DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CĐBT của NNT : Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư LNSL : Lượng ngữ chỉ số lượng CL : Chất liệu LNTT : Lượng ngữ chỉ toàn thể CXH : Cao Xuân Hạo NBCT của BN : N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MOON OK SOON
SO SÁNH CẤU TRÚC DANH NGỮ TIẾNG VIỆT VỚI CẤU TRÚC DANH NGỮ TIẾNG HÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn do tôi nghiên cứu riêng và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Khắc Cường Nếu có vấn đề gì liên quan đến nội dung luận văn, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Ngày 10 tháng 11 năm 2020
Moon Ok Soon
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình Cao học và Luận văn này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của quý thầy cô trong Khoa Việt Nam học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP HCM trong thời sinh viên và học viên cao học
Chúng tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS Lê Khắc Cường Thầy đã dành nhiều thời gian định hướng, hướng dẫn, góp ý giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn
Ngoài ra, để hoàn thành Luận văn này chúng tôi đã nhận được tư vấn của Giáo sư Ahn Jeong Hun về ngữ pháp tiếng Hàn, sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Vân Phổ và cô Lê Thi Minh Hằng, các bạn đồng nghiệp Võ Châu Loan và Choi Myeong Hee
Cám ơn quý thầy cô Khoa Việt Nam học, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM đã hỗ trợ chúng tôi thực hiện đề tài này
Tác giả Moon Ok Soon
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1.1 Giới thiệu các khái niệm đoản ngữ 12
1.1.1 Quan điểm của ngữ pháp truyền thống 12
1.1.2 Quan điểm của ngữ pháp chức năng 12
1.2 Danh ngữ tiếng Việt 13
1.2.1 Danh ngữ theo ngữ pháp truyền thống 13
1.2.2 Danh ngữ theo quan điểm mới 14
1.2.3 Lý do chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn 15
1.3 Danh ngữ tiếng Hàn 16
1.3.1 Các cấu trúc danh ngữ 16
1.3.1.1 Mô hình trung tâm + lượng từ + danh từ đơn vị 17
1.3.1.2 Mô hình trung tâm + lượng từ 19
1.3.1.3 Mô hình lượng từ+danh từ đơn vị+tiểu từ “의/ưi/”+trung tâm 20
1.3.1.4 Mô hình lượng từ + trung tâm 21
Tiểu kết Chương 1 22
CHƯƠNG 2 DANH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ DANH NGỮ TIẾNG HÀN 24
2.1 Danh ngữ tiếng Việt 24
2.1.1 Những đặc điểm của danh ngữ tiếng Việt 24
2.1.2 Mô hình của cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố 24
2.1.2.1 Danh ngữ dạng hai trung tâm 24
2.1.2.2 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ cuối 25
2.1.2.3 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ đầu 26
2.1.3 Các thành tố trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt 27
2.1.3.1 Thành tố trung tâm 27
Trang 62.1.3.2 Các thành tố phụ đầu 31
2.1.3.3 Các thành tố phụ cuối 37
2.2 Danh ngữ tiếng Hàn 41
2.2.1 Mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn 41
2.2.1.1 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ đầu 42
2.2.1.2 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ cuối 43
2.2.1.3 Danh ngữ dạng cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố 44
2.2.2 Các thành tố trong cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn 44
2.2.2.1 Thành tố trung tâm 44
2.2.2.2 Các thành tố phụ đầu 47
2.2.2.3 Các thành tố phụ cuối 56
Tiểu kết Chương 2 63
CHƯƠNG 3 SO SÁNH DANH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN 65
3.1 Những điểm tương đồng giữa danh ngữ tiếng Việt và danh ngữ tiếng Hàn 65
3.1.1 Về cấu trúc 65
3.1.2 Về thành phần trung tâm 65
3.1.2.1 Trường hợp danh từ thường làm danh từ đơn vị 67
3.1.2.2 Trường hợp tỉnh lược trung tâm 67
3.1.3 Về thành phần phụ 68
3.1.3.1 Phần phụ đầu 68
3.1.3.2 Phần phụ cuối 69
3.2 Những điểm dị biệt giữa danh ngữ tiếng Việt và danh ngữ tiếng Hàn 70
3.2.1 Về cấu trúc 71
3.2.1.1 Khả năng kết hợp trung tâm với phần cuối 71
3.2.2 Về thành phần trung tâm 72
3.2.2.1 Dạng [danh từ đơn vị + vị từ] 75
3.2.2.2 Dạng [những, nhiều + vị từ] thành danh ngữ 76
3.2.2.3 Trường hợp danh từ thường làm danh từ đơn vị 77
3.2.2.4 Trường hợp tỉnh lược trung tâm 77
3.2.3 Về thành phần phụ 77
Trang 73.2.3.1 Phần phụ đầu 77
3.2.3.2 Phần phụ cuối 83
3.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng trong việc dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài 87
Tiểu kết Chương 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 Ngữ liệu danh ngữ tiếng Việt trích từ tác phẩm văn học “Cánh đồng bất tận” của tác giả Nguyễn Ngọc Tư và danh ngữ tiếng Hàn trích từ bản dịch (dịch giả 하재홍-Ha Jae Hong) 1
PHỤ LỤC 2 Ngữ liệu danh ngữ và danh từ đơn vị tiếng Việt trích từ tác phẩm văn học “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh và danh ngữ tiếng Hàn trích từ bản dịch (dịch giả 하재홍-Ha Jae Hong) 60
PHỤ LỤC 3 Ngữ liệu danh ngữ tiếng Việt trích từ giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài 1-5 (VSL1-5), Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh 215
PHỤ LỤC 4 Danh sách danh từ đơn vị của Cao Xuân Hạo 236
PHỤ LỤC 5 Danh sách danh từ đơn vị (loại từ) tiếng Hàn ở phụ lục trong công trình “한국어 분류사 연구” của 이화여자대학교 (Ewha Womans University) 국어문화원 연구총서 3 (2017) 247
PHỤ LỤC 6 Danh sách phân loại danh từ đơn vị trong danh từ phụ thuộc tiếng Hàn theo 서정수(1996) 250
PHỤ LỤC 7 Danh sách của từ loại định từ “관형사/kwanhyongsa/” tiếng Hàn của 조미경(1992) 251
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐBT của NNT : Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư LNSL : Lượng ngữ chỉ số lượng
CL : Chất liệu LNTT : Lượng ngữ chỉ toàn thể
CXH : Cao Xuân Hạo NBCT của BN : Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh
DĐV : Danh từ đơn vị PLT : Phân lượng từ
DHT : Danh từ đơn vị trội về hình thức PTCL: Phụ từ chỉ lượng
ĐNCX : Định ngữ chỉ xuất TCĐV : Từ chỉ đơn vị
DND : Danh từ đơn vị trội về nội dung TCX : Từ chỉ xuất
ĐNPS : Định ngữ hàm ý phức số TGT : Tân ngữ gián tiếp
ĐNSH : Định ngữ sở hữu TT : Trung tâm
ĐNTC : Định ngữ là một tiểu cú TT1 : Trung tâm 1 (danh từ đơn vị) ĐNTC : Định ngữ trực chỉ TT2 : Trung tâm 2 (danh từ thường) ĐNTT : Định ngữ trang trí TTT : Tân ngữ trực tiếp
ĐNVT : Định ngữ chỉ vị trí UBKHXH : Ủy Ban Khoa học Xã hội
người nước ngoài 1-5 DTĐVQU : Danh từ đơn vị qui ước VT: Vị từ
ĐV : Đơn vị ( ? / ??) : Không được chấp tự nhiên theo
mức độ
đúng với cách nói của người Việt
HT : Hình thức ± : Thế đối lập có/không
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ toàn cầu hóa, mọi người trên thế giới đều quan tâm đến việc học ngoại ngữ Với xu hướng đó, nhu cầu hiểu biết về cấu trúc ngữ pháp nói chung và cấu trúc đoản ngữ nói riêng trong những ngôn ngữ có sự khác biệt lớn về mặt loại hình như tiếng Việt và tiếng Hàn ngày càng trở nên cấp thiết
Các đoản ngữ, đặc biệt là danh ngữ, đã được chú ý từ lâu và đã trở thành chủ đề tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp Trong quá trình học tiếng Việt của học viên Hàn Quốc và học tiếng Hàn của học viên người Việt Nam, họ gặp không ít khó khăn do sự khác biệt về trật tự của các thành tố trong danh ngữ giữa hai ngôn ngữ
Việc nhận diện những điểm giống và khác nhau giữa danh ngữ của hai ngôn ngữ một cách có hệ thống là có ý nghĩa lớn trong việc giảng dạy cũng như nghiên cứu tiếng Việt và tiếng Hàn Chúng tôi hy vọng đề tài “So sánh cấu trúc danh ngữ tiếng Việt với cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn” sẽ giúp làm sáng tỏ những đặc điểm danh ngữ của hai ngôn ngữ khác loại hình cũng như đóng góp vào việc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt và tiếng Hàn với tư cách là ngôn ngữ thứ hai
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Về danh ngữ tiếng Việt
Các tác phẩm về ngữ pháp tiếng Việt trong giai đoạn đầu, do ảnh hưởng tư tưởng
“dĩ Âu vi trung”, nên miêu tả ngữ pháp tiếng Việt theo mô hình ngữ pháp phương Tây
Sau năm 1945, các nhà nghiên cứu bắt đầu thoát ra khỏi khuynh hướng đó và chú ý thích đáng những đặc điểm riêng của tiếng Việt Thiên hướng ngữ pháp truyền thống có tác giả tiêu biểu là Phan Khôi (1955), ngữ pháp cấu trúc có Lê Văn Lý (1948)
với công trình Le parler Vietnamien Từ những năm 60, nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam
phát triển với nhiều công trình nghiên cứu vô cùng quan trọng
Sau hai thiên hướng Ngữ pháp truyền thống và Ngữ pháp cấu trúc, tiếng Việt bắt đầu chịu ảnh hưởng của thiên hướng Ngữ pháp chức năng Nhà nghiên cứu có công lớn
đưa Ngữ pháp chức năng vào Việt Nam là Cao Xuân Hạo (1991) với Tiếng Việt-Sơ thảo Ngữ pháp chức năng Quyển 1 Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc định hình
phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng
Trang 10Trong tiếng Việt, với các tên gọi khác nhau như “cụm danh từ”, “ngữ danh từ”,
“danh ngữ”, “đoản ngữ danh từ”, đơn vị này đã được nhiều nhà nghiên cứu khảo sát theo nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn: Trần Trọng Kim (1960), Lê Văn Lý (1983), Nguyễn Tài Cẩn (1975, 2004), Nguyễn Thị Ly Kha (2001), Cao Xuân Hạo (2004, 2005, 2007), Diệp Quang Ban (2008), Nguyễn Kim Thản (2008), Hoàng Trọng Phiến (2008), v.v
M B Emeneau (1951) miêu tả vị trí các thành tố trong danh ngữ tiếng Việt như
Lê Văn Lý trong cuốn sách “Sơ thảo ngữ pháp tiếng Việt” (1992) áp dụng phương
pháp của ngôn ngữ học cấu trúc vào miêu tả cú pháp tiếng Việt Ông coi “loại từ” là những từ “rỗng nghĩa”, một thứ hư từ, danh từ đứng sau danh từ chỉ loại là thành tố chính của cụm danh từ
Trong sách “Ngữ pháp tiếng Việt” của UBKHXH (1983), các tác giả cho rằng
trong danh ngữ tiếng Việt thì danh từ làm chính tố thường là danh từ đơn thể, danh từ tổng thể, danh từ trừu tượng hay danh từ vị trí,…Tuỳ theo loại danh từ trong phần chính
tố mà có các loại thành tố ở phần đầu và sau của nó
Diệp Quang Ban (2013) cũng sử dụng thuật ngữ “Cụm danh từ” (tr.255) như Lê Văn Lý Ông cho rằng “Phần trung tâm thường là một danh từ hoặc một từ chỉ loại cộng với một danh từ hoặc động từ, tính từ, v.v.” dùng tên gọi trung tâm của cụm danh từ là đầu tố có tư cách đại diện cho cả cụm danh từ trong quan hệ với các yếu tố bên ngoài cụm từ Theo tác giả, cấu tạo chung của cụm danh từ bao gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau, như sau (Diệp Quang Ban, 2013, tr.268) :
Phần phụ trước Phần trung tâm Phần phụ sau
Vị trí-3 Vị trí-2 Vị trí-1 Đầu tố Vị trí 1 Vị trí 2
Trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng-Từ ghép-Đoản ngữ (Tái bản lần
Trang 11thứ 7)”, Nguyễn Tài Cẩn (2004) cho rằng đoản ngữ có danh từ làm trung tâm được gọi
là danh ngữ Xung quanh nó là các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ, bổ sung thêm
ý nghĩa cho danh từ chính
Trước đó, trong “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại”, ông đã đưa ra cấu
trúc danh ngữ gồm có thành tố trung tâm và những thành tố phụ như sau : (Nguyễn Tài Cẩn, 1975, tr.27, 42)
Với cấu trúc trên, ông xác định trung tâm của danh ngữ là vị trí 0 với các thành
tố phụ trong danh ngữ bao quanh danh từ trung tâm Như thế trung tâm là một thuộc tính không thuộc cấu trúc cú pháp đã được dựa vào để làm tiêu chuẩn phân tích cú pháp Trong phụ lục, Nguyễn Tài Cẩn khẳng định rằng “loại từ không phải là từ thuộc kiểu những hư từ , mà là những danh từ trống nghĩa.” Tức là “loại từ chính là danh từ” và
“Chính loại từ mới là từ trung tâm danh ngữ” Ông đưa ra hướng giải quyết danh ngữ tiếng Việt, “trung tâm là một bộ phận gồm một trung tâm ngữ pháp và một trung tâm từ vựng” (Nguyễn Tài Cẩn, 1975, tr.293) Sau đó ông cũng đề cập đến trường hợp khác với quan điểm đầu tiên của ông về cấu trúc danh ngữ như sau:
Ông đề nghị một giải pháp ôn hòa trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng
- Từ ghép - Đoản ngữ”, theo đó thành tố trung tâm của danh ngữ có thể là một bộ phận
ghép gồm hai loại danh từ : loại “Trung tâm về mặt ngữ pháp (TT1)” đối lập với “Trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng (TT2)” (Nguyễn Tài Cẩn, 2004, tr.216)
Cao Xuân Hạo có quan điểm khác về cấu trúc danh ngữ so với của các nhà Việt ngữ học truyền thống Khi phân tích câu tiếng Việt, ông sử dụng thuật ngữ “ngữ đoạn” với nghĩa: “là những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định biểu hiện những vai nghĩa nhất định” (Cao Xuân Hạo, 2005, tr.6) Ngữ đoạn mà danh từ làm trung tâm
là ngữ đoạn danh từ, tức danh ngữ Trong danh ngữ có thể có 2 loại danh từ, danh từ
Trang 12đơn vị và danh từ khối Ông xác định trung tâm của danh ngữ là danh từ đơn vị với sơ
đồ sau đây:
Trong tạp chí 2004, số 4, Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha (2004) sắp xếp vị trí các yếu tố làm thành tố phụ cho từ trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt theo quan điểm mới cụ thể như sau : (tr.31)
Các thành tố phụ trước
(Lượng ngữ) TT
Các thành tố phụ sau (Định ngữ)
xíu/cuối cùng ấy/của Đầm Sét (LN : Lượng ngữ; LNTT : Lượng ngữ chỉ toàn thể; LNSL : Lượng ngữ chỉ số lượng; TCX : từ chỉ xuất; TCĐV : từ chỉ đơn vị; ĐN : Định ngữ; ĐNHĐ : Định ngữ hạn định; ĐNPS : Định ngữ hàm ý phức số; ĐNTT : Định ngữ trang trí; ĐNCX : Định ngữ chỉ xuất; ĐNTC : Định ngữ trực chỉ; ĐNSH : Định ngữ sở hữu; ĐNVT : Định ngữ chỉ vị trí; ĐNTC : Định ngữ là một tiểu cú)
Trong danh ngữ trên trong biểu đồ, phân chia cụ thể theo mô hình Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha đưa ra như sau
- ĐNHĐ : DK : cá và DT chỉ tiểu loại : rô
- ĐNPS : đông đúc, ĐNTT : bé tí xíu, ĐNCX : cuối cùng
- ĐNTC : ấy, ĐNSH : của Đầm Sét
Trang 13Trong tiếng Hàn, cấu trúc danh ngữ khá phức tạp Các công trình hoàn chỉnh về cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn còn chưa nhiều so với các nghiên cứu ngữ pháp khác như lượng ngữ (một loại danh ngữ chỉ số lượng) Cho đến nay đã có một số nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hàn đề cập đến danh ngữ như 최현배 (Choi Hyeon Bae, 1980), 허웅 (Heo Ung, 1975), 남기심&고영근 (Nam Ki Shim & Ko Yong Kun, 1987), 김병일 (Kim Byong Il, 1992), 이현우 (Lee Hyun Woo, 1995), 박호관 (Park Ho Gwan, 1998), 박철우 (Park Chul Woo, 2010), 홍용철 (Hong Yong Cheol, 2010), v.v
Cụ thể, các nghiên cứu mang tính ngôn ngữ học về danh ngữ có thể gom thành các nhóm như sau:
- Nghiên cứu về danh ngữ trong qua trình rút ra từ câu: 성광수 (Sung Kwang Soo, 1972), 김영근 (Kim Young Geun, 1996), v.v
- Nghiên cứu danh ngữ về cách: 강영세(Kang Young Se, 1986), 이광호(Lee Kwang Ho, 1988), 김귀화(Kim Gwi, Hwa, 1994), 한정한(Han Jeong Han, 2003), v.v
- Nghiên cứu về sự mở rộng của danh ngữ: 임홍빈(Yim Hong Bin, 1987), 김지홍 (Kim Ji Hong, 1995), v.v
- Nghiên cứu về loại hình, cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ: 최재희 (Choi
Je Hee, 1985), 김기혁 (Kim Ki Hyuk, 1990), 김용하 (Kim Yong Ha, 1990), 최경봉 (Choi Gyeong Bong, 1995/1998/1999), 이현우 (Lê Hyun Woo, 1995), 박호관 (Park
Ho Gwan, 1998/2001/2002), 임홍빈 (Yim Hong Bin, 1999), 김병일 (Kim Byong Il, 2001), 김인균 (Kim In Gyun, 2003), v.v
Về cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn, các nhà nghiên cứu thường chia làm 4 loại Trong giáo trình tiếng Hàn “세종한국어(Tiếng Hàn Sejong)” của 세종학당(King
Trang 14Sejong INSTITUTE), - thuộc một cơ quan nhà nước Hàn Quốc “국립국어원 (THE NATIONAL INSTITUTE OF THE KOREAN LANGUAGE)” là một cơ quan quảng
bá văn hóa Hàn Quốc và giảng dạy tiếng Hàn dành cho người nước ngoài tại Hàn Quốc với các nước trên thế giới Cơ quan này nghiên cứu và xuất bản giáo trình chuẩn tiếng Hàn “세종한국어(Tiếng Hàn Sejong)” và hỗ trợ để cung cấp, truyền bá giáo trình tiếng Hàn Trong giáo trình đó có hai cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn Một cấu trúc là danh ngữ mang tính điển hình ngôn ngữ SOV gồm [định ngữ + TT] và một khác là cấu trúc lượng ngữ bao gồm [TT + những từ chỉ số lượng + danh từ đơn vị] Cấu trúc lượng ngữ là một cấu trúc danh ngữ chỉ số lượng phổ biến nhất mà những người nước ngoài có thể dễ học
và thường xuyên dùng được trong giao tiếp và câu văn, theo sơ đồ dưới đây :
Việc xác định trung tâm của danh ngữ tiếng Hàn không chứa danh từ đơn vị khá đơn giản, đó chính là danh từ thường Nhưng việc xác định trung tâm của danh ngữ chứa danh từ đơn vị có hai quan điểm khác nhau như trong tiếng Việt (Trong luận văn này chúng tôi không nói đến danh từ đơn vị là trung tâm)
Trong công trình nghiên cứu ngữ pháp truyền thống, các nhà ngôn ngữ đã xem xét vấn đề danh ngữ trên hai bình diện, ngữ pháp và ngữ nghĩa, nhưng cách nhận thức
và cách tiếp cận có phần khác nhau 박호관(Park Ho Gwan, 2001) cho rằng danh ngữ trong tiếng Hàn có vai trò giống như danh từ Danh ngữ gồm một hạt nhân là danh từ kết hợp với các thành tố phụ khác làm nên một loại đoản ngữ trong thành phần câu
김병일(Kim Byong Il, 1992) xác định cấu trúc của danh ngữ như sau (tr.78) :
Yếu tố trước danh từ + Danh từ(TT) + Yếu tố sau danh từ
Trong đó, Yếu tố trước danh từ + Danh từ (TT) là cấu trúc nội tại của danh ngữ
cấu trúc bên ngoài cấu trúc nội tại
Trang 15Cấu trúc đó có thêm các yếu tố sau danh từ là cấu trúc bên ngoài của danh ngữ Về cấu trúc bên ngoài vẫn còn tranh cãi vì đó là vấn đề như dạng [giới từ +TT] không thuộc danh ngữ tiếng Việt Các yếu tố sau danh từ tạo nên cấu trúc bên ngoài thường là cương
vị nhỏ hơn từ
1 Yếu tố trước danh từ + Danh từ (TT)
Ví dụ:
(1) 저 / 세 / 사람은 / 학생이다 (Jeo / se / salameun / hagsaengida.)
Kia / ba / người / là học sinh → Ba người kia là học sinh
2 Yếu tố trước danh từ + Danh từ (TT) + Yếu tố sau danh từ
홍용철(Hong Yong Cheol, 2010) cho rằng cách kết hợp các thành tố với trung tâm, trật tự từ danh ngữ tiếng Hàn có thể có sơ đồ như sau : (tr.30)
Trang 16nghĩa khác nữa và không thể được coi là danh từ như từ “của” tiếng Việt)
- 양화사(lượng ngữ không xác định, quantifier)
- Từ kết hợp với phụ tố “-적/geok/” - thêm nghĩa “có tính chất đó”, “liên quan đến đó”, “trở thành trạng thái đó”
- Danh từ không xuất hiện tiểu từ sở hữu “의/ưi/”
- Số từ
Ông đưa ra hai ví dụ cho thấy trật tự bắt buộc của các yếu tố thuộc thành tố ngoài
và thành tố gần như sau:
Danh từ xuất hiện tiểu từ
Ví dụ :
(3a) 철수의 / 두 / 동생 (hai em của Cheol Su)
Cheolsue -ưi / du / dongsaeng
của Cheol Su / hai / em
(3b) *두 / 철수의/ 동생
Du / Cheolsue-ưi / dongsaeng
Hai / của Cheol Su / em
Trong hai ví dụ trên, trật tự các thành tố có khả năng kết hợp trong danh ngữ (3a) là: Danh từ xuất hiện tiểu từ sở hữu “의/ưi/” (철수의- của Cheol Su) ở thành tố
Trang 17ngoài + số từ (두-hai) ở thành tố gần + danh từ (동생-em) có khả năng kết hợp và (3b) là: số từ ở thành tố gần + danh từ xuất hiện tiểu từ sở hữu “의/ưi/” ở thành tố ngoài + danh từ (동생-em) thì không chấp nhận trong danh ngữ
Bên cạnh đó, cũng có nhiều nhà nghiên cứu tập trung xem xét danh ngữ chứa lượng tù và danh từ đơn vị, còn gọi là lượng ngữ (Quantifier Phrase) như : 노대규(Noh Dae Kyu, 1977) và 한송화(Han Song Hwa, 1999) nghiên cứu vấn đề phạm trù số từ
và lượng từ trong lượng ngữ và 채완(Chae Wan, 1982, 1983), 시정곤(Shi Chung Kon, 2000) nhận xét về các điều kiện kết hợp và sự hạn chế trong cấu trúc nội tại của lượng ngữ Các nhà Hàn ngữ học 김성환(Kim Seong Hwan, 1975), 최창범(Choi Chang Bum, 1983), 채완(Chae Wan, 1990), 우형식(Woo Hyeong Sik, 2001), 남지순(Nam Jee Soon, 2006) cũng đề cập đến phân loại danh từ đơn vị (loại từ) 노대규(Noh Dae Kyu, 1977) trình bày về phân loại lượng từ thuần Hàn và Hán Hàn và kết cấu kết hợp với danh từ thuần Hàn và Hán Hàn trong lượng ngữ 채완(Chae Wan, 1982) nghiên cứu sự khác biệt về trật tự của bốn loại lượng ngữ trong lịch sử nghiên cứu của tiếng Hàn, từ thời Trung đại đến nay
Như vậy, trong cả hai thứ tiếng Việt và Hàn, việc nghiên cứu danh ngữ không phải là vấn đề mới Tuy nhiên việc đối chiếu danh ngữ trong hai ngôn ngữ còn chưa nhiều dù sự khác biệt rất lớn Phương thức tiếp cận của các nghiên cứu đó chưa đủ phản ánh được bản chất mối quan hệ giữa các thành tố về mặt cấu trúc của danh ngữ ở hai ngôn ngữ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt giữa cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
a Khái quát các quan điểm của các nhà nghiên cứu về danh ngữ, cấu trúc danh
Trang 18ngữ
b Mô tả cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn
c Đối chiếu cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn nhằm chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt về mặt ngữ pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu luận văn này là cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn
4.2 Phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu
- Cấu trúc và các thành tố của danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn
- Các phương thức thể hiện danh ngữ trong câu tiếng Việt và tiếng Hàn
Ngữ liệu được sử dụng để dẫn chứng được lấy từ một số giáo trình tiếng Việt và tiếng Hàn, từ điển tiếng Việt và từ điển tiếng Hàn
Ngoài ra, các tác phẩm dịch Việt – Hàn như sau
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp miêu tả và so sánh đối chiếu Cấu trúc danh ngữ tiếng Việt thì dựa trên ngữ pháp truyền thống của Nguyễn Tài Cẩn Còn cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn, chúng tôi đứng trên cách tiếp cận
Trang 19trong việc giảng dạy tiếng Hàn danh cho người nước ngoài dựa vào các giáo trình
“세종한국어(Tiếng Hàn Sejong)” của Viện Quốc ngữ Quốc gia (국립국어원, The National Institute of the Korean Language)
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để trình bày cấu trúc danh ngữ và các kiểu
sử dụng các thành phần của nó trong tiếng Việt và tiếng Hàn
- Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt của cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn để áp dụng trong việc giảng dạy tiếng Việt và tiếng Hàn với tư cách là ngôn ngữ thứ hai
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ hơn các đặc điểm phổ niệm và loại hình của danh ngữ; chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt của cấu trúc danh ngữ trong tiếngViệt và tiếng Hàn
Về thực tiễn, luận văn góp phần giúp bổ sung giáo trình dạy tiếng Việt và tiếng Hàn như một ngoại ngữ, giúp người dạy và học tiếng Việt và tiếng Hàn dễ dàng nắm bắt cấu trúc danh ngữ của ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt hay tiếng Hàn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm bốn chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết nêu các quan điểm về đoản ngữ, cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt và các cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn, các khái niệm cơ bản và xác định cấu trúc nhằm làm khung lý thuyết cho luận văn
Chương 2: Trình bày cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn với các thành tố chính, thành tố phụ
Chương 3: Trình bày những điểm tương đồng và dị biệt giữa cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn Với những sự giống nhau và khác nhau đó, chúng tôi đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng trong việc dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Giới thiệu các khái niệm đoản ngữ
Trong tiếng Việt, tổ hợp này có nhiều tên gọi khác nhau: từ tổ, cụm từ, ngữ, đoản ngữ, ngữ đoạn Nguyễn Kim Thản (1964) gọi là từ tổ Diệp Quang Ban (2013) cho rằng cái mở rộng một từ thành một tổ hợp theo quan hệ chính phụ gọi là cụm từ Trương Văn Chình-Nguyễn Hiến Lê (1963) dùng từ “ngữ” để chỉ cái mà nhiều người khác gọi là từ ghép chính phụ, hơn một tiếng lẻ là một “ngữ” như “thợ mộc, máy bay” Nguyễn Tài Cẩn (1975) gọi đoản ngữ và được hiểu tương đương với cụm từ, nhưng khác với tiếng Anh không tính sự có mặt của giới từ đứng đầu Cao Xuân Hạo (2005), gọi những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định, biểu hiện những vai nghĩa nhất định gọi
đó là ngữ đoạn
1.1.1 Quan điểm của ngữ pháp truyền thống
Theo ngữ pháp truyền thống, từ kết hợp với từ tạo thành một tổ hợp tự do Tổ hợp tự do kết hợp theo quan hệ chính phụ là đoản ngữ
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nguyễn Tài Cẩn (2004) viết “Kết hợp tiếng với
tiếng chúng ta sẽ được những loại đơn vị ngữ pháp cao hơn, gọi chung là tổ hợp.” (tr.49)
Tổ hợp gồm hai loại chính là tổ hợp tự do và tổ hợp cố định Tổ hợp tự do được cấu tạo bằng một trong 3 quan hệ cú pháp là quan hệ đẳng lập, quan hệ chủ vị và quan hệ chính phụ Nguyễn Tài Cẩn (2004) cho rằng "Đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ, gồm một thành tố trung tâm đứng làm nòng cốt và một hay một số thành tố phụ quay quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt nghĩa" (tr.149-150)
Các nhà Việt ngữ tiêu biểu theo quan điểm này là Trần Trọng Kim (1960), Nguyễn Tài Cẩn (1975, 2004), Diệp Quang Ban (2008), Lê Văn Lý (1983), Nguyễn Kim Thản (2008), Hoàng Trọng Phiến (2008), v.v
1.1.2 Quan điểm của ngữ pháp chức năng
Kế thừa quan điểm đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo nghiên cứu theo ngữ pháp chức năng, gọi tổ hợp đó là ngữ đoạn Ông định nghĩa “Ngữ đoạn là những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định biểu hiện những vai nghĩa nhất
Trang 21định” (Cao Xuân Hạo, 2005, tr.6)
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng thì câu gồm 2 thành phần: Đề và Thuyết, tương ứng với hai thành phần của mệnh đề Đề và Thuyết là những ngữ đoạn có cấp bậc cao nhất trong các bộ phận dưới câu Cao Xuân Hạo (2004) cho rằng có thể phân tích “tuần tự từ các đơn vị có nghĩa lớn nhất cho đến những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất – hình vị, và sau đó, đến những đơn vị không có nghĩa – âm vị, nết khu biệt" (tr.33)
Trong công trình "Ngữ pháp tiếng Việt–ngữ đoạn và từ loại", Nguyễn Vân Phổ
(2018) phân tích cấu trúc ngữ đoạn của câu theo biểu đồ như sau : (tr.3)
Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Câu Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Bậc 1 Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Bậc 2
đi tắm biển mới tuyệt Bậc 3
Như vậy, khái niệm đoản ngữ trong ngữ pháp truyền thống với ngữ đoạn trong ngữ pháp chức năng có chỗ khác nhau Theo ngữ pháp truyền thống, chỉ tổ hợp tự do cấu tạo theo quan hệ chính phụ mới gọi là đoản ngữ Còn ngữ pháp chức năng thì cho rằng, tổ hợp dù cấu tạo theo quan hệ ngữ pháp nào, quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập, hay quan hệ chủ vị - quan hệ chủ vị còn gọi là quan hệ đề-thuyết nên có thể nói quan hệ này thường có 2 ngữ đoạn, ngữ đoạn làm chủ ngữ và ngữ đoạn làm vị ngữ - đều được gọi là ngữ đoạn
1.2 Danh ngữ tiếng Việt
1.2.1 Danh ngữ theo ngữ pháp truyền thống
Theo ngữ pháp truyền thống, cấu trúc danh ngữ tiếng Việt có thể chia làm hai loại, sự khác biệt nằm ở trung tâm
Cấu trúc danh ngữ hai loại bao gồm: thứ nhất, Phần phụ trước - Phần trung tâm
- Phần phụ sau Phần trung tâm có một danh từ là danh từ thường Phần phụ trước là những từ chỉ số lượng, loại từ (thường được xem là hư từ) Phần phụ sau là các định ngữ bổ sung nghĩa cho trung tâm Tổ hợp “loại từ + danh từ” theo ngữ pháp truyền
Trang 22thống là tổ hợp “hư từ + thực từ” nên loại từ không thể là trung tâm của danh ngữ Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt thời kỳ đầu, nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu theo hướng cấu trúc này
Cấu trúc danh ngữ thứ hai cũng không khác với cấu trúc thứ nhất, Phần đầu - Phần trung tâm - Phần cuối, tuy nhiên trung tâm không chỉ một, mà có đến hai vị trí đều
là trung tâm Theo Nguyễn Tài Cẩn (2004), TT1 là trung tâm về mặt ngữ pháp và TT2
là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng (tr.216)
Hai quan điểm trên về trung tâm đều hiểu theo ngôn ngữ học truyền thống, trung tâm danh ngữ là danh từ Trong danh ngữ, có mô hình trước trung tâm không có từ chỉ
số lượng hoặc quán từ thì trung tâm danh từ thường là tất nhiên, không ai phủ nhận được
Ví dụ :
(4) Gia đình anh ấy có mấy người? (VSL1, p.158)
Câu trên, trong danh ngữ "gia đình anh ấy" có trung tâm là "gia đình" phần đầu
nó không có từ chỉ số lượng nên dễ phân biệt trung tâm là danh từ thường Nhưng nếu
có từ chỉ số lượng hoặc quán từ thì trung tâm của hai quan điểm trên khác nhau
Ví dụ :
(5) Tôi muốn mua một cái ti vi (VSL2, p.8)
Theo cấu trúc thứ nhất, danh ngữ "một cái ti vi" có trung tâm là "ti vi" nhưng ở cấu trúc thứ hai, theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, trung tâm là "cái ti vi", danh từ đơn vị "cái" là trung tâm về mặt ngữ pháp và danh từ thường "ti vi" là trung tâm về mặt
ý nghĩa từ vựng
1.2.2 Danh ngữ theo quan điểm mới
Theo Cao Xuân Hạo (2005), “bất kì một ngữ danh từ nào có thể phân chia thành
Trang 23hai hoặc nhiều ngữ ở bậc thấp hơn thì ngữ danh từ đứng đầu ngữ danh từ ấy là trung tâm (trừ phân lượng ngữ trước trung tâm)” (tr.75) Cấu trúc danh ngữ có hai loại danh
từ là danh từ đơn vị và danh từ khối
Những công trình của Cao Xuân Hạo xác định thuộc tính thành tố trung tâm của danh ngữ với tiêu chí có khả năng đếm được hay không đếm được Trong cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố của tiếng Việt, có thể lược bỏ danh từ khối nhưng danh từ đơn vị (đứng trước danh từ khối) thì bắt buộc phải giữ lại Cao Xuân Hạo cho rằng phần trung tâm của danh ngữ phải là danh từ đơn vị chứ không phải là danh từ khối Có thể hình dung theo sơ đồ sau :
Trong danh ngữ theo quan điểm mới, chức năng tiêu biểu của danh từ đơn vị là làm trung tâm cho danh ngữ có sở chỉ (referent) trong phát ngôn Như vậy, trung tâm danh ngữ là danh từ đơn vị
Ví dụ :
(6) Anh ấy có hai người bạn nước ngoài (VSL1, p.85)
Trong danh ngữ trên "hai người bạn nước ngoài" có trung tâm là "người" và các
từ khác "hai, bạn, nước ngoài" đều là các định ngữ cho trung tâm "người", khác hoàn toàn với quan điểm ngữ pháp truyền thống về trung tâm
1.2.3 Lý do chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn
Trong quá trình học tập tiếng Việt, học viên Hàn Quốc thường lấy đầu tiên từ danh từ thường để làm mốc chứ không phải danh từ đơn vị (loại từ), vì trung tâm danh ngữ tiếng Hàn là danh từ thường
Trong ngữ pháp học, việc phân định từ loại là quan trọng Trong tiếng Việt, chúng tôi thấy khả năng kết hợp của danh từ đơn vị với các thành tố khác trong danh ngữ rộng hơn so với tiếng Hàn Chẳng hạn như danh từ đơn vị tiếng Việt có thể kết hợp trực tiếp với từ trực chỉ nhưng tiếng Hàn thì không Nếu giảng dạy danh từ đơn vị tiếng Việt theo truyền thống, trong đó danh từ đơn vị chỉ có tư cách là định ngữ của trung tâm danh
Trang 24ngữ thì học viên Hàn Quốc gặp phải nhiều khó khăn khi cấu tạo danh ngữ tiếng Việt
Đây là lý do mà tác giả luận văn quyết định chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn về cấu trúc danh ngữ để triển khai mô tả cũng như đối chiếu danh ngữ của hai ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Hàn
1.3 Danh ngữ tiếng Hàn
Tiếng Hàn là một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính có đặc điểm từ biến đổi hình thái Trong danh ngữ tiếng Hàn, trật tự của các thành tố thường đứng trước
là các định ngữ (Trong ngữ pháp tiếng Hàn, các thành tố trước danh từ tên gọi là
“관형어/Kwan-hyeong-ơ/” Thuật ngữ này có nghĩa là các thành tố tương đương với định ngữ tiếng Việt Chẳng hạn, Theo công trình của 남기심&고영근 (Nam Ki Shim
& Ko Yong Kun, 2001), “Định ngữ (관형어/Kwan-hyeong-ơ/) đứng trước các thanh phần câu như chủ ngữ, tân ngữ những danh từ làm trung tâm bổ nghĩa cho danh từ đó, v.v.” (tr.265) để bổ sung ý nghĩa cho trung tâm ở đứng sau
1.3.1 Các cấu trúc danh ngữ
Cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn thường được chia làm bốn loại Điều này liên quan đến sự thay đổi vị trí của [lượng từ + danh từ đơn vị] với trung tâm chứ không ảnh hưởng tới các định ngữ khác Về các định ngữ khác như định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả bao gồm phân lượng ngữ và một số lượng từ hay vị từ trong danh ngữ tiếng
Trang 25Hàn, có thể có vị trí nhất định theo cấu trúc danh ngữ thường đứng trước trung tâm do đặc điểm của loại hình tiếng Hàn Chẳng hạn, 그 집 (nhà đó), 행복한 집 (nhà hạnh phúc), 내가 사는 집 (nhà tôi đang sống), 모든 집 (tất cả mọi nhà), 많은 집 (nhiều nhà), v.v Các ví dụ trên, "집-nhà" là trung tâm danh ngữ đứng sau và các định
ngữ đều đứng trước trung tâm
Nhiều nhà ngôn ngữ phân tích mối quan hệ giữa trung tâm với lượng từ và danh
từ đơn vị gọi chung là lượng ngữ (khái niệm lượng ngữ tiếng Hàn khác với lượng ngữ tiếng Việt Lượng ngữ tiếng Việt chỉ liên quan tới những từ chỉ số lượng nhưng lượng ngữ tiếng Hàn là một loại cấu trúc danh ngữ trong tiếng Hàn chỉ số lượng không bao gồm định ngữ hạn định và miêu tả) Nếu nói đơn giản là trong cấu trúc danh ngữ đầy
đủ thành tố [định ngữ + TT + lượng từ + danh từ đơn vị], lượng ngữ bao gồm trung tâm, lượng từ và danh từ đơn vị thành lượng ngữ tiếng Hàn Chúng tôi lấy lượng ngữ để miêu tả 4 mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn như sau :
- Danh từ thường (TT) + lượng từ + danh từ đơn vị
- Danh từ thường (TT) + lượng từ
- Lượng từ + danh từ đơn vị + tiểu từ "의/ưi/" + danh từ thường (TT)
- Lượng từ + danh từ thường (TT)
1.3.1.1 Mô hình trung tâm + lượng từ + danh từ đơn vị
Trong tiếng Hàn, để chỉ số hay lượng của sự vật nào đó thì phổ biến nhất là dùng
tổ hợp "danh từ + lượng từ + danh từ đơn vị"
Ví dụ:
(8) 사과 세 개 - ba trái táo
Danh từ thường "사과/sagwa/-táo" ở (8) đứng đầu, theo sau là số từ "세/se/-ba"
và danh từ đơn vị "개/gae/- trái, cái" Đây là một lượng ngữ nhưng trật từ từ lượng ngữ này không tuân theo trật tự từ tiếng Hàn; trong đó trung tâm đứng trước và các thành tố phụ làm định ngữ đứng sau chỉ số lượng cho trung tâm Với mô hình đó, khi thành một câu tiếng Hàn đòi hỏi một tiểu từ để nó xác định rõ ràng thành phần trong câu
Trang 26Sách / một / quyển / bao nhiêu ? → Một quyển sách bao nhiêu?
Trong các câu trên, sau lượng ngữ “사과 열 개- mười trái táo”, “학생 열 명- mười người học sinh”, “책 한 권 - một quyển sách” gắn vào các tiểu từ “를/leul/”,
“이/i/”, “에/e/” Các tiểu từ trên là thành phần của câu, làm cách Kết hợp với tiểu từ
“를/leul/” thì thành tân ngữ, kết hợp với “이/i/” thì là chủ ngữ và kết hợp “에/e/” thì thành trạng ngữ Trong đó, hai tiểu từ “를/leul/”, “이/i/” làm tân ngữ, chủ ngữ thì chúng
có thể chuyển sang sau danh từ thường như “(danh từ thường + tiểu từ) + (lượng từ + danh từ đơn vị)” nhưng tiểu từ “에/e/” làm trạng ngữ thì không thể thay đổi vị trí được
vì câu đó hỏi về một đơn vị của đối tượng “sách” nên phải giữ vị trí tiểu từ “에/e/” là sau danh từ đơn vị như câu trên
Ví dụ :
(9d) 사과를 열 개 샀다 → Tôi mua mười trái táo
(9e) 학생이 열 명 왔다 → Mười người học sinh đến rồi
(9f) *책에 한 권 얼마예요? → Một quyển sách bao nhiêu?
Tiểu từ cũng có thể kết hợp với lượng ngữ nhưng không phải với chỉ một vị trí
mà là cả hai vị trí Nghĩa là trong trường hợp tổ hợp “lượng ngữ (danh từ thường +lượng
từ + danh từ đơn vị) + tiểu từ” thì có thể dùng một tổ hợp khác “(danh từ thường + tiểu
Trang 27từ) + (lượng từ + danh từ đơn vị + tiểu từ)” như “사과 열 개를” thì “사과를 열 개를”
và “학생 열 명이” thì “학생이 열 명이” mà ý nghĩa không thay đổi Nhưng tiểu từ
“에/e/” làm trạng ngữ như câu trên thì không thể thay đổi vị trí của tiểu từ “에/e/”
Ví dụ :
(9g) 사과를 열 개를 샀다 → Tôi mua mười trái táo
(9h) 학생이 열 명이 왔다 → Mười người học sinh đến rồi
(9i) *책에 한 권에 얼마예요? → Một quyển sách bao nhiêu?
Trong giao tiếp, mô hình dưới phổ biến hơn, tự nhiên hơn
có thể tỉnh lược để tiết kiệm Thường người Hàn lược bỏ các tiểu từ khi nói như sau :
Ví dụ :
(10c) 사과 한 개 얼마예요? → Một trái táo bao nhiêu vậy?
1.3.1.2 Mô hình trung tâm + lượng từ
Trong mô hình lượng ngữ này, những từ chỉ số lượng bố trí sau danh từ thường, nhưng không dùng những từ chỉ đơn vị, nghĩa là trung tâm chỉ có thể kết hợp với lượng ngữ mà thôi Mô hình này thường sử dụng khi đặt hàng, buôn bán hoặc nhấn mạnh thông tin về chỉ số hay số lượng
Ví dụ :
(11a) 커피 하나 주세요 Cà phê / một / cho tôi → Cho tôi một cà phê ạ
Trang 28(11b) 사과 다섯이 떨어졌다
Táo / năm / rơi xuống → Năm (trái) táo rơi xuống rồi
Trong danh ngữ trên, (11a) “커피 하나- một cà phê”, (11b) “사과 다섯- năm táo” người nói có thể sử dụng thêm danh từ đơn vị sau lượng từ ; chẳng hạn: “커피 한 잔- một ly cà phê”, “사과 다섯 개 - năm trái táo”
Khi thể hiện số lượng ít thì thường dùng cấu trúc này Số lượng lớn hơn 10 thì không tự nhiên; tuy nhiên nếu sau lượng từ kết hợp với danh từ đơn vị như “??커피
Cà phê / hai mươi, ba mươi / cho → Cho tôi {hai mươi, ba mươi} cà phê ạ
1.3.1.3 Mô hình lượng từ + danh từ đơn vị + tiểu từ "의/ưi/" + trung tâm
Trật tự của cấu trúc lượng ngữ này là: đứng trước có những từ chỉ số lượng, theo sau là danh từ chỉ đơn vị gắn với tiểu từ "의/ưi/" và cuối cùng là danh từ thường làm trung tâm Những từ đứng trước danh từ thường đều làm định ngữ cho trung tâm Cấu trúc này biểu hiện đầy đủ đặc điểm của loại hình ngôn ngữ của tiếng Hàn: tất cả các định ngữ đều đứng trước và làm định ngữ cho trung tâm ở sau :
Ví dụ :
(12) 깊게 파인 작은 두 개의 구멍 (CĐBT của NNT)
sâu hoắm / nhỏ / hai / cái+ tiểu từ “의/ưi/” / lỗ → hai cái lỗ nhỏ, sâu hoắm Loại lượng ngữ trên, (12) “두 개의 구멍- hai /cái / tiểu từ “의/ưi/” / lỗ” thường
Trang 29xuất hiện trong văn bản Lượng ngữ đó có thể tình lược tiểu từ “의/ưi/” như “두 개 구멍- hai cái lỗ”.Cấu trúc lượng ngữ này thường sử dụng khi nhắc lại những gì đã nói đến ở câu trước
1.3.1.4 Mô hình lượng từ + trung tâm
Mô hình này không có danh từ đơn vị Trước là những từ chỉ số lượng, theo sau
là trung tâm - danh từ thường
Ví dụ :
(14) 이 소설은 한 남자가 두 여자를 사랑하는 이야기이다
Này / tiểu thuyết / một / đàn ông / hai / phụ nữ / yêu / là câu chuyện
→ Tiểu thuyết này là câu chuyện một người đàn ông yêu hai cô gái Câu (14) có cấu trúc [lượng từ + TT], “한 남자- một đàn ông” nhưng trong thực
tế cấu trúc này thường ít sử dụng Cấu trúc này thường dùng để chỉ thuộc tính của một
số danh từ nhất định như “사람-người, 달-tháng” Và trong nhiều trường hợp, những danh từ Hán Hàn như “시간-thời gian, 남자-đàn ông, 여자-phụ nữ, 가정-gia đình,
Trang 30국가-quốc gia, v.v.” có thể dễ kết hợp trực tiếp với những lượng từ so với danh từ thuần túy tiếng Hàn
Trong bốn cấu trúc lượng ngữ tiếng Hàn nêu trên, trong phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ và cả trong văn bản, cấu trúc đầu tiên được sử dụng nhiều nhất Cấu trúc thứ
ba thường xuất hiện trong văn bản Cấu trúc thứ hai với thứ tư được sử dụng hạn chế, nhất là đối với những danh ngữ cần danh từ chỉ đơn vị
Về lượng từ của ba mô hình trong cấu trúc lượng ngữ, “Trung tâm + lượng từ + danh từ đơn vị”, “Lượng từ + danh từ đơn vị + tiểu từ “의/ưi/” + trung tâm” và “Lượng
từ + trung tâm”, khi số từ kết hợp với danh từ đơn vị hay danh từ thường thì một số số
từ thuần Hàn đã biến đổi như số từ “{하나-1, 둘-2, 셋-3, 넷-4, 스물-20} → {[한,
두, 세, 네, 스무] + N} Chẳng hạn như “한 남자 - một đàn ông, 두 여자 - hai phụ
nữ, 세 가정 - ba gia đình, 네 개의 의자 - bốn cái ghế, 스무 명의 학생 - hai mươi người học sinh, v.v.”
Với mô hình [TT + lượng từ + danh từ đơn vị], cấu trúc phổ biến nhất trong giao tiếp và câu văn, dễ tiếp cận cho người nước ngoài trong giáo trình 세종한국어 (tiếng Hàn Sejong) đưa ra, chúng tôi kết hợp với các định ngữ hạn định, miêu tả ở phần đầu trung tâm thành một cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố trong tiếng Hàn và sẽ trình bày
ở chương hai
Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số khái niệm cơ bản về đoản ngữ, đoản ngữ danh từ trong hai ngôn ngữ Việt và Hàn
Nhằm làm khung lý thuyết cho việc triển khai nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt
và danh ngữ tiếng Hàn cũng như so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong tổ hợp danh ngữ của hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau – tiếng Việt: ngôn ngữ đơn lập, và tiếng Hàn: ngôn ngữ chắp dính, chúng tôi đã giới thiệu khái quát những quan điểm về đoản ngữ, đoản ngữ danh từ trong cả hai ngôn ngữ cũng như các
mô hình - mô hình chủ yếu của các loại đoản ngữ danh từ Để tiện cho việc đối chiếu,
Trang 31và nhất là hướng đến việc tiện dụng và nâng cao chất lượng của việc dạy và học tiếng Việt cho học viên người Hàn, cũng như tiện dụng và nâng cao chất lượng của việc dạy
và học tiếng Hàn cho học viên người Việt, chúng tôi đã chọn:
Về tiếng Việt: chúng tôi chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn khi cho rằng trung tâm danh ngữ tiếng Việt gồm hai bộ phận: trung tâm ngữ pháp là các danh
từ chỉ loại; và trung tâm từ vựng là các danh từ thường
Về tiếng Hàn: Chúng tôi đã giới thiệu phân chia 4 cấu trúc trong một loại danh ngữ tiếng Hàn còn gọi là lượng ngữ Với các cấu trúc đó, chúng tôi chọn một cấu trúc giáo trình 세종한국어 (tiếng Hàn Sejong) đưa ra Đây là một cấu trúc phổ biến nhất trong giao tiếp và câu văn, dễ tiếp cận cho người nước ngoài Theo cấu trúc đó, các thành tố cấu tạo danh ngữ bao gồm hai phần: trung tâm và thành tố phụ Trung tâm là danh từ thường, thành tố phụ là lượng từ và danh từ đơn vị
Trang 32CHƯƠNG 2 DANH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ DANH NGỮ TIẾNG HÀN
2.1 Danh ngữ tiếng Việt
2.1.1 Những đặc điểm của danh ngữ tiếng Việt
Theo Nguyễn Tài Cẩn, tổ hợp tự do theo quan hệ chính phụ là đoản ngữ Trong
đó loại đoản ngữ có danh từ làm trung tâm gọi là danh ngữ Danh ngữ có thể chia thành hai phần: phần trung tâm và phần phụ
Phần trung tâm có thể chia làm hai: trung tâm về mặt ngữ pháp (TT1) và trung tâm về mặt ngữ nghĩa từ vựng (TT2) Các thành tố phụ gồm phần đầu và phần cuối Phần đầu là các định ngữ đứng trước trung tâm, gồm các từ chỉ số lượng và quán từ
"cái" Phần cuối là các định ngữ đứng sau trung tâm, gồm các định ngữ bổ sung nghĩa hạn định và miêu tả cho danh từ trung tâm Theo trật tự, phần đầu có thể có ba vị trí khác nhau, vị trí 3 - vị trí 2 - vị trí 1 Còn phần cuối gồm vị trí 1’ và vị trí 2’
Chương này sẽ nói về ba mô hình cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt
2.1.2 Mô hình của cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố
Cấu trúc danh ngữ tiếng Việt đầy đủ gồm có thành tố trung tâm, thành tố phụ ở trước trung tâm và sau trung tâm
Dạng thành tố phụ đầu kết hợp với trung tâm thường mang tính lượng hóa hoặc phân lượng hóa danh từ trung tâm Thành tố phụ cuối thường mang tính hạn định, mô
tả như mô hình sau:
2.1.2.1 Danh ngữ dạng hai trung tâm
Danh ngữ hai trung tâm, trung tâm về mặt ngữ pháp (TT1) và trung tâm về mặt ngữ nghĩa từ vựng (TT2) theo mô hình sau:
Vị trí của TT1 là danh từ đơn vị - Theo quan điểm của các nhà Việt ngữ học,
Trang 33phạm vi danh từ đơn vị khác nhau Theo Nguyễn Tài Cẩn, danh từ đơn vị có 2 loại bao gồm danh từ đơn vị tự nhiên (còn gọi là loại từ) và danh từ đơn vị quy ước Trong luận văn chúng tôi tham khảo danh sách danh từ đơn vị trong phụ lục của Cao Xuân Hạo (2007) Còn TT2 là danh từ thường 2 vị trí này đều thuộc từ loại danh từ mà vai trò khác nhau
Với mô hình trên, có thể dùng 2 biến dạng trong câu; "TT2" và "TT1 + TT2" nhưng "TT1" là danh từ đơn vị nên trong câu không thể đứng độc lập được
Ví dụ :
(15a) Tôi mua sách
(15b) *Tôi mua quyển
(15c) Tôi mua quyển sách
(15d) Trái nho rất ngon
Ví dụ (15a) có TT2 "sách" thì trung tâm này chỉ chủng loại danh từ đó nhưng (15b) TT1 "quyển" không chấp nhận được Hai ví dụ (15c), (15d) đều có dạng "TT1 + TT2" Ví dụ (15c) có nghĩa là đối tượng đó là số ít, ví dụ (15d) được hiểu đối tượng chỉ chủng loại Thực tế, dạng "TT1 + TT2" này có ý nghĩa chủ yếu là chỉ số đơn và xác định
2.1.2.2 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ cuối
Trong các ngôn ngữ SVO như tiếng Việt, vị trí của thành tố phụ thường bố trí sau trung tâm
Ví dụ:
(16a) Cô tiến gần đến bàn tôi ngồi đợi (TT2+1’) (Người ăn chay, p 9)
(16b) Tôi lấy cô ấy bởi vì thấy cô không có khuyết điểm gì đặc biệt (TT2+1’)
(Người ăn chay, p 10)
Ví dụ trên danh ngữ "bàn tôi ngồi đợi" ở (16a) danh từ thường (TT2) "bàn" đứng trước kết hợp với định ngữ phần cuối (vị trí 1’) "tôi ngồi đợi" và danh ngữ (16b) "khuyết điểm gì đặc biệt" ở (16a) danh từ thường (TT2) "khuyết điểm" đứng trước kết hợp với hai định ngữ ở phần cuối từ phiếm định "gì" và vị từ "đặc biệt"
Trang 34Như đã nói ở trên, khi kết hợp với phần cuối, trung tâm có thể xuất hiện danh từ đơn vị hoặc danh từ thường hoặc là cũng có cả hai danh từ đơn vị và danh từ thường Nhưng cần lưu ý thành tố phụ kết hợp với danh từ đơn vị (TT1) trước TT2 và kết hợp với danh từ thường (TT2) đều chấp nhận được nhưng có sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai danh ngữ này
So sánh :
(17a) Cái ti vi này bao nhiêu tiền vậy, cô? (VSL2, p.8)
(17b) Cái này bao nhiêu tiền vậy, cô?
(17c) Ti vi này bao nhiêu tiền vậy, cô?
Ở trên, danh ngữ có danh từ đơn vị "cái" ở (17a) và (17b) "cái này" có nghĩa chỉ
số đơn, xác định, (17a) và (17b) đều hiểu là một cái ti vi đã xác định giữa người nói với người nghe Còn danh ngữ có danh từ thường (17c) đi kèm từ trực chỉ thì trung tâm biểu thị liên quan tới một “loại” của danh từ được nêu
Thực tế, cả hai danh từ "danh từ đơn vị", "danh từ thường" khi đi kèm từ trực chỉ đều có nghĩa chỉ số Nhưng danh ngữ có danh từ thường "ti vi" kết hợp với định ngữ phần cuối trung tâm là từ trực chỉ "này" thì sẽ được hiểu tổ hợp đó thường là loại, kiểu, thứ, hạng nên tổ hợp "ti vi này" có thể được hiểu là một loại ti vi
Ngoài ra, sau từ chỉ định có được hiểu là từ đứng ranh giới kết thúc danh ngữ tiếng Việt có thể còn có thành tố khác nhưng không xuất hiện nhiều Vấn đề này chúng tôi sẽ nói cụ thể hơn ở phần các thành tố phần cuối danh ngữ với các thành tố khác
2.1.2.3 Danh ngữ dạng trung tâm kết hợp với thành tố phụ đầu
Mô hình danh ngữ này có các thành tố là lượng ngữ biểu thị thuộc tính lượng của đối tượng được nói đến ở đứng trước kết hợp với trung tâm Như vậy, các từ ngữ đứng trước trung tâm trong danh ngữ hầu hết là từ chỉ số lượng Các thành tố này bao gồm phân lượng từ, lượng từ, quán từ, một số vị từ chỉ lượng, v.v
Thành phần phụ đầu, vị trí 3 là phân lượng từ như “tất cả, cả, toàn bộ, nữa, …”,
vị trí 2 là lượng từ không chính xác, lượng từ chính xác (số từ), lượng từ ước chừng, vị
từ, các từ ngữ chỉ lượng như “những, các, mấy, vài, một, hai, v.v.” và vị trí 1 là quán từ
Trang 35“cái”
Về các các thành tố phần đầu trong danh ngữ tiếng Việt, chúng tôi sẽ trình bày
cụ thể hơn ở phần các thành tố phần đầu danh ngữ
2.1.3 Các thành tố trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt
2.1.3.1 Thành tố trung tâm
Việc xác định thành tố trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt khá phức tạp và chưa thống nhất Nguyễn Tài Cẩn (2004) cho rằng "trung tâm là danh từ thì đoản ngữ có tính chất danh từ và có chức năng như danh từ" (tr.153) Về xác định thành tố trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt, những học giả theo ngữ pháp truyền thống cho loại từ (từ chỉ loại) là hư từ nên loại từ không thể làm thành tố trung tâm của danh ngữ Nguyễn Tài Cẩn lúc đầu cũng có quan điểm như vậy, nhưng sau đó ông gạt bỏ “lí thuyết loại từ” để chấp nhận một quan điểm dựa trên sự phân biệt giữa danh từ đơn vị và danh từ thường
mà ông gọi là danh từ đơn vị và danh từ chính danh Nguyễn Tài Cẩn (2004) khẳng định
rằng “loại từ vốn là danh từ” (tr.207) và từ những năm 1980, Cao Xuân Hạo (2007) đã
lập luận rằng tính [±đếm được] là thuộc tính ngữ pháp chủ yếu của danh từ tiếng Việt;
và căn cứ thuộc tính đó, ông phân danh từ tiếng Việt ra thành danh từ đơn vị [+đếm được] và danh từ khối [-đếm được] Hiện nay không ít nhà ngôn ngữ chấp nhận về vấn
đề này và danh từ đơn vị trở thành một loại danh từ đóng vai trò làm một trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt
Dưới đây, thử xem xét về danh từ của hai vị trí trong danh ngữ, tức là nói về danh
từ đơn vị của vị trí TT1 và danh từ thường của vị trí TT2, thông qua một số câu như sau :
Ví dụ :
(18a) Bà ấy cũng mới mua tranh
(18b) *Bà ấy cũng mới mua bức
(18c) Bà ấy cũng mới mua bức tranh
(18d) Bà ấy cũng mới mua ba bức tranh (VSL2, p.63)
(18e) Bà ấy cũng mới mua bức tranh đó
Trong những câu trên, câu (18a) thì người Việt nào cũng chấp nhận danh từ thường "tranh" trong câu, nhưng không thể nói câu (18b) "Bà ấy cũng mới mua bức."
Trang 36được Tức là một danh ngữ chỉ có một danh từ làm trung tâm mà không có thành tố phụ thì nhất thiết phải là trung tâm về mặt ngữ nghĩa từ vựng Còn nếu xuất hiện cả hai trung tâm về mặt ngữ pháp và mặt ngữ nghĩa từ vựng mới được như câu (18c) Nhưng lại xem trường hợp có thành tố phụ trong danh ngữ như câu (18d) và (18e) mà bỏ danh từ nào thì chấp nhận được câu "Bà ấy cũng mới mua ba bức." hay "Bà ấy cũng mới mua bức đó.", có trung tâm là danh từ đơn vị, là trung tâm về mặt ngữ pháp nhưng "Bà ấy cũng mới mua ba tranh." hay "Bà ấy cũng mới mua tranh đó." thì trung tâm về mặt ngữ nghĩa
từ vựng mà khó chấp nhận hay có thể dùng được nhưng hạn chế sử dụng
Trong danh ngữ, từ quan trọng nhất là danh từ đứng ở trung tâm Đó là từ duy nhất có thể có quan hệ cú pháp với những từ nằm ngoài danh ngữ Cấu tạo của danh ngữ thường thay đổi theo tính chất của danh từ trung tâm và danh từ trung tâm có tác dụng quyết định đến cấu tạo của toàn danh ngữ
Xin tóm tắt các loại danh từ chung (chúng tôi không xem xét về danh từ riêng trong các loại danh từ.) trong hai vị trí của trung tâm theo bảng phân loại danh từ chung tiếng Việt sau :
ở vị trí TT2
Danh từ chỉ người Danh từ chỉ động thực vật Danh từ chỉ đồ vật
Danh từ chỉ chất liệu Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng Danh từ tổng hợp
Danh từ đơn vị của vị trí TT1
Danh từ đơn vị còn gọi là danh từ đếm được Theo Nguyễn Tài Cẩn, đặc điểm
của danh từ đơn vị là:
- Có thể trực tiếp kết hợp với số từ
- Trường hợp câu trước có hồi chỉ (sở chỉ) thì dùng một danh ngữ dạng "số từ + danh từ đơn vị"
Trang 37Trong (20a), câu sau dùng danh từ đơn vị "chỗ" thôi
- Không kết hợp với phân lượng từ như "tất cả"
Chẳng hạn, không thể nói "*tất cả cái bàn này" nhưng "tất cả bàn này" thì được
vì danh từ đơn vị "cái" ở danh ngữ đó có nghĩa là số đơn đối lập với "tất cả"
Danh từ đơn vị có hai loại: danh từ chỉ đơn vị tự nhiên và danh từ chỉ đơn vị quy ước Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên có ý nghĩa mô tả, phân định sự vật thành từng loại dưới hình thức của từng cá thể, từng đơn vị tự nhiên Cao Xuân Hạo gọi nó là danh từ hình thức thuần túy Danh từ đơn vị thường kết hợp với các danh từ thường khác theo
sự tương ứng ý nghĩa nhất định Chẳng hạn như "hai người bạn (người), một cái bàn (đồ vật), ba con bò (động vật), bốn cây chuối (thực vật), v.v Còn danh từ chỉ đơn vị quy ước dùng để tính toán các loại sự vật khác Danh từ đơn vị này có khả năng kết hợp với các loại danh từ thường Có thể chia thành hai nhóm như sau :
Nhóm chính xác như "ba ký đường, từng ngày, ba ngàn đồng, v.v."
Nhóm không chính xác chỉ tập hợp - bầy, đàn, v.v., chỉ bộ phận - miếng, mảnh, v.v., chỉ khái niệm trừu tượng - sự, việc, niềm, v.v., chỉ hiện tượng thiên nhiên - cơn, trận, v.v
Trang 38Trong câu (21a), danh từ đơn vị "niềm" là danh từ đơn vị không chính xác chỉ khái niệm trừu tượng và (21b) "trận" là danh từ đơn vị không chính xác chỉ hiện tượng thiên nhiên
Danh từ của vị trí TT2
Các loại danh từ nằm ở TT2 trong danh ngữ là danh từ thường, danh từ không đếm được Có nhiều trường hợp những danh từ thường không trực tiếp kết hợp với lượng từ Như vậy, trường hợp đếm phải cá thể hoá bằng cách thêm một danh từ đơn vị
Mô hình [lượng từ + danh từ đơn vị + danh từ không đếm đuợc]
Danh từ thường là loại danh từ có số lượng lớn nhất, gồm nhiều tiểu loại khác nhau Khả năng kết hợp với danh từ đơn vị, có thể chia danh từ thường thành các tiểu loại như sau : Danh từ chỉ người, danh từ chỉ động thực vật, danh từ chỉ đồ vật, danh từ chỉ chất liệu, danh từ chỉ khái niệm trừu tượng, danh từ tổng hợp
Danh từ chỉ người là danh từ chỉ quan hệ thân tộc hoặc chỉ người trong các quan
hệ xã hội liên quan đến chức vụ, nghề nghiệp, địa vị, học vị, v.v Cần phân biệt danh
từ chỉ người với danh từ chỉ đơn vị về người (danh từ đơn vị và danh từ thường)
Danh từ chỉ người trong quan hệ xã hội có khả năng kết hợp với danh từ đơn vị
"vị, ngài, thằng, đứa,…" chẳng hạn như "vị thủ tướng, ngài tổng thống, v.v." Danh từ chỉ người có thể kết hợp với danh từ đơn vị có biểu hiện tôn ti theo tư duy của người nói chẳng hạn như "vị thủ tướng, tên, kẻ cướp, v.v."
Danh từ chỉ động thực vật biểu thị tên gọi các loại động vật, thực vật Những
danh từ thường thuộc loại này đều có một số danh từ đơn vị tự nhiên kết hợp với nó Danh từ đơn vị chỉ động vật như "con" và danh từ đơn vị chỉ thực vật như "cây, trái/quả, v.v." Khi kết hợp với từ chỉ lượng, danh từ chỉ động thực vật thường phải có danh từ đơn vị đi kèm Chẳng hạn, không chấp nhận "một mèo", phải nói "một con mèo" Trong trường hợp liệt kê, nhấn mạnh về số lượng, có thể không dùng danh từ đơn vị đi kèm
Trang 39như "Bố mẹ anh ấy sinh 8 người con, 2 trai, 6 gái." (VSL1, p.158)
Danh từ chỉ đồ vật biểu thị tên gọi các loại đồ vật Danh từ thuộc loại này có một
số danh từ đơn vị tự nhiên kết hợp với nó như "cái, quyển, bức, chiếc,…" Vì vậy, khi kết hợp với từ chỉ lượng, danh từ chỉ đồ vật thường phải có danh từ đơn vị đi kèm Phải nói là "một quyển sách", dùng "một sách" thì không chấp nhận
Trong trường hợp liệt kê, nhấn mạnh về số lượng, có thể lược bỏ danh từ đơn vị như danh từ chỉ động thực vật Chẳng hạn, "Lớp tôi có 10 bàn, 20 ghế, 2 máy lạnh, v.v."
Đặc biệt, có trường hợp gọi món ăn, thức uống gì đó, có thể không cần đi kèm danh từ đơn vị Thậm chí, không dùng đến danh từ chỉ đồ vật như "2 phở, 1 cà phê nóng,
3 đá, v.v."
Danh từ chỉ chất liệu như "nước, đất, gỗ, dầu, muối, thịt, vàng, bạc, sắt, đường, v.v." không thể kết hợp trực tiếp với từ chỉ lượng Không thể nói "hai gỗ, ba muối" Danh từ chỉ chất liệu có thể kết hợp với danh từ đơn vị quy ước như "năm ký đường, ba chai nước, v.v."
Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng thường có danh từ đơn vị đi kèm như "sự, việc,
cái, nền, cuộc, cơn, trận,…" Chẳng hạn như "niềm hạnh phúc, nỗi buồn, sự hy sinh, việc học tập, cái mặc, cơn bão, trận mưa" Để kết hợp với từ chỉ lượng, danh từ này phải kết hợp với danh từ đơn vị như "hai nền văn hoá, một cơn bão, hai trận mưa, v.v."
Nhưng hiện nay, một số danh từ trừu tượng có xu hướng kết hợp trực tiếp với từ chỉ lượng như "hai mục đích, ba nguyên nhân, v.v."
Danh từ tổng hợp mang ý nghĩa khái quát, tổng hợp; biểu thị tên gọi các sự vật tồn tại thành một tổng thể gồm nhiều sự vật cùng loại với nhau Danh từ tổng hợp bao giờ cũng là từ hai âm tiết trở lên được cấu tạo theo kiểu ghép hoặc láy
Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với số từ Chúng chỉ đếm được thông qua một số danh từ đơn vị như "ba bộ quần áo, bốn đàn gà vịt, 10 bộ bàn ghế" Như vậy, chúng tôi thấy danh từ tổng hợp thường không kết hợp với những danh từ đơn vị có nghĩa số đơn "một" như "cái, con, chiếc, v.v.", không chấp nhận "cái bàn ghế, chiếc thuyền bè, con trâu bò" Nhưng có thể dùng danh từ đơn vị chỉ "bộ" như "bộ bàn ghế, cặp vợ chồng, v.v."
2.1.3.2 Các thành tố phụ đầu
Trang 40Các thành tố phụ đầu gồm những thành tố chỉ lượng, biểu hiện thuộc tính lượng của đối tượng được nói đến gọi chung là lượng ngữ Lượng ngữ trong tiếng Việt rất đa dạng, có vai trò cung cấp thêm một thông tin, một chi tiết cho danh từ trung tâm Những thành tố phụ phần đầu này có thể chia theo ba vị trí Mỗi vị trí một quan hệ ngữ pháp riêng biệt với trung tâm vì không có quan hệ ngữ pháp với trung tâm thì không giữ cương vị thành phần phụ ở danh ngữ
Vị trí 3 : Phân lượng ngữ chỉ lượng từ toàn thể như "tất cả, cả, tất thảy, v.v."
vị trí 2 : Lượng từ không chính xác, lượng từ chính xác (số từ), lượng từ ước chừng, vị từ, đại từ, các từ ngữ chỉ lượng như "những, các, mấy, vài, một, hai, "