tài nguyên cây thuốc, sử dụng và phát triển bền vững tàinguyên cây thuốc và phương pháp điều tra cây thuốc.

Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatintừ rễ, củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ

ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundinngười ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó cóloại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng

kể Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô quabiên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm

1996, tuy mới biết được trên 10 loài thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4

loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam

Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền

phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum Roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở

vùng nhiệt đới núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có

24 loài Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộcó khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đãđược xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sanhân đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộcbước đầu đã thống kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong cáctrường hợp ăn không tiêu, kiến lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng,…Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nướcgội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấutạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân

Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tánrừng, Nguyễn Ngọc Bình, 2000 đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dướitán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo

Trang 28

vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái,phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân,Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,…

Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về tàinguyên cây thuốc ở các địa phương, đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồnthiên nhiên, làm cơ sở bảo tồn tài nguyên cây thuốc, như:

Phạm Tiến Thịnh (2015), nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học một sốloài cây thuốc bản địa tại huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái, đã xác định đượccó 56 loài cây thuốc bản địa thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đócó 12 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), có 6 loài có tên trongNghị định số 32/2006/NĐ-CP và 2 loài nằm trong danh lục đỏ IUCN (2013).Xác định được phổ dạng sống của các loài cây thuốc bản địa, mô tả đặc điểmphân loại được 54 loài cây thuốc bản địa và tri thức sử dụng của chúng

Nguyễn Văn Huy (2018), nghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tạikhu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái, kết quả đã phát hiện và ghi nhậnđược tại Khu BTTN Nà Hẩu có 110 loài cây thuốc, 67 họ, của 4 ngành Thực vậtbậc cao có mạch, các dạng sống gồm: nhóm cây thảo có nhiều loài nhất (42loài), sau đó đến dây leo (29 loài), nhóm cây bụi (25 loài), nhóm cây gỗ(12 loài) và cuối cùng là nhóm cây thân gỗ (2 loài) Số loài có tên trong Sách

Đỏ Việt Nam (

2007) là 14 loài, trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP là 3 loài, trong Danh lục đỏIUCN (2014) là 2 loài Đồng bào dân tộc sống trong Khu bảo tồn có nhiều kinhnghiệm trong khai thác, sơ chế và sử dụng cây thuốc, có nhiều bài thuốc quý cầnđược nghiên cứu, kiểm chứng để phục vụ cho việc chữa bệnh

1.1.2.3 Những nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên

Theo Trần Xuân Sinh (2004), Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoànghuyện Võ Nhai (Thái Nguyên) là khu rừng đặc dụng, diện tích rừng tự nhiên là11.220ha, có mục đích bảo tồn các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và bảo tồn

Trang 29

các nguồn gen động thực vật, đặc biệt các loài quý hiếm và đặc hữu Ưu thế làcác loài Nghiến, Trai, Đinh, Chò chỉ, Mạy tèo, Ô rô, nổi bật là ưu hợp Nghiến+ Ô rô.

Theo Ngô Xuân Hải và cs (2010), đã phân loại thảm thực vật Thần Sa thành

5 kiểu theo phương pháp phân loại của Thái Văn Trừng Về thành phần thực vậtcó

1086 loài, thuộc 645 chi và 160 họ của 5 ngành thực vật Có 44 loài có tên trongSách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP Số loàithực vật rừng trong khu hệ thực vật diễn biến theo chiều hướng giảm về số lượngvà chất lượng, đặc biệt một số cá thể quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệtchủng

Điền Thị Hồng (2012), nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc và giảipháp đồng quản lý tại khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnhThái Nguyên kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng tham gia đồng quản lý rừngtại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng là rất lớn (cả về nguồn lựccon người, trình độ chuyên môn về bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học) Mặt khácBan QLKBT rất cần sự tham gia của các bên liên quan để đảm bảo thực hiệncông tác quản lý rừng tại Khu bảo tồn được tốt hơn; về phía các bên liên quan,qua phân tích cho thấy họ có điều kiện để tham gia đồng quản lý Tác giả đưa ra

5 nguyên tắc trong đồng quản lý rừng: (1) Đảm bảo tính hợp pháp; (2) Tựnguyện tham gia; (3) Bình đẳng; (4) Đảm bảo lợi ích kinh tế; (5) Đảm bảo tínhbền vững

Nguyễn Duy Tùng (2014), đã nghiên cứu hiện trạng các loài thực vậtnguy cấp, quý hiếm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiênnhiên Thần Sa-Phượng Hoàng huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên, kết quả đãthống kê trong khu bảo tồn có 60 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 họ, trong đó đãthống kê được số loài quý hiếm phân bố theo tuyến, và theo trạng thái rừng

Nguyễn Thị Thoa (2014), nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ ở KhuBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng và đã xác định được 611 loài, 344 chi, 107 họthuộc 2 ngành thực vật thuộc 10 quần hệ và 9 phân quần hệ của 4 lớp thảm thực

Trang 30

số

Trang 31

Shannon - Wiener (H), chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Cd), chỉ số tương đồng (SI),chỉ số entropy Rẽnyi (H) để phân tích tính đa dạng của hệ thực vật ở đây Ngoài

ra tác giả còn nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên, một số yếu tố tácđộng đến

tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn và đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn hệ thựcvật nói riêng và thực vật thân gỗ nói chung

Nguyễn Văn Tuyên (2017), nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài

Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa

-Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu đã mô tảđặc điểm hình thái, sinh thái, vật hậu và tái sinh của loài Xoan đào, từ đó tác giảđã đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Xoanđào tại khu vực nghiên cứu như điều tiết mật độ, tạo không gian dinh dưỡng, độtàn che thích hợp, loại bỏ những cây ít giá trị kinh tế, dây leo ảnh hưởng đến sựphát triển của loài, đặc biệt là các cây tái sinh

Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về rừng, về đa dạng sinh học cũng như những loài thực vật quý hiếm, nhưng những nghiên cứu về tài nguyên cây dược liệu thì chưa có nghiên cứu nào, vì vậy cần thiết phải có nghiên cứu về vấn đề này.

Tóm lại:

Như vậy có thể thấy nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩmmưa nhiều, có tính đa dạng về các kiểu rừng, hệ sinh thái, có nhiều thành phầndân tộc, có nền văn hóa đa dạng, đặc sắc, chính vì thế kiến thức bản địa trongviệc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có cáccây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Trên thếgiới và ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về đa dạng tàinguyên cây thuốc và những kiến thức bản địa của người dân trong việc khaithác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng Tuy nhiên, những nghiêncứu về tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – PhượngHoàng còn hạn chế Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị

Trang 32

giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó cócả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vìvậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng tài nguyên câythuốc bản địa là một việc rất cần thiết hiện nay.

1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý: Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa giới hànhchính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía Bắc,có tọa độ địa lý: 105051’05’’ đến 106008’38’’ kinh độ Đông 21045’12’’ đến

21056’30’’ vĩ độ Bắc

- Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Phía Nam giáp với huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trang 33

Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính của 7 xã và một thị trấnthuộc huyện Võ Nhai gồm: Thị trấn Đình Cả, xã Phú Thượng, xã Sảng Mộc,xã Thần Sa, xã Thượng Nung, xã Nghinh Tường, xã Vũ Chấn, xã Cúc Đường.Với tổng diện tích đất quy hoạch khu rừng đặc dụng là 19.913,54 ha.

1.2.1.2 Địa hình địa thế

Địa hình: Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng có địa hình bị chia cắtkhá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành Chúng có đặcđiểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chínhnhư: địa hình đồi núi thấp; địa hình núi đá vôi và kiểu địa hình trũng nằm xen

kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất

1.2.1.3 Khí hậu - thuỷ văn

Khí hậu: Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, lạnh về mùa đông, mặt khác doảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từBắc Sơn đến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn

so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường cósương muối vào mùa đông

Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khôtừ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C;nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối caotrung bình năm 26,90C Lượng mưa trung bình năm từ 1.400 mm đến 1.600mm

Thuỷ văn: Mật độ dòng chảy bề mặt thấp do điều kiện địa hình núi đávôi, nhiều hang động Các-xtơ và suối ngầm Dòng chảy tương đối hẹp, độ dốcdòng chảy lớn Có suối ngầm, có sự xuất hiện đột ngột dòng chảy trên bề mặttạo nên cảnh quan đẹp trong Khu BTTN Điều kiện khí hậu cùng với đặc điểmđịa hình địa mạo tạo nên những vùng có tài nguyên động, thực vật rừng phongphú, đặc hữu và quý hiếm

1.2.1.4 Địa chất - thổ nhưỡng

Khu bảo tồn gồm 2 loại đất chính: Nhóm đất màu nâu đỏ trên núi đá vôivà những nơi dốc tụ chân núi đá; đất có độ phì cao nên thường bị đồng bào

Trang 34

phát nương làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua, tầng B pháttriển mạnh và có mầu đỏ tươi rất dễ nhận biết Loại đất đỏ vàng hoặc vàngxám trên phiến thạch sét và đá biến chất: Đây là loại đất chiếm diện tích khálớn, tầng đất từ mỏng đến trung bình và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng đồinúi đất có độ cao dưới 300 - 600m, loại đất này có thành phần cơ giới biếnđộng khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng, trên các loại đábiến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với trên đá phiến thạch sét, đấtthuộc loại chua, kết cấu kém hơn loại đất trên.

1.2.1.5 Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng: Theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể và hệthống phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng, thảm thực vậttrong khu bảo tồn do có độ cao thấp nên hầu hết các kiểu rừng đều thuộc rừngmưa nhiệt đới ẩm núi thấp Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng là nơi giaothoa của nhiều luồng thực vật khác nhau, kết hợp điều kiện khí hậu và địa hìnhcủa khu vực đã tạo nên tính đa dạng, phong phú về thành phần loài thực vật ởđây Hệ động vật trong Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc khu hệđộng vật vùng Đông Bắc Việt Nam Đây là hệ động vật đặc trưng cho hệ sinhthái rừng trên núi đá vôi Đa số các loài động vật ở đây có ưu thế là thích nghivới điều kiện địa hình hiểm trở, có khả năng vận động kiếm ăn tốt nơi địa hìnhphức tạp

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong khu vực có 6 dân tộc sinh sống là Tày, Dao, Nùng, Kinh,H’Mông, Cao Lan Dân tộc Tày có số dân đông nhất (với 8.717 người, chiếm41,72 %), sau đó đến dân tộc Dao (4.414 người, chiếm 21,12%)

Dân số nằm trong vùng đệm và vùng lõi KBT có 4.929 hộ với 20.592nhân khẩu Mật độ đông nhất là thị trấn Đình Cả (358 người/km2), thấp nhất làxã Thần Sa (23 người/km2) Số lượng nhân khẩu tập trung đông nhất ở 5 khuvực là Phú Thượng, thị trấn Đình Cả, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Sảng Mộcchiếm 77,68% tổng số dân Xã có số dân ít nhất là Thượng Nung với 2.193

Trang 35

khẩu chiếm 10,65% Trình độ dân trí không cao, chất lượng lao động cònnhiều hạn chế Đa số các hộ gia đình vẫn canh tác theo lối truyền thống, khaithác quá mức tài nguyên đất, tài nguyên rừng.

Thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/người/năm Số hộ nghèo trongkhu vực là 1.921 hộ, chiếm 39% tổng số hộ Do cuộc sống khó khăn, ngườidân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ, LSNG, người dân sốngtại các xã thuộc khu bảo tồn chiếm trên 95% là sản xuất nông nghiệp Vì vậyđã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh họccủa Khu bảo tồn

Trang 36

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các loài thực vật được người dân

khai thác và sử dụng làm thuốc

- Địa điểm nghiên cứu: đề tài nghiên cứu điều tra cây thuốc trên phạm

vi 5 xã gồm: Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung và Thần Sa

2.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 6/2019 đến tháng 10/2020

2.3 Nội dung nghiên cứu

Điều tra đa dạng về tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa

-PhượngHoàng

- Đánh giá hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

- Kiến thức bản địa của người dân trong việc sử dụng, chế biến cây thuốccủa cộng đồng

- Xây dựng bản đồ phân bố một số loài cây được sử dụng làm thuốc cógiá trị và phổ biến

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại Khu BTTNThần Sa - Phượng Hoàng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Kế thừa các tài liệu

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan đến đề tài bao gồm:

+ Các bản đồ khu vực nghiên cứu: Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình…

+ Các báo cáo khoa học, đề tài đã thực hiện tại khu vực liên quan đếnkhu hệ thực vật nói chung và các loài cây dược liệu nói riêng

+ Báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở Khu bảo tồn

Trang 37

+ Các báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng hàng năm của khu bảo tồn.

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

- Phương pháp phỏng vấn: Đối tượng phỏng vấn là người dân thường

xuyên vào rừng, cán bộ khu bảo tồn, thầy lang có am hiểu về tài nguyên câythuốc, việc thực hiện phỏng vấn, trao đổi được thực hiện ngay trên thực địatrong quá trình đi điều tra thực địa có sự tham gia Các câu hỏi tập trung traođổi về thành phần loài, công dụng, bộ phận sử dụng, sử dụng để chữa bệnh gì,cách chế biến, thời điểm thu hái, khu vực phân bố, thang điểm cho các loài câytrong khu vực nghiên cứu,… Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 150 người,trung bình mỗi xã phỏng vấn 30 người

- Phương pháp điều tra thực địa:

Phương pháp điều tra theo tuyến: Sử dụng bản đồ hiện trạng nhằm sơthám và xác định các tuyến điều tra cho từng xã chủ yếu dựa vào đường dânsinh, đường mòn làm tuyến điều tra chính Các tuyến điều tra được xác địnhtheo 2 hướng là song song và vuông góc với đường đồng mức, cự li giữa haituyến khoảng 50-100m tùy vào địa hình khu vực điều tra

Tuyến điều tra thực vật được thiết kế để kiểm tra các thông tin đã đượcthảo luận với các cán bộ địa phương và người dân am hiểu về cây dược liệuhiện trạng phân bố, tình hình quản lý, khai thác, sử dụng

Các tuyến được bố trí điển hình (dựa trên bản đồ phân bố lý thuyết) trêncác kiểu sinh cảnh được dự đoán có khả năng xuất hiện nhiều các loài dượcliệu, đi qua các đai cao khác nhau, núi đá, núi đất, các kiểu thảm thực vật khácnhau, đại diện cho từng khu vực nghiên cứu Trên mỗi tuyến quan sát sang haibên, mỗi bên 5m Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của các loàinguy, cấp quý hiếm trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng củaKBT thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng

Để có thể điều tra tổng thể về khu hệ thực vật rừng, nghiên cứu đã tiếnhành lập 26 tuyến, chiều dài tuyến phụ thuộc vào địa hình của sinh cảnh Trênmột số tuyến, thiết lập các OTC có diện tích 500m2 ở các vị trí địa hình khác

Trang 38

nhau (chân núi, sườn núi, đỉnh núi) để thu thập nhưng thông tin về thành phầnloài cây, mật độ cây, khả năng tái sinh của cây thuốc Vị trí các tuyến đã lậpđược trình bày cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Tuyến điều tra thực địa STT

Trang 39

STT

Ngày đăng: 09/08/2021, 18:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Khắc Bao (2003), “Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm san ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt”, Tạp chí Nông nghiệp va phát triển nông thôn, (10/2003), trang 1336 - 1338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm san ngoài gỗđang có nguy cơ cạn kiệt”, "Tạp chí Nông nghiệp va phát triển nôngthôn
Tác giả: Trần Khắc Bao
Năm: 2003
2. Ninh Khắc Bản, Vũ Hương Giang, Trần Mỹ Linh, Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Quốc Bình, Trần Thiện Ân, Huỳnh Văn Kéo, Jacinto Regalado (2013),“Tri thức sử dụng các loai cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu va Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái va tai nguyên sinh vật lần thứ 5, Nxb Nông nghiệp, trang 950 - 956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tri thức sử dụng các loai cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu vaVân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã”
Tác giả: Ninh Khắc Bản, Vũ Hương Giang, Trần Mỹ Linh, Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Quốc Bình, Trần Thiện Ân, Huỳnh Văn Kéo, Jacinto Regalado
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 2013
3. Nguyễn Ngọc Bình, Phạn Đức Tuấn (2000), Trồng cây đặc sản va dược liệu dưới tán rừng, Cục khuyến nông khuyến lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây đặc sản va dượcliệu dưới tán rừng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình, Phạn Đức Tuấn
Năm: 2000
4. Ngô Quý Công, Bruce Dunn (2005), “Đề xuất về bao tồn va phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đao”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (5), trang 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất về bao tồn va phát triểnnguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đao”, "Bản tinLâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Ngô Quý Công, Bruce Dunn
Năm: 2005
5. Nguyễn Thế Cường, Trần Duy Thái, Chu Thị Thu Ha (2015), Bổ sung một số kết quả điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang, Hội nghị Khoa học toan quốc về sinh thái va tài nguyên sinh vật lần thứ 6 trang 1094 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bổ sung mộtsố kết quả điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khurừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Thế Cường, Trần Duy Thái, Chu Thị Thu Ha
Năm: 2015
8. Ngô Xuân Hải, Đặng Kim Vui (2010), “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật Khu bao tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoang, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Nông nghiêp & PTNT, (1), tr. 115 - 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng thực vậtKhu bao tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoang, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Ngô Xuân Hải, Đặng Kim Vui
Năm: 2010
10. Điền Thị Hồng (2012), Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc va giải pháp đồng quản lý tại khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc va giải phápđồng quản lý tại khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện VõNhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Điền Thị Hồng
Năm: 2012
11. Lê Thanh Hương va cs. (2012), Đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, khoa học tư nhiên va công nghê sô 28 (2012) trang 173-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếmtại tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lê Thanh Hương va cs
Năm: 2012
12. Bùi Văn Hướng, Nguyễn Văn Dư, Ha Tuấn Anh, Trần Huy Thái, Trần Minh Hợi (2013), “Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái va tai nguyên sinh vật lần thứ 5, Nxb Nông nghiệp, trang 1105 -1109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bàodân tộc tại tỉnh Gia Lai”
Tác giả: Bùi Văn Hướng, Nguyễn Văn Dư, Ha Tuấn Anh, Trần Huy Thái, Trần Minh Hợi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
13. Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000), Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng va bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên va môi trường Đại học Quốc Gia Ha Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng va bảo vệ nguồn cây thuốccủa người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình
Năm: 2000
15. Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích (2018), Tài nguyên cây thuốc, Chuyên đề đao tạo dược sĩ đại học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây thuốc
Tác giả: Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2018
17. Vo Văn Minh, Phạm Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Kim Yến (2014), “Cây thuốc của người Hre va đề xuất một số giải pháp bảo tồn va phát triển tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi”, Tạp chí KHLN, số 1, trang 3206 -3215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câythuốc của người Hre va đề xuất một số giải pháp bảo tồn va pháttriển tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi”
Tác giả: Vo Văn Minh, Phạm Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Kim Yến
Năm: 2014
18. Trần Xuân Sinh (2004), “Ở khu bao tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoang”, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, (5), tr. 682 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ở khu bao tồn thiên nhiên Thần Sa - PhượngHoang”, "Tạp chí Nông nghiệp & PTNT
Tác giả: Trần Xuân Sinh
Năm: 2004
19. Đỗ Hoang Sơn, Đỗ Văn Tuân (2009), Thực trạng khai thác, sử dụng va tiềm năng gây trồng cây thuốc tại vườn quốc gia Tam Đảo va vùng đệm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khai thác, sử dụng vatiềm năng gây trồng cây thuốc tại vườn quốc gia Tam Đảo va vùngđệm
Tác giả: Đỗ Hoang Sơn, Đỗ Văn Tuân
Năm: 2009
20. Nguyễn Văn Tập (2005), “Một số vấn đề bao tồn cây thuôc mọc tư nhiên ở rừng”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (4), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bao tồn cây thuôc mọc tưnhiên ở rừng”, "Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2005
21. Nguyễn Văn Tập (2006), “Những phát hiên về tài nguyên cây thuốc tại xãĐồng Lâm, huyên Hoanh Bồ, tỉnh Quang Ninh”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (10/2006), trang 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiên về tài nguyên cây thuốc tại xãĐồng Lâm, huyên Hoanh Bồ, tỉnh Quang Ninh”, "Bản tin Lâm sảnngoài gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2006
23. Phan Văn Thắng (2002), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoan cảnh đến sinh trưởng của thảo quả tại xã San Sả Hồ - tỉnh Lao Cai, Luận văn thạc sỹ chuyên nganh Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoancảnh đến sinh trưởng của thảo quả tại xã San Sả Hồ - tỉnh Lao Cai
Tác giả: Phan Văn Thắng
Năm: 2002
25. Nguyễn Thị Thoa (2014), Nghiên cứu tính đa dạng va đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ trên núi đá vôi ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên, Luận án Tiến sĩ Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng va đề xuất giải phápbảo tồn thực vật thân gỗ trên núi đá vôi ở Khu bảo tồn thiên nhiênThần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thoa
Năm: 2014
26. Nguyễn Văn Tuyên (2017), nghiên cứu một sô đặc điểm lâm học của loài Xoan đao (Pygeum arboreum Endl) tại Khu bao tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoang, huyên Vo Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiêp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pygeum arboreum
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Năm: 2017
27. Nguyễn Duy Tùng (2014), Nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm va đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật nguycấp, quý hiếm va đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiênnhiên Thần Sa - Phượng Hoàng huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Duy Tùng
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w