1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng cải cách hành chính của lê thánh tông

128 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ VĂN HÓA TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (19)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (19)
      • 1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV (19)
      • 1.1.2. Điều kiện chính trị Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV (24)
    • 1.2. TIỀN ĐỀ VĂN HÓA TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (34)
      • 1.2.1. Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam với sự hình thành tư tưởng cải cách hành chính của Lê Thánh Tông (35)
      • 1.2.2. Ảnh hưởng của “Tam giáo” đến việc hình thành tư tưởng cải cách hành chính của Lê Thánh Tông (41)
    • 1.3. VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (54)
      • 1.3.1. Khái quát về thân thế và vấn đề lên ngôi của Lê Thánh Tông (54)
      • 1.3.2. Khái quát về sự nghiệp của Lê Thánh Tông (57)
  • Chương 2. NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (64)
    • 2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (64)
      • 2.1.2. Nội dung về cải cách bộ máy hành chính từ trung ương xuống địa phương của Lê Thánh Tông (71)
      • 2.1.3. Nội dung cải cách về chế độ tuyển chọn và sử dụng quan lại của Lê Thánh Tông (82)
      • 2.1.4. Nội dung cải cách về chế độ kiểm tra, giám sát, ban thưởng và xử phạt (87)
    • 2.2. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG (98)
      • 2.2.1. Giá trị của tư tưởng cải cách hành chính Lê Thánh Tông (99)
      • 2.2.2. Hạn chế của tư tưởng cải cách hành chính Lê Thánh Tông (102)
      • 2.2.3. Bài học lịch sử của tư tưởng cải cách hành chính Lê Thánh Tông đối với cải cách nền hành chính quốc gia ở Việt Nam hiện nay (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (118)

Nội dung

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ VĂN HÓA TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Tiến trình phát triển lịch sử là một dòng chảy liên tục, với những triều đại hưng thịnh và suy vong Sau mỗi thời kỳ khủng hoảng, thường xuất hiện những nhân vật kiệt xuất gánh vác trọng trách lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhấn mạnh vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, đồng thời tôn vinh các cá nhân xuất sắc trong từng giai đoạn Để hiểu rõ về Lê Thánh Tông và những quyết định của ông trong việc lựa chọn mô hình chính quyền theo Nho giáo, chúng ta cần tìm hiểu bối cảnh lịch sử đã hình thành nên ông Điều này cũng giúp làm sáng tỏ cách mà Lê Thánh Tông thực hiện các chính sách cải cách hành chính một cách hiệu quả.

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV

Sau những cuộc kháng chiến gian khổ chống quân Nguyên – Mông, xã hội Đại Việt đã ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIV, dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhà Trần bắt đầu suy vong với tình hình kinh tế sa sút, nhân dân khổ sở vì thiên tai và thuế má nặng nề Sự phân hóa đẳng cấp gia tăng, đặc biệt là tầng lớp nô tỳ, trong khi vua quan bất tài chỉ biết vun vén lợi ích cá nhân và ăn chơi sa đọa, đẩy nhà Trần đến nguy cơ sụp đổ.

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội ngày càng khó khăn, nạn đói diễn ra liên tục, dân nghèo phải đối mặt với tình trạng ngày càng khốn cùng Họ buộc phải bán đất đai, nhà cửa, thậm chí là bản thân và gia đình để trở thành nô tỳ Giá nô tỳ thời điểm đó rất rẻ, chỉ với một quan tiền, người ta có thể mua được một nô tỳ, trong khi một quan tiền chỉ đủ để mua ba thăng gạo Những người trở thành nô tỳ thường phải sống trong cảnh nô lệ suốt đời nếu không thể trả nợ, bao gồm cả vốn lẫn lãi chồng chất.

Xã hội Trần đã hình thành hai tầng lớp rõ rệt: tầng lớp quý tộc và địa chủ ngày càng mạnh mẽ về kinh tế và chính trị, trong khi nông dân và nô tỳ bị bóc lột nghiêm trọng do thiếu đất canh tác và phương tiện sinh sống Các nhà chùa trở thành những địa chủ lớn, sở hữu nhiều tài sản đất đai Kinh tế điền trang, thái ấp đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong khi kinh tế địa chủ phát triển mạnh mẽ hơn Để thúc đẩy nền kinh tế Đại Việt vào cuối thế kỷ XIV, cần phải xóa bỏ cơ chế điền trang thái ấp, giải phóng nông nô và phát triển quan hệ địa chủ tá điền, mở đường cho chế độ phong kiến tiến lên giai đoạn cao hơn.

Khủng hoảng cuối thời Trần là khủng hoảng kinh tế - xã hội, phản ánh sự bất ổn ở kiến trúc thượng tầng Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều cải cách như hạn nô, hạn điền, cải cách tiền tệ và thuế từ thời kỳ còn làm quan cho đến khi lập ra nhà Hồ Mặc dù các chính sách này giúp xoa dịu tình hình xã hội nhưng chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến tích cực Chính sách hạn điền, hạn nô của ông nhằm hạn chế sự chiếm hữu đất đai của địa chủ và quan lại nhà Trần, đồng thời kiểm soát sự gia tăng của tầng lớp nông nô, nô tỳ Tuy nhiên, đây không phải là sự giải phóng cho nông nô mà chỉ là sự chuyển đổi danh nghĩa từ “tư nô” sang “quan nô”, nhằm hợp pháp kiềm chế thế lực của quý tộc dòng họ Trần.

Trong 7 năm tồn tại (1400 – 1407), triều nhà Hồ đã thực hiện nhiều cuộc cải cách nhằm phục hồi đất nước, nhưng vẫn chưa giải quyết được các mâu thuẫn kinh tế và xã hội, dẫn đến sự thất bại trước nhà Minh Đường lối cải cách của Hồ Quý Ly mang tính tàn bạo, không thu hút được sự ủng hộ từ quan lại và nhân dân, cho thấy cần có một phương pháp cải cách khác phù hợp hơn Bài học này cũng có giá trị cho Lê Thánh Tông trong việc cải cách hành chính sau này, nhấn mạnh rằng cải cách cần phải hợp lòng dân và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Lợi dụng sự yếu kém của chính quyền nhà Hồ mới thành lập, Minh Thành Tổ Chu Đệ đã âm thầm chuẩn bị cho cuộc xâm lược Đại Ngu Ngày 19 tháng 11 năm 1406, nhà Minh phát động chiến tranh với chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, và sau 6 tháng kháng cự, cuộc kháng chiến của nhà Hồ đã thất bại hoàn toàn Sau chiến tranh Đại Ngu – Đại Minh (1406 – 1407), Việt Nam rơi vào ách đô hộ của nhà Minh, với thuế má nặng nề và nền kinh tế kiệt quệ, khiến nhân dân oán giận Sự thống trị tàn bạo của nhà Minh đã đẩy người dân vào cảnh khốn cùng, nơi mà cướp bóc và bóc lột diễn ra khắp nơi Nhà sử học Lê Quý Đôn đã ghi lại tình cảnh này trong tác phẩm Đại Việt thông sử (2007).

Khi người Minh đô hộ nước ta, nhân dân phải chịu đựng nhiều phiền toái như thuế má nặng nề, quan lại tham nhũng, và những lệnh cấm như không được nấu muối hay trồng rau Họ bị buộc phải tìm ngọc châu dưới biển, khai thác vàng từ núi, và chịu sự vơ vét tài nguyên quý giá như ngà voi, sừng tê giác và các loại hương liệu Ngoài ra, người Minh còn ép dân chúng xây dựng 10 thành trong 10 Quận để đóng quân, đồng thời dụ dỗ những người tài giỏi vào triều đình Trung Hoa nhằm kiểm soát và an trí họ tại nước Tàu Tình cảnh này khiến cho toàn thể nhân dân đều cảm thấy sầu thảm và oán giận.

Thời kỳ Nhà Minh đô hộ, kinh tế Việt Nam bị tàn phá nặng nề do việc vơ vét tài sản và thu thuế của quân xâm lược Chỉ trong hơn một năm, quân Minh đã thu được một khối lượng chiến lợi phẩm khổng lồ, bao gồm 235.000 con voi, ngựa, trâu, bò; 13.600.000 thạch thóc; 8.670 chiếc thuyền và 2.539.800 đồ binh khí Hàng triệu người, từ binh lính đến thợ thủ công, nhạc công, thầy thuốc, phụ nữ và trẻ em, đã bị bắt đưa về Trung Quốc để phục vụ cho triều đình và quan lại Minh hoặc bị bán làm nô tỳ.

Minh đã yêu cầu người Việt kê khai số ruộng đất, với mức thu thuế 5 thăng trên 1 mẫu, nhưng thực tế lại bắt dân tự kê khai 1 mẫu lên 3 mẫu, dẫn đến việc nông dân phải nộp thuế cao gấp 3 lần so với thời nhà Hồ Một mạng lưới thu thuế mang tên Ty Thuế khóa, Ty Hà bạc, và Ty Tuần kiểm đã được thiết lập để tận thu, gây ra sự bóc lột đến kiệt quệ và tham tàn không kể xiết Nền kinh tế tiểu nông Đại Việt vốn đã suy yếu vào cuối thời Trần – Hồ giờ đây càng trở nên tiêu điều hơn, làng xóm bị hủy hoại và nhân dân phải phiêu tán.

Nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân Minh đã diễn ra nhưng đều thất bại Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) do Lê Lợi lãnh đạo đã thành công trong việc đánh đuổi quân Minh, khôi phục độc lập cho Đại Việt Sau chiến thắng, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, mở ra triều đại Hậu Lê kéo dài gần 100 năm.

Nhà Lê sơ, tồn tại từ năm 1428 đến 1527, kéo dài 100 năm với 10 vị hoàng đế thuộc 6 thế hệ, là một trong những triều đại quan trọng trong lịch sử Việt Nam Triều đại này bị gián đoạn bởi nhà Mạc do Mạc Đăng Dung cướp ngôi, nhưng sau 6 năm đã được tái lập với tên gọi nhà Lê Trung hưng Thời kỳ nhà Lê nắm quyền cũng chính là thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam.

Thế kỷ XV, thời Lê sơ, nền kinh tế - xã hội Đại Việt phục hồi mạnh mẽ, đánh dấu giai đoạn cường thịnh và phát triển rực rỡ Sau khi giành độc lập, nhà Lê đưa 250.000 quân về làm ruộng, khôi phục sản xuất và cải cách ruộng đất, dẫn đến sự gia tăng dân số Dưới triều Lê Thánh Tông, các làng trên 500 hộ được tách ra lập làng mới, nông nghiệp được khuyến khích phát triển qua các chính sách mở rộng diện tích canh tác và bảo vệ sản xuất Ruộng đất được phân chia thành ba loại: nhà nước, công làng xã và tư hữu Ngành công thương cũng phục hồi, hình thành nhiều làng thủ công nghiệp nổi tiếng như Bát Tràng, Nghĩa Đô, và Hương Canh Giao thương mở rộng, tiền đồng thay thế tiền giấy, và đơn vị đo lường được thống nhất Thời Lê Thánh Tông, Đại Việt đạt đỉnh cao phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và quân sự, khiến các quốc gia láng giềng phải kiêng nể, được gọi là thời kỳ Hồng Đức thịnh thế.

Sau chiến tranh, nền kinh tế Đại Việt dưới triều Lê sơ đã đạt được nhiều thành tựu lớn, giúp đời sống người dân ổn định với đủ ăn đủ mặc Sự phát triển kinh tế đã tạo điều kiện cho chế độ chính trị ổn định, từ đó thúc đẩy sự phát triển của kiến trúc thượng tầng trong xã hội Đại Việt thời kỳ này.

1.1.2 Điều kiện chính trị Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ

Bộ máy chính quyền Đại Việt thời Trần (1226 – 1400) là một tổ chức nhà nước trung ương tập quyền theo chế độ quân chủ, được xây dựng dựa trên mô hình của nhà Tống Triều đại này bắt đầu với cuộc đảo chính không đổ máu do Trần Thủ Độ lãnh đạo, khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh vào năm 1225 Vì vua còn nhỏ, Trần Thủ Độ đã nắm toàn bộ quyền lực và dẫn dắt công việc quốc gia Những chính sách cải cách của ông có vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam, giúp đất nước trở nên cường thịnh và đủ sức mạnh để chống lại ba cuộc xâm lăng của quân Mông – Nguyên vào các năm 1258, 1285 và 1287.

TIỀN ĐỀ VĂN HÓA TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Bất kì một tư tưởng nào xuất hiện cũng là sản phẩm của thời đại ấy

Tư tưởng tiến bộ không chỉ phản ánh quy luật lịch sử mà còn chịu ảnh hưởng từ các lý luận trước đó Tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông cũng vậy, nó phát sinh từ yêu cầu chính trị mới và kế thừa tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Đồng thời, tư tưởng này còn tiếp thu có chọn lọc các yếu tố từ Nho giáo, Phật giáo, và Đạo giáo, tạo nên một hệ thống cải cách hành chính đặc sắc dưới triều đại Lê Thánh Tông.

1.2.1 Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam với sự hình thành tư tưởng cải cách hành chính của Lê Thánh Tông

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, các cuộc cải cách đất nước đã diễn ra với quy mô và vai trò khác nhau, kế thừa truyền thống của các vương triều trước Trước thời vua Lê Thánh Tông, nổi bật có bốn cuộc cải cách của Khúc Hạo, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly Những cải cách này không chỉ tạo tiền đề cho tư tưởng cải cách hành chính của Lê Thánh Tông mà còn là tài liệu tham khảo quý giá, thể hiện sự khác biệt rõ rệt của triều đại ông.

Cải cách hành chính và kinh tế dưới triều đại Khúc Hạo vào thế kỷ X đã có ảnh hưởng tích cực đến chính trị, văn hóa và xã hội thời bấy giờ, đồng thời đặt nền móng cho việc xác lập quyền sở hữu ruộng đất của chính quyền Qua đó, những cải cách này đã góp phần củng cố và mở rộng quyền lực của chế độ quân chủ trung ương tập quyền trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Công cuộc dời đế đô và cải cách đất nước của Lý Thái Tổ vào thế kỷ XI là quyết định quan trọng nhằm phát triển kinh tế và văn hóa Thành Thăng Long nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế và văn hóa phồn thịnh nhất Việt Nam Lý Thái Tổ thực hiện nhiều cải cách chính trị để củng cố quyền lực của nhà vua từ trung ương đến địa phương, đồng thời gia tăng quyền lực dòng họ Lý thông qua việc tăng cường quý tộc hóa và quan liêu hóa Những người thân tín được giao quyền hành chủ chốt trong bộ máy hành chính của quốc gia.

Lý Thái Tổ đã cải cách hành chính bằng cách chuyển đổi 10 đạo thời Đinh – Tiền Lê thành các lộ và phủ, với huyện và hương là các cấp dưới Mặc dù các chính sách này có quy mô lớn, nhưng vẫn gặp hạn chế do thiếu sự thống nhất trong cách gọi lộ và phủ, dẫn đến sự nhầm lẫn trong quản lý cấp bậc.

Trần Thủ Độ, trong thế kỷ XIII, đã thực hiện cuộc cải cách chính sách xã hội toàn diện nhằm cứu vãn đất nước đang yếu kém Ông không chỉ đề ra tư tưởng pháp trị mà còn thể hiện tính thẳng thắn và nghiêm minh trong việc thi hành luật pháp, xử lý nghiêm mọi vi phạm Với chủ trương phát triển Nho học, ông đã đề xuất xây dựng Quốc Tử Giám và đẩy mạnh thi cử để tuyển chọn hiền tài, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Sự đổi mới trong thi cử đã tạo ra nhiều hiền tài như Nguyễn Hiền, Đặng Ma La, và Trương Hán Siêu Việc tổ chức thi các khoa thông tam giáo vào mùa thu năm 1239 đã khuyến khích sự đoàn kết, thống nhất trong xã hội Nhờ những cải cách này, Trần Thủ Độ đã kích thích sự phát triển ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội, giúp đất nước tập hợp sức mạnh toàn dân để chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược, bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ.

Cuộc cải cách kinh tế - chính trị của Hồ Quý Ly vào thế kỷ XV nổi bật với việc xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền và đề cao Nho giáo thay vì Phật giáo Ông đã tập hợp một đội ngũ quan lại trung thành, chủ yếu qua con đường hoa cử, và áp dụng pháp trị để quản lý xã hội Mặc dù những cải cách này nhằm duy trì trật tự xã hội và khôi phục sức mạnh quốc gia sau thời kỳ Trần, nhưng ông không đạt được thành công như mong đợi Tuy nhiên, những thành quả của Hồ Quý Ly đã tạo tiền đề cho sự phát triển của dân tộc trong việc củng cố quốc gia phong kiến và mở ra một khuynh hướng tư tưởng cải cách mới, góp phần hình thành tư tưởng cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông sau này.

Phát huy truyền thống yêu nước và ý chí độc lập dân tộc là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng đoàn kết dân tộc Chủ nghĩa yêu nước không chỉ là một giá trị văn hóa mà còn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, góp phần khẳng định bản sắc và sức mạnh của đất nước.

Việt Nam, từ cổ đại đến hiện đại, đã hình thành lòng yêu nước như một triết lý xã hội và nhân sinh quan sâu sắc Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được thể hiện rõ qua các cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược từ phương Bắc Với ý chí độc lập mạnh mẽ, ông cha ta đã trải qua nhiều gian khổ, sẵn sàng hy sinh mồ hôi, xương máu để bảo vệ từng tấc đất, quyết không làm nô lệ cho kẻ khác.

Lê Thái Tổ khẳng định rằng việc ông cất quân đánh giặc không phải vì tham vọng phú quý, mà là để lưu danh muôn đời, chứng tỏ ông không chịu khuất phục trước bọn giặc tàn ác.

2011, tập II, tr.243) Trong bài Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn cũng đã tuyên bố rõ chủ quyền lãnh thổ của nước ta qua bao đời vua:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng,

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương,…

(Đại Việt sử ký toàn thư, 2011, tập II, tr.284)

Lê Thánh Tông sinh ra trong bối cảnh lịch sử hùng tráng của cuộc kháng chiến chống quân Minh, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần độc lập dân tộc Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ biên cương và tài nguyên lãnh thổ, khẳng định rằng không thể bỏ qua bất kỳ phần đất nào Ông yêu cầu các quan lại phải giữ gìn cẩn thận vùng biên giới, và những ai làm tốt nhiệm vụ sẽ được thăng chức, trong khi những kẻ lơ là sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc Ví dụ, Lê Lục và Nguyễn Lượng đã bị đày đi vì không bảo vệ biên giới đúng cách, dẫn đến tình trạng cướp bóc.

Lê Thánh Tông quan niệm rằng một quốc gia cần có sức mạnh quân sự Trong khi ông chú trọng đến việc tuyển chọn đội ngũ văn quan để quản lý xã hội, ông cũng đầu tư nhiều vào việc xây dựng một quân đội hùng mạnh để bảo vệ lãnh thổ Ông dành nhiều tâm huyết cho việc huấn luyện và chỉnh đốn quân đội, yêu cầu các võ quan tuân theo trận đồ nhà nước đã ban hành Trong địa phận của vệ mình, ông yêu cầu chỉnh đốn đội ngũ và dạy cho quân lính các quy tắc hành quân, hiểu lệnh và không quên võ bị Ông còn trực tiếp chỉ huy các cuộc chinh phạt về phía Nam và phía Tây, đạt được nhiều thắng lợi lớn, đặc biệt là trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành.

Năm 1471, vua Trà Toàn bị bắt sống, dẫn đến việc sáp nhập một vùng đất rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Định vào lãnh thổ Đại Việt Sự kiện này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của người Việt.

Là người đứng đầu nhà nước, lãnh đạo cần nhận thức rõ sức mạnh đoàn kết của toàn dân, vì đó là yếu tố quyết định cho sự tồn vong của chế độ Hồ Quý Ly đã thất bại trong cải cách do thiếu sự ủng hộ của nhân dân, trong khi Lê Thái Tổ thành công nhờ vào sự đồng lòng của dân Lê Thánh Tông hiểu rõ vai trò của đoàn kết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, luôn nhắc nhở quan lại phải gần gũi với dân, lo cho đời sống của họ Các chính sách tuyển chọn và xử lý quan lại được dựa trên thành tích phục vụ nhân dân, từ đó củng cố niềm tin của người dân vào chính quyền Sự cải cách bộ máy hành chính của Lê Thánh Tông đã tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp, góp phần gắn kết cá nhân với cộng đồng và đất nước.

Văn hóa Việt Nam kế thừa giá trị nhân văn, khoan dung và yêu thương con người, thể hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Những giá trị này đã hình thành và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, không chỉ trong tình làng nghĩa xóm mà còn mở rộng ra văn hóa chính trị Các câu tục ngữ như “thương người như thể thương thân” và “lá lành đùm lá rách” phản ánh tinh thần này, trong khi tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi cũng nhấn mạnh cách xử lý nhân văn của quân dân ta đối với kẻ thù.

Mấy thành giặc khôn cũng nối nhau cởi giáp, lũ lượt ra hàng

Tướng giặc bị tù, nó đã vẫy đuôi xin tha mạng sống,

Oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh

Tham tướng Phương Chính, nội quan Mã Kỳ, được cấp trước năm trăm chiếc thuyền, đã vượt biển, vẫn hồn bay phách lạc

Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa, về nước rồi, còn tim thót chân run

Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hòa,

Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức

(Đại Việt sử ký toàn thư, 2011, tập II, tr.289)

VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Luận văn sẽ phân tích thân thế và sự nghiệp của Lê Thánh Tông, cung cấp cái nhìn khách quan và toàn diện về con người ông Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về các động cơ thúc đẩy tư tưởng cải cách bộ máy hành chính quốc gia Đại Việt của Lê Thánh Tông.

1.3.1 Khái quát về thân thế và vấn đề lên ngôi của Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông (1442 – 1497) là vị vua thứ năm của triều đại Lê tại Đại Việt, trị vì từ 26 tháng 6 năm 1460 đến 3 tháng 3 năm 1497 Ông nổi bật là vị hoàng đế có thời gian trị vì lâu nhất trong thời kỳ Hậu Lê, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử đất nước.

Tông dùng hai niên hiệu, đầu tiên là Quang Thuận (1460–1469), sau đổi là Hồng Đức (1470–1497)

Lê Thánh Tông tên húy là Lê Tư Thành, là con trai thứ tư của vua Lê

Thái Tông (1433–1442) Mẹ của ông là bà Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa Cha của bà Ngọc Dao là Ngô

Ngô Tiệp dư, con gái của gia thần vua Lê Thái Tổ, được phong làm Tiệp dư khi mới 14 tuổi sau khi vào cung cùng chị gái Xuân Bà nổi tiếng là người sùng Phật giáo và thường cầu tự Một ngày, bà mơ thấy Thượng đế ban cho một vị tiên đồng, và sau đó bà đã mang thai Vào ngày 20 tháng 7 âm lịch năm Đại Bảo thứ 3 (1442), bà hạ sinh hoàng tử Lê Tư Thành.

Khi Lê Tư Thành ra đời, Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi nhận rằng ông sở hữu "thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang," thể hiện rõ ràng trí tuệ và phẩm hạnh xứng đáng làm vua, đồng thời có đủ trí dũng để bảo vệ đất nước.

Năm 1442, Lê Thái Tông qua đời đột ngột khi đang đi tuần về miền Đông Theo di mệnh của ông, các tể tướng đã lập Thái tử Bang Cơ, chỉ mới 1 tuổi, lên ngôi Hoàng đế Lê Nhân Tông Mẹ của vua, Tuyên Từ Hoàng thái hậu, đã nắm quyền nhiếp chính và trong 10 năm đầu, triều đình diễn ra ổn định nhờ sự hỗ trợ của bà cùng các quan tể tướng và đại thần.

Lê Nhân Tông, với sự hỗ trợ của Thái hậu vào năm 1452, đã tự mình đảm nhận chính sự và được ghi nhận là một vị hoàng đế đức độ Ông coi trọng Nho học, không đam mê tửu sắc và luôn lắng nghe ý kiến can gián Trong suốt thời gian trị vì, Nhân Tông đã tích cực khuyến khích nông nghiệp và tổ chức các kỳ thi Nho học nhằm tìm kiếm những người tài đức để bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng trong triều đình.

Năm 1445, Lê Nhân Tông hạ chiếu phong Lê Tư Thành làm Bình

Bình Nguyên vương, khi làm phiên vương tại kinh sư, học tập cùng các vương khác ở Kinh diên Các quan như Trần Phong nhận thấy ông có dáng vẻ đường hoàng và trí tuệ vượt trội, nên coi ông là bậc khác thường Ông sống kín đáo, không phô trương tài năng, chỉ say mê sách vở cổ kim và nghĩa lý thánh hiền, luôn chăm chỉ và yêu thích điều thiện Bình Nguyên vương được Thái hậu Nguyễn Thị Anh yêu quý như con ruột và được Nhân Tông xem như người em quý giá.

Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân, sau khi mất ngôi thái tử, đã nuôi lòng oán hận và quyết tâm đoạt lại ngôi vua Vào đêm 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459), ông lén lút bắc thang lên tường thành, chia thành ba hướng để tiến vào cung cấm và thực hiện cuộc binh biến Kết quả, Lê Nhân Tông, khi đó mới 18 tuổi và đã trị vì được 17 năm, cùng Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết hại Lê Nghi Dân tự xưng là hoàng đế với niên hiệu Thiên Hưng, phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương và cho xây dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành cư trú Tuy nhiên, quyền lực của Lê Nghi Dân không kéo dài.

Sau 8 tháng, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng và Nguyễn Đức Trung đã thực hiện một cuộc binh biến thành công, dẫn đến cái chết của người cầm quyền Sau khi thành công, nhóm đại thần đã tiến hành thảo luận về các bước tiếp theo.

Ngôi trời khó khăn và thần khí rất trọng, chỉ những bậc đại đức mới có thể gánh vác Hiện nay, Gia vương sở hữu thiên tư sáng suốt và hùng tài đại lược, vượt trội hơn hẳn mọi người, khiến lòng người đều hướng theo, chứng tỏ ý trời đã quyết định.

Ngày 8 tháng 6 âm lịch (tức 26 tháng 6 dương lịch) năm 1460, Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế ở điện Tường Quang Đổi ngay niên hiệu thành Quang Thuận mà không cần đợi sang năm sau Ông còn xưng hiệu là Thiên Nam Động chủ, Đạo Am chủ nhân, Tao Đàn nguyên súy, ngoài ra lấy tên Lê Hạo để dùng trong các văn kiện ngoại giao với Trung Quốc

Vừa lên ngôi, tân hoàng đế đã ban chiếu đại xá thiên hạ và định tội Lê Đắc Ninh như một hình thức răn đe cho kẻ bất trung Ông cũng truy tặng Nội quan Đào Biểu tước 1 tư và cấp cho 5 mẫu ruộng công để thờ cúng Ngay sau đó, hoàng đế đã tổ chức lễ phát tang.

Lê Nhân Tông và Thái hậu đã được vinh danh khi bài vị của ông được rước vào Thái miếu, với tôn hiệu Nhân Tông Tuyên Hoàng đế Mẹ của Nhân Tông cũng được đặt thụy hiệu là Tuyên Từ Hoàng thái hậu Theo ghi chép trong Đại Việt Sử ký toàn thư, sau một thời gian dài không có mưa, vào đêm rước bài vị Nhân Tông, trời đã đổ mưa lớn.

Năm 1497, Lê Thánh Tông, vị vua có thọ 55 tuổi và cai trị trong 38 năm, đã qua đời Ông được biết đến với thụy hiệu Thuần hoàng đế, và được gọi là Thánh Tông Thuần hoàng đế Con trai trưởng của ông, Lê Tranh, kế vị và được sử gọi là Lê Hiến Tông, lấy niên hiệu Cảnh Thống, tiếp tục duy trì những thành tựu mà vua cha đã đạt được.

1.3.2 Khái quát về sự nghiệp của Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông là một trong những vị vua vĩ đại nhất của Việt Nam, gắn liền với thời kỳ hưng thịnh của đất nước trong nửa sau thế kỷ XV Trong suốt 38 năm trị vì, ông đã đưa triều đại Lê sơ đạt được những thành tựu nổi bật về chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, quốc phòng và văn hóa.

NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính. (2012). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cải cách hành chính. Hà Nội: Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cải cách hành chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
2. Bùi Thanh Phương. (2005). Mối quan hệ tam giáo qua thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông. Tạp chí Triết học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ tam giáo qua thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông
Tác giả: Bùi Thanh Phương
Năm: 2005
3. Bùi Thị Mỹ Hạnh. (2012). Tư tưởng chính trị thời Lê sơ (Luận văn Thạc sĩ). Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng chính trị thời Lê sơ
Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2012
4. Bùi Văn Nguyên. (1991). Lê Thánh Tông – Tao đàn nguyên súy. Hà Nội: Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông – Tao đàn nguyên súy
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Năm: 1991
5. Bùi Xuân Đính. (1998). Hương ước và quản lý làng xã. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lý làng xã
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 1998
6. Bùi Xuân Đính. (2004). Những kế sách dựng xây đất nước của cha ông ta. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kế sách dựng xây đất nước của cha ông ta
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 2004
9. Cao Văn Liên. (2006). Phác thảo lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 1945). Hà Nội: Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 1945)
Tác giả: Cao Văn Liên
Năm: 2006
10. Chu Thiên. (1943). Lê Thánh Tông: 1442 – 1497. Hàn Thuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông: 1442 – 1497
Tác giả: Chu Thiên
Năm: 1943
12. Đặng Duy Phúc. (2007). Giản yếu sử Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu sử Việt Nam
Tác giả: Đặng Duy Phúc
Năm: 2007
13. Đặng Xuân Bảng. (2000). Việt sử cương mục tiết yếu. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử cương mục tiết yếu
Tác giả: Đặng Xuân Bảng
Năm: 2000
14. Đào Duy Anh. (2005). Đất nước Việt Nam qua các đời. Hà Nội: Văn hóa - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2005
15. Đào Duy Anh. (2005). Từ điển Hán – Việt. Hà Nội: Văn hóa - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán – Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2005
16. Đào Duy Anh. (2011). Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2011
17. Diệp Văn Sơn. (2006). Cải cách hành chính những vấn đề cần biết. Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính những vấn đề cần biết
Tác giả: Diệp Văn Sơn
Năm: 2006
18. Đinh Khắc Thuận. (2009). Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm
Tác giả: Đinh Khắc Thuận
Năm: 2009
19. Đinh Thị Kim Liên. (2012). Thơ vịnh sử của Lê Thánh Tông qua Cổ Tâm Bách Vịnh và Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập (Luận văn thạc sĩ). Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ vịnh sử của Lê Thánh Tông qua Cổ Tâm Bách Vịnh và Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập
Tác giả: Đinh Thị Kim Liên
Năm: 2012
20. Đinh Văn Chiến. (2013). Tư tưởng chính trị - đạo đức trong bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông (Luận văn Thạc sĩ Triết học). Hồ Chí Minh: Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng chính trị - đạo đức trong bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông
Tác giả: Đinh Văn Chiến
Năm: 2013
21. Đinh Văn Chiến. (2019). Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông và ý nghĩa lịch sử của nó (Luận văn Tiến sĩ Triết học). Hồ Chí Minh:Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông và ý nghĩa lịch sử của nó
Tác giả: Đinh Văn Chiến
Năm: 2019
22. Đinh Văn Niêm. (2011). Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Niêm
Năm: 2011
23. Đỗ Văn Ninh. (1995). Quốc tử giám và trí tuệ Việt Nam. Hà Nội: Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc tử giám và trí tuệ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w