1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng anh ở các trường mầm non ngoài công lập tại quận thủ đức, thành phố hồ chí minh

175 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Đội Ngũ Giáo Viên Tiếng Anh Ở Các Trường Mầm Non Ngoài Công Lập Tại Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Huỳnh Thị Kim Phụng
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Trần Thanh Hương
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước sự kỳ vọng của nhà nước về nâng cao năng lực tiếng Anh cho mọi công dân Việt Nam và mục tiêu đặt ra của giáo dục Việt Nam trong việc dạy ngoại ngữ, đặc biệt cho trẻ mầm non ở TP.HC

Trang 1

-

TIẾN SĨ TRẦN THANH HƯƠNG

TP HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sỹ “ Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ” là nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Th nh ph Hồ Chí Minh, ng y 01 tháng 10 năm 2020

Huỳnh Thị Kim Phụng

Trang 3

Xã Hội và Nhân Văn TP.HCM đã dành cho tôi

Những lời động viên, khuyến khích từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cũng như Phòng Giáo Dục và Đào tạo Quận Thủ Đức TP.HCM đã tạo mọi điều kiện giúp

đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS.Trần Thanh Hương, người trực tiếp hướng dẫn, kiên nhẫn chỉ bảo, góp ý, định hướng và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Và hơn bao giờ hết là sự tận tâm của lãnh đạo khoa Giáo dục dành cho chúng tôi những trải nghiệm tuyệt vời, không kém phần bồi hồi, lo lắng trong các lần bảo

vệ đề cương, bảo vệ chương một, để rồi chúng tôi có những bước đi đúng đắn hơn trong việc định hướng đề tài, chọn lựa tài liệu nghiên cứu…

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn luận văn vẫn còn những hạn chế không tránh khỏi Kính mong nhận được sự đóng góp quý báu từ Quý thầy, Quý cô, các anh, các chị, bạn bè và đồng nghiệp

Trân trọng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng biểu vii

Danh mục biểu đồ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Ý nghĩa của đề tài 8

9 Bố cục luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 10

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 10

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 14

1.2 Một số khái niệm cơ bản 18

1.2.1 Quản lý 18

1.2.2 Đội ngũ Giáo viên 20

1.2.3 Đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 21

1.2.4 Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 22

1.3 Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên trong trường học 22

Trang 5

1.3.1 Vai trò của đội ngũ giáo viên trong trường học 22

1.3.2 Nhiệm vụ, yêu cầu của đội ngũ giáo viên trong trường học, tầm quan trọng trong công tác quản lý đội ngũ GV 25

1.3.3 Nội dung quản lý đội ngũ GV trong trường học 29

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giáo viên Tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập 47

1.4.1 Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lí 47

1.4.2 Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lí 49

1.4.3 Các yếu tố thuộc về môi trường quản lí 51

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TẠI QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM 54

2.1.Tổng quan địa bàn nghiên cứu 54

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 54

2.1.2 Khái quát về giáo dục ở quận Thủ Đức 55

2.1.3 Tình hình dạy học tiếng Anh cho trẻ mầm non trong Quận Thủ Đức 57

2.2 Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, TP.HCM 58

2.2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập, quận Thủ Đức 58

2.2.2 Thực trạng công tác tuyển dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 64

2.2.3 Thực trạng phân bổ công việc và quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 66

2.2.4 Thực trạng bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập 75

2.2.5 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 79

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức 81

Trang 6

2.4.1 Những kết quả đã đạt được 84

2.4.2 Những mặt hạn chế 86

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TẠI QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM 90

3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non 90

3.1.1 Cơ sở pháp lý 90

3.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 92

3.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập 92

3.3 Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, TP.HCM 94

3.3.1 Biện pháp 1 : Xây dựng kế hoạch tuyển dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh theo tình hình phát triển giáo dục thực tế của nhà trường 94

3.3.2 Biện pháp 2: Phân công, sử dụng đội ngũ giáo viên TA phù hợp với năng lực, sở trường và kế hoạch chuyên môn của trường 97

3.3.3 Biện pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp, tạo điều kiện cho GVTA viết sáng kiến kinh nghiệm 100

3.3.4 Biện pháp 4 : Đổi mới kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non 103

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý đội ngũ GVTA mầm non ngoài công lập 107

3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 110

3.5.1 Mục đích, nội dung và đối tượng khảo nghiệm 110

3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 110

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117

1 Kết luận 117

2 Kiến nghị 118

PHỤ LỤC 129

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

GD & ĐT Giáo dục và đào tạo

GVTAMN Giáo viên tiếng Anh mầm non PGD-ĐT Phòng Giáo dục và Đào tạo

MNNCL Mầm non ngoài công lập

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

số

2.1 Quy mô trường – lớp mầm non NCL và số lượng trẻ mầm

non trong 02 năm học 2018-2019 và 2019-2020 56

2.2 Số lượng CBQL và GV mầm non NCL trong 02 năm học

2.3 Mẫu nghiên cứu tại các trường MN ngoài công lập tại quận

2.4 Giới tính, độ tuổi, trình độ đào tạo và thâm niên công tác 59

2.5 Đánh giá chuyên môn của GVTA mầm non tại 10 trường

2.6 Công tác tuyển dụng đội ngũ GVTA ở các trường Mầm non

2.7 Kết quả khảo sát phân bổ, bố trí công việc của đội ngũ

GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức 66

2.8 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của

đội ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức 68

2.9 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động lên lớp của

đội ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức 70

2.10 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh

2.11

Kết quả khảo sát thực trạng quản lý cơ sở vật chất, phương

tiện phục vụ dạy học môn Tiếng Anh ở các trường mầm non

NCL, quận Thủ Đức

73

2.12 Kết quả khảo sát thực trạng bồi dưỡng và phát triển đội ngũ 78

Trang 9

giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức

2.13 Kết quả khảo sát thực trạng công tác kiểm tra đánh giá đội

ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức 79

2.14 Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ

GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức 81

3.1

Kết quả trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý đội ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức

110

3.2

Kết quả trưng cầu ý kiến về tính khả thi của các biện pháp quản lý đội ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức

111

3.3

Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đội ngũ GVTA ở các trường mầm non NCL, quận Thủ Đức

113

Trang 10

Sự tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non NCL

115

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, ngoại ngữ đóng vai trò then chốt trong giao tiếp và là chìa khóa để các quốc gia hội nhập với tốc độ phát triển của thế giới Kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới nổi trên thế giới cũng như trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã chỉ rõ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh là một trong những điều kiện tiên quyết và là phương tiện hữu hiệu để hội nhập với bên ngoài Vai trò của ngoại ngữ càng trở nên cần thiết hơn trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, ngoại ngữ trở thành công cụ để trao đổi tri thức, văn hóa giúp cá nhân định vị bản thân, phá tan rào cản văn hóa để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, hình thành ý thức công dân toàn cầu, góp phần vào việc phát triển bản thân và quốc gia

Nhận thức được vai trò của ngoại ngữ trong việc phát triển đất nước, ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1400/QĐ-TTg phê duyệt

Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2020” với mục tiêu chung là “ Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong

2008-hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2020 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình

độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực…” nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Mầm non là cấp học đầu tiên với mục tiêu giáo dục toàn diện trẻ em, đây là giai đoạn giáo dục đặt nền móng cho sự phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ Những kỹ năng, ngôn ngữ mà trẻ được tiếp thu qua chương trình giáo dục ở mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này (Hoa Lê, 2013, tr.1) Các nghiên cứu đã chứng minh rằng đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc phát triển ngôn ngữ và là thời

kỳ trẻ tiếp thu ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ thứ 2 một cách tự nhiên và nhanh chóng nhất, giúp trẻ có tư duy linh hoạt, biết giải quyết vấn đề, nhận thức và hiểu biết xã hội tốt hơn (Ellen Bialystok, 2008; Genesee, 2004; Nguyễn Lộc, 2013)

Trang 12

Chính vì thế đề án dạy ngoại ngữ cho trẻ mầm non đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành việc ban hành chương trình và học liệu làm quen với ngoại ngữ cho trẻ mầm non Hiện nay, đề án giảng dạy tiếng Anh đang được thực thi trên cả nước ở tất cả các cấp học công lập và ngoài công lập, nhằm giúp trẻ có cơ hội tiếp xúc với tiếng Anh ngay từ sớm để phát triển tối đa khả năng ngôn ngữ của các bé, đây sẽ là nền tảng để phát triển năng lực ngôn ngữ, cụ thể là năng lực sử dụng tiếng Anh của các bé sau này

Tại TP.HCM việc dạy và cho trẻ MN làm quen với ngoại ngữ đã được triển khai rộng rãi ở các trường MN theo quyết định số 448 ngày 31 tháng 1 năm 2012 của UBNDTP Tính đến năm 2018 đã có 96.000 trẻ được làm quen với tiếng Anh

và mục tiêu đặt ra đến 2020, 100% học sinh mầm non 5 tuổi sẽ được học và làm quen tiếng Anh để góp phần thực hiện mục tiêu chung của đề án

Trước sự kỳ vọng của nhà nước về nâng cao năng lực tiếng Anh cho mọi công dân Việt Nam và mục tiêu đặt ra của giáo dục Việt Nam trong việc dạy ngoại ngữ, đặc biệt cho trẻ mầm non ở TP.HCM, năng lực và hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên được xem là yếu tố quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu này, đây được xem là lực lượng “quyết định sự thành công của tổ chức” và thành công của trẻ trong việc học ngoại ngữ (Linda, 2000; Hanushek, 2011; Westbrook et al, 2013; Mustafa, 2013; Adnot et al, 2013), chính vì lý do này, quản lý đội ngũ giáo viên giảng dạy ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh có vai trò quyết định đến chất lượng dạy học nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra Để đảm bảo năng lực đội ngũ giảng dạy ngoại ngữ, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra những yêu cầu và chuẩn quy định đối với đội ngũ giáo viên tiếng Anh, cụ thể đối với giáo viên bản ngữ, họ phải có đủ

hồ sơ năng lực theo quy định tại Nghị định số 11/2016/ND-CP và Thông tư số 40/2016/TT- BLĐTBXH, đối với giáo viên Việt Nam, họ “phải có bằng tốt nghiệp cao đ ng sư phạm ngoại ngữ (hoặc cao đ ng ngoại ngữ) trở lên”, phải đạt năng lực ngoại ngữ bậc 4 trở lên hoặc tương đương theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm mầm non theo công văn số 1303/BGDĐT-GDMN ngày 18 tháng 3 năm 2014 Tuy nhiên, thực

Trang 13

tiễn chất lượng giảng dạy ngoại ngữ và chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh đang tồn tại nhiều vấn đề như: giáo viên chưa có năng lực ngoại ngữ đạt yêu cầu, chưa được bồi dưỡng sư phạm, chưa có phương pháp dạy học phù hợp với trẻ mầm non, chất lượng và số lượng giáo viên hiện nay rất không đồng đều, hiệu quả trong quản

lý đội ngũ này chưa cao (Đặng Lộc Thọ, 2017; Quỳnh Nguyễn, 2015; Thu Hoài, 2018)

Quản lý đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Anh đã trở thành vấn đề nghiên cứu nổi bật trong thời gian gần đây, điển hình là công tác quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh các cấp học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng với những bất cập, hạn chế cũng như đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với lực lượng này Tuy nhiên, quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non tại các trường mầm non ngoài công lập có giảng dạy

tiếng Anh còn khá khiêm tốn, đây là lý do tác giả thực hiện đề tài “Quản lý đội ngũ

giáo viên tiếng Anh ở các trường Mầm non ngoài công lập tại Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu luận văn chuyên ngành QLGD

với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng giảng dạy tiếng Anh ở TP.HCM, cụ thể là giáo dục mầm non tại khu vực quận Thủ Đức

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh tại các trường Mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, TP.HCM Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp quản lý đội ngũ GVTA mầm non ngoài công lập hiện nay thuộc sự quản lý của phòng GD-ĐT quận Thủ Đức, TP.HCM

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường Mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, TP.HCM

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh tại một số trường mầm non ngoài công lập ở địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM còn tồn tại nhiều vấn đề trong công tác tuyển

Trang 14

dụng, phân bổ, bố trí và quản lý hoạt động giảng dạy, bồi dưỡng và phát triển, kiểm tra đánh giá GV Vì vậy, nếu khảo sát đúng thực trạng thì sẽ đề xuất được những biện pháp quản lý phù hợp tác động đến các nội dung quản lý này để trực tiếp cải thiện hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Anh ở các trường mầm non NCL tại Thủ Đức, TPHCM

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh MN ngoài công lập hiện nay Cụ thể, đề tài tập trung vào những nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, các nội dung quản

lý đội ngũ giáo viên, giáo viên MN, giáo viên tiếng Anh MN

5.2 Nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý đội ngũ GV dạy tiếng Anh ở các trường Mầm non ngoài công lập Khảo sát thực trạng công tác quản lý đối với đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh trong các hoạt động: Tuyển dụng GV, phân bổ, bố trí

và quản lý hoạt động giảng dạy, quản lý công tác bồi dưỡng và phát triển , đánh giá

GV Từ những kết quả này, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường MNNCL tại quận Thủ Đức, TP.HCM

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý

trong các hoạt động sau: tuyển dụng giáo viên tiếng Anh, phân bổ , bố trí và quản lý hoạt động giảng dạy của GV, quản lý công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV,

đánh giá GV

6.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu về công tác quản lý đội

ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non, cụ thể là tại 10 trường Mầm non ngoài công lập

ở quận Thủ Đức có giảng dạy tiếng Anh gồm: MN Việt Anh, MN Học viện Hoa

Kỳ, MN Tuệ Đức, MN Sài Gòn Academy, MN Bách Việt, MN Blue Sky, MN Quốc

tế Iris, MN Kid’s World, MN Emasi Vạn Phúc, MN Kindy City Vì các trường nêu trên có những điểm tương đồng trong công tác tuyển dụng, bồi dưỡng giáo viên và

cả về chương trình giảng dạy

Trang 15

6.3 Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát công tác tuyển dụng,

bố trí công việc, quản lý hoạt động giảng dạy, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV, đánh giá đội ngũ GV và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đội ngũ

GVTA trong 2 năm học 2018-2019 và 2019-2020

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thông qua việc nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung khoa học về quản lý nguồn nhân lực nói chung, quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay, quản lý công tác tuyển dụng giáo viên, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên, quản lý việc bồi dưỡng và phát triển giáo viên, quản lý công tác kiểm tra đánh giá giáo viên tiếng Anh

7.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích các văn bản quy

định, kế hoạch, chiến lược, các báo cáo về hoạt động quản lý GV ở các trường Mầm non NCL

7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.3.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Đề tài sử dụng bảng hỏi để khảo

sát CBQL, GV tiếng Anh tại 10 trường Mầm Non ngoài công lập ở địa bàn quận Thủ Đức về các hoạt động: tuyển dụng, phân bổ và quản lý hoạt động giảng dạy, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV, đánh giá GV

Bộ công cụ sử dụng để khảo sát thực trạng gồm 02 phiếu:

- Phiếu hỏi 01: Phiếu khảo sát ý kiến GV nhằm thu thập ý kiến về thực trạng đội ngũ GVTA mầm non NCL; thực trạng quản lý đội ngũ GVTA mầm non NCL

và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ GVTA (Phụ lục 1)

- Phiếu hỏi 02: Phiếu khảo sát ý kiến cán bộ quản lý nội dung tương tự như phiếu hỏi ý kiến GV nhằm mục đích tham mưu thêm ý kiến của CBQL trong công tác quản lý đội ngũ GVTA (Phụ lục 2)

Bộ công cụ sử dụng để khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đội ngũ GVTA gồm 2 nội dung :

Trang 16

- Câu 1 (phiếu khảo nghiệm): Đánh giá tính cần thiết của việc sử dụng biện pháp quản lý đội ngũ GVTA theo 5 mức độ từ thấp đến cao (1: không cần thiết; 2: ít cần thiết; 3: tương đối cần thiết; 4: cần thiết; và 5: rất cần thiết)

- Câu 2 (phiếu khảo nghiệm): Đánh giá tính khả thi của việc sử dụng biện pháp quản lý đội ngũ GVTA theo 5 mức độ từ thấp đến cao (1: không khả thi; 2: ít khả thi; 3: tương đối khả thi; 4: khả thi; và 5: rất khả thi) ( Phụ lục 3)

*Thang điểm đánh giá các câu hỏi

Trong phiếu khảo sát CBQL, GV chọn 1 trong 5 mức độ (mỗi mức độ từ thấp đến cao sẽ tương ứng với một điểm nhất định), cụ thể:

Mức 1 Hoàn toàn đồng ý / rất ảnh hưởng/ rất khả thi/ rất cần thiết Mức 2 Đồng ý / ảnh hưởng/ khả thi/ cần thiết

Mức 3 Phân vân/ tương đối ảnh hưởng/tương đối khả thi/ tương đối cần thiết

Mức 4 Không đồng ý/ ít ảnh hưởng/ ít khả thi/ ít cần thiết Mức 5 Hoàn toàn không đồng ý/ Không ảnh hưởng/ Không khả thi/ Không cần thiết

Với thang điểm như trên thì giá trị khoảng cách giữa các mức độ là r = (max – min)/n = (5-1)/5 = 0,8

ĐTB từ 1,00 - 1,80: mức độ rất thấp ĐTB từ 1,81- 2,60: mức độ thấp ĐTB từ 2,61- 3,40: mức độ trung bình

ĐTB từ 3,41- 4,20: mức độ cao ĐTB từ 4,21- 5,00: mức độ rất cao

*Quy trình và phương pháp xử lý s liệu

Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu đối với các thông tin định lượng, việc phân tích và giải thích sẽ được dựa trên kết quả thu được từ tần số, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm chứng độ tin cậy của thang đo Trước khi tiến hành nghiên cứu thực trạng tác giả đã kiểm định độ tin cậy của thang đo ( tháng 07/2020) Mục đích của bước này là xác định độ tin cậy và độ hiệu lực của các

Trang 17

phiếu khảo sát và tiến hành chỉnh sửa những mệnh đề chưa đạt yêu cầu Đối tượng khảo sát thử là 32 GV các trường mầm non ngoài công lập trong quận Thủ Đức Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0 thông qua cách tính

hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan giữa từng thành tố ( item) và toàn bộ thang đo để xác định độ tin cậy của các thang đo trong bảng hỏi và độ hiệu lực về nội dung của từng thang đo Trong phần này, tác giả tập trung đánh giá độ tin cậy

và độ hiệu lực của thang đo chính của đề tài

* Đánh giá độ tin cậy của thang đo:

Với loại bảng hỏi được thiết kế với điểm số theo thang định khoảng (1-5), để đánh giá độ tin cậy của công cụ trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng phương pháp đánh giá độ phù hợp giữa các item trong cùng miền đo, sử dụng mô hình hệ số tương quan Cronbach’s Alpha Mô hình này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán phương sai của từng item trong toàn thang đo và tính tương quan của từng item với điểm của tổng các item còn lại của thang đo Độ tin cậy của thang

đo được coi là thấp nếu hệ số Alpha < 0.60

Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đánh giá thực trạng quản lý cho thấy, thang đo này có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha = 0.866 là tương đối cao Giá trị này cho phép kết luận thang đo là đáng tin cậy

Bảng 0: Độ tin cậy của thang đo đánh giá

Items

Hệ số Cronbach's Alpha

Phân bổ công việc và quản lý hoạt động giảng dạy 22 0.871

Công tác kiểm tra đánh giá đội ngũ GVTA 9 0.863

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ GVTA 16 0.865

Trang 18

* Đánh giá độ hiệu lực của thang đo: Để đánh giá độ hiệu lực (còn gọi là độ giá trị về nội dung) của thang đo, chúng tôi đã tính hệ số tương quan giữa từng item

và tổng thang đo Nếu hệ số tương quan giữa từng item và tổng thang đo lớn hơn hoặc bằng 0.30 thì thang đo đó có độ giá trị về nội dung, các item thống nhất với nhau trong việc làm rõ nội dung cần đo Hệ số tương quan cho thấy tất cả các thang đánh giá có r > 0.40 (Phụ lục 4) Như vậy, thang đo đảm bảo độ giá trị về nội dung, các item thống nhất với nhau trong việc làm rõ nội dung cần đo

7.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Những dữ liệu thu được từ quá trình phỏng vấn sâu và từ các nguồn dữ liệu thứ cấp sẽ được tích hợp trong quá trình mô tả, phân tích dữ liệu đối với các thông tin định tính Ngoài mục đích làm tăng độ tin cậy và giá trị của dữ liệu, việc thu thập thông tin từ phỏng vấn và thông tin thứ cấp sẽ giúp bổ sung để làm rõ hơn vấn

đề nghiên cứu, các thông tin này còn được dùng để so sánh, đối chiếu với nhau nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu Trong luận văn số lượng mẫu tham gia trao đổi phỏng vấn để làm sáng tỏ thêm thực trạng gồm 4 người, là CBQL Phòng GD & ĐT Thủ Đức (1 đại diện) và CBQL một số trường MNNCL thuộc quận Thủ Đức: MN Việt Anh (1 đại diện), MN Sai Gon Academy (1 đại diện), MN Quốc tế Iris (1 đại diện)

Từ những kết quả xử lý dữ liệu định tính và định lượng tác giả đưa ra những kết luận khoa học và đưa ra các đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh MN ngoài công lập trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM

8 Ý nghĩa của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài đúc kết lý luận khoa học quản lý đã có từ lâu để làm nền tảng cho việc nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV, cụ thể là giáo viên tiếng Anh ở các trường MN ngoài công lập tại TP.HCM Đây sẽ là nguồn tham khảo cho những ai có quan tâm đến vấn đề quản lý nguồn nhân lực trong GD

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 19

Luận văn đánh giá, phân tích thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập, từ đó sẽ là cơ sở để vận dụng các biện pháp do tác giả đề xuất có giá trị thực tiễn phổ biến trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập tại quận Thủ Đức, TP.HCM

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

TIẾNG ANH MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài

Quản lý ĐNGV thực chất là vận dụng thành quả của Khoa học quản lý nói chung vào một nội dung cụ thể - ĐNGV Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến các công trình nghiên cứu về công tác quản lý và phát triển NNL như một hướng tiếp cận để quản lý ĐNGV

Ở nước Mỹ, ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, W.F Taylor (1911) đã đề cao vai trò của nguồn nhân lực trong tổ chức, tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc trong quản lý như tuyển chọn, huấn luyện đội ngũ nhân viên để nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức Ông cũng cho rằng hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và các nhân viên

Hiệp hội những người làm công tác đào tạo và phát triển Mỹ (ASTD) đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực trong tổ chức giáo dục, trong đó có mô hình McLagan được sử dụng khá phổ biến trong các trường học Mô hình này hướng tới thực tiễn phát triển nguồn nhân lực đáp ứng một loạt các mục đích: (1) sự đa dạng

về các vai trò của những chuyên gia trong phát triển nguồn nhân lực (nhà quản lý hành chính, người lượng giá, nhà quản lý, người phát triển tài liệu học tập giảng dạy, cố vấn phát triển sự nghiệp, người giảng dạy, người làm marketing, người phân tích nhu cầu, chủ thể thay đổi tổ chức, người thiết kế chương trình, và nhà nghiên cứu); (2) các nội dung chủ yếu trong phát triển nguồn nhân lực, trong đó nhấn mạnh đến phát triển 4 nhóm năng lực gồm năng lực kỹ thuật, kinh doanh, quan hệ qua lại giữa các cá nhân, và tư duy trí tuệ; (3) các sản phẩm đầu ra của phát triển nguồn nhân lực; (4) chất lựơng của sản phẩm đầu ra; (5) định vị phát triển nguồn nhân lực thông qua Vòng nhân lực (Human resource wheel); (6) xác định các áp lực trong tương lai ảnh hưởng tới phát triển nguồn nhân lực, và (7) nhận dạng những vấn đề đạo đức ảnh hưởng tới việc phát triển nguồn nhân lực Mô hình này được sử dụng phổ biến trong trường đại học và các chương trình đào tạo về quản lý nguồn nhân

Trang 21

lực tại Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới (Dooley et al, 2001; Dare and Leach, 1998; Leach, 1993; Powell and Hubschman, 1999; Rothwell and Lindholm, 1999)

Colin Riches (1997) cho rằng quản lý nguồn nhân lực là “liên quan đến quá trình làm việc với con người để cải thiện hiệu quả của công việc Con người luôn là nhân tố quan trong nhất của tổ chức vì đây là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện các công việc Do vậy, con người cần được quản lý để phát huy tối đa hoạt động của bản thân và tổ chức.” ( tr.47)

Năm 1983, Anthony Carnavale trong nghiên cứu của mình đã cho rằng, QLNNL sẽ liên quan đến công tác phát triển nguồn nhân lực, trong đó bao gồm công tác đào tạo, bồi dưỡng để có thể sử dụng có hiệu quả đội ngũ nhân lực trong tổ chức Tiếp nối là Formbrun, Tichy và Devanna (1984) kh ng định, có mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố tuyển chọn, đánh giá, phát triển và khen thưởng trong QLNNL, khâu tuyển chọn dựa được chú trọng nhiều nhất Theo các tác giả, trong quản lý đội ngũ giáo viên các nhà quản lý không dựa trên thành tích để tuyển chọn

vì thiếu công bằng trong việc đánh giá, cần tạo điều kiện để giáo viên được bồi dưỡng nhằm cập nhật chuyên môn và có cơ chế khen thưởng để tạo động lực làm việc cho họ Cùng nghiên cứu về các thành tố trong QLNNL, Robin và cộng sự (2005) đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa tổ chức và môi trường bên cạnh các khâu: lập kế hoạch, tuyển chọn, lựa chọn, thiết kế tổ chức và công việc, đào tạo và phát triển, đánh giá Đây là những thành tố tác động đến tính hiệu quả trong hoạt động và năng lực thực hiện công việc của giáo viên

Bên cạnh những nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý NNL để nâng cao hiệu quả thực hiện công việc, đạt mục tiêu của tổ chức, các tác giả Guzman (1995), Glatthorn (1995), Darling Hammond (1999), Ganser (2000), Groosso de Leon (2001) đã thực hiện các nghiên cứu khác nhau nhằm sử dụng các mô hình rút ra kinh nghiệm để cải tiến kỹ năng, phát triển nghề nghiệp và đội ngũ giáo viên ở các

cơ sở đào tạo, đồng thời xác định các phương pháp hiệu quả để hỗ trợ các chương trình, các đề án phát triển nghề nghiệp giáo viên một cách hiệu quả và một trong những điển hình thể hiện qua những nỗ lực của APEC trong công tác đào tạo, bồi

Trang 22

dưỡng giáo viên đó là 18 nước Châu Á ở khu vực Thái Bình Dương đã xác định đào tạo bồi dưỡng giáo viên là một trong những vấn đề then chốt trong phát triển nền giáo dục của họ

Hầu hết các cải cách giáo dục hiện nay đều liên quan đến phát triển, bồi dưỡng giáo viên, nói cách khác phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên là một yêu cầu then chốt của tiến trình thay đổi (Guskey, T.R; Huberman, M(Eds.),1995, tr.30), cải tiến chương trình Các nghiên cứu đã cho thấy phát triển đội ngũ giáo viên đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, trong lớp họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ phát triển trí tuệ của học sinh mà còn có nhiệm vụ giáo dưỡng người học, do vậy, họ phải thực hiện nhiều vai trò khác nhau và phải thích ứng với các điều kiện của lớp học, Yu-wei Chu (2014) đã chỉ ra các hoạt động chính trong giảng dạy của GV tiếng Anh, trong đó ngoài thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, GV còn là người thường xuyên thực hiện những mối tương tác với các học sinh trong lớp, họ phải lập kế hoạch về chương trình giảng dạy và đồng thời phải tự bồi dưỡng học tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả công việc Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng đồng thời cho thấy có sự không nhất quán giữa các hoạt động này, đây là những vấn đề cần được các cấp quản lý quan tâm trong công tác chỉ đạo và giám sát

GV tiếng Anh MN nhằm đạt được mục tiêu giáo dục

Công tác quản lý đội ngũ GV ở giáo dục mầm non ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng vì tính chất đặc thù của cấp học và tính đa dạng về trình độ của GV Các

GV giảng dạy tiếng Anh ở MN có nền tảng và trình độ khác nhau, Polanco (2018)

sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trên GVMN tại trung tâm học tập Dominican đã nhận định rằng, các GV dạy học mẫu giáo tại đây thường được đào tạo để nuôi dạy trẻ Tuy nhiên, đối với những GV thực sự yêu thích trẻ em, họ sẽ phải học tập ở chương trình cử nhân để trở thành những giáo viên chuyên nghiệp,

có khả năng đáp ứng được những yêu cầu khắt khe với mức độ đòi hỏi trong công việc ngày càng cao ở cấp học này

Chất lượng trong dạy học tiếng Anh MN được quyết định bởi chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất và đặc biệt là chất lượng của

Trang 23

đội ngũ GV Salwa (2013) đã chỉ ra những thách thức liên quan đến chuyên môn, kỹ năng, năng lực của GVTA mầm non và công tác quản lý đội ngũ GVTA mầm non ở môi trường giảng dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ quốc tế Bằng phương pháp quan sát, phỏng vấn và thực nghiệm, tác giả đã chứng minh cho thấy đội ngũ giáo viên tiếng Anh MN cần được đào tạo và bồi dưỡng để biết về chương trình đào tạo ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, thực hiện các đổi mới trong dạy học và phải có năng lực trong việc dạy học tiếng Anh cho học sinh MN

Để đáp ứng những năng lực này, Aasen và Sadownik (2019) đã nhấn mạnh rằng, đảm bảo chất lượng trong giáo dục trẻ mầm non, giúp trẻ phát triển toàn diện, được học, được chơi và phát triển nhân cách thì GVMN cần được đào tạo và bồi dưỡng Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp GV phát triển chuyên môn, có năng lực kiến tạo trong dạy trẻ và có khả năng thực hiện công việc dạy dỗ trẻ hiệu quả GVMN phải là những người thực hiện các nhiệm vụ xã hội khi dạy trẻ, có kiến thức chuyên môn liên quan nghề nghiệp và quan trọng hơn là có đạo đức trách nhiệm đối với nhiệm vụ được trao Như vậy, có thể thấy, GVMN phải là những người có những phẩm chất và đáp ứng những tiêu chuẩn nghề nghiệp, những tiêu chuẩn này cần được đào tạo và đánh giá

Tuy nhiên, theo Araujo và cộng sự (2016), trong công tác quản lý đội ngũ GVMN ở Edcuador, yếu tố hiệu quả trong công việc thường không liên quan đến các quyết định về nhiệm kỳ, tập huấn, chức vụ, mức lương, chế độ nghỉ hưu Đây là những thách thức rất lớn trong công tác quản lý đội ngũ GVMN ở các quốc gia Mỹ

la tinh

Qua các nghiên cứu, các tác giả đã quan tâm đến sự tương tác giữa giáo viên

và học sinh, kh ng định giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo giáo viên không những phải đủ về số lượng, đáp ứng về chất lượng mà phải có cơ chế quản lý thích hợp để đáp ứng được yêu cầu đổi mới về giảng dạy, sử dụng hiệu quả các phương pháp để đạt được mục tiêu giáo dục

Trang 24

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng, quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên ở các cấp học từ MN đến THPT, điển hình tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai (2015) trong nghiên cứu “Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi các tỉnh Tây Nguyên” đã nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát

và phân tích thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non thông qua công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá giáo viên, là các vấn đề then chốt trong phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nhằm đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và đảm bảo các điều kiện thực hiện có hiệu quả tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đến năm 2020 Đồng thời

đã đề ra 6 biện pháp để phát triển đội ngũ GV như : Đổi mới quy hoạch và chỉ đạo thực hiện hiệu quả quy hoạch phát triển đội ngũ GVMN; Đổi mới công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giáo viên mầm non; Quản lý đào tạo, bồi dưỡng theo chuẩn đáp ứng yêu cầu phổ cập cho trẻ 5 tuổi phù hợp với điều kiện cụ thể ở Tây nguyên;

Tổ chức bồi dưỡng tiếng dân tộc cho GVMN tại vùng dân tộc thiểu số; Xây dựng và hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với GVMN, đặc biệt đối với GVMN tại vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn và thực hiện đánh giá đội ngũ GVMN theo Chuẩn nghề nghiệp GVMN phù hợp với các tỉnh Tây Nguyên

Tác giả Đặng Thị Thanh Liêm (2017) đã kh ng định phát triển ĐNGV mầm non là phát triển đủ về số lượng đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng (giá trị tinh thần, giá trị đạo đức và giá trị thể chất) của người GVMN làm cho người GV

có phẩm chất, năng lực, thái độ lao động tốt hơn thông qua lập kế hoạch, tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá và tạo môi trường sư phạm thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới

GD trong nghiên cứu “ Phát triển đội ngũ giáo viên trường Mầm non A xã Thanh Liệt, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội”

Ở các cấp học khác , tác giả Đoàn Thị Thanh Hương (2013) trong nghiên cứu liên quan quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện

Từ Liêm, Hà Nội đã chỉ ra rằng để nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên, nhà

Trang 25

trường cần nâng cao nhận thức của CBQL, GV nhà trường về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên; Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; Đổi mới kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên; Tăng cường cơ sở vật chất; Hoàn thiện chế độ khen thưởng cho đội ngũ

Tương tự như Đoàn Thị Thanh Hương, tác giả Phạm Thị Tùng Oanh (2013) với nghiên cứu “Thực trạng quản lí đội ngũ giáo viên THPT huyện Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương” đã đưa ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ GV trong trường học, theo tác giả, nhà trường cần xây dựng tiêu GV trường THPT gắn với sự nghiệp phát triển giáo dục của tỉnh Bình Dương; Nâng cao nhận thức của CBQL, GV nhà trường về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng; Cải tiến nội dung, hình thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá

Với nghiên cứu “ Quản lý ĐNGV trường Trung học cơ sở Sông Lô, Tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” tác giả Lưu Đình Tuấn (2016) đã nêu

rõ quản lý ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới ĐNGV nhằm đạt các mục tiêu và nội dung giáo dục của nhà trường, hướng tới đáp ứng các yêu cầu của đổi mới giáo dục về chất lượng đội ngũ giáo viên từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển đội ngũ giáo viên ở trường như : Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ GV trong các trường trung học cơ sở; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong các trường trung học cơ sở; Tuyển dụng giáo viên trung học cơ sở chất lượng cao; Phân công nhiệm vụ và tổ chức công việc phù hợp với từng GV; Kiểm tra, đánh giá

GV phù hợp với thực tiễn phát triển của đội ngũ GV; Thực hiện tốt chính sách, chế

độ đãi ngộ đối với GV trong các trường Trung học cơ sở trên địa bàn

Liên quan đến công tác phát triển đội ngũ GV THPT ở tỉnh Yên Bái, Trần Văn Thái (2012) đề xuất những biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Yên Bái đến năm 2015, bao gồm: Nâng cao nhận thức của CBQL, GV nhà trường

về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên; Tuyển dụng giáo viên THPT giỏi chuyên môn nghiệp vụ; Phân công nhiệm vụ và tổ chức công việc phù hợp với từng GV;

Trang 26

Cải tiến nội dung, hình thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá; Thực hiện chế độ đãi ngộ đối với GV

Với bộ môn tiếng Anh, các đề tài chủ yếu nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học tiếng Anh như: “ Biện pháp quản lí dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT Tân Trào, Tuyên Quang theo tiếp cận phát triển năng lực người học” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2017) Nghiên cứu đã khảo sát và phân tích thực trạng dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT Tân Trào, Tuyên Quang Kết quả cho thấy công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT Tân Trào, Tuyên Quang còn nhiều hạn chế, vì thế để quản lí dạy học môn tiếng Anh đạt hiệu quả cao hơn cần: Nâng cao nhận thức của cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về sự cần thiết quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT; Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh theo quan điểm sư phạm tương tác; Tăng cường chỉ đạo việc soạn bài dạy tiếng Anh theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT; Thường xuyên kiểm tra giáo việc việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh

Bùi Thị Triệu Phúc (2013) “Thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông tại Bình Dương” nhấn mạnh muốn quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường THPT phải làm tốt công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Anh, quản lý về phương pháp giảng dạy của GV tiếng Anh

Đề cập đến đội ngũ giáo viên tiếng Anh có tác giả Đặng Thị Mai Hoa (2010) với đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông môn tiếng anh trên địa bàn thị xã Sơn Tây trong giai đoạn phát triển mới của Thủ Đô” Trên cơ

sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn, luận văn đã đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh cấp trung học phổ thông trên địa bàn xã Sơn Tây bao gồm: Nâng cao nhận thức của CBQL, GV nhà trường về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên; Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ GV; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV; Thực hiện tốt chính sách, chế độ đãi ngộ đối với

GV

Trang 27

Tác giả Nguyễn Tương Xuân Nghiêm (2012) đánh giá thực trạng đội ngũ

GV, đánh giá công tác xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ GV dạy tiếng Anh tại các trường tiểu học ở tỉnh Vĩnh Long với đề tài: “Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh cấp Tiểu học tỉnh Vĩnh Long” Trên cơ sở phân tích thực trạng đã xây dựng các giải pháp tập trung giải quyết các vấn đề về tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho GVTA; xây dựng và quy hoạch tổng thể về đội ngũ GVTA; xác định biên chế cho từng giai đoạn phát triển của tỉnh; công tác bổ sung và tuyển chọn GVTA; công tác kiểm tra, đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ; đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá; công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đào tạo và đào tạo lại GV tiếng Anh tiểu học theo chuẩn quốc tế (khung tham chiếu chung Châu Âu); đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học

Nguyễn Các Tâm (2014) trong đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” cho rằng đội ngũ GV là lực lượng then chốt của trường học, do vậy, phát triển đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết để làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục; Chất lượng đội ngũ giáo viên là vấn đề quan trọng hàng đầu, đồng thời cũng là vấn đề sống còn quyết định

sự tồn tại của tất cả các trường, các cơ sở giáo dục Đổi mới và tăng cường công tác quản lý phát triển đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là yêu cầu cấp bách trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, đòi hỏi phải tập trung giải quyết một cách triệt

để cả lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội và nhà trường.Trên cơ sở nghiên cứu tác giả đề xuất được 4 biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học như là đổi mới xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học tỉnh Lạng Sơn theo tiếp cận Khung năng lực ngoại ngữ Châu; Đổi mới tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học ; Đẩy mạnh tổ chức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học và tăng cường chính sách và môi trường tạo động lực cho đội ngũ GV tiếng Anh tiểu học phát triển

Trang 28

Cùng quan điểm với Nguyễn Các Tâm tác giả Lê Thị Thanh Thủy (2016) trong đề tài “Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục” Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn, các nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học có tính hệ thống dựa trên tiếp cận quản lý nguồn nhân lực và tiếp cận năng lực Trong đó, các tác giả đã tiếp cận nghiên cứu về các vấn đề như qui hoạch, xây dựng, quản lí, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên, từng bước hoàn thiện dần cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ nhà giáo, đồng thời đề xuất các biện pháp quản lí, phát triển đội ngũ nhà giáo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương, của nhà trường

Từ các nghiên cứu trên tác giả nhận thấy các tác giả đều tập trung vào công tác quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các cấp học khác nhau, tuy nhiên việc quản lý giáo viên tiếng Anh ở cấp học mầm non chưa có nhiều, đây là điểm khác biệt của đề tài này so với các nghiên cứu trước về đối tượng khảo sát và nội dung nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Có nhiều khái niệm về quản lý trong đó F.W Taylor là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản

lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật cho rằng: “Quản

lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.” (Nguyễn Thị Doan và cộng sự, tr 6)

Harold Koontz (1998) cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức), mục tiêu của quản lý là hình thành môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” (tr.7-8)

Stephen P Robbins (2004) định nghĩa: “Quản lý là tiến trình hoàn thành công việc một cách hiệu quả và đạt kết quả thông qua và cùng với người khác.” (tr 6)

Trang 29

Tác giả Gareth R Jones và Jennifer M George (2003), cho rằng: “Quản lý là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra tài nguyên nhân sự và các tài nguyên khác nhằm hoàn thành có kết quả và có hiệu quả mục tiêu của tổ chức.” ( tr.11)

Tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard (1995) giải thích: “Quản lý là quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, thông qua hoạt động của

cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức.” (tr.76)

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “QL là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định.” (Hoàng Phê, 1998, tr.772)

Đối với tác giả Trần Kiểm thì cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.” (Trần Kiểm,

Ở khía cạnh khác, tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1998) cho rằng “Quản lý là

sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tục của hệ thống

và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” ( tr.32)

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo (2012) “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung của

tổ chức” ( tr.176)

Theo tác giả Phan Văn Kha (2005), khái niệm quản lý trong hoạt động giáo dục được hiểu là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra

Trang 30

công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định.” (tr.23)

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ (1998) : “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” (tr.225)

Từ những khái niệm trên, trong khuôn khổ đề tài, khái niệm quản lý được

hiểu là: “Quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đ i tượng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất”

1.2.2 Đội ngũ Giáo viên

Đội ngũ là tập hợp gồm nhiều người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạo thành một lực lượng Khái niệm đội ngũ được sử dụng một cách phổ biến trong các tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như: đội ngũ tri thức; đội ngũ văn, nghệ sĩ; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đội ngũ y, bác sĩ

Trong lĩnh vực GD&ĐT, thuật ngữ đội ngũ cũng được sử dụng để chỉ những tập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống GD&ĐT Ví dụ ĐNGV, giảng viên, đội ngũ CBQL trường học

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” (Hoàng Phê, 1998, tr.245)

Luật giáo dục (2009) đã quy định cụ thể về tên gọi đối với từng đối tượng nhà giáo theo cấp giảng dạy và công tác Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo giảng dạy

và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên Trong

khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm như sau “GV l người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng, hình thành nhân cách của người học, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.”

Trang 31

ĐNGV được nhiều tác giả nước ngoài quan niệm như là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ có kiến thức, hiểu biết phương pháp dạy học và giáo dục, có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực, trí tuệ của họ đối với giáo dục Ở Việt Nam, khái niệm ĐNGV được các tác giả định nghĩa “Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” (Bùi Hiền- Nguyễn Văn Giao-Nguyễn Hữu Quỳnh – Vũ Văn Tảo, 2001; tr.38) Trong đề tài này, khái niệm ĐNGV được hiểu:

“Là một tập hợp người làm nghề dạy học – giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định, có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và phi vật chất trong khuôn khổ quy định của pháp luật Họ chính là nguồn lực quan trọng trong lĩnh vực giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông ”

1.2.3 Đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Đào tạo giáo viên không những phải đủ về số lượng mà phải có cơ cấu loại hình thích hợp và chất lượng để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giảng dạy và giáo dục cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp Cùng với năng lực chuyên môn, đội ngũ giáo viên cần có phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tâm, nhiệt huyết với nghề nghiệp Gắn với khái niệm “Đội ngũ giáo viên” thì giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập một tập hợp giáo viên dạy tiếng Anh được tổ chức thành một lực lượng, có

đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định và là những người đang công tác giảng dạy tại các trường mầm non do tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước Những GV này có thể là người tốt nghiệp cao đ ng, đại học chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh, hoặc có kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh cho trẻ em và được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, đối với giáo viên người bản xứ cần chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh quốc tế như TESOL, CELTA…

Trang 32

Như vậy, có thể quan niệm: “ĐNGV tiếng Anh mầm non ngoài công lập là một tập hợp giáo viên dạy tiếng Anh trong trường mầm non được tổ chức thành một lực lượng có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu giáo dục môn tiếng Anh mà trường mầm non ngoài công lập đã đề ra”

1.2.4 Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập

Thông qua khái niệm về “ Quản lý” và khái niệm về “ Đội ngũ giáo viên ” cho thấy rằng quản lý đội ngũ giáo viên là một nội dung thuộc phạm trù QLGD, đó

là quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục Ở cấp độ vi mô, quản lý ĐNGV chính là quản lý nhân sự trong nhà trường, đây là nguồn tài nguyên quý giá, quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường Quản lý ĐNGV cũng phải được thực hiện đầy đủ các nội dung của quy trình quản lý nguồn nhân lực như : kế hoạch hóa ĐNGV, tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, phân định trách nhiệm trong quản lý Phương thức quản lý ĐNGV cũng được thực hiện bằng các cách thức, biện pháp nhà quản lý sử dụng quyền lực quản lý tác động đến ĐNGV một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ vào việc đạt mục tiêu chung của nhà trường

Từ đó tác giả nhận định “Quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập là những tác động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch của cán bộ quản lý đến các GV dạy tiếng Anh trong trường mầm non nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục môn tiếng Anh m trường mầm non ngoài công lập đã vạch ra ”

1.3 Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên trong trường học

1.3.1 Vai trò của đội ngũ giáo viên trong trường học

Giáo viên đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục, lực lượng này là nhân tốt quyết định rất lớn đến quá trình hình thành phẩm chất và phát triển trí tuệ của người học Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học

kỹ thuật và công nghệ, toàn cầu hóa với sự cạnh tranh gay gắt giữa các nền kinh tế

đã đặt ra những yêu cầu mới trong công tác giáo dục nhằm đào tạo, phát triển năng lực người học đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội Điều này tạo nên nhiều áp lực cho công tác giáo dục ở nhà trường, các hoạt động giáo dục phải đổi mới để thích ứng

Trang 33

với sự kỳ vọng này, chính vì thế vai trò của giáo viên và hoạt động dạy học của họ trở nên thiết yếu và đặc biệt hơn bao giờ hết Giáo viên hiện nay không còn thực hiện vai trò là người truyền kiến thức một chiều đến người học mà còn phải đóng vai trò là người tổ chức, điều phối, giám sát quá trình giáo dục để trang bị cho người học những kỹ năng để tìm kiếm tri thức, tự học hỏi để phát triển năng lực bản thân thích ứng với những thay đổi của thế giới (Schleicher, 2012)

Cụ thể hơn, báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele UNESCO (1995) đã chỉ ra

rõ vai trò của giáo viên trong thời đại mới đội ngũ này đóng vai trò là người thiết

kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ, vai trò người canh tân trong trường học, họ thực hiện vai trò là người “hướng dẫn” học sinh cách học vì nội dung giáo dục không còn là kiến thức cụ thể, mà phải là phương pháp để giúp học sinh nắm vững kiến thức Phương pháp đó bao gồm cách phân tích, đánh giá vấn đề; tìm nguồn thông tin, chọn lọc và xử lý dữ liệu; biến dữ liệu thành kiến thức của mình

Phân tích về vai trò của GV và đội ngũ GV trong trường học hiện nay, tác giả Đặng Quốc Bảo (2012) xác định cụ thể “Giáo viên, đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục Sản phẩm của họ khác với sản phẩm của các loại hình lao động khác ở chỗ: sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là nhân cách - sức lao động” Thành quả của họ vừa tác động vào hình thái, ý thức xã hội, vừa hình thành sức lao động kỹ thuật thúc đẩy sự năng động của đời sống thị trường ở đây là thị trường sức lao động

Sứ mệnh của giáo viên và đội ngũ giáo viên có ý nghĩa cao cả đặc biệt, họ được xem là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Kết quả lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia Người ta nhận thấy rằng thành công của các cuộc cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào “ý chí thay đổi’ cũng như chất lượng giáo viên” (Raja Roy Singh, 1994, tr.115) Như vậy, có thể thấy giáo viên là lực lượng then chốt trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục để phát triển toàn diện người học, hiệu quả trong các hoạt động dạy học phụ thuộc vào năng lực và

Trang 34

chất lượng của đội ngũ này, do vậy, quản lý đội ngũ giáo viên có có tác động dây chuyền đến chất lượng dạy học và chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường

Do đó, quản lý đội ngũ GV hiệu quả sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sản phẩm

GD, quản lý đội ngũ GV rất phức tạp và thách thức vì phải đảm bảo đạt được mục tiêu của tổ chức, đáp ứng nhu cầu của tổ chức và đáp ứng mong đợi của xã hội Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì đòi hỏi chất lượng giáo dục ngày càng cao, đa dạng trong các loại hình đào tạo, nhu cầu về GD, sự xuất hiện của các tổ chức-hội đoàn, nhu cầu quyền lợi ngày càng tăng Từ đó, yêu cầu về năng lực của CBQL trong việc lập kế hoạch, tuyển dụng, tuyển chọn (những GV đủ năng lực), đào tạo-phát triển, tạo động lực và đánh giá (dự đoán để hỗ trợ khi có vấn đề) Như vậy, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý trường học ngoài việc thực hiện các chức năng quản lý, họ còn phải giám sát sự thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của

GV để hướng tới sự phát triển và đạt được thành công của người học Nói cách khác CBQL trường học phải thực hiện việc tuyển chọn GV, dự báo và giúp đỡ, phát triển

NS, và giữ những NV có năng lực ở lại trường (Chambers, 2001)

Từ vai trò của đội ngũ giáo viên trong trường học, định hướng đặc trưng của đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường mầm non ngoài công lập được xác định dựa trên số lượng và chất lượng

Về số lượng : Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Đào tạo giáo viên không những phải đủ về số lượng mà phải có cơ cấu loại hình thích hợp

và chất lượng để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giảng dạy và giáo dục cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp Một trong những nội dung quan trọng để quản lý đội ngũ giáo viên chính là yêu cầu về số lượng

Về chất lượng : Cùng với năng lực chuyên môn, đội ngũ giáo viên cần có phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tâm, nhiệt huyết với nghề nghiệp Trình độ giáo viên cần đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, GV cần có chứng chỉ sư phạm, có lòng yêu trẻ, hiểu đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non

Trang 35

1.3.2 Nhiệm vụ, yêu cầu của đội ngũ giáo viên trong trường học, tầm quan trọng trong công tác quản lý đội ngũ GV

1.3.2.1 Nhiệm vụ v yêu cầu của đội ngũ giáo viên trong trường học

Nhiệm vụ của GD là đào tạo ra những cá nhân có phẩm chất đạo đức, có trình độ văn hóa và tay nghề vì vậy đòi hỏi chất lượng của lực lượng đào tạo ngày càng cao Bên cạnh đó, những quyết định về nguồn nhân sự ảnh hưởng trực tiếp tới giảng dạy và kết quả học tập của người học, đạo đức và sự hài lòng của nhân sự tương ứng với thành công trong giảng dạy và chi phí đào tạo (Martin, 2010; Ezenne, 2012)

Vì tính chất đặc biệt của giáo dục và sản phẩm của quá trình giáo dục là đào tạo con người nên giáo viên phải hội đủ các yêu cầu về chuyên môn, về phẩm chất nhà giáo và đạo đức nghề nghiệp OECD (2006) đã chỉ ra những yêu cầu chung đối với giáo viên, trước tiên họ phải có kiến thức phong phú về chương trình và môn học giảng dạy, phải có kiến thức và khả năng thực hiện các kỹ năng sư phạm Ngoài

ra, giáo viên phải là những người có khả năng tuy duy, phân tích và giải quyết các vấn đề sư phạm dựa trên sự tôn trọng phẩm giá của người khác, có năng lực quản lý các hoạt động học tập trong và ngoài lớp học

Để hoàn thành những vai trò này, giáo viên phải được đào tạo và bồi dưỡng

để có năng lực thực hiện, cụ thể giáo viên cần được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là “thợ dạy”, họ cần được bồi dưỡng để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới, điều quan trọng hơn họ cần được học cách thích ứng với người học thay vì bắt buộc người học phải tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo truyền thống

Trong bối cảnh của Việt nam, giáo viên được chỉ định rõ là những người thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường (Luật Giáo dục, 2009) Đội ngũ này phải hội đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống như chấp hành các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của nhà nước (QĐ số 02/2008/QĐ-BGDĐT), yêu nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, tham gia các hoạt động xây dựng bảo vệ quê hương đất nước góp

Trang 36

phần phát triển đời sống kinh tế, văn hoá, cộng đồng; thực hiện các quy định của địa phương, giáo dục trẻ và vận động gia đình, mọi người xung quanh chấp hành các chính sách, pháp luật của nhà nước và các quy định ở địa phương; chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động; có đạo đức, nhân cách

và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ

Đối với giáo dục mầm non với những đặc điểm rất đặc thù trong giáo dục trẻ, giáo viên được yêu cầu phải có các kiến thức cơ bản về GDMN như đặc điểm tâm sinh lý trẻ, về giáo dục hòa nhập, nắm vững mục tiêu, nội dung GDMN cũng như có kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ Bên cạnh đó, GV phải có kiến thức về chăm sóc sức khỏe trẻ mầm non, có kỹ năng để giáo dục trẻ tự lập trong tự phục vụ bản thân và có kiến thức về chế độ dinh dưỡng và cách xử trí một số bệnh thường gặp ở trẻ

Mặt khác, giáo viên phải có hiểu biết về phát triển thể chất trẻ, các hoạt động vui chơi và các hoat động khác nhằm phát triển tiềm năng của trẻ, những kiến thức liên quan về môi trường học tập, môi trường xã hội và môi trường để trẻ phát triển ngôn ngữ cũng là những vấn đề GVMN phải được trang bị để giáo dục giúp trẻ phát triển không chỉ về trí tuệ mà còn phát triển về nhân cách và các kỹ năng xã hội Để đạt các mục đích này, GV phải nắm chắc về các phương pháp giáo dục để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mỹ GVMN cũng phải được trang bị để có những kiến thức phổ thông về chính trị, kinh

tế, văn hóa xã hội để từ đó có thể giáo dục trẻ hiệu quả và thực tiễn Ngoài ra, GVMN ngày nay cần có những kiến thức và kỹ năng cơ bản về công nghệ thông tin, ngoại ngữ và biết cách sử dụng một số phương tiện nghe nhìn trong công tác giáo dục MN (Điều 6, chương 2, Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non,

2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT)

Trong hoạt động giảng dạy nói chung và dạy tiếng Anh mầm non nói riêng, giáo viên tiếng Anh ở cấp học mầm non có nhiệm vụ chính là giảng dạy, việc dạy

Trang 37

tiếng Anh cho học sinh mầm non cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh

Ở giai đoạn này năng lực nhận thức của các em được hình thành phát triển dựa trên

cơ sở tư duy cụ thể Do vậy việc dạy tiếng Anh cho các em phải xuất phát trên sự hứng thú, sở thích và trải nghiệm của chính các em, trẻ mầm non chưa có khả năng học ngoại ngữ một các có hệ thống và phân tích ngôn ngữ một cách mạch lạc nên phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ cần phải thông qua các hoạt động Nghĩa là phải tạo cơ hội cho trẻ tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động giao tiếp để hình thành các kỹ năng ngôn ngữ thông qua tình huống giao tiếp phong phú, hấp dẫn

Đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập cũng như đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non được quy định giáo viên có bằng tốt nghiệp cao đ ng sư phạm ngoại ngữ (hoặc cao đ ng ngoại ngữ) trở lên, đạt năng lực ngoại ngữ bậc 4 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (ban hành kèm theo Thông tư số 01/2014/TT-BGD&ĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) hoặc tương đương và được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm mầm non và theo Khoản 3, điều 23 Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ngoài công lập (ban hành kèm Quyết định số 39/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/8/2001 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo) Ngoài ra giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn của nhà giáo về phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp

Bên cạnh đó trường ngoài công lập là trường hoạt động dựa trên cơ chế tự chủ tài chính, nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, thu hút các nguồn lực xã hội để làm giáo dục, tuân thủ pháp luật hiện hành, phù hợp với điều lệ giáo dục Việt Nam Các trường ngoài công lập là hệ thống do các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức cá nhân đứng ra thành lập tùy thuộc vào số lượng các thành viên góp vốn, trong cơ cấu

tổ chức quản lý của trường ngoài công lập còn được phép tồ chức Hội đồng quản trị, Khoản 1 điều 12 “Hội đồng quản trị là tổ chức đại diện quyền sở hữu của nhà trường, có trách nhiệm và quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản của trường” (Quyết

Trang 38

định số 39/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/8/2001) Do đó Cán bộ quản lý, giáo viên

cơ hữu và nhân viên của trường ngoài công lập không ở trong biên chế nhà nước nên việc tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non theo cơ chế tự chủ, thực hiện các chế độ theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động; được hưởng chế độ tiền công, tiền lương hợp lý theo kết quả hoạt động của trường, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Chính vì thế mà vấn đề xây dựng và quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Anh mầm non ngoài công lập, nhất là nhiệm vụ nâng cao nhận thức ý thức về lao động

sư phạm của đội ngũ giáo viên tiếng Anh ngoài công lập không chỉ cho đội ngũ giáo viên đang công tác trong các nhà trường này, mà cho toàn xã hội là công việc rất cần thiết

1.3.2.2 Tầm quan trọng trong công tác quản lý đội ngũ GV

Để tạo ra được đội ngũ GV có hiệu quả thì các nhà quản lý phải biết cách sử dụng và quản lý theo các kế hoạch đã được vạch ra Thường xuyên đánh giá năng lực làm việc của GV thông qua kết quả lao động và các đợt thi đua về các mặt như

kỹ năng chuyên môn, thành tích, khả năng sáng tạo, đóng góp cho tổ chức Để phát triển bền vững, tổ chức cần tạo ra được một nguồn nhân lực ổn định và ngày càng được cải thiện về chất lượng, sự lớn mạnh của nhà trường là ở đó Công tác quản lý đội ngũ GV nhằm thỏa mãn các mục tiêu:

Thứ nhất là mục tiêu xã hội: Ngoài mục tiêu của nhà trường thì tổ chức cần hướng tới mục tiêu về xã hội Tìm hiểu những nhu cầu xã hội đang cần, thoả mãn lợi ích xã hội, như vậy tổ chức mới tồn tại được lâu dài

Thứ hai là mục tiêu cá nhân: Đây là điều quan trọng mà các nhà quản lý quan tâm đến Muốn đạt được mục đích quản lý con người thì phải tạo điều kiện cho người quản lý lao động phát huy sức mạnh, tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần Mỗi cá nhân có thoả mãn được nhu cầu thì họ mới đóng góp xứng đáng cho những

gì họ được hưởng, đó là tâm lý chung của người lao động

Trang 39

Thứ ba là mục tiêu tổ chức: Để nhà trường hoạt động một cách hiệu quả với điều kiện nguồn nhân lực và thực tế đang có để phù hợp với yêu cầu khách quan của môi trường và yêu cầu của chính nhà trường đặt ra

Thứ tư là mục tiêu của các bộ phận chức năng: Các phòng ban, bộ phận phải thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời kết hợp các phòng ban , bộ phận khác thực hiện mục tiêu chung của nhà trường

Quản lí đội ngũ giáo viên là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia hỗ trợ phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, HS… nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng, mục tiêu và chất lượng đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới Yêu cầu cụ thể:

Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ; Thực hiện các chính sách, chế độ để đảm bảo sức khoẻ và dinh dưỡng cho GV; Sắp xếp, bố trí công việc một cách hợp

lý phù hợp với số lượng và cơ cấu đội ngũ; Tăng cường cơ chế dân chủ hoá trong nhà trường, giải phóng giáo viên khỏi những việc làm không cần thiết, giúp họ tự phát triển bản thân Tuy nhiên, một số thành tố khác, như: GD&ĐT để toàn ĐN đạt đến sự chuẩn hoá, hiện đại hoá; Tạo ra môi trường làm việc tốt nhất, đảm bảo tính hợp lý, tính xã hội hoá và tính đồng thuận trong tổ chức là những yếu tố mang màu sắc giáo dục học, cần khai thác chúng dưới góc độ quản lý giáo dục

Chính vì vai trò quan trọng của đội ngũ giáo viên nên các nội dung liên quan đến việc quản lý đội ngũ này luôn được đề cao, cụ thể là trong lĩnh vực tuyển dụng, phân bổ công việc, quản lý hoạt động giảng dạy, quản lý hoạt động lên lớp, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học; bồi dưỡng và phát triển GV; kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên

1.3.3 Nội dung quản lý đội ngũ GV trong trường học

Triết lý về nhân lực, về cách xử sự của cán bộ quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả việc làm của giáo viên, nó tác động trực tiếp tới bầu không khí tập thể,

Trang 40

đến hiệu quả của quá trình hoạt động của nhà trường Có rất nhiều học thuyết về quản lý nguồn nhân lực trong đó có 3 học thuyết đáng chú ý đó là:

Thứ nhất theo thuyết X ( học thuyết của trường phái cổ điển – Taylor): Với nhận thức con người như một loại công cụ lao động, quan niệm này cho ta thấy rõ rằng về bản chất con người không muốn làm việc, họ quan tâm nhiều tới cái mà họ kiếm được chứ không phải việc họ làm, ít người muốn và có thể làm những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, độc lập và tự kiểm soát Vì vậy, để quản lý đội ngũ giáo viên đạt hiệu quả thì CBQL phải có chiến lược quản lý phù hợp nhằm tạo động lực, phát huy cao nhất khả năng đóng góp vào thực hiện các mục tiêu của tổ chức, ví dụ như cần tạo điều kiện GV tham gia các lớp bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chú trọng đến các chế độ chính sách cho giáo viên

Thứ hai theo thuyết Y (Gregor, Maslow) cho rằng con người luôn tiềm ẩn những khả năng rất lớn, cần được khơi gợi và khai thác dù họ ở cương vị nào cũng

có tinh thần trách nhiệm và muốn làm việc tốt Họ luôn thấy mình có ích, thích được tôn trọng, được chia sẻ trách nhiệm, tự kh ng định mình Như vậy, đội ngũ

GV cần được tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp, kh ng định năng lực của bản thân trong tập thể nhà trường

Thứ ba theo thuyết Z (Elton Mayo): Quan điểm này là của nhà tâm lý xã hội học ở các nước tư bản công nghiệp đã phát triển, đặc biệt là Nhật Họ quan niệm về người lao động như sau: Người lao động được thỏa mãn là chìa khóa dẫn tới năng suất lao động cao Sự tin tưởng tuyệt đối, sự tế nhị trong cư xử và sự phối hợp chặt chẽ trong tập thể là yếu tố quyết định thành công của tổ chức

Từ các học thuyết khác nhau dẫn tới hệ thống Quản trị nhân lực tương ứng với các quan điểm như sau:

Hệ thống quản lý theo quan điểm X: Phân chia công việc thành các thao tác, động tác, cử động đơn giản lặp đi lặp lại để học, thường xuyên giám sát đốc thúc, kiểm tra hệ thống trật tự rõ ràng và có hệ thống chế độ khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh rõ ràng

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w