1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng biện chứng trong tác phẩm hiện tượng học tinh thần của g w f hegel

111 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Biện Chứng Trong Tác Phẩm “Hiện Tượng Học Tinh Thần” Của G.W.F.Hegel
Tác giả Ngô Khánh Duy
Người hướng dẫn TS. Ngô Thị Mỹ Dung
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” có ảnh hưởng lớn đến quan điểm biện chứng của Hegel trong các tác phẩm về sau, trong đó có tác phẩm “Khoa học Logi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Mỹ Dung Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Các tài liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin, dữ liệu đã công bố trong luận văn này

Tác giả

Ngô Khánh Duy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN” 15

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA G.W.F HEGEL 15

1.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM 20

1.3 MỤC ĐÍCH CỦA TÁC PHẨM 28

1.4 KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM 38

Kết luận chương 1 43

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN” 46

2.1 KHÁI NIỆM “BIỆN CHỨNG” TRONG TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN” 46

2.2 MỐI LIÊN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC HÌNH THÁI KHÁC NHAU CỦA TINH THẦN TRONG TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN” 58

2.3 MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN” CỦA G.W.F HEGEL 85 Kết luận chương 2 93

KẾT LUẬN CHUNG 101

DANH MỤC TÀI TIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử

tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại Trong nền triết học này, có nhiều đại biểu xuất sắc như Kant, Schelling, Feuerbach… đặc biệt là Hegel

Hegel là một trong những đại biểu xuất sắc của nền triết học cổ điển Đức, là bộ óc bách khoa của thời đại, là biểu tượng của tinh thần Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Hegel là một thiên tài về nhiều mặt của đời sống, ngoài triết học, ông còn đóng góp vào kho tàng lý luận nhân loại trên lĩnh vực đạo đức, mỹ học, pháp quyền, nhà nước… Theo nhận xét của Ăngghen: “Ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, trang 397) Hệ thống triết học của Hegel đồ

sộ về khối lượng và sâu sắc về ý nghĩa Mở đầu cho hệ thống triết học đồ sộ Hegel là tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” “Hiện tượng học tinh thần” là tác phẩm mở đầu cho toàn bộ tư tưởng triết học Hegel nói chung và phép biện chứng của Hegel nói riêng Việc tìm hiểu tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, đặc biệt là tư tưởng biện chứng trong tác phẩm này là cần thiết về

lý luận lẫn thực tiễn

Tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” có giá trị sâu sắc Hegel đã giải thích nguồn gốc sự vận động và phát triển của các hình thái khác nhau của tinh thần là sự mâu thuẫn Việc giải quyết mâu thuẫn thông qua quy luật phủ định của phủ định, đó là phương thức chung của mọi

sự phát triển Không những thế, Hegel còn đưa ra quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi để lý giải cho cách thức của sự phát triển, đi lên Bên cạnh đó, Hegel đưa ra lý luận quá trình nhận thức chân lý, đi đến tinh thần tuyệt đối

Trang 6

Hegel phân tích sự thay đổi các hình thái khác nhau của tinh thần một cách biện chứng Ở đấy những khái niệm được đưa ra đi từ trừu tượng đến cụ thể

và tổng thể

Tư tưởng biện chứng trong triết học Hegel là một bước ngoặt lớn trong toàn bộ lịch sử triết học nhân loại tính đến đầu thế kỷ XIX Nó thể hiện đầy

đủ và hệ thống toàn diện hơn cả các quan điểm triết học trước đó Tư tưởng

ấy đã được Mác và Ăngghen kế thừa trong hệ thống triết học của mình Mác xem tác phẩm này là “nguồn gốc và bí mật thực sự của triết học Hegel” Tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” có ảnh hưởng lớn đến quan điểm biện chứng của Hegel trong các tác phẩm về sau, trong đó có tác phẩm “Khoa học Logic” và “Triết học tinh thần” Mặc

dù còn một số hạn chế do tính quy định lịch sử thời đại, nhưng tư tưởng biện chứng của Hegel đã để lại những giá trị nhất định Do đó, việc nghiên cứu triết học Hegel, trong đó có tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” là một điều không thể thiếu trong quá trình phát triển và hoàn thiện tư duy lý luận

Tư tưởng biện chứng của Hegel nói chung và trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng có nhiều giá trị nghiên cứu Đối với sinh viên chuyên ngành Triết học, học viên cao học và nghiên cứu sinh thì việc nghiên cứu tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel rất quan trọng Cùng với đó, tri thức con người ngày càng được rộng

mở hơn, phong phú hơn thì việc nghiên cứu một giá trị của nhân loại này là một điều không thể thiếu

Xuất phát từ những giá trị về lý luận và thực tiễn trên, tôi đã chọn: “Tư

tưởng biện chứng trong tác phẩm hiện tượng học tinh thần của Hegel” để

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Có nhiều công trình nghiên cứu về triết học Hegel cũng như tác phẩm

Trang 7

“Hiện tượng học tinh thần”, đặc biệt là tư tưởng biện chứng trong tác phẩm này Hầu hết công trình nghiên cứu trình bày khái quát về nội dung tác phẩm, đưa ra những phân tích, nhận định về tác phẩm cũng như tư tưởng biện chứng trong “Hiện tượng học tinh thần” Có thể phân chia tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài thành hai hướng sau:

Hướng thứ nhất: những công trình nghiên cứu liên quan đến triết học Hegel và tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Công trình nghiên cứu của Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính (đồng chủ

biên) với tác phẩm “Lịch sử triết học phương Tây (từ triết học cổ đại đến

triết học cổ điển Đức)” được Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm

2018 đã khái quát về các trường phái cũng như các quan điểm của nhiều triết gia trong lịch sử triết học từ thời kỳ Hy Lạp – Lã Mã cổ đại đến triết học cổ điển Đức Đặc biệt là ở phần thứ năm (gồm 3 chương), tác giả có bàn về triết học cổ điển Đức Trong đó tác giả phân tích về triết học Kant, Fichte, Schelling, Fuerbach và Hegel Trong phần này, tác giả đưa ra những phân tích về triết học Hegel Tác phẩm này khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Hegel, đưa ra những khẳng định về triết học Hegel là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Đức Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích nội dung triết học Hegel theo hệ thống triết học và tác phẩm triết học Với tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, tác giả đã trình bày, phân tích kết cấu và nội dung tác phẩm Tác giả đã phân tích khá cụ thể nội dung tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” theo từng chương của nó Các tác giả giải thích khái niệm “hiện tượng học”

và “Hiện tượng học tinh thần”: “hiện tượng học” được hiểu là học thuyết về hiện tượng, “Hiện tượng học tinh thần” là tìm hiểu về lịch sử hình thành, phát triển của tri thức khoa học, sự phong phú của các hình thái khác nhau của tinh thần trong quá trình vận động từ “ý thức” lên “tự - ý thức”, vươn đến “lý trí” và “tinh thần tuyệt đối” Các tác giả nhận định về vị trí và tầm quan trọng của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” trong “hệ thống khoa

Trang 8

học” của Hegel Các tác giả phân tích kết cấu của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” và cho rằng tác phẩm nà có kết cấu phức tạp và khó hiểu Bên cạnh đó, tác phẩm còn phân tích mục đích tác phẩm: mục đích tác phẩm là làm sáng toả các hình thức tri thức, gắn liền với các thời đại lịch sử Đặc biệt, tác phẩm đã phân tích nội dung tác phẩm theo từng chương của tác phẩm bằng sự phân tích bộ ba “ý thức – tự - ý thức – lý tính” Các tác giả còn phân tích vấn đề “đạo đức”, “tôn giáo” trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” Với các tác phẩm, “Hiện tượng học tinh thần” là điểm xuất phát của toàn bộ hệ thống Hegel Ở đây, phép biện chứng Hegel với tính cách là đối thoại của ý thức với chính mình có thể gợi nhớ đến phép biện chứng của platon, tức nghệ thuật đối thoại”

Tác phẩm “Lịch sử triết học cổ điển Đức” được Nxb Thế giới xuất bản

năm 2006 của Lê Công Sự Đây là tài liệu viết tương đối cụ thể về triết học

cổ điển Đức Tác giả đưa ra nội dung và phân tích các quan điểm triết học của một số triết học lớn của cổ điển Đức với 3 chương Ở chương 1, tác giả trình bày khái quát về nhà triết học Kant, giới thiệu một số tác phẩm của Kant, đồng thời đưa ra những phân tích về các quan điểm triết học của Kant

ở thời kỳ tiền phê phán Sau đó tác phẩm này còn phân tích về triết học lý luận, triết học thực tiễn, triết học về con người hay nhân bản học của Kant Chương 2, tác phẩm đã trình bày khá rõ về cuộc đời và sự nghiệp của Hegel, giới thiệu một số tác phẩm của Hegel trong sự nghiệp của ông Tác giả đưa

ra những phân tích quan niệm niệm của Hegel về bản chất, nhiệm vụ của triết học và lịch sử triết học Bên cạnh đó, tác phẩm này còn đề cập đến nội dung triết học Hegel thông qua phân tích về “Khoa học logic”, “Triết học tự nhiên”, “Triết học tinh thần” Công trình này khái quát những đặc điểm của triết học Hegel và vai trò của ông trong lịch sử triết học nói chung và triết học cổ điển Đức nói chung Đặc biệt, thông qua công trình này, tác giả phân tích các quan điểm triết học dựa trên các hệ thống triết học của ông Trong

Trang 9

đó, tác giả giới thiệu Hegel, phép biện chứng Hegel và phân tích tác phẩm

“Hiện tượng học tinh thần” Tác giả đã khái quát tổng thể về tác phẩm này khi phân tích về “tinh thần tuyệt đối”, nhận thấy rằng “Hiện tượng học tinh thần” đã trình bày nguyên lý về sự phát triển Ông cho rằng Hegel là một trong những nhà triết học trước Mác đã biểu hiện một cách sâu sắc về nguyên lý phát triển Ý thức con người là một sản phẩm phát triển của lịch

sử Tác giả khẳng định, Hegel đã xây dựng lên những nguyên lý cơ bản làm tiền đề cho việc thiết lập hệ thống triết học của ông sau này

Một công trình nghiên cứu của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô với

quyển “Lịch sử phép biện chứng, tập 3” được Nxb Chính trị quốc gia sự

thật xuất bản năm 1998 Tài liệu này một trong 6 tập viết về lịch sử phép biện chứng do Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính Tác phẩm này đã trình bày

tư tưởng biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, bao gồm Kant, Fichte, Schelling và Hegel với 4 chương tương ứng Ở chương 1, tác giả đã phân rõ ràng về triết học Kant, trình bày về phép biện chứng của Kant ở thời

kỳ tiền phê phán, phép biện chứng phủ định ở thời kỳ phê phán, lý luận nhận thức trong triết học Kant và biện chứng của đời sống xã hội Bên cạnh đó, ở chương này tác giải còn đưa ra một số nhận định, đánh giá về giá trị tư tưởng biện chứng của Kant trong lịch sử triết học nói chung và triết học cổ điển Đức nói riêng Ở chương 2, tác giả đã phân tích phép biện chứng trong triết học của Fichte: đầu tiên là biện chứng của hệ thống và nguyên tắc xuất phát của nó trong hoạt động và trực giác; tiếp theo là sự hạn chế lẫn nhau giữa các mặt đối lập với tư cách là phương pháp trung gian; đặc biệt, tác giả còn phân tích phép biện chứng “định lượng” của Fichte Với chương 3, tác giả đã trình bày, phân tích về tư tưởng biện chứng của triết học Schelling, khái quát về

sự hình thành phép biện chứng của Schelling, phân tích quan điểm của ông

về vấn đề “kiến tạo” và “ tiền năng hoá”, đưa ra những đặc điểm mới, tiến bộ của Schelling đối với các nhà triết học trước đó, đồng thời phân tích quan

Trang 10

điểm của Schelling về các mặt đối lập, nhận thức các mặt đối lập Đặc biệt, ở chương 4, tác giả đã trình bày, phân tích phép biện chứng của Hegel Với công trình này tác giả phân tích các nguồn gốc của phép biện chứng Hegel,

đó là tư tưởng của một số nhà triết học trước đó như Plato, Hecralit… Cuộc cách mạng ở Pháp và đặc biệt là những cải cách của Napoleon Tác giả phân tích phép biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” như mối quan hệ biện chứng giữa chủ nô và nô lệ, phân tích mối quan hệ đó

để thấy sự mâu thuẫn giữa chứng, từ đó phát triển thành biện chứng của tha hoá và tự do; phân tích về các hình thái tồn tại khác nhau của tinh thần, đưa

ra mối liên hệ biện chứng, con đường, cách thức thay đổi của các hình thái

đó Bên cạnh đó, chương này còn đưa ra những vấn đề biện chứng trong

“Khoa học về logic” và “Triết học tinh thần” của Hegel Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số đánh giá đối với phép biện chứng của Hegel Công trình này đã phân tích, trình bày khái quát tư tưởng biện chứng của Hegel trong một số tác phẩm của ông

Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Vui với “Lịch sử

triết học”, do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002 cũng đã trình bày,

phân tích về triết học Hegel cũng như tư tưởng biện chứng của ông Thông qua tác phẩm này, tác giả đã đưa ra những phân tích về những quan điểm của các nhà triết học, trường phái triết học qua các thời kỳ gồm 8 chương: triết học Trung Quốc cổ đại – trung đại, triết học Ấn Độ cổ đại – trung đại, triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ, triết học Tây

Âu thời kỳ phục hưng và cận đại, triết học cổ điển Đức, Triết học Mác – Lênin và triết học phi mácxít hiện đại ở phương Tây Đặc biệt, tác giả trình bày về triết học cổ điển Đức ở chương 6 Chương này đã nêu ra hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm chính của triết học cổ điển Đức, phân tích quan điểm triết học của Kant, Schelling, Fichte, Hegel và Feuerbach Trong đó, tác giả phân tích tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” “Hiện tượng học tinh thần”

Trang 11

đã đưa ra một số nguyên lý bước đầu xây dựng hệ thống Tác giả đã phân tích “tinh thần tuyệt đối” của Hegel về sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra phân tích về nguyên lý phát triển trong “Hiện tượng học tinh thần” Tác giả khẳng định rằng: theo Hegel, sự phát triển không phải là sự tăng giảm đơn thuần về lượng, hay dịch chuyển vị trí của vật thể trong không gian Với Hegel phát triển là một quá trình phủ định biện chứng, trong đó, liên tiếp cái mới thay thế cái cũ, đồng thời kế thừa cái cũ Bên cạnh phân tích một số vấn

đề trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, tác giả còn đưa ra những vấn

đề trong “Khoa học logic”, “Triết học tinh thần” của Hegel

Tác phẩm “4 cây đại thụ của triết học phương tây cận đại” của nhà

nghiên cứu Lê Tử Thành được Nxb Trẻ xuất bản năm 2014 đã trình bày và phân tích về tư tưởng của Descartes, Kant, Hegel và Marx Với tác phẩm này, tác giả đã phân tích về cuộc đời và sự nghiệp của Hegel, giới thiệu các tác phẩm triết học của Hegel Đặc biệt, tác giả đã phân tích tư tưởng triết học của Hegel về thế giới quan duy tâm, về logic học biện chứng và về quan điểm lịch sử của Hegel Ở phần “Bàn về mấy vấn đề chủ yếu”, tác giả có đề cập đến vấn đề biện chứng trong triết học Hegel, trong đó có biện chứng chủ

nô và nô lệ Tư tưởng biện chứng của Hegel còn được thể hiện bởi tính nhịp

ba khi phân tích “gia tộc (chính đề) – xã hội (phản đề) – quốc gia (hợp đề)” Tác giả đưa ra một số nhận định và đánh giá triết học của Hegel, nêu lên tiến

bộ về tư tưởng biện chứng của Hegel nói chung và trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng Theo tác giả, Hegel đã phân tích mâu thuẫn, coi mâu thuẫn là điều kiện của mọi sự tiến bộ trong vũ trụ Bên cạnh đó, Hegel còn sử dụng lý luận biện chứng vào việc nghiên cứu lịch sử của “tinh thần” Tuy nhiên, triết học Hegel bản chất vẫn là triết học duy tâm Bởi vì đối với Hegel, chỉ có “tinh thần tuyệt đối” là thực thể duy nhất và là nguồn gốc uyên nguyên của mọi sự trên đời này

Trang 12

Đề tài nghiên cứu khoa học “Lịch sử triết học cổ điển Đức” của Bùi

Báo chí và Tuyên truyền nghiệm thu năm 2013 cũng bàn về tư tưởng biện chứng của Hegel Công trình này trình bày về những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đặc thù của nước Đức thế kỷ XVIII và bối cảnh chính trị -

xã hội - nhận thức ở các nước Tây Âu đương thời Hoàn cảnh lịch sử đó, hội tụ với năng lực tinh thần tuyệt vời của các triết gia Đức đã tạo nên thành quả là nền triết học cổ điển Đức Nền triết học này được chuẩn bị bởi các nhà Khai sáng Đức như Hécđơ, Létxinh, Linlơ, Gớt… Tập thể tác giả

đã trình bày nội dung cơ bản của nền triết học cổ điển Đức thông qua phân tích tư tưởng triết học của Kant, Hegel, Feuerbach Đặc biệt, các tác đã trình bày cuộc đời và sự nghiệp của Hegel, đặc điểm triết học Hegel và phân tích các quan điểm triết học của Hegel trong “hệ thống triết học” của ông Cụ thể đối với tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, các tác giả phân tích một số nội dung: mối liên hệ biện chứng của chủ nô và nô lệ, sự tha hoá của tinh thần… Các tác giả trình bày khái quát trên cơ sở tôn trọng lôgic phát triển tư tưởng triết học, thể hiện được bản chất, đặc trưng của mỗi học thuyết triết học

Thêm vào đó, công trình nghiên cứu của Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ

Minh Hợp với “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen” được Nxb Chính trị

Quốc gia xuất bản năm 1999 Công trình này đã trình bày về vấn đề “tư duy” trong triết học Hegel Tác giả phân tích những nguyên tắc xuất phát từ quan niệm duy logic về tư duy Công trình này còn trình bày cấu trúc và nội dung của khái niệm “tư duy” và vấn đề tư duy trong triết học tinh thần, đồng thời tác giả còn trình bày về triết học tinh thần, phân tích khái niệm “tinh thần chủ quan”

Ngoài ra, Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp phân tích khá rõ ràng

luận điểm về sức mạnh tuyệt đối của lý tính, của tư duy trong cuốn “Quan

Trang 13

niệm của Hêghen về bản chất của triết học” xuất bản năm 2001 do Nxb

Chính trị quốc gia Tác giả đã đưa ra những so sánh về quan điểm lý tính của Hegel với Kant và Fichte và đưa ra khẳng định giá trị của triết học Hegel trong triết học cổ điển Đức: sự xuất hiện của Hegel khắc phục những quan điểm của Kant về nhận thức

Ngoài ra, luận án tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân – Đại học Quốc gia Hà nội cũng bàn về

triết học cổ điển Đức, trong đó có Hegel – “Vấn đề bản thể luận trong triết

học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX” Luận án này

trình bày những điều kiện, tiền đề ra đời triết học cổ điển Đức nói chung và vấn đề bản thể luận trong triết học cổ điển Đức nói riêng Luận án còn phân tích quan điểm bản thể luận của Kant, Fichte, Schelling và Hegel Thông qua

đó, tác giả đánh giá tầm ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức đối với một số triết gia phương Tây hiện đại Đặc biệt, trong công trình này, tác giả đã phân tích những quan điểm của triết học Hegel về vấn đề “tồn tại”

Luận án tiến sĩ “Triết học lịch sử của G.W.F Hegel” của Trịnh Văn

Toàn bảo vệ năm 2014 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân – Đại học Quốc gia Hà nội cũng bàn về triết học Hegel Luận án này trình bày những điều kiện, tiền đề ra đời triết học lịch sử Hegel Luận án còn đưa ra những phân tích những nội dung cơ bản trong triết học lịch sử của Hegel nhưcơ sở của lịch sử, tiến bộ của lịch sử và tự do, con người trong lịch sử, biện chứng của lịch sử, phân kỳ lịch sử Công trình này còn khái quát những những giá trị và hạn tiêu biểu của triết học Hegel nói chung và triết học lịch

sử của Hegel nói riêng

Hội thảo quốc tế với chủ đề “Triết học cổ điển Đức – những vấn đề

nhận thức luận và đạo đức học” diễn ra ngày 21-22/12/2004 tại trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội kỷ niệm 200 năm Kant mất Trong kỷ yếu hội thảo, các tác giả viết về triết học cổ điển

Trang 14

Đức, phân tích các quan điểm triết học của các nhà triết học cổ điển Đức, trong đó tập trung làm rõ vấn đề nhận thức luận và đạo đức Bên cạnh đó, có một số bài viết đề cập đến vấn đề biện chứng của Hegel Các tác giả còn phân tích giá trị của triết học cổ điển Đức và ảnh hưởng của nó đến sự ra đời triết học Mác và các trào lưu triết học phương Tây hiện đại

Với tác phẩm “Biện chứng pháp là gì” do Trần Thái Đỉnh viết năm

1973 được xuất bản bởi Nxb Văn mới Tác giả đã trình bày về phép biện chứng của Platon, Hegel, Mác và phép biện chứng ngày nay Trong đó, tác giả đưa ra những phân tích về lý luận biện chứng Hegel, giá trị và hạn chế của phép biện chứng Hegel Theo tác giả phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng tiến bộ so với tư tưởng biện chứng của các nhà triết học trước đó như: Hegel đã khái quát được các quy luật trong phép biện chứng, vận dụng phép biện chứng để giải thích cho một số vấn đề xã hội Bên cạnh đó, phép biện chứng của Hegel là phép “biện chứng tư biện” với nhiều khái niệm trừu tượng, mơ hồ, duy tâm và thần bí

Nhà nghiên cứu Hoàng Thị Hạnh với bài viết “Hạt nhân hợp lý của

phép biện chứng Hegel trong Tư bản của C.Mác” được in trong kỷ yếu hội

thảo quốc tế, Hà Nội diễn ra từ 21 – 22/12/2004 với chủ đề “Triết học cổ

điển Đức: những vấn đề nhận thức và đạo đức học” được Nxb Chính trị

quốc gia xuất bản năm 2005 Ở công trình này, tác giả đã trình bày một số điểm tiến bộ của triết học Hegel về phép biện chứng và sự kế thừa của Mác đối với tư tưởng triết học này Tác giả cho rằng điểm tiến bộ của phép biện chứng Hegel là nguyên tắc của phương pháp nhận thức, đồng thời tác giả cũng phân tích luận điểm này Nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng bao gồm: nguyên tắc đi từ hiện tượng đến bản chất, nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể và nguyên tắc thống nhất giữa logic và lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn cho rằng Hegel đã trình bày được các nguyên lý, các quy luật và đưa ra một số phạm trù của phép biện chứng Phép biện chứng

Trang 15

của Hegel được Mác kế thừa trong các quan điểm triết học của mình, đặc biệt là trong tác phẩm “Tư bản”

Tác phẩm “Sự ra đời và phát triển, bản chất và giá trị của triết học

Hegel” (The birth and development, the nature and value of the Hegel’s philosophy) – một công trình nghiên cứu của nhà triết học người Đức – R

Haym, được xuất bản năm 1875 Đây là tài liệu phân tích về sự ra đời của triết học Hegel và giá trị của triết học Hegel trong đó có giá trị về tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” Tác giả cho rằng Hegel rất thông minh trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chủ

nô và nô lệ Hegel còn vận dụng logic của sự phát triển tinh thần để giải thích logic của lịch sử xã hội

Tác phẩm “Phép biện chứng của Hegel” (Hegel’s Dialectical) của

Hans - Goerg Gadamer được Nxb Yale University Press xuất bản năm 1976 Tác giả trình bày 5 vấn đề xung quanh Hegel: Hegel và biện chứng của nhà triết học cổ xưa, “thế giới đảo ngược” của Hegel, biện chứng về tự - ý thức của Hegel, vấn đề Logic của Hegel, Hegel và Heidegger Ở đây tác giả đã phân tích rất rõ biện chứng của tự - ý thức trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Ngoài ra, “Từ điển triết học Hegel” do M.Inwood nghiên cứu được Nxb

Tri thức xuất bản năm 2015 Tác giả đã tập hợp và giải thích nhiều thuật ngữ trong triết học Hegel: “tự mình”, “cho mình”, “tự mình và cho mình”, “tuyệt đối”, “ý niệm”, “trở thành”, “tha hoá”, “trực giác”, “cảm giác”…

Hướng thứ hai: những công trình nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Công trình nghiên cứu của Trần Đức Thảo với “Hạt nhân duy lý trong

triết học Hegel” được in trong Tạp san Đại học (Văn Khoa), số 6,7 năm

1956 (từ trang 18 – trang 36) cũng nói về vấn đề biện chứng trong triết học Hegel Tác giả đã phân tích và đưa ra một số nhận định trong nội dung

Trang 16

chương IV của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” – “sự thật của việc xác tính về chính mình” Tác giả phân tích về “ý thức bản ngã” là ý thức về mình, tin tưởng ở mình Ở trình độ cảm tính đó trải qua ba hình thái: “lòng ham muốn”, “chiến đấu sống và chết”, “chủ nô và nô lệ” Dưới một hình thức huyền bí, Hegel đã diễn tả trong đoạn này bằng diễn biến tâm trạng bản ngã chủ quan trong mấy bước đầu của lịch sử tiến hoá nhân loại, từ đời sống động vật lên xã hội nguyên thuỷ, rồi đến chế độ chiếm hữu và sự tan rã của

nó Thông qua những phân tích đó, tác giả đưa ra những nhận định về giá trị của tư tưởng biện chứng Hegel

Bên cạnh đó, Nguyễn Chí Hiếu với bài viết “Về khái niệm tinh thần

tuyệt đối trong triết học Hêghen” in trong tạp chí triết học số 12 (187), tháng

12 năm 2006 Tác giả đã làm rõ vị trí của khái niệm này trong “Triết học tinh thần” của ông, đồng thời luận giải quá trình đi từ nhận thức cái Tuyệt đối đến nhận thức cái “Tinh thần” ở ông Theo Hegel, “Tinh thần” là sự thống nhất giữa ý thức và tự - ý thức, là quá trình nó tự vận động, sự biểu hiện và

tự nhận thức mình theo tính tất yếu và đó chính là “Ý niệm” đã trở lại với chính mình; “Tinh thần tuyệt đối” là sự “dung hoà hoàn hảo” giữa tự nhiên

và tinh thần, giữa tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan – sự dung hoà của tất cả các mặt đối lập trong quá trình nhận thức tính tất yếu của nó, là tư duy của tinh thần về chính bản thân mình với tư cách chân lý tuyệt đối, vừa

là kết quả vừa là quá trình tinh thần tự nhận thức bản thân mình thông qua con người, xã hội loài người và lịch sử Tiếp đó, tác giả đã trình bày nhận xét

về khái niệm “Tinh thần tuyệt đối” của Hegel

Công trình nghiên cứu của nhà triết học người Ba Lan Leszel

Kolakowski (1927-2009) với nhan đề “Nguồn gốc của phép biện chứng”

(The Origins of Dialectic) do P.S Falla dịch, được xuất bản năm 1978 bởi

Nxb Oxford University Press Công trình này đã phân tích một số vấn đề biện chứng của Hegel trong triết học tinh thần Tác giả trình bày mục đích

Trang 17

của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, các hình thái khác nhau của tinh thần dựa trên “tồn tại tự mình – tồn tại cho mình – tồn tại tự mình và cho mình”, phân tích sự phủ định của các dạng tồn tại đó để đi đến chân lý Sau cùng, công trình này đưa ra nhận định về giá trị của tư tưởng biện chứng Hegel và sự kế thừa của triết học Mác Tác giả cho rằng giá trị của tư tưởng biện chứng Hegel trong tác phẩm này nằm ở chỗ Hegel phân tích mối liên hệ giữa các mặt đối đập từ đó dẫn đến mâu thuẫn, đó chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển của tinh thần Bên cạnh đó, Hegel lý luận về sự phủ định là sự thay thế và đi lên của các hình thái tinh thần, đó là khuynh hướng chung của sự phát triển tinh thần

Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu nhiều về Hegel cũng như tư tưởng triết học của ông Ở đây, các tác giả đã viết tương đối khái quát về hệ thống triết học của Hegel cũng như tư tưởng biện chứng của ông Tuy nhiên, hầu như các tác giả chưa nghiên cứu sâu về tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Dựa vào những công trình nghiên cứu trên và nội dung bản dịch tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Bùi Văn Nam Sơn, bản dịch tiếng Anh

của Miller với “Hegel’s Phenomenology of Spirit”, luận văn sẽ trình bày tư

tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel với

hy vọng làm sáng tỏ tư tưởng biện chứng của tác phẩm đồ sộ này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về tư tưởng biện chứng của ông trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”, góp phần tìm hiểu thêm tiền đề lý luận của triết học Mác – Lênin

Nhiệm vụ của luận văn: để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Trang 18

Thứ nhất: trình bày và phân tích hoàn cảnh ra đời, mục đích và kết cấu tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Thứ hai: trình bày và phân tích nội dung cơ bản về tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Thứ ba: đưa ra những nhận định, đánh giá về tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của G.W.F Hegel

Phạm vi nghiên cứu: tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của G.W.F.Hegel

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu luận văn sử dụng là phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đánh giá, logic và lịch sử… để làm rõ nội dung cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận: Trên cơ sở trình bày, phân tích và đánh giá tư tưởng biện chứng trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel, luận văn góp phần nghiên cứu sâu sắc hơn về tư tưởng biện chứng của Hegel trong tác phẩm này nói riêng và triết học Hegel nói chung

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên nghiên cứu chuyên ngành cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 7 tiết

Trang 19

Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU

CỦA TÁC PHẨM “HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN”

Triết học cổ điển Đức được xem là một nền triết học phát triển với nhiều tư tưởng tiến bộ trong lịch sử triết học của nhân loại, có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến nền triết học hiện đại Triết học cổ điển Đức xuất hiện và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của một thời kỳ biến động lịch sử nước Đức Đây

là một thời kỳ nở rộ nhiều bậc tài nhân với tư tưởng phê phán xã hội đương thời Nói đến triết học cổ điển Đức không thể không kể đến Hegel, một trong những nhà triết học tài ba, xuất sắc của thời kỳ triết học này Không nằm ngoài ngoại lệ, triết học Hegel cũng như tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” được ra đời trong “sự rối ren” của lịch sử ở thế kỷ XVIII - XIX Có thể nói, “Hiện tượng học tinh thần” có một kết cấu vô cùng phức tạp và khó hiểu như chính xã hội Đức lúc bấy giờ Nó phản ánh một cách mạnh mẽ những biến cố của xã hội, chính trị, kinh tế đương thời

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA G.W.F HEGEL

Bất kỳ một quan điểm, một tư tưởng hay một tác phẩm nào ra đời cũng đều gắn liền với nhiều hoàn cảnh lịch sử nhất định Bao gồm nhiều nhân tố khác nhau, trong đó nhân tố chủ quan là một phần không thể thiếu được Hoàn cảnh xuất thân cũng như cuộc đời của Hegel cũng ảnh hưởng to lớn đến quan điểm của ông nói chung và tác phẩn “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng

Georg Wilhem Friedrich Hegel sinh ngày 27/8/1770 trong một gia đình viên chức cấp cao thuộc bộ tài chính nhà nước tại Stuttgart, thuộc lãnh địa Wurttemberg, mi tây nam nước Đức Ông là anh cả trong gia đình có ba anh

em Hegel có người anh là Ludwig và một người chị tên Christiane (Inwood, 2015, trang 39)

Trang 20

Hegel được nuôi dưỡng trong một môi trường Tin Lành ngoan đạo Mẹ ông đã dạy tiếng Latin cho ông từ rất sớm Ông là con đầu lòng của một viên chức phục vụ cho công tước, là hậu duệ của những người tị nạn Tin Lành di

cư từ nước Áo công giáo sang vùng Wurttemberg theo phái Luther Hegel

mồ coi mẹ năm 14 tuổi

Tư tưởng của Hegel chịu ảnh hưởng mãnh mẽ của tư tưởng Hy Lạp, tiêu biểu như Heraclite, Socrate, Platon, Aristotle Ông là người đam mê văn chương, lịch sử, triết học… đặc biệt là văn hoá Hy Lạp cổ đại Điều đó,

có sức hút vô cùng mạnh mẽ cho những tìm hiểu của ông Theo những tư liệu tìm thấy, thì từ khi còn là cậu học trò, ông đã có hai bài viết về những hiểu biết của mình đối với văn hoá Hy Lạp: “Về tôn giáo của người Hy Lạp

và người La Mã” (1787) và “Về phong cách các nhà thơ cổ” (1788) Có thể nói, ngay từ khi chưa có sự nghiệp lớn trong tay, Hegel cũng đã manh nha những đam mê về Hy Lạp, về thần học, cũng như những tư tưởng về triết lý,

về lịch sử Hegel đã từng viết “Nghe nhắc đến Hy Lạp, người Đức có học vấn liền cảm thấy thoải mái, quen thuộc Tôn giáo của người Âu châu có nguồn gốc xa xôi ở tại phương Đông, nhưng những gì ở đây và bây giờ - khoa học và nghệ thuật, tất cả những gì nâng cao và tô điểm cho cuộc đời-chúng ta đều trực tiếp hoặc gián tiếp rút ra từ Hy Lạp” (Lê Tử Thành, 2014, trang 108) Điều đó cho thấy rằng, Hegel có nhiều an hiểu về triết học, văn hoá cũng như thần học, cũng như thế, ông đã đặt con tim sâu sắc vào thần học và triết lý tôn giáo

Bên cạnh đó, ông còn kế thừa tư tưởng của nhiều nhà triết học tiền bối:

Hà Lan, Pháp, Đức Tư tưởng của J.J Rousseau như thổi một làn gió mới vào tư tưởng của các nhà triết học đương thời, trong đó có Hegel Ông cùng các đồng nghiệp của mình thường xuyên tranh luận về cách mạng Pháp, về

tư tưởng bình đẳng, tự do Hegel cho rằng: cách mạng Pháp là ánh dương chói lọi Mọi tồn tại có lý tính đều nhiệt thành chào đón sự kiện lịch sử này

Trang 21

Đây là lời ngự trị của lòng cao thượng, cảm động, thế giới tràn đầy lòng nhiệt thành, và dường như có dự dung hoà giữa thánh thần và trần tục Mặc

dù ông kế thừa những tư tưởng của các nhà triết học đó, chịu ảnh hưởng bởi

tư tưởng của họ trong tác phẩm của mình, nhưng ông thường xuyên bất đồng với những triết gia này

Ông đã tìm hiểu và tiếp thu khá nhiều tư tưởng thần học Nhưng ông cho rằng, những kiến thức đó là những vấn đề thuộc dạng thông thái rởm Từ đó, ông quyết định đi theo con đường tự nghiên cứu và giao thiệp, bàn luận với bạn bè của ông Schelling Họ là những người có nghiên cứu miệt mài về Kant hay Platon Từ đó, ông và bạn bè của mình đưa ra những tranh luận về các vấn

đề triết học, cũng như chính trị, xã hội từ xưa (Inwood, 2015, trang 39)

Năm 1793, Hegel đã hoàn thành chương trình đại học khoa thần học và cho ra đời tác phẩm đầu tay “Tôn giáo nhân dân và Cơ đốc giáo” Qua tác phẩm trên, ông đưa ra những quan điểm thẳng thắng vào tôn giáo Tuy chưa chín muồi về tư tưởng, nhưng tác phẩm cũng thể hiện những điều mà ông muốn

đề cặp cũng như là tiền đề triết học của ông sau này (Inwood, 2015, trang 40) Cho đến mùa hè năm 1795, Hegel viết tác phẩm “Cuộc đời của chú Jesus” và

“Tính tích cực của Cơ đốc giáo” năm 1796 Tác phẩm này cho thấy Hegel đưa

ra những quan điểm mà chịu ảnh hưởng hoàn toàn bởi triết lý của Cơ đốc giáo, chuyển từ chủ nghĩa duy lý của Kant đến chủ nghĩa phiếm thần bí

Ở giai đoạn 1797 - 1800, Hegel trở về Đức cũng tiếp tục làm công việc dạy học và nghiên cứu triết học Trong khoảng thời gian này, ông đưa ra một tác phẩm hết sức quan trọng là “Tinh thần và số phận của đức chua Jesus Christ” năm 1799 Tác phẩm này là sự thể hiện khác biệt trong quan niệm của Kant và Hegel về đạo đức Ngay trong chính tác phẩm này, ông cũng đưa ra quan điểm về “tinh thần của Jesus là gì?” Đó không phải là cái gì khác ngoài tinh thần hoà giải cao cả, là cái trọn vẹn của cuộc sống, là tình yêu, là khát vọng, là niềm mơ ước Tình yêu và sức mạnh có mối liên kết vô cùng chặt

Trang 22

chẽ, tác dụng làm hàn gắn mọi vết thương Tình yêu là sự thống nhất của cuộc sống, nhưng đó là cuộc sống sinh động Tình yêu là một tình cảm chủ quan, muốn trở thành tôn giáo thì nó bắt buộc phải trở thành hình thức khách quan Cũng tại thời điểm này, Hegel có nhiều quan tâm đến kinh tế chính trị cổ điển Anh Tuy nhiên, một số tài liệu của ông viết về vấn đề này đã bị thất lạc và mất đi đáng kể

Năm 1801, Hegel bảo vệ thành công luận án tiến sĩ của mình và chuyển đến sống ở Jena Ở đây ông tham gia giảng dạy tại đại học danh tiếng Jena

và được phong giáo sư không lâu sau đó Hegel tăng cường nghiên cứu các vấn đề của triết học ở một nơi lý tưởng như Jena Chính ở ngôi trường này, ông có nhiều thời gian hơn cho việc đọc sách và nghiên cứu, có cơ hội tiếp cận với tư tưởng của nhiều nhà triết học lớn trước ông Chính vì lẽ đó, tư tưởng triết học của Hegel đã dần hoàn thiện theo ý mà ông muốn, nó rất gần với quan điểm “triết học về tính thống nhất” của Schelling về phép biện chứng (Inwood, 2015, trang 41)

Năm 1816, Hegel đến Đại học Heidelberg Ở đây, Hegel đưa ra phát biểu “nhà nước phổ được thiết lập dựa trên nền tảng của lý tính” Vì phát biểu mang nhiều màu sắc chính trị đó mà Hegel được nhà nước Phổ đặc biệt chú ý Ngay sau đó, năm 1817, ông cho xuất bản Đại cương Bách khoa thư

về khoa học triết học (The Encyclopedia of the Philosophical Sciences in Outline) dưới hình thức tóm tắt triết học được đưa giảng dạy tại Heidelberg

Từ những thành quả trên, Hegel đã được chính phủ Phổ mời về Đức giảng dạy Năm 1818, Hegel đến dạy tại Đại học Berlin giữ chức Chủ tịch Triết học Năm 1821, ông cho cho ra đời tác phẩm Triết học pháp quyền Ông gắn

bó ở đây và qua đời vào ngày 14/11/1831 vì bệnh dịch tả Hegel được an táng ở Berlin kế bên Fichte Ông mất lúc đang đỉnh cao của danh vọng, được thừa nhận rộng rãi như là triết gia lớn nhất nước Đức (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, 2018, trang 1223)

Trang 23

Hegel là người mang tầm ảnh hưởng tương đối lớn đến các nhà triết học sau đó, có thể là những người kế thừa và cả những nhân vật phê phán tư tưởng của ông Nhà tư tưởng Maurice Merleau-Ponty đã viết rằng "Tất cả những ý tưởng triết học vĩ đại của thế kỷ vừa qua, triết học của Marx và Nietzsche hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh của Đức, và phân tâm học, đều bắt đầu từ Hegel” (Maurice Merleau-Ponty, 1964, trang 63)

Triết học Hegel trải qua nhiều gia đoạn khác nhau theo một tiến trình phát triển nhất định Ở thời kỳ đầu, tư tưởng triết học của Hegel cũng chưa được định hình rõ ràng, có chăng chỉ là những kiến thức tích luỹ thông qua việc học trên lớp cũng như tự nghiên cứu Bước sang giai đoạn thứ hai, Hegel đọc rất hiều tác phẩm của các nhà triết học lớn, tự tích luỹ cho mình nhiều kiến thức quan trọng cho sự nghiệp Giai đoạn thứ ba là khoảng thời gian mà Hegel có điều kiện đầu tư vào nghiên cứu, ông có cuộc sống khá ổn

về kinh tế, có vị trí cao trong xã hội, nên Hegel đã có nhiều thời gian để hoạt động nghiên cứu cũng như viết sách, với hệ thống tri thức vô cùng to lớn Thứ tư, ở giai đoạn này, Hegel nỗ lực tập trung vào công việc giảng dạy và nghiên cứu của mình Ông cũng tập trung vào các bài giảng triết học, mỹ học tôn giáo, triết học pháp quyền Hegel chủ yếu đưa ra quan điểm của mình trên các bài giảng về những môn học đó Tư tưởng triết học của Hegel tích luỹ và hoàn thiện theo từng giai đoạn nhất định Có thể nói, vốn xuất thân từ gia đình ngoan đạo, mà tư tưởng của ông hàm chứa sự tôn sùng tôn giáo, mang yếu tố duy tâm sâu sắc Bước sang nhiều giai đoạn khác nhau, tập trung, tích luỹ nhiều tri thức khác nhau trong quá trình nghiên cứu mà Hegel

đã xây dựng cho mình một hệ thống triết học đồ sộ với nhiều tư tưởng tiến

bộ lúc bấy giờ (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, 2018, trang 1222-1223) Hoàn cảnh xuất thân cũng như cuộc đời, sự nghiệp có ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng triết học của Hegel và cụ thể là sự ra đời của tác phẩm

“Hiện tượng học tinh thần” Hegel được đánh giá rất cao về triết học Ông là

Trang 24

một thiên tài trên các lĩnh vực triết học, thần học, mỹ học, triết học pháp quyền, kinh tế học Hegel đã đóng góp một kho tàng lý luận đồ sộ cho nhân loại Có thể khẳng đinh rằng, Hegel là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học cổ điển Đức, là bộ óc bách khoa về tư tưởng và về lý luận Đó là một hiểu tượng vĩ đại của tinh thần Đức cuối thế kỉ XVIII

1.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

Tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” được Hegel xuất bản năm 1807 (bản thảo được hoàn thành vào năm 1806 trong đêm trước trận đánh ở Jena)

đã trở thành một trong những tác phẩm thành công nhất có tầm ảnh hưởng

vô cùng to lớn đến nền triết học phương Tây hiện đại về sau “Hiện tượng học tinh thần” được xem là tác phẩm khởi thuỷ cho toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học đồ sộ của Hegel Nó chứa đựng toàn bộ thế giới quan cũng như phương pháp luận của ông về triết học Chính vì thế, sự ra đời của “Hiện tượng học tinh thần” đại diện cho sự ra đời của tư tưởng triết học Hegel Nó chịu ảnh hưởng mãnh liệt của thời kỳ biến động về kinh tế, chính trị, xã hội… của nước Đức thế kỷ XVIII – XIX và Tây Âu giai đoạn này

Tình hình kinh tế - xã hội nước Đức thế kỷ XVII – XIX đã ảnh hưởng đến sự ra đời tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Tại chính nước Đức, cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648), đã để lại những “vết trượt” nặng nề cho đất nước này Mãi đến thế kỷ XVIII, Đức vẫn

là một quốc gia phong kiến lạc hậu về kinh tế Cuộc chiến diễn ra trên hầu hết các cường quốc của châu Âu lục địa thời bấy giờ Đây là cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa nhà Habsburg và các quốc gia khác ở châu Âu Tuy nhiên, nó vẫn diễn ra trên danh nghĩa là cuộc xung đột tôn giáo giữa những người Tinh Lành và những người Công giáo Chiến tranh 30 năm đã tàn phá nặng nề toàn bộ châu Âu, đặc biệt là ở Đức: nạn đói xảy ra triền miên, dịch bệnh thay nhau kéo tới, số người chết đến nổi không thể thống kê được Lúc này dân số của các thành bang ở khu vực nước Đức ngày nay

Trang 25

giảm đáng kể, đồng thời khiến nhiều cường quốc châu Âu suy sụp Cuộc chiến diễn ra trong 30 năm, nhưng những mâu thuẫn dẫn đến cuộc chiến đã bắt đầu trước đó rất lâu Sau khi hiệp ước Munster được ký kết, cuộc chiến

đã kết thúc Những thoả thuận của hiệp ước này mang nhiều giá trị lớn lau cho Đức và cả châu Âu, một phần của một thỏa thuận lớn hơn có ý nghĩa quyết định với lịch sử châu Âu trong hoà ước Westphalia về sau (Samuel R.Gardiner, 2012)

Cuộc chiến tranh 30 năm đã mang đến những hệ quả đối với nước Đức Đất nước này đã bị chia cắt thành nhiều vùng khác nhau, có quyền tự chủ khác nhau, mặc dù đều là thành viên của Đế chế Chiến tranh đã tàn phá nặng

nề nhiều thành thị và nông thôn Lãnh thổ bị chia cắt thành nhiều phần khác nhau, điều đó gây ảnh hưởng đến kinh tế và tiền tệ Đặc biệt, ở mỗi vương quốc, họ đều thiết lập cho mình trạm thu thuế, gây khó khăn nhiều cho thương mại, trao đổi, mua bán Có thể nói, vấn đề này làm suy giảm nặng nề sức mạnh của Đế chế La Mã Thần thánh và phi tập trung hóa quyền lực ở Đức Đây cũng được xem là một trong những nguyên nhân sâu xa cội rễ của chủ nghĩa quên phiệt ở Đức và chủ nghĩa dân tộc sau này Chiến tranh 30 năm đã

hệ thống lại một lần nữa cấu trúc quyền lực trước đó ở các nước châu Âu Hơn

cả là chế độ nông nô lần thứ hai được lập lại một lần nữa trên đất nước này trong thế kỷ XVII Điều đó đã khiến gia cấp nông dân lâm vào tình trạng cơ cực, đói khổ, chà đạp về nhân phẩm (Samuel R.Gardiner, 2012) Cuộc chiến tranh 30 năm đã ảnh hưởng đến triết học Hegel về vấn đề tự do

Đặc biệt, cuộc chiến tranh của Napoleon trong trận Jena là điều kiện trực tiếp cho sự ra đời tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Từ những sự lạc hậu về kinh tế, chính trị đến sự thay đổi về xã hội, tư tưởng ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng triết học của Hegel nói chung và tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng Thực tế cho thấy, Hegel đã mang trong mình tư tưởng muốn thay đổi xã hội, muốn hướng đến sự tiến bộ

Trang 26

nhưng lại mâu thuẫn với việc gìn giữ chế độ nhà nước hiện thời Hegel muốn con người đến sự do, con người thoát khỏi cảnh áp bức, nghèo khó

Từ sự tự do về thân thể, Hegel hướng con người đến sự tự do về cả ý thức

Ý thức con người cũng cần được giải pháp, cần được hướng đến cái hoàn thiện hơn, mà muốn vậy thì phải hướng đến cái đích cuối cùng là sự tự do ý thức Những mâu thuẫn đó đã hàm chứa nhiều tư tưởng triết học của ông Nếu như những vấn đề xã hội đó đã ảnh hưởng gián tiếp đến sự ra đời tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” thì sự chiến thắng của Napoleon là sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời tác phẩm này Khoảng thời gian ông rời bỏ Frankfurt là giai đoạn nhiều biến động của lịch sử Ở đấy diễn ra một

sự kiện chấn động trong lịch sử Đức là sự chiến thắng của Hoàng đế Pháp Napoleon tại Đức Napoleon đã thống nhất 112 lãnh chúa phong kiến thành một nhà nước hùng mạnh theo mô hình của chế độ Pháp Lúc này, Hegel mang nhiều suy nghĩ trăn trở về tương lai của nước Đức: sự chiến thắng và phục hưng của đất nước chỉ chọn con đường duy nhất là tư bản chủ nghĩa, ông cũng hăng hái ủng hộ chế độ của Napoleon Ông cho rằng, Napoleon là người thực hiện cuộc cách mạng Pháp tại Đức, chính vì điều đó sẽ giúp nước Đức phát triển, thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu và sa sút Cũng chính thời điểm này, tác phẩm lừng danh “Hiện tượng học tinh thần” ra đời năm 1806, ngay chính cái đêm mà cuộc chiến ở Jena nổ ra (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, 2018, trang 1220)

Bên cạnh tình hình kinh tế - xã hội Đức ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” thì tư tưởng triết học Hegel nói chung và tác phẩm này nói riêng cũng chịu sự chi phối bởi tình hình châu Âu thế kỷ XVII – XIX

Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đã sản sinh ra hàng loạt các nhà khoa

học nổi tiếng như Issac Newton với những phát kiến mang tầm vóc thiên tài trong các lĩnh vực toán học, vật lý học, hóa học, tự nhiên học tạo ra nền tảng

Trang 27

tri thức cho các tiến bộ trong kỹ nghệ sản xuất Anh là quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển kinh tế công nghiệp Bên cạnh

đó, giai cấp quý tộc Anh sớm tham gia vào việc kinh doanh, mua bán Những người đó trở thành tầng lớp quý tộc mới, có quyền lợi gắn liền với tư sản có cách nhìn của tư sản Anh quốc có thể bóc lột tài nguyên từ các thuộc địa để làm nguồn vốn cho công nghiệp hóa Anh đã thay đổi phương thức sản xuất với nhiều phát minh về kỹ thuật, khoa học, năng xuất lao động được tăng lên cùng với nhiều công trường thủ công được mọc lên Cùng với đó, nền dân chủ tư bản đã bắt đầu hình thành tại một số nước Châu Âu, sau đó

lan rộng ra khắp châu lục

Vào thập niên 50 của thế kỷ XVIII, các nước Tây Âu đã bắt đầu gặt hái được một kết quả đáng ghi nhận đó là chuyển đổi phương thức sản xuất từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mang lại vị thế của giai cấp tư sản trong xã hội được khẳng định nhiều hơn Ở đây máy móc được vận dụng thay thế cho lao động thủ công, ứng dụng được thành tựu khoa học tự nhiên, hoá học, vật lý vào sản xuất, chế biến Bên cạnh việc vận dụng trang thiết bị vào sản xuất thì việc phân công lao động, chuyên môn hoá cũng bắt đầu hoàn thiện dần Hệ quả của những điều kiện đó là giúp xuất hiện nhiều khu công nghiệp, dân tập trung ra các đô thị ngày một nhiều dẫn tới quá trình đô thị hoá ở thời cận đại Giai cấp công nhân cũng ngày càng phát triển nhiều Điều đó đã mang lại cho Châu Âu một nền sản xuất phát triển, hiện đại, mở đầu cho một nền văn minh mới - văn minh công nghiệp Nó khẳng định sự tiến bộ của chủ nghĩa tư bản so với chủ nghĩa phong kiến thời bấy giờ Từ sự phát triển lạc hậu về kinh tế của Đức so với các nước trong khu vực, điều đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng triết học của Hegel Ông nhận thấy rằng đất nước mình cần phải có một tư tưởng tiến bộ hơn là phải đi đến sự thay đổi về chế độ lẫn tư duy (Nguyễn Xuân Xanh, 2019, trang 14-16)

Trang 28

Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp Anh thì cách mạng tư sản Pháp

được xem là kết quả của những tư tưởng trong thời kỳ khai sáng với khát khao xây dựng một xã hội trong sự tự do, nhân tính Cuộc cách mạng này đã lật đỗ được chế độ phong kiến tại Pháp Song song đó, nó còn mang lại sự tự

do cho đại quần chúng nhân dân lao động, sự công bằng cho nông dân, mang lại quyền lực bình đẳng cho toàn bộ nhân dân, quyền bình đẳng giữa các giai cấp, thế lực trong xã hội

Cách mạng tư sản Pháp là ngọn đuốc truyền lửa cho sự bùng nổ của các cuộc cách mạng dân chủ và sự ra đời của các nền cộng hòa, đưa ra một tín hiệu cho sự kết thúc của chế độ phong ở các nơi trên thế giới Cách mạng tư sản Pháp truyền ngọn lửa tư tưởng cho phần lớn giai cấp trí thức ở Châu Âu nói chung và Đức nói riêng Điều đó đã làm họ tin vào sự ra đời của thời đại mới đang đến gần, rằng loài người có thể cải biến xã hội theo một chiều hướng tốt đẹp hơn Kết quả của cuộc cách mạng này đã trở thành điểm khởi đầu cho sự phát triển của tất cả các hệ tư tưởng chính trị hiện đại, dẫn đến sự

ra đời và phổ biến của nhiều tư tưởng tiến bộ

Trong khoảng thời gian từ khi khởi đầu đến những thập niên 40 của thế

kỷ XIX Pháp đã thể hiện vai trò quan trọng của mình trên thế giới Pháp đã mang tầm ảnh hưởng của mình đến các phong trào khác ở Ba Lan, Ireland cùng nhiều quốc gia khác Lúc này Pháp đã là trung tâm của các phong trào trí thức trong thế kỷ XVIII với sự dẫn đầu thế giới về khoa học Phần lớn các tác phẩm văn hóa và chính trị đều được viết bằng tiếng Pháp được các nhà trí thức thuộc nhiều nước tìm đọc, các dân tộc khác trên thế giới theo dõi và bắt chước (Thái Kim Lan, 2004)

Đối với nước Đức, cuộc cách mạng tư sản Pháp đã có nhiều ảnh hưởng đáng kể Nó đã lan truyền được tư tưởng tự do và dân chủ, truyền bá các ý tưởng về tự do, bình đẳng và bác ái trong đại bộ phận nhân dân, khuyến khích cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến với “Tuyên ngôn nhân

Trang 29

quyền và dân quyền” (26 – 8 - 1789) Cuộc cách mạng này cũng góp phần to lớn dẫn đến những sự thay đổi đối với xã hội nước Đức, đóng góp vào việc giải tán các phường hội và chấm dứt chế độ nông nô, thay đổi tư tưởng của rất nhiều người thuộc tầng lớp tri thức lúc bấy giờ, trong đó có Hegel Ở đây, cuộc cách mạng tư sản Pháp là một tấm gương hiện thực để những nhà tư tưởng như Hegel mang ý nghĩ muốn thay đổi cuộc sống, thay đổi xã hội, đồng thời đưa ra những quan điểm tiến bộ, hiện đại Những tư tưởng cũng như những thành quả của cuộc cách mạng tư sản Pháp đã mang lại những ảnh hưởng mãnh liệt đến tư tưởng triết học của các nhà triết học cổ điển Đức trong nhiều thập niên của thế kỷ XVIII - XIX (Thái Kim Lan, 2004)

Phong trào khai sáng Pháp đã ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Hegel nói chung và sự ra đời của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng

Ở Pháp những thập niên cuối thế kỷ XVIII là thời kỳ phát triển rực rỡ về mọi mặt, đó được xem là thời đại của “ánh sáng” - thời đại rực rỡ của tri thức Những thành quả của thời đại này mang lại, thoạt tiên nói lên niềm lạc quan nằm trong tư tưởng con người thế kỷ thứ XVIII: bóng tối của huyền thoại, giáo điều, mê tín, lạc hậu, chậm tiến, bất công, áp bức ngăn cản bước phát triển của con người trên tất cả các lãnh vực xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, khoa học của quá khứ bị đánh tan, nhường bước cho ánh sáng của lý trí

và tiến bộ (Thái Kim Lan, 2004)

Ở Pháp, rầm rộ lên phong trào phê phán tôn giáo, điều đó đã trở nên cực đoan và quyết liệt hơn bao giờ hết Có thể nói đây là một đặc điểm của phong trào khai sáng tại Pháp Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa vô thần và duy vật chiếm ưu thế hơn về mặt lý luận trong các cuộc tranh luận và phê bình thiên chúa giáo và nhà thờ Họ có ngụ ý không phải để cải thiện mà để dẹp bỏ sự tồn tại của tôn giáo và nhà thờ Có thể nói sự chiết tách của những ảnh hưởng tôn giáo qua thế lực của nhà thờ và giáo điều kinh viện là một tiền đề to lớn để công cuộc nghiên cứu khoa học được thực hiện một

Trang 30

cách độc lập trên mọi lãnh vực Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo nên

sự tương phản với các quan điểm của nhà thờ, giáo hội và tôn giáo vào thời điểm lúc bấy giờ vừa là một kết quả đáng ghi nhận về văn hóa, công nghệ, vừa là một vấn đề gây ảnh hưởng đến sự đối lập một cách sâu đậm trên các quan điểm về nhân sinh quan cũng như thế giới quan của xã hội tây phương cho đến ngày nay

Phong trào khai sáng đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng triết học của Hegel Ông đã thấy về tương quan tích cực giữa tự do và lịch sử khi suy nghĩ

về sự tiếp tục thực hiện “khai sáng chưa thỏa đáng” Hegel cũng đưa ra những giải thích lịch sử như là lịch sử về tự do (Freiheitsgeschichte) Trong viễn tượng tự do của con người và nhân loại, theo Hegel, những thay đổi từ thế kỷ XVII, XVIII trong xã hội, chính trị, đạo đức, tôn giáo đến từ sự giải thể xã hội Âu châu cổ đại cùng với những quan niệm giá trị của chúng vẫn còn nằm trong sương mờ Hegel cũng đưa nhận những quan điểm về khai sáng, theo ông, khai sáng là vừa giúp ta thấy được những gì “bây giờ nên có giá trị, chỉ thật sự có giá trị… không phải do vũ lực, lại hiếm khi do thói quen và nghi lễ đạo đức, nhưng chính do sự thấu triệt và căn cứ vào các lý lẽ

và vừa chính do “khai sáng khai siết” trong nghĩa tiêu cực mà tinh thần con người bước ra khỏi những thế giới quan cũng như toàn thể tính được trình bày qua nghệ thuật và tôn giáo Điều đó dẫn đến một sự thạt đến nỗi nó thường không thể đo lường được chừng mực tổn thất tinh thần của nó nữa

Phép biện chứng của các nhà triết học trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng của Kant, Fichte và Schelling ảnh hưởng đến tư tưởng tư tưởng triết học

Hegel nói chung và sự ra đời tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” nói riêng Hegel thừa nhận giá trị của triết học Kant trong việc nhấn mạnh năng lực tiên thiên của chủ thể nhận thức, biện chứng của quá trình nhận thức, khắc phục hạn chế của cả chủ nghĩa kinh nghiệm lẫn chủ nghĩa duy lý trong việc lý giải vấn đề chân lý Bên cạnh đó, Hegel cũng đưa ra những phê phán

Trang 31

đối với triết học Kant Theo Hegel, Kant thiếu nhất quán khái niệm chủ quan

và khách quan Kant cho rằng, cái phổ biến và cái tất yếu chính là cái khách quan, còn những gì chúng ta thấy chỉ là cái chủ quan mà thôi

Hegel phê phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan chủ Fichte Cái “Tôi” của Fichte đóng vai trò quan điểm khởi đầu, chi phối và bao quát tất cả Theo Hegel, Fichte đã quy cái “Tôi” tự thân vào tất cả Còn cái “Không – Tôi” là cái được giả định với mục đích làm cho cái “Tôi” như một bản nguyên sáng tạo không ngừng “Quan niệm về cái “Tôi” của Fichte cũng mang nhiều mâu thuẫn Cái “Tôi” sẽ không hiên diện như sự hoạt động tự do tự sinh bởi vì còn có một lực đẩy bên ngoài được nhìn nhận như sự kích thích hoạt động của nó Cái “Tôi” phản ứng lại lực đẩy, và chỉ nhờ đó mới đạt đến sự tiến triển tiếp theo Như vậy, Fichte cũng không đi xa hơn kết luận Kant rằng chỉ nhận thức được cái có hạn, còn cái vô hạn thì vượt khỏi năng lực của tư duy” (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, 2018, trang 1227)

Trong triết học Schelling, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, sự thống nhất và sự phát triển, tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên Hegel đã phê phán có kế thừa triết học của Kant, Shelling

và Fichte trong các quan điểm triết học của mình

Nhìn chung, chính sự lạc hậu của nước Đức, sự phát triển toàn diện của các nước châu Âu cả về kinh tế lẫn xã hội, sự phát triển của khoa học

kỹ thuật lúc này đã thức tỉnh tính phản kháng của giai cấp tư sản Đức cũng như những bộ phận tiến bộ khác của xã hội Thực tế đó đòi hỏi con người Đức nói chung và gia cấp tư sản Đức nói riêng phải có cách nhìn mới về tự nhiên, xã hội và con người Giai cấp tư sản Đức muốn thực hiện cuộc cách mạng tư sản như các nước Tây Âu, muốn biến đổi thể chế chính trị đất nước, cùng lúc đó, họ muốn xây dựng nền triết học theo yêu cầu mới của xã hội đặt ra, song do nhiều điều kiện khách quan cũng như còn non trẻ trong

Trang 32

hoạt động chính trị; cùng với đó là nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau nên họ còn yếu kém về số lượng, kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cách mạng về phương diện tư tưởng Họ vừa muốn thực hiện cuộc cách mạng, lại vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó nên họ giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước Điều đó có nghĩa họ đang có sự mâu thuẫn trong suy nghĩ và hành động Mặc dù muốn thay đổi, muốn xã hội tiến bộ theo chiều hướng mà nó đáng có, thì họ vẫn còn muốn giữ lại chính quyền cũ, thế lực cũ Chính vì thế, nó đã quy định ra nét đặc trưng của triết học cổ điển Đức nói chung và triết học của Hegel nói riêng: nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm, bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng, là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học

1.3 MỤC ĐÍCH CỦA TÁC PHẨM

“Hiện tượng học tinh thần” là tác phẩm lớn của Hegel, một tác phẩm rất khó và chứa đựng nhiều tham vọng của ông Nhà triết học người Đức Windelband (1848-1915) đã viết “Giống người đã có thể hiểu được quyển Hiện tượng học tinh thần của Hegel đang trên đà tuyệt chủng Giờ đây, ngay số người đã chịu khó đọc tác phẩm ấy từ đầu đến cuối chắc cũng chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay mà thôi” (Windelband, 1878) Thật sự đây

là một tác phẩm vô cùng khó hiểu cả về nội dung lẫn mục đích viết ra chúng, đến nỗi nhà thi hào người Đức - Goethe (1849-1832), người được chính Hegel giảng dạy nhiều lần về tác phẩm cũng ngao ngán về độ khó của nó Nhưng ta phải khẳng định rằng, đây là một tác phẩm có giá trị lớn lao “tác phẩm thể hiện đỉnh cao của sự phát triển triết học Hegel, và mọi tác phẩm về sau của ông, không xét đến tầm quan trọng riêng của chúng, về căn bản, chỉ là một sự triển khai thận trọng với nội dung chặt chẽ hơn và

Trang 33

đào sâu về hệ thống - những gì mà xác lập trong Hiện tượng học tinh thần” (Weidmann, 1965, trang 34)

Với tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” Hegel muốn khẳng định vị

trí của triết học, xây dựng triết học trở thành một “hệ thống khoa học về chân lý”

Lời giới thiệu của chính Hegel về tác này của ông cũng đã thể hiện mục đích của tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” Hegel muốn sắp xếp các hình thái khác nhau của tinh thần thành một trật tự nhất định, đó là trật tự khoa học – một hệ thống khoa học của chân lý Các hình thái này được sắp xếp theo trình tự từ trừu tượng đến cụ thể, từ cụ thể đến tổng thể, tức từ đơn giản đến đầy đủ hơn Các hình thái đơn giản tự giải thể chính mình và tiến lên một hình thức cao hơn, hoàn thiện hơn để đi đến chân lý Để làm được điều

đó, Hegel đã xây dựng nên một phương pháp triết học, đó là phép “biện chứng tư biện” Theo Hegel:

“tập sách này trình bày cái biết đang trở thành (das werdende Wissen) Hiện tượng học tinh thần có nhiệm vụ thay chỗ cho những giải thích có tính tâm lý học hay cho cả những biện giải trừu tượng về việc đặt cơ sở cho cái biết xem xét việc chuẩn bị để đi đến với khoa học từ một cách nhìn làm cho việc chuẩn bị ấy là một khoa học đầu tiên, mới mẻ và lý thú của triết học Nó bao hàm những hình thức khác nhau của tinh thần như là những chặng đường của con đường đưa tinh thần trở thành cái biết thuần tuý hay tinh thần tuyệt đối Vì thế, cái biết thuần tuý được xem xét trong các bộ phận chủ yếu của môn khoa học vốn được chia ra thành: ý thức, tự - ý thức, lý tính quan sát và lý tính hành động, bản thân tinh thần với tư cách là tinh thần đạo đức, tinh thần được đào luyện trong thế giới văn hoá và tinh thần luân lý và sau cùng là tinh thần tôn giáo trong những hình thức khác nhau của nó Sự phong phú của các hiện tượng của tinh thần thoạt nhìn như sự hỗn mang ấy được đưa vào

Trang 34

một trật tự khoa học Trật tự ấy trình bày các hiện tượng này dựa theo tính chất chủ yếu của chúng, trong đó những hiện tượng chưa hoàn hảo

tự giải thể và quá độ sang những hiện tượng cao hơn như là chân lý (hay sự thật) sát cận nhất của chúng Chúng sẽ tìm thấy chân lý tối hậu thoạt đầu ở trong tôn giáo, rồi ở trong khoa học (triết học tư biện) như

là kết quả của cái toàn bộ” (Hegel, 2004, trang 202)

Hegel đưa triết học đến gần với “khoa học”, coi triết học trở thành “khoa học của mọi khoa học” Với ông, tinh thần sẽ trải qua các hình thái khác nhau

để đi đến “tinh thần tuyệt đối”, đó là tinh thần cao nhất Tri thức này nó thực

tế hơn mà không phải là “cái biết” đơn thuần, triết học là khoa học chứ không phải là “yêu mến sự thông thái” nữa Theo Hegel, “góp phần đưa triết học đến gần với hình thức của Khoa học – mục đích để nơi đó triết học có thể trút bỏ danh xưng là “sự yêu mến cái biết” để trở thành “Tri thức hiện thực”- chính là điều tôi đã tự đặt ra cho mình” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 17)

Hegel còn đưa ra quan điểm về việc trở thành khoa học của tri thức đó

là điều mà trong tác phẩm này nêu ra:

“cái biết, lúc thoạt đầu, hay, Tinh thần trực tiếp là cái vô - Tinh thần, đó

là ý thức cảm tính Để trở thành tri thức đích thực, hay, để sản sinh ra môi trường của Khoa học – môi trường là bản thân Khái niệm thuần tuý của khoa học -, ý thức cảm tính còn phải trải qua một con đường dài đầy vất vả nơi chính mình Tiến trình “trở thành” Khoa học này, xét về nội dung do nó thể hiện ra và xét về các hình thái mà nó cho thấy trong suốt tiến trình -, sẽ không phải như điều được người ta mới đầu hình dung về một sự hướng dẫn ý thức không - khoa học tiến lên trình hạn của Khoa học; nó cũng khác với việc đặt nền tảng cho Khoa học lẫn với kiểu cuồng nhiệt xuất thần cho rằng có thể bắt đầu ngay lập tức, một cách trực tiếp với Tri thức tuyệt đối như thể bắn đoàng một phát súng và qua đó, cũng thanh toán xong các quan điểm khác

Trang 35

chỉ bằng cách tuyên bố rằng không cần quan tâm đến chúng” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 53)

Tiến trình trở thành khoa học của tinh thần bắt đầu từ tinh thần trực tiếp, tức là từ ý thức cảm tính, sau đó chúng trãi qua một quá trình khá dài và phức tạp để trở thành khoa học Đó là một quá trình đi thẳng đạt đến tri thức tuyệt đối như những trường phái triết học khác mà là một quá trình tự đào luyện mình để tiến bộ hơn đi đến trạng thái khoa học

Hegel muốn thể hiện quan điểm của mình về triết học: “triết học là nhận thức khoa học về chân lý” Ông cho rằng: “ở triết học, về bản chất là ở môi trường của tính phổ biến vốn bao hàm cái đặc thù ở bên trong nó, nên, hơn những ngành khoa học khác, càng có vẻ như trong triết học chính mục đích và kết quả sau cùng dường như diễn đạt được bản thân sự việc, thậm chí diễn đạt được bản thân sự việc bên trong bản chất trọn vẹn của nó” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 2) Thật ra Hegel khẳng định chỉ có triết học mới

có thể nhìn nhận được những vấn đề bên trong của sự vật, chỉ có triết học mới nhận ra được kết quả sau cùng một cách trọn vẹn nhất Triết học khác biệt với các khoa học thông thường Các khoa học thông thường chỉ là một

“sự hỗn tạp” không có quyền mang danh là khoa học Và triết học mới thật

sự là một khoa học có khả năng nắm bắt được chân lý Bản thân của triết học

sẽ đi đến việc “nhận thức về chân lý” “Nó không hiểu sự khác biệt giữa các

hệ thống triết học như là sự phát triển tiến lên của chân lý cho rằng chỉ là sự mâu thuẫn ở trong sự khác biệt ấy” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 4) Hegel muốn đưa triết học của mình lên một hệ thống hoàn thiện với “khoa học của mọi khoa học” Bản thân của triết học là một khoa học nhận thức về chân lý Như vậy, mục đích to lớn của Hegel là muốn xây dựng triết học trở thành một hệ thống triết học về chân lý, đưa “triết học là khoa học của khoa học” Cũng thông qua đó, kết cấu của tinh thần trong Hegel cũng hiện ra một cách rõ nét hơn cả về nội dung và hình thức Con đường đi tới “tinh thần

Trang 36

tuyệt đối” thật là một quá trình phức tạp, trãi qua nhiều hình thức mà bao trùm trong đó là tinh thần

Để đạt được mục đích trên, Hegel đã phê phán về “tính hình thức” cũng như “sơ đồ hoá” của Kant, Fichte và Schelling trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”

Thông qua tác phẩm, Hegel trình bày những quan điểm, những tư tưởng của mình để khẳng định lại nội dung tư tưởng của mình đối đầu với

tư tưởng triết học Kant thời bấy giờ Tức là những tư tưởng mang tính nhị nguyên của Kant, đồng thời là những quan điểm về tự nhiên và xã hội Kant nêu ra quan điểm của trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần tuý”, mọi đối tượng khách quan đều là một trong những chức năng của đối tượng chủ quan, là thành tựu và cũng là kết quả của các yếu tố chủ quan của kinh nghiệm được mặc định trong tinh thần của triết học siêu nghiệm Ba quyển phê phán của Kant đúng là “phê phán” theo nghĩa thực sự của nó Ta thấy Kant phân chia vấn đề theo kiểu lưỡng phân giữa: vật – tự thân và hiện tượng, giữa cái khả niệm và cái khả giác

Hegel có ý đồng tình với quan điểm của Kant Tuy nhiên, ông phê phán lối suy nghĩ ngây thơ của trong lý luận này, phê phán cả tư duy giáo điều, của các hình thức siêu hình học Thứ nhất, Kant thiếu tính nhất quán khi phân biệt giữa cái chủ quan và cái khách quan Theo cách hiểu thông thường, cái khách quan là cái bên ngoài, cái chủ quan là cái bên trong, nhưng Kant cho rằng ngược lại, cái mà chúng ta cảm nhận được từ bên ngoài chính là cái chủ quan mà thôi Thứ hai, Kant đưa ra sự bất lực của lý trí “thuần tuý” Hegel phê phán Kant về sự giả định chính đề và phản đề trong lý trí, Kant đã

hạ thấp năng lực tư duy của con người Thứ ba, Hegel phê phán Kant có những quan điểm mang tính chất duy tâm Kant chưa chỉ ra con đường hình thành và vận động của tư duy Hegel đưa ra mô hình “nhất thể – phân ly – hoà giải” để đi đến sự hoà giải cho tư tưởng của Kant

Trang 37

Hegel còn đưa ra những quan điểm chống lại chủ nghĩa hình thức, sơ đồ hoá thông qua “Hiện tượng học tinh thần” Hegel đưa ra quan điểm phê phán

“phương pháp ngây thơ” của tư duy giáo điều, của mọi hình thức siêu hình học Ông xem “tính nhịp ba” của Kant mang tính hình thức Các quan điểm của Kant không thể tách khỏi hoàn toàn các quan điểm trước đó về siêu hình

Đó là một tư tưởng mang tinh sơ đồ tĩnh tại và áp dụng chúng vào mọi vấn

đề bàn đến Hegel có nói:

“sau khi tính cặp ba của Kant mới được tái phát hiện bằng “bản năng”, còn chết cứng và chưa được thấu hiểu bằng Khái niệm đã được nâng lên thành ý nghĩa tuyệt đối, như thể qua đó, hình thức đúng thật đã được đồng thời thiết định trong nội dung đúng thật của nó và Khái niệm về Khoa học đã được ra đời, thì việc sử dụng hình thức sơ đồ này trong một số lĩnh vực càng khong thể được xem là xứng danh Khoa học Bởi

ta thấy qua đó, nó bị hạ thấp xuống thành một sơ đồ chết cứng, thành một bóng ma hư ảo; và cấu trúc khoa học bị hạ thấp xuống thành một biểu đồ” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 89-90)

Hegel đưa ra quan điểm chống lại cái Tôi của Fichte “ngay quan điểm

về cái Tôi của Fichte cũng mâu thuẫn Cái Tôi sẽ không hiện diện như hoạt động tự do tự sinh bởi vì còn có một lực đẩy bên ngoài được nhìn nhận như

sự kích thích hoạt động của nó Cái Tôi phản ứng lại lực đẩy này, và chỉ nhờ

nó mới đạt đên sự tiến triển tiếp theo” (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính,

2018, trang 1227) Hegel chống lại chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Fichte

về quan điểm cái Tôi

Bên cạnh đó, Hegel còn phê phán các quan điểm của Schelling Ông đồng tình với Schelling về quan niệm giác tính thấp hơn lý tính Ngược lại, Hegel không đồng tình với Schelling khi đưa khái niệm xuống vai trò là người thể hiện tư duy giác tính, logic hình thức Ông cho rằng đó là một sự

hạ thấp bản thân của tư duy lý tính Hegel nói về cách lý luận của Schelling

Trang 38

về trực giác đã biến nhận thức từ chỗ tìm tòi, khám phá chân lý đầy nan giải đến với sự tìm tòi chân lý một cách vô vọng đối với chủ thể (Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, 2018, trang 1228)

Hegel muốn tách mình ra khỏi lối mòn tư duy từ Kant, Fichte và Schelling, mở ra cho mình một “viễn tượng lịch sử” về việc nghiên cứu hiện tượng học Chính vì lẽ đó mà khi Hegel viết lời tựa cho “Hiện tượng học tinh thần”, ông đã hình thành cho mình một hệ thống triết học khác biệt với cái

mà ông đã từng đọc, từng thấy từ các nhà triết học tiền bối, đó là logic học thống nhất, hay còn gọi là “triết học tư biện” Hegel nhận ra rằng, cần phải

có một tác phẩm mới dẫn nhập vào hệ thống triết học của mình, xem đó là cái có thể khảo luận về phương pháp tư biện, cụ thể là lịch sử về kinh nghiệm của ý thức, tức là hiện tượng học tinh thần Cái ý tưởng về “lịch sử của ý thức” cũng là một mạch kéo dài khắp tác phẩm, lịch sử tự - ý thức gắn liền với lịch sử của hiện thực

Để triết học trở thành khoa học, theo Hegel cần có một phương pháp phù hợp đó là phép “biện chứng tư biện”

Hegel xây dựng một phương pháp triết học mà ông gọi đó là “triết học

tư biện” “Tư biện” được hiểu là giai đoạn cao nhất, đây là giai đoạn “vượt bỏ”, “hợp nhất” những tư tưởng hay những hình thái đối lập Sự đối lập giữa tồn tại và tư duy, giữa nội dung và hình thức đã được để lại phía sau Lúc này, “khái niệm” không còn đứng một cách xa lạ với hiện hữu nữa, mà trái lại khái niệm và tư tưởng như là “logos của bản thân tồn tại” Hay nói cách khác cái tồn tại hiện hữu đã xuất hiện trọng khái niệm và tư tưởng Theo Hegel:

“sự tất yếu logic là ở trong bản tính đã nói của cái gì tồn tại, đó là: trong

sự tồn tại của mình, là khái niệm của chính mình Chỉ duy sự tất yếu logic này là cái lý tính và tiết điệu của cái toàn bộ hữu cơ: nó đồng thời

Trang 39

cũng là cái biết về nội dung là khái niệm và bản chất Nói khác đi, chỉ

có nó mới là cái tư biện” (G.W.F.Hegel, 2017, trang 102)

Hegel đã gọi “Hiện tượng học tinh thần” là “khoa học về kinh nghiệm

mà ý thức trải qua” Kinh nghiệm ấy là thiết yếu cho việc thấu hiểu được bản thân tồn tại: nó không thể bị loại bỏ mà “vượt bỏ”, tức được bảo lưu và nâng cao Đây được xem là một yếu tố biện chứng quan trọng trong tác phẩm Thật vậy, kinh nghiệm hay ý thức, ý thức tuyệt đối, chúng không bị mất đi

mà đã được chuyển thành một dạng khác cao hơn, tiến bộ hơn, mới mẻ hơn, trong đó, bản chất hay đơn giản là nguyên bản cốt lỗi vẫn được giữ lại, kế thừa và vận dụng Theo nhận định của Hegel, bất kỳ một học thuyết nào mang tính “giáo điều” cứng nhắc chỉ dựa trên duy nhất một nguyên tắc trừu tượng, không thoát ra từ “kinh nghiệm của ý thức” thì đó không phải là

“chân lý triết học”

Ông so sánh về sự hoạt động của tinh thần cũng giống như những diễn biến của lịch sử thế giới “Hiện tượng học tinh thần” được xem là một ngòi châm khởi đầu cho toàn bộ hệ thống triết học Hegel, đó là cội nguồn chân chính, là phương án sơ khảo trong toàn bộ kho tàng lý luận đồ sộ về triết học của ông Trong triết học tinh thần, sự phát triển tinh thần của Hegel được trình bài dưới dạng tam đoạn thức: chính đề, phản đề và hợp đề, hay nói cách khác là tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan và tinh thần tuyệt đối Ban đầu là tinh thần trong hình thức quan hệ với chính mình, sau đó là tinh thần trong hình thức hiện thực và cuối cùng là tinh thần như sự thống nhất đang sinh ra một cách thực tế và vĩnh cửu trong mình và cho mình của tính khách quan và lý tính của nó, tinh thần trong chân lý tuyệt đối của nó, đó là tinh thần tuyệt đối

Tác phẩm này trình bày về hiện tượng học, khoa học nói chung hay của

“cái biết” là nội dung mà “Hiện tượng học tinh thần” hướng tới Cái biết là cái tồn tại lúc đầu hay “tinh thần trực tiếp”, là cái vô thần hay còn gọi là ý

Trang 40

thức cảm tính Để đi đến cái biết tối cao, cái biết đích thực thì nó phải đi qua nhiều giai đoạn khác nhau, đó là một con đường khá dài, khá quanh co và phức tạp “Hiện tượng học tinh thần” cũng đưa ra những diễn tả về con đường dài của tiến trình của sự xác tính cảm tính đi đến tri thức tuyệt đối Hegel xây dựng nên một hệ thống các khái niệm chặt chẽ trong toàn bộ tác phẩm của mình Ở mỗi chương, mỗi vấn đề là những khái niệm mới được đưa ra Ta có thể nhận biết được rằng, đó là những khái niệm mang tính hệ thống từ “ý thức”, “tự - ý thức” đến “lý tính”; từ “pháp luật”, “đạo đức” đến

“luân lý”; từ “nghệ thuật”, “tôn giáo” đến “triết học” Cả những khái niệm là những bộ ba mà theo Hegel đó là các hình thái khác nhau mà tinh thần phải trải qua để đi đến tri thức tuyệt đối

Thật vậy, xét cho đến cùng, toàn hộ hệ thống triết học của ông đều được

lý luận bằng những bộ ba gọi là “chính đề - phản đề - hợp đề” Hegel có tham vọng mang bộ ba này để làm cách thức lý luận cho các quan điểm, nhận định mà ông đưa ra Từ đó chúng được nâng tầm lên thành hệ thống chặt chẽ, gắn kết nhau thành một thứ triết học mà ông gọi là “triết học tư biện” Chúng ta cũng thấy rằng, toàn bộ là một hệ thống các khái niệm được liên kết với nhau thành một mạch xuyên suốt trong tác phẩm Chúng là những hình thái đi hết từ giai đoạn này đến giai đoạn khác của quá trình nhận thức chân lý Mà trên mãnh đất đó, phương pháp luận cốt lỗi hình thành nên, tư tưởng biện chứng tư biện

Leszek Kołakowski (1927 - 2009) - một nhà triết học người Ba Lan cũng đưa ra nhận định về mục đích của tác phẩm:

“Nhưng một Tinh thần thoát khỏi tính bất tất cũng giống như một Tinh thần vô hạn Vì trong chừng mực đối tượng là một cái gì đó xa lạ với chủ thể thì đó là một giới hạn của nó, một sự phủ định; một ý thức bị giới hạn thì hữu hạn, và đối tượng, như cái xa lạ, có thể nói, là kẻ thù của nó Chỉ khi Tinh thần nhận thức chính nó trong đối tượng, vì thế

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w