Với đề tài này tôi mong muốn được đóng góp một phần về mặt lý luận cho nghiên cứu các loại hình gia đình đặc thù ở trong nước hiện nay; đồng thời áp dụng phương pháp thực hành Công tác
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Hải Thanh
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, quý thầy cô giáo khoa Công tác xã hội, quý thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy các môn học trong suốt quá trình học tập của em Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe, hạnh phúc và mãi là những người đưa đò, đưa những học viên như em được cấp bến thành công của tri thức Bằng những tâm huyết, chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của mình, thầy cô đã truyền dạy cho em thêm nhiều kiến thức, sự hiểu biết để phục vụ cho quá trình học tập và công việc chuyên môn hiện tại của em Đặc biệt hơn nữa, thầy
cô là những người đã truyền cho em thêm những kinh nghiệm thực tiễn, lòng nhiệt huyết
và thêm yêu ngành nghề mà bản thân đã lựa chọn - nghề Công tác xã hội
Hơn hết em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Lê Hải Thanh - người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho em rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy, em đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các phòng, ban, đoàn thể của huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, các chị - những người phụ nữ đơn thân và người dân trong cộng đồng huyện Hóc Môn đã tận tình giúp đỡ và hợp tác với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để luận văn của em được hoàn chỉnh và chất lượng hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
Học viên
Trần Thị Hồng Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do tự tôi thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác; có sự hướng dẫn, hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Lê Hải Thanh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng số liệu, số liệu trong các biểu đồ và hội thoại phỏng vấn sâu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá do chính tôi khảo sát, thu thập và xử lý từ thực địa nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của một số tác giả,
cơ quan tổ chức khác được trích dẫn rõ ràng và thực hiện phần ghi chú, tài liệu tham khảo theo đúng quy định
Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
Học viên
Trần Thị Hồng Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
2.1 Về ý nghĩa khoa học 3
2.2 Về ý nghĩa thực tiễn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, khách thể liên quan, nội dung nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Khách thể nghiên cứu 4
4.3 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp luận 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 10
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 110
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 11
1.2 Cơ sở lý luận 17
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 17
1.2.2 Khái niệm công cụ 19
1.2.3 Lý luận về CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 21
1.2.4 Nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 22
1.2.5 Hướng tiếp cận nghiên cứu 25
1.3 Các lý thuyết vận dụng trong luận văn 27
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 27
1.3.2 Lý thuyết hệ thống - sinh thái 30
1.3.3 Lý thuyết thân chủ trọng tâm 33
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 35
1.4.1 Yếu tố bản thân nhân viên CTXH 35
1.4.2 Yếu tố đặc điểm đối tượng 35
1.4.3 Yếu tố về chính sách và kinh phí 35
1.5 Các văn bản và chính sách liên quan 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 39
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 43
2.2 Đời sống phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn 52
2.2.1 Về mặt đời sống vật chất 52
2.2.2 Về mặt đời sống tinh thần 53
2.2.3 Về trình độ học vấn – nghề nghiệp 56
Trang 62.2.4 Về nhà ở 57
2.2.5 Vấn đề về sức khỏe 58
2.2.7 Về mối quan hệ 60
2.2.8 Về đặc điểm tâm lý 62
2.3 Nhu cầu chung của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 64
2.4 Thực trạng Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 71
2.4.1 Nhận thức, đánh giá của đối tượng về công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại địa bàn 71
2.4.2 Tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ CTXH cá nhân của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 72
2.4.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu của Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 73
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 75
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78
3.1 Nhu cầu hoạt động CTXH cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 78
3.2 Xây dựng kế hoạch can thiệp (dự kiến) 79
3.3 Tiến trình CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh (đối với trường hợp cụ thể) 82
3.3.1 Bước 1: Tiếp cận thân chủ và xác định vấn đề ban đầu 89
3.3.2 Bước 2: Thu thập thông tin 87
3.3.3 Bước 3: Chẩn đoán 89
3.3.4 Bước 4: Lập kế hoạch trị liệu 95
3.3.5 Bước 5: Trị liệu 97
3.3.6 Bước 6: Lượng giá 100
3.3.7 Bước 7: Kết thúc vấn đề 101
3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng tiến trình CTXH cá nhân với phụ nữ đơn thân nghèo nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 101
3.5 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 102
3.5.1 Vai trò là một nhà giáo dục 103
3.5.2 Vai trò là người trung gian - kết nối 104
3.5.3 Vai trò là người tạo thuận lợi 104
3.5.4 Vai trò là chất xúc tác 105
3.5.5 Vai trò là người biện hộ 105
3.5.6 Vai trò là người vận động/hoạch định chính sách 105
KẾT LUẬN 107
KHUYẾN NGHỊ 108
1 Với Đảng, Nhà nước 108
2 Với chính quyền địa phương 108
3 Với cộng đồng 108
4 Với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 7BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa CTXH Công tác xã hội
HĐND Hội đồng nhân dân
LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội LHPN Liên hiệp phụ nữ
Trang 84 Bảng 2.4 Lý do dẫn đến hoàn cảnh đơn thân của phụ nữ 48
5 Bảng 2.5 Phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ phân theo nhóm tuổi 50
6 Bảng 2.6 Độ tuổi con của những bà mẹ đơn thân được khảo sát 51
7 Bảng 2.7 Thu nhập hàng tháng của phụ nữ nghèo đơn thân 52
8 Bảng 2.8 Thực trạng phụ nữ đơn thân tham gia các hoạt động nâng
9 Bảng 2.9 Trình độ học vấn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
10 Bảng 2.10 Lý do không đến cơ sở y tế khám chữa bệnh 59
11 Bảng 2.11 Thời gian làm việc trung bình trong ngày của phụ nữ
12 Bảng 2.12 Nhu cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
13 Bảng 3.1 Kế hoạch can thiệp dự kiến 79
14 Bảng 3.2 Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống thân chủ 92
15 Bảng 3.3 Kế hoạch can thiệp cụ thể 95
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ thu nhập của phụ nữ nghèo đơn thân muôi con nhỏ
2 Biểu đồ 2.2 Số lần đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của phụ nữ
3 Biểu đồ 2.3 Đánh giá mức độ quan trọng của công tác xã hội cá nhân
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 72
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
1 Hình 1.1 Tháp nhu cầu Maslow 28
2 Sơ đồ 1.2 Hệ thống sinh thái của thân chủ 32
3 Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phả hệ thân chủ 90
5 Sơ đồ 3.3 Cây vấn đề của thân chủ 93
DANH MỤC HỘP
1 Hộp 1 Ý kiến của phụ nữ đơn thân nghèo về việc sống ở Hóc Môn 48
2 Hộp 2 Ý kiến ban ngành huyện Hóc Môn về lý do đơn thân của phụ
3 Hộp 3 Ý kiến của phụ nữ nghèo đơn thân về mối quan hệ gia đình 61
4 Hộp 4 Ý kiến về nhu cầu nhà ở của phụ nữ nghèo đơn thân 66
6 Hộp 6 Nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội cá nhân của phụ nữ nghèo
7 Hộp 7 Ý kiến của cán bộ địa phương về hiệu quả của công tác xã
8 Hộp 8 Ý kiến của cộng tác viên công tác xã hội 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền văn minh thế giới đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự tăng lên của vật chất xã hội nhưng cho đến nay, đói nghèo vẫn là một nỗi ám ảnh, đeo đẳng trên vai con người ở khắp thế giới Nó diễn
ra ở tất cả các nước và với mức độ khác nhau, nhất là nước đang phát triển tình trạng này càng nặng nề hơn Theo quan điểm của Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội
Trương Thị Mai (2008) tại diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững” cho rằng: “Phụ nữ thường phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn nam giới và chính họ là những người nghèo nhất trong số những người nghèo" (Nguyễn Thị Thái
Lan và Bùi Thị Xuân Mai, 2011) Theo thống kê thì trong nhóm nghèo phụ nữ lại chính
là những người chiếm đa số, với 70% trong số 1,3 tỷ người nghèo trên thế giới là phụ
nữ (Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 2002)
Nhóm hộ nghèo ở Việt Nam đa số là phụ nữ người dân tộc thiểu số, phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa thuộc biên giới hải đảo, vùng miền núi, nông thôn, ngoại thành Ở nông thôn với trên 70% dân số có ít nhất trên 20 triệu phụ nữ nghèo chủ yếu nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công (Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 2002) Ở thành thị, phụ nữ nghèo chính là những người sống trong các ngôi nhà "ổ chuột", trong những dãy nhà trọ nhỏ hẹp hay ở khu vực ngoại thành, đa số họ là lao động tự do, thu mua đồng nát, nhặt rác, ngồi bán hàng nhỏ lẻ ở các chợ, làm thuê, công nhân, và nhiều người trong số họ có hoàn cảnh đơn thân Trong những năm gần đây
số lượng các gia đình đơn thân có xu hướng tăng lên Theo dữ diệu của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, năm 2012 cả nước có khoảng 7,64% gia đình đơn thân, thì đến tháng 6 năm 2016 tỷ lệ đã tăng lên thành 11,17% Như vậy, hình thái gia đình đơn thân tưởng như mới mẻ nhưng vẫn luôn tồn tại song song với kiểu gia đình truyền thống, với những đặc điểm, hoàn cảnh, tâm lý, đời sống riêng cần sự thừa nhận và quan tâm của xã hội
Trong cuộc sống, người phụ nữ nào cũng luôn mong có một mái ấm gia đình hạnh phúc Nhưng thực tế xã hội vẫn còn nhiều thân phận phụ nữ đơn thân với hoàn cảnh và
lý do khác nhau Họ có thể là những người phụ nữ quá tuổi lấy chồng hoặc mang sự tự
ti, khiếm khuyết nào đó nên đã lựa chọn cuộc sống không hôn nhân Nhưng với bản năng của người phụ nữ, họ vẫn muốn có thiên chức được làm mẹ nên họ chọn cách có con với người đàn ông bí mật nào đó Cũng có những trường hợp phụ nữ đã ly hôn nhưng không muốn tái hôn hoặc có chồng đã chết, chồng bỏ đi đang sống một mình Cũng có những cô gái do bồng bột của tuổi mới lớn hay bởi những cám dỗ của cuộc sống mà lỡ mang thai và trở thành những bà mẹ đơn thân Những trường hợp đó hầu hết rơi vào hoàn cảnh mẹ đơn thân một cách bị động Chính vì thế, cuộc sống của họ thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nghèo túng Trong hoàn cảnh “một vai hai gánh” vừa
Trang 11làm kinh tế, vừa chăm sóc con cùng nhiều vai trò khác nhưng lại mang trong lòng nhiều
sự thiếu thốn tình cảm, hạn chế giao tiếp rất áp lực
Hóc Môn - một huyện thuộc ngoại thành nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của Thành phố
Hồ Chí Minh Hiện tổng số dân của huyện tính đến năm 2018 là 446.056 người, trong
đó số phụ nữ đơn thân nghèo đang nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi theo thống kê chưa đầy đủ của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện là khoảng hơn 415 người Lý do dẫn đến tình trạng đơn thân của phụ nữ nghèo đơn thân cũng rất đa dạng: chồng mắc tệ nạn xã hội nên mất sớm và ly hôn; sinh con không có hôn nhân, Cuộc sống của họ luôn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn về kinh tế, thiếu thốn tình cảm dẫn đến ảnh hưởng tâm sinh lý, điều kiện về nhà ở chưa đảm bảo, tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục còn hạn chế
Đây như một hiện tượng xã hội phổ biến trong cuộc sống hiện nay đòi hỏi chúng
ta không xem xét như là những chuyện của cá nhân, gia đình mà cần nhìn nhận dưới góc độ, trách nhiệm của xã hội đối với nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương (nghèo, phụ nữ, trẻ em) Nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đang ngày một tăng lên nên rất cần
sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể và các tổ chức xã hội, cộng đồng Điều này, sẽ giúp cho họ có thêm động lực để khắc phục được khó khăn CTXH với vai trò, trách nhiệm cần đề ra những giải pháp can thiệp, hỗ trợ hiệu quả như giải pháp về sinh kế bền vững, can thiệp giúp ổn định tâm lý, nâng cao năng lực bản thân; tương tác, hòa nhập cộng đồng tốt hơn; cung cấp kiến thức về giáo dục con cái; thực hiện các biện pháp tăng cường ứng biến với hoàn cảnh khó khăn mà đối tượng gặp phải là nhiệm vụ của các cấp, các ngành nói riêng và cộng đồng nói chung để giảm bớt khó khăn cho họ CTXH với tư cách là một nghề chuyên nghiệp hướng tới sự trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội vượt qua các nan đề do đó nhân viên CTXH là nhân tố quan trọng trong sự trợ giúp những đối tượng từng bước ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống
Xuất phát từ thực tiễn những vấn đề khó khăn của người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cần được cần được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học Trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp, mô hình can thiệp hiệu quả, bền vững Từ những lý do trên, tôi
lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình Với đề
tài này tôi mong muốn được đóng góp một phần về mặt lý luận cho nghiên cứu các loại hình gia đình đặc thù ở trong nước hiện nay; đồng thời áp dụng phương pháp thực hành Công tác xã hội nhằm trợ giúp cho đời sống phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ được cải thiện hơn; bên cạnh đó cũng đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao hoạt động công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ góp phần xây dựng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố nói riêng và của đất nước nói chung
Trang 122 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Về ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu có hệ thống hoạt động CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và có những đóng góp mới sau đây:
- Luận văn sẽ góp phần bổ sung về nhận thức cho những quan điểm lý luận nghiên cứu về phụ nữ đơn thân, nghèo có thể làm nguồn tài liệu tham khảo hữu ích của chuyên ngành xã hội học gia đình, xã hội học giới, công tác xã hội
- Vận dụng cơ sở lý luận và hoạt động CTXH cá nhânđối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ góp phần hoàn thiện phương pháp CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Khái quát, nhận định thực trạng hoạt động CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Hóc Môn một cách hệ thống phù hợp là cơ sở
dữ liệu cho những nghiên cứu liên quan, có thể tham khảo, rút kinh nghiệm
Bài viết cũng đưa ra những khuyến nghị góp phần hoàn thiện CTXH cá nhân trong trợ giúp người phụ nữ đơn thân và từ đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Góp phần các đơn vị, tổ chức xã hội và bản thân
họ nhận diện đúng vấn đề, nhu cầu và lựa chọn giải pháp hợp lý giúp cải thiện tình hình
Đối tượng của luận văn hướng tới nghiên cứu là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh Chính vì thế, một ý nghĩa thực tiễn mà đề tài mang lại là giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng đời sống, những khó khăn mà phụ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ gặp phải và có những hướng hỗ trợ để họ ổn định cuộc sống Đặc biệt là vận dụng tiến trình CTXH cá nhân vào việc hỗ trợ họ tiếp cận những dịch vụ và những nguồn lực có sẵn
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng tiến trình CTXH cá nhân vào việc trợ giúp đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị để để việc áp dụng hiệu quả tiến trình CTXH cá nhân nói riêng và áp dụng các phương pháp của CTXH vào trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân vượt qua những khó khăn, vươn lên ổn định ổn định và hòa nhập với cộng đồng xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những kết quả nghiên cứu đi trước để hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn về vận dụng tiến trình CTXH cá nhân vào việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Tìm hiểu về đặc điểm xã hội và thực trạng đời sống của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để có những đánh giá về nhu cầu của họ và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến CTXH với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Đưa ra các khuyến nghị, giải pháp CTXH cá nhân trong hỗ trợ giải quyết những vấn đề và khó khăn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
4 Đối tượng, khách thể liên quan, nội dung nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn
4.2 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ đơn thân nghèo tại huyện Hóc Môn đang nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi Cụ thể, gồm hai nhóm: phụ nữ làm mẹ đơn thân là chủ hộ gia đình và phụ nữ làm mẹ đơn thân không là chủ hộ gia đình
- Phạm vi địa bàn: Điều tra bảng hỏi của luận văn được tiến hành ở 8 xã của Huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh trên tổng số 11 xã và 01 thị trấn của huyện Hóc Môn
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa từ tháng 10/2018 đến tháng 7/2020 Khảo sát thu thập số liệu sơ cấp tại thực địa được tiến hành từ tháng 3/2019 đến tháng
Trang 147/2019 Các cuộc phỏng vấn nhằm bổ sung cho các mục tiêu cụ thể của luận văn được tiếp tục thực hiện từ tháng 9/2019 đến tháng 4/2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối, chính sách về bảo đảm đời sống cho phụ nữ đơn thân, đặc biệt là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin Luận
án dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lê nin, bao gồm:
Thứ nhất, đó là nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, nghiên cứu sự vật, hiện
tượng như bản thân chúng đang tồn tại, không phán đoán chủ quan mà các kết luận phải dựa trên những chứng cứ khoa học tin cậy
Thứ hai, đó là nguyên tắc nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển Mỗi
sự vật, hiện tượng trong xã hội và tự nhiên đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất Nguyên tắc này đòi hỏi phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một hệ thống, đặt sự vật, hiện tượng trong môi trường với những mối liên hệ của nó
Thứ ba, trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội; thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý; thực tiễn kiểm chứng nhận thức
Phương pháp luận thực chứng trong xã hội học, với các số liệu và bằng chứng khảo sát thực nghiệm thu được sẽ tìm hiểu và luận giải thấu đáo các vấn đề liên quan đến thực hiện tiến trình CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Ngoài ra, đề tài luận văn cũng sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu và có tính phổ biến như: Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp phân tích kết hợp giải thích và tổng hợp, khái quát hóa,… nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu và đạt được mục đích nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp:
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu:
Trang 15-Thông qua các giáo trình, tài liệu liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH,
Lý thuyết CTXH, Phát triển cộng đồng, Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích nghiên cứu khoa học về các vấn đề CTXH liên quan đến phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của Thành phố, Trung ương như: các dự án
hỗ trợ phụ nữ học nghề và tạo việc làm; các dự án phát huy giá trị tốt đẹp của các mối quan hệ gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững; báo cáo về hoạt động cho vay, hoạt động từ thiện và hoạt động câu lạc bộ phụ nữ, tình hình thực hiện; báo cáo kết quả năm 2017 của huyện Hóc Môn và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018,
2019
- Đọc, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, giúp đỡ những phụ nữ này
- Phương pháp phân tích định lượng:
Bảng câu hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập các thông số, mức
độ, tần số, các ý kiến xoay quanh các vấn đề nghiên cứu, trong đó sử dụng hệ thống các câu hỏi khác nhau như câu hỏi đóng, câu hỏi mở, kết hợp…để thu thập các thông tin nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu Tác giả chọn phương pháp khảo sát, điều tra
xã hội học bằng phiếu phỏng vấn được chuẩn bị sẵn để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu Các câu hỏi được sắp xếp theo trật tự hợp lý, logic và từ ngữ rõ ràng, phù hợp với đặc điểm trình độ, chuyên môn, lứa tuổi của người được hỏi nhằm tạo cho phụ huynh và trẻ em thái độ cởi mở, gợi lên ở họ tính tích cực, hợp tác đối với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi là được thực hiện trên hình thức hỏi đáp trực tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước Đề tài thực hiện phỏng vấn bằng bảng hỏi trực tiếp với 97 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ (dưới 18 tuổi) tại huyện Hóc Môn để thu thập các thông tin chung về thực trạng đời sống của họ như điều kiện về nhà ở, thu nhập, các nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con; tìm hiểu về thực trạng hoạt động CTXH trên địa bàn đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ như các hoạt động hỗ trợ xã hội, hỗ trợ các nguồn lực, hoạt động tuyên truyền…, của nhân viên CTXH đối với thân chủ
Chọn mẫu được thực hiện theo các bước
- Xác định quy mô mẫu
- Lập danh sách mẫu (phân chia theo 11 xã, 01 thị trấn thuộc huyện Hóc Môn)
- Chọn 97 mẫu từ danh sách mẫu theo tỷ lệ mẫu của từng xã, thị trấn
Sau khi xác định được danh sách mẫu, tác giả tiến hành khảo sát các mẫu, có sự
hỗ trợ từ đoàn thể, chính quyền địa phương để tăng tính hợp tác và khả năng khai thác thông tin cao hơn Điều tra viên phát phiếu điều tra và trả lời hướng dẫn chung về các
Trang 16câu hỏi, người được hỏi tự đọc câu hỏi trong phiếu, sau đó ghi câu trả lời vào phiếu và gửi cho điều tra viên
Phương pháp xử lý số liệu:
Sau khi phỏng vấn bằng bảng hỏi trực tiếp tại địa bàn nghiên cứu, các thông tin thu được được xử lý qua chương trình SPSS (phiên bản 16.0) để làm rõ về thực trạng đời sống của họ như điều kiện về nhà ở, thu nhập, các nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con; tìm hiểu về thực trạng hoạt động CTXH trên địa bàn đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ như các hoạt động hỗ trợ xã hội, hỗ trợ các nguồn lực, hoạt động tuyên truyền…, của nhân viên CTXH đối với thân chủ
Tuy khảo sát với mẫu đại diện ở quy mô nhỏ (do giới hạn thời gian của tác giả và hoàn cảnh bận rộn sinh kế của đối tượng khảo sát), gồm 97 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nhưng số liệu và thông tin thu thập được kỳ vọng sẽ mang tính đại diện phần nào cho tổng khách thể nghiên cứu Tuy nhiên, do chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất và ngẫu nhiên đơn giản nên khi phân tích số liệu, học viên cẩn trọng hơn khi khái quát kết quả khảo sát, vì tính đại diện có hạn chế
- Phương pháp phân tích định tính:
Phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Học viên sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin khách quan từ phía người trả lời (phụ nữ đơn thân nghèo và cán bộ, đoàn thể có liên quan) nhằm đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu Trong quá trình thực hiện phỏng vấn thì vừa có thể kết hợp với phương pháp quan sát để kiểm tra độ tin cậy của thông tin thu được qua hành vi, thái độ và ý thức của người được phỏng vấn
Do vậy, thông tin có được mang tính đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và dễ xác định hơn Trong nghiên cứu này, kỹ thuật được sử dụng để hiểu rõ hơn về câu trả lời của người trả lời đối với các câu hỏi liên quan, tìm hiểu sâu suy nghĩ, thái độ cảm xúc, động cơ, ý kiến và quan điểm
Tác giả sử dụng phỏng vấn sâu tổng số là 13 người Khác với các kỹ thuật cụ thể khác, việc phỏng vấn sâu được học viên thực hiện sau quá trình chuẩn bị chu đáo và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản
- Thực hiện nguyên tắc giữ bí mật những điều đối tượng chia sẻ
Xử lý thông tin từ phỏng vấn sâu
Sau khi thực hiện thu thập dữ liệu phỏng vấn được trong ngày, học viên tiến hành phân tích dữ liệu bằng các kỹ thuật : gỡ băng, ghi chép (transcripts) và phân loại thông tin Học viên tiến hành nhóm các mẫu quan sát được trong dữ liệu thành các đơn vị, nhóm có ý nghĩa Nhờ đó các nhóm được tạo ra qua việc phân nhóm các dữ liệu đã được mã hóa Để phân loại dữ liệu cần phải đặt mã cho các đơn vị có ý nghĩa của dữ liệu thông qua quá trình "mã hóa"
Trang 17Quan sát
Trong bài nghiên cứu, học viên sử dụng phương pháp quan sát không tham dự có
sự chuẩn bị nhằm bổ trợ, đồng thời kiểm tra kết quả cho thông tin nhận từ các phương pháp khác, giúp khai thác tối đa các thông tin phục vụ cho nghiên cứu
Việc tiến hành phương pháp quan sát được diễn ra công khai, các đối tượng biết rõ mình đang được quan sát Bởi điều tra viên đã trao đổi trước mục đích của việc quan sát này Điều tra viên không tham gia vào nhóm đối tượng quan sát mà đứng bên ngoài để quan sát
Phương pháp quan sát được điều tra viên thực hiện thường xuyên giúp bản thân có cái nhìn tổng quan, sâu sắc hơn về những thông tin thu thập được và kiểm chứng độ tin cậy của thông tin thông qua hành vi, thái độ, cử chỉ của người trả lời phỏng vấn
- Phương pháp phân tích trường hợp điển cứu (Case study):
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển cứu minh họa (Illustrative) nhằm tìm hiểu và mô tả trường hợp cụ thể tại xã Thới Tam Thôn, để có được các dữ liệu cung cấp bằng chứng liên quan đến trường hợp nghiên cứu, có thể được vận dụng ở các nơi khác cũng như các nghiên cứu
mở rộng trong tương lai
* Phương pháp CTXH cá nhân
Tiến trình CTXH cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa nhân viên CTXH với thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan hệ tương giao giữa nhân viên xã hội và thân chủ Nhân viên xã hội sử dụng quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng của mình để giúp họ hiểu rõ ràng các vấn đề của chính mình, khuyến khích họ bày tỏ cảm xúc và nhu cầu của mình, khơi dậy tiềm năng nội lực, tích cực và chủ động tham gia giải quyết vấn đề bản thân để nâng cao năng lực giúp cải thiện điều kiện sống
Tiến trình CTXH là quy trình bao gồm các bước của nhân viên CTXH và đối tượng thực hiện để giải quyết vấn đề Đây là những chuyển đổi theo một trình tự logic, nhưng trong quá trình trợ giúp, có một số bước trong suốt quá trình, chẳng hạn như thu thập dữ liệu, xác minh và lượng giá
Bước 1: Tiếp cận đối tượng và xác định đối tượng ban đầu
Bước 2: Thu thập thông tin
Trang 186 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề xuất một số khuyến nghị, nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Chương 2: Thực trạng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Vận dụng Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hướng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ được bàn đến bởi Edin (2000); Belanger (1996); Phinney (1998); Dales (2014) Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ đơn thân được đề cập bởi Shattuck và Kreider (2013); Ann Berrington (2014); Ciabattari (2005) Thứ ba, nghiên cứu về đời sống tâm lý và định kiến xã hội qua công trình của Robinson và Werblow (2013) Thứ tư, nghiên cứu về đời sống kinh tế và chính sách xã hội của nhóm phụ nữ đơn thân/phụ nữ làm mẹ đơn thân qua các tác giả Zarina và Kamil (2012); Wang, Parker và Taylor (2013)
Các tác giả (Gucciardi, Celasun, Stewart Wendy Wang và cộng sự) cho rằng mẹ đơn thân là những người có con nhưng chưa bao giờ kết hôn hay đã ly thân, ly dị và hiện không sống với người bạn đời được thừa nhận về mặt pháp lý [147]
Giới trẻ Mỹ đều có xu hướng muốn sau này họ sẽ kết hôn (Cherlin)[145] Tuy nhiên, theo số liệu năm 2013 của Hoa Kỳ thì có đến 40% trẻ em sinh ra trong gia đình không hôn nhân [156] Theo như Shattuck và Kreider cho biết thì có đến 60% phụ nữ sinh con nhưng không kết hôn trong độ tuổi từ 20-24 [179] Kết quả nghiên cứu định tính của Jason Deparle và cộng sự cũng cho thấy, các bà mẹ đơn thân trong nghiên cứu đều có độ tuổi từ 25 – 40 tuổi và có con từ 1-6 tuổi, 2/3 số trẻ em ở Mỹ được sinh ra bởi những bà mẹ dưới 30 tuổi [178]
Xét về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bà mẹ đơn thân từ các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, phần lớn bà mẹ đơn thân đều có tình trạng kinh tế - xã hội thấp và sinh con đầu ở độ tuổi còn trẻ (Shattuck và Kreider) [161] Với những phụ nữ đơn thân sinh con sớm sẽ cản trở việc học hành và dẫn đến hạn chế năng lực kiếm tiền của họ (Budig
và England) [143], kết quả này cũng giống với số liệu của văn phòng thống kê Mỹ năm
1997 (U.S Census Bureau) [196]
Nhiều kết quả nghiên cứu cho biết, với những bà mẹ sinh con ngoài hôn nhân có
xu hướng bị thiệt thòi hơn những phụ nữ đã từng lập gia đình Nghiên cứu của Lichter, D., Graefe, D., & Brown, J (2003), Terry-Humen, E., Manlove, J., & Moore, K A (2001), Driscoll, A K., Hearn, G K., Evans, V.J., Moore, K A., Sugland, B W., & Call, V (1999)
Vì sao nghèo thường gắn với những gia đình nữ đơn thân? Wang Shijun [167], đã chỉ ra những nguyên nhân là do sự chuyển đổi và cơ cấu kinh tế của Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của những bà mẹ đơn thân
Trang 20Tình hình này cũng đã diễn ra tại châu Á Phân tích sự thay đổi Xã hội và Gia đình
ở Đài Loan, Arland Thornton và Hui Shenglin [141] đã chỉ ra tác động của sự biến đổi của xã hội ảnh hưởng tới gia đình đương đại
Trong phân tích thống kê về các loại hình gia đình ở Pháp nêu rõ: vào năm 1962 trong số 700.000 gia đình cha mẹ đơn thân, trong đó có tới 50% gia đình góa vợ hoặc chồng, còn vào năm 1990 con số này là 1.175.000 hộ, năm 1999 là 1.500.000 hộ và cuối thế kỷ XX chỉ có 11% người góa bụa trong số những người làm cha mẹ đơn thân Nghiên cứu về vấn đề khó khăn ở những gia đình bà mẹ đơn thân và nguyên nhân nghèo khổ của họ Li Hongtao5 [166] đã dựa trên tiếp cận về vai trò giới để chỉ ra hoàn cảnh của các bà mẹ đơn thân khi họ phải đối mặt với các vấn đề kinh tế, gia đình, tinh thần
Theo kết quả nghiên cứu của Tinsley, những người mẹ đơn thân ở Anh phần lớn
có cuộc sống khó khăn và trình độ học vấn thấp hơn dân số chung của cả Vương quốc Anh (Tinsley) [162], nhưng tỷ lệ bà mẹ đơn thân có việc làm (toàn thời gian và bán thời gian) tăng từ 43% (1996) lên đến 60% (2013) (Klett-Davies) [156]
Quyết định trở thành mẹ đơn thân là một trong những quyết định không dễ, những người phụ nữ này phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và bất lợi hơn so với những phụ nữ hiện có chồng (Jennifer và cộng sự) [153], thậm chí các bà mẹ đơn thân có vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn so với những bà mẹ hiện đang sống cùng chồng hoặc bạn trai (Waldfogel, Craigie, & Brooks- Gunn) và bị bất lợi về kinh tế hơn bà mẹ khác (Kiernan
& Mensah)
Khi trở thành bà mẹ đơn thân thì họ gặp phải rất nhiều khó khăn, từ khi đứa trẻ xa cha, tương lai của người mẹ và cách sắp xếp cuộc sống cho tới lúc đứa trẻ trưởng thành
có việc làm và lập gia đình (Nidhi Kotwal và Bharti Prabhakar) [159]
Tại Đan Mạch, một trong những quốc gia có chính sách xã hội đối với gia đình và các cá nhân của cũng nổi lên những vấn đề của nhóm hộ gia đình đặc thù này Dưới tiếp cận quyền, các tác giả Polakow Valarie, Halskov Therese và Jorrgense Per schultz cũng phân tích về cuộc sống và vấn đề đói nghèo của người mẹ đơn thân ở Đan Mạch trong
so sánh với các bối cảnh xã hội khác
Như vậy, các công trình nghiên cứu về mẹ đơn thân trên thế giới đã chỉ ra tiến trình phát triển và sự công nhận về xã hội đối với loại hình gia đình có cha mẹ đơn thân Với việc liệt kê những nguyên nhân hay nguồn gốc dẫn các kiểu loại gia đình đơn thân, điểm chung nhất từ những phát hiện của các tác giả trên thế giới là các hộ gia đình có cha mẹ đơn thân thường gắn với tình trạng nghèo khó, thiếu hỗ trợ về kinh tế và xã hội,
vì vậy hộ cần những chính sách xã hội phù hợp với từng bối cảnh cụ thể, đặc biệt là phụ
nữ
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Hôn nhân là kết quả của tình yêu nam nữ nhưng không phải tình yêu nào cũng
Trang 21hướng đến cái đích hôn nhân hoặc không phải hôn nhân lúc nào cũng êm đẹp và bền vững Trước sự thay đổi và phát triển của cuộc sống hiện đại thì ngày càng nhiều phụ
nữ chấp nhận, lựa chọn sống đơn thân sau khi ly hôn hoặc bị người đàn ông của mình
bỏ rơi, Dựa theo số liệu kết quả Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm 2019 thì nhìn
chung, tỷ lệ ly hôn ở nước ta thấp, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng tăng trong 10 năm qua (năm 2009: 1,0%, năm 2019: 1,8%) Tỷ lệ ly hôn có sự khác biệt theo giới tính
và khu vực thành thị, nông thôn: Tỷ lệ ly hôn của nữ giới cao hơn nam giới (2,1% so với 1,4%), khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (2,1% so với 1,6%)
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tác giả nhận thấy những đề tài nghiên cứu, thống
kê về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ ở Việt Nam chưa có nhiều, chủ yếu là những bài báo hay báo cáo Các phương pháp nghiên cứu của những tác giả này bao gồm điều tra xã hội học, khảo sát theo dự án được tài trợ, chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành theo các phương pháp trong CTXH như cộng đồng, nhóm, cá nhân, Hầu hết các công trình nghiên cứu về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đã có đều chỉ ra được những vấn đề về đời sống tâm lý, đời sống vật chất, các quyền và nhu cầu của họ
ở góc độ xã hội Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về nhóm phụ nữ nghèo đơn thân sống tại khu vực ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh
Về phương diện đời sống - tâm lý
Điểm qua những công trình nghiên cứu đã có, tác giả muốn nhắc tới cuốn sách
“Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu
Giáo sư Lê Thi (2005) về phụ nữ đơn thân ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung đi nghiên cứu sâu, làm rõ những vấn đề có liên quan như: phụ nữ đơn thân họ
là ai; những định kiến của xã hội về phụ nữ đơn thân; những khó khăn mà những người phụ nữ đơn thân gặp phải; thực trạng cuộc sống của họ Một phần quan trọng trong đề tài nghiên cứu tìm hiểu và đánh giá về tầm quan trọng của những hỗ trợ của gia đình, cộng đồng và xã hội đối với nhóm phụ nữ này Cuốn sách đã cung cấp cho đề tài nghiên cứu của tôi những nội dung quan trọng, hữu ích như các khái niệm, những đặc điểm và những khó khăn của phụ nữ đơn thân, cho tôi một cái nhìn tổng thể về phụ nữ đơn thân
Thứ hai, cuốn sách “Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của Trung tâm Nghiên
cứu Gia đình và Phụ nữ (1996) Tác phẩm này là kết quả của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng (1989) với sự tài trợ của tổ chức SAREC của Thụy Điển Cuốn sách đã phản ánh cuộc sống của những gia đình phụ nữ đơn thân ở nông thôn miền Bắc vào giai đoạn những năm 80, đầu 90 Tác giả đã phân tích cụ thể các loại hình phụ nữ đơn thân về điều kiện sinh sống, hiện trạng kinh tế và đời sống tình cảm của họ, những khó khăn mà họ gặp phải, có so sánh với các gia đình bình thường Cũng
có nét tương đồng như tác giả Lê Thi khi đánh giá về vai trò của gia đình, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người phụ nữ thiếu vắng chồng nhận được rất ít sự giúp đỡ của gia đình, xã hội Nghiên cứu này giúp tôi phân loại phụ nữ đơn thân và định hướng về những giải pháp can thiệp khó khăn cho phụ nữ đơn thân
Trang 22Những nghiên cứu gần đây nhất về đề tài phụ nữ đơn thân như tác giả Võ Thị Cẩm
Ly (2016) trong luận án “Phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ: Chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” đã nhận diện những đặc điểm xã hội của phụ nữ làm
mẹ đơn thân cũng như quá trình tạo dựng, phát triển sinh kế của nhóm phụ nữ này trong
bối cảnh xã hội chuyển đổi hay tác giả Chu Thị Thu Trang (2016) trong luận văn “Thực trạng công tác hỗ trợ phụ nữ đơn thân phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bá Xuyên thị
xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” cũng đã đề cập đến phụ nữ đơn thân ở vùng trung du
miền núi phía bắc, đề tài có cái nhìn tổng hợp, khách quan và toàn diện về những vấn
đề khó khăn, những nhu cầu của những phụ nữ đơn thân nuôi con; mở ra hướng tiếp cận mới trong hoạt động trợ giúp cho phụ nữ đơn thân nuôi con dưới góc độ của những người làm công tác xã hội Lý giải số lượng phụ nữ đơn thân có xu hướng tăng, các tác giả cho rằng phụ nữ ngày càng tự chủ được về kinh tế và công việc Quan niệm của xã hội cũng đã cởi mở hơn trước, phụ nữ có thể sinh con mà không cần kết hôn Những phụ nữ gặp trở ngại trong chuyện tình cảm hay bản thân không muốn ràng buộc bởi cuộc sống hôn nhân đã chọn giải pháp này Nhưng cũng không ít phụ nữ chọn giải pháp mẹ đơn thân bởi
họ có thể bảo đảm một cuộc sống đầy đủ cho con mà không cần nửa kia Điều đó càng khẳng định sự chủ động hướng tới bình đẳng của phụ nữ trong xã hội hiện đại
Những nghiên cứu này phản ánh cuộc sống của phụ nữ đơn thân nuôi con tại các vùng nông thôn khác nhau chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, nhưng không đề cập sâu tới nhóm phụ nữ đơn thân tại khu vực miền Nam, nhất là vùng thành phố - nơi tập trung nhiều người lao động nữ Những bài viết, tài liệu trên đây là nguồn tư liệu quý về đặc điểm, phương pháp tiếp cận trợ giúp cho đối tượng là phụ nữ đơn thân ở những góc độ khác nhau Tuy nhiên chưa có một công trình hay một đề tài nào đề cập đầy đủ, toàn diện và có hệ thống dưới góc nhìn từ công tác xã hội cho đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi diễn ra công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu mạnh mẽ
Về phương diện pháp luật - quyền
Đầu tiên tôi muốn nhắc đến cuốn sách “Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001- 2010” của Vụ Tổng hợp – Pháp chế phối hợp với Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
(2002) biên soạn, đã giúp hệ thống toàn bộ đường lối, chủ trương của Đảng, chương trình hành động quốc gia ở lĩnh vực bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em Cuốn sách cũng cung cấp cho chúng ta định hướng chính trong việc thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ
em thời kỳ 2001 – 2010; giai đoạn năm 2010 - 2020 chưa có nghiên cứu hay cuốn sách nào viết về nội dung như trên
Tiếp theo, cuốn sách “Gia đình học” của tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị
Quý (2007), từ kết quả điều tra xã hội học cuốn sách đã phân tích về nghèo đói tác động mạnh mẽ, quyết định chất lượng cuộc sống gia đình của phụ nữ, nhất là phụ nữ có hoàn cảnh nghèo Từ đó, tác giả đã đưa ra giải pháp hướng tới sự bình đẳng giới Cuốn sách
Trang 23đã cung cấp thêm cho chúng tôi một số phân tích về tình trạng nghèo đói và những tác động đến đời sống người phụ nữ
Tiếp cận góc độ về giới, cuốn sách “Xã hội học giới” của tác giả Lê Thị Quý
(2010) đã cung cấp những kiến thức cơ bản về giới theo hệ thống để nâng cao kiến thức cho người đọc về giới, phụ nữ và mối quan hệ của họ với nam giới trong lịch sử và hiện đại
Phụ nữ trở thành đơn thân có nhiều lý do như chồng mất, có con ngoài hôn nhân,
ly hôn, ly thân,… Mỗi trường hợp phụ nữ đơn thân lại có những hoàn cảnh, số phận
mang màu sắc cuộc sống khác nhau Trong cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp
Hà Nội” của Trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ (2002) đã chỉ ra
những hệ lụy của việc ly hôn cùng với ảnh hưởng của nó tới đời sống của phụ nữ và trẻ
em Các trường hợp điển cứu của nghiên cứu đã khái quát chân dung cuộc sống của phụ
nữ đơn thân sau ly hôn Đây là cơ sở để tôi xem xét có sự đối sánh về tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trong trường hợp ly hôn
Về vấn đề “Quyền của phụ nữ” có công trình nghiên cứu nổi bật như luận văn thạc sĩ “Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Mai Hiên
Tác giả tập trung nghiên cứu về quyền và những pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam Phân tích thực trạng triển khai, thực thi pháp luật về các quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thông tin, văn hóa, giáo dục, Đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và việc thi hành về quyền của phụ nữ trong điều kiện hiện nay
Tiếp tục, vấn đề này TTXVN có bài viết “Liên Hợp Quốc kêu gọi gia tăng quyền cho phụ nữ vùng nông thôn” (Đăng tải ngày 16/12/2012) đã phát đi thông điệp nâng cao
hơn nữa quyền và khả năng của phụ nữ nông thôn Sự kêu gọi này có ý nghĩa quan trọng cho việc hạn chế tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ, xóa bỏ kỳ thị về nghèo đói mà hầu hết những người phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ đã gánh chịu
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan tâm tới lao động về việc nâng cao trình độ tay nghề, về sự cải thiện tiền lương, thu nhập Riêng với lao động nữ, vấn đề bình đẳng giới trong lao động, việc làm, trong đời sống xã hội đã được quan tâm ngày càng nhiều hơn Việc lồng ghép giới đã được thực hiện trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong các chương trình, kế hoạch hành động của các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp gắn với mục tiêu thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới và thực hiện Nghị Quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước; Chỉ thị số 55-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”; Nghị quyết số: 04–NQ/TW năm 2007 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số 20 CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và
Trang 24bảo vệ trẻ em” Một văn bản rất quan trọng nữa là “Hiến pháp của Việt Nam” cũng đã
đưa ra những quy định cụ thể về việc đảm bảo quyền và lợi ích cho hợp pháp cho phụ
nữ Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của phụ nữ đơn thân, cụ thể, trong Điều 40 của hiến pháp nước ta quy định Nhà nước và mọi tầng lớp nhân dân phải có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em, bởi vì đây là những đối tượng dễ bị tổn thương; trong Điều 52, chương 5 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng quy định tất cả công dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng trước pháp luật
Song song với việc ban hành các luật, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 và chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Bộ Chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia; Các nghị định hướng dẫn thực hiện Bình đẳng giới, xử phạt vi phạm bình đẳng giới, vi phạm phòng chống bạo lực gia đình,… Điều này đã chứng tỏ có sự quan tâm của Nhà nước đến vấn
đề giới trong công tác giảm nghèo
Các chính sách xã hội là hành lang pháp lý trợ giúp cho phụ nữ đơn thân, liên
quan đến vấn đề này cuốn sách “Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn – Quá trình xây dựng và thực hiện” của tác giả Lê Thi (1998) đã phân tích, chỉ ra yêu cầu cần
phải có những chính sách xã hội dành cho đối tượng là phụ nữ nông thôn Tác giả đã chỉ ra được những thiếu hụt, thua thiệt do hoàn cảnh tác động và đưa ra những kiến nghị với các đơn vị chức năng, những người hoạch định cần lưu ý đến những vấn đề về thực thi các điều luật Hôn nhân gia đình để đảm bảo cho quyền lợi cho những người phụ nữ sau ly thân hoặc ly hôn Trên cơ sở này, tôi bổ sung vào nghiên cứu của mình các hoạt động trợ giúp xã hội dành cho đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ hiện nay
đã và đang đạt thực hiện những nội dung, mục tiêu nào
Các hộ đơn thân ở khu vực nông thôn đa số có hoàn cảnh nghèo, một phần do
chưa phát huy được hết năng lực của mình Phản ánh về điều này, cuốn sách “Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp” của tác giả Lê Thi
(1998) đã đánh giá các tiềm năng phát triển ngành nghề phi nông nghiệp của phụ nữ nông thôn, mở ra một cơ hội mới cho vấn đề việc làm, thu nhập từ việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở nông thôn Qua đây, tôi hiểu biết thêm về tầm quan trọng của việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp cho phụ nữ nghèo đơn thân, tại huyện Hóc Môn, đặc biệt trong xu hướng phát triển hiện nay khi mà diện tích đất sản xuất nông nghiệp đang bị thu hẹp và thay đổi cơ cấu ngành nghề Các công trình này cho dù ở các góc độ và nội dung khác nhau nhưng đã giúp chúng tôi khẳng định về hướng tiếp cận nghiên cứu của luận văn Đó là cách tiếp cận quyền – trao quyền khi nói về phụ nữ đơn thân nuôi con
Việt Nam đến nay, chưa có nghiên cứu, thống kê chính thức về số lượng hay thực trạng cuộc sống của nhóm người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên cả nước Các công trình nghiên cứu đã công bố chủ yếu tập trung tại một số địa phương, khu vực
Trang 25nông thôn Các kết quả nghiên cứu cho thấy, họ thường không có công việc ổn định, thu nhập bấp bênh, trình độ học vấn thấp, rơi vào tình trạng nghèo Mặc dù, xã hội đã có nhiều tiến bộ nhưng họ chưa thoát khỏi những ánh nhìn định kiến, luồng dư luận không hay về hoàn cảnh đơn thân, đặc biệt phụ nữ có con ngoài hôn nhân Nhiều trường hợp phải nghỉ việc do không chịu được áp lực tâm lý tại nơi làm việc, dẫn đến gặp khó khăn
về thu nhập, đời sống kinh tế hoặc không tiếp xúc với hàng xóm xung quanh vẫn do tâm lý mặc cảm nên hạn chế sự giao tiếp, quan hệ xã hội
Như đã trình bày, số lượng phụ nữ đơn thân trong xã hội đang có xu hướng gia tăng cùng với những yếu tố khách quan, chủ quan tác động Về yếu tố chủ quan, có thể
là do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, sự bất đồng trong quan điểm, lối sống, bất bình đẳng dẫn đến chia tay, ly hôn, ly thân và người phụ nữ quyết định nuôi con một mình Về nguyên nhân khách quan, điều này là kết quả và sự phản ánh những thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội, những quan niệm mới tình yêu, hôn nhân, gia đình của bộ phận giới trẻ Họ không muốn cuộc sống hôn nhân, sợ gặp một người chồng không tử
tế, sợ nghĩa vụ đối với nhà chồng, trách nhiệm làm vợ, nên họ chấp nhận cuộc sống nuôi con một mình không hôn nhân Bên cạnh đó, cũng có những người phụ nữ kém may mắn khi chồng mất sớm do bệnh tật, tai nạn, hay chồng ngoại tình, ruồng bỏ vợ con và người phụ nữ với tình thương, trách nhiệm họ tiếp tục với vai trò làm mẹ rồi một mình nuôi con Cũng có những trường hợp phụ nữ tự chủ được vấn đề kinh tế tài chính nên không cần vai trò người đàn ông họ vẫn đảm đương được việc nuôi con một cách tốt nhất nên họ không kết hôn nhưng số này không nhiều
Về sự hỗ trợ xã hội, chính sách phúc lợi ở nước ta hiện nay dành riêng cho đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân chưa nhiều Hầu hết các chính sách phúc lợi cho đối tượng này còn đan xen, trùng lặp hoặc chung chung với nhóm đối tượng khác Mặc dù, thực tế phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cũng thuộc nhiều nhóm yếu thế tuy nhiên
để có cái nhìn bao quát, hỗ trợ kịp thời cần có chính sách đặc thù dành riêng cho họ Các hoạt động hỗ trợ hiện nay còn đơn lẻ từ các chương trình của Hội LHPN, địa phương hay các tổ chức từ thiện, phi lợi nhuận, tôn giáo Đa số những hỗ trợ họ nhận được là một khoản chi phí nhất định, những phần quà vào các dịp lễ, tết cùng với những lời động viên tinh thần điều đó cũng có ý nghĩa đối với những người đơn thân nhưng chỉ trong giai đoạn ngắn
Về chi phí hỗ trợ cho người mẹ đơn thân, theo khoản 4 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ–CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội của Việt Nam có quy định với mức hỗ trợ là 270.000 đồng/người/tháng (nuôi
1 con) và 540.000 đồng/người/tháng (nuôi từ 2 con trở lên) cho các trường hợp này định mức này quá thấp so với mức sinh hoạt chung hiện nay, chưa kể đến các thủ tục thực hiện hồ sơ còn phức tạp, bất cập
Các tài liệu mà tôi thu thập được cho thấy hiện tượng bà mẹ đơn thân đang ngày càng gia tăng và là vấn đề quan tâm của xã hội Mặc dù, cũng còn những quan điểm trái
Trang 26chiều về bà mẹ đơn thân hiện nay nhưng chủ quan tôi thấy đời sống của bà mẹ đơn thân còn khó khăn, các chính sách hỗ trợ cho bà mẹ đơn thân ở nước ta hiện nay vẫn còn chung chung thường lồng ghép với các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội khác và các chính sách hỗ trợ riêng cho nhóm này cũng chưa được đề cập tới Những tư liệu, tài liệu nghiên cứu trên đã giúp chúng ta mở rộng hơn hiểu biết về đối tượng nghiên cứu, những phương pháp để tiếp cận và hỗ trợ họ vượt qua được những khó khăn đang gặp phải Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập toàn diện, có tính hệ thống về hoạt động trợ giúp là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ dưới góc nhìn và phương pháp tiếp cận của ngành CTXH Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tài liệu trên, kết hợp với khảo sát thực tế tại huyện Hóc Môn luận văn có một số đóng góp mới như sau:
Về cách tiếp cận: Luận văn lần đầu tiên tiếp cận nghiên cứu về đời sống của người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại địa bàn huyện Hóc Môn, những khó khăn mà
họ gặp phải trong cuộc sống và những giải pháp, phương pháp hỗ trợ nhóm đối tượng này theo phương pháp hỗ trợ của CTXH
Về nội dung: Căn cứ trên nền lý thuyết tương đối hoàn chỉnh, luận văn đã có cái nhìn hệ thống về cuộc sống, đồng thời phân tích của những khó khăn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đối mặt và đưa ra những đề xuất phù hợp, hiệu quả lâu dài với trường hợp nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm về Công tác xã hội:
Có nhiều khái niệm khác nhau về CTXH Sau đây là một số khái niệm về CTXH
và nghề CTXH được rất nhiều các nhà nghiên cứu và những người thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:
Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW) đưa ra
định nghĩa như sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp
đỡ các cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]
Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên Công tác xã hội (IFSW) diễn ra vào
tháng 7/2000, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về CTXH như sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan
hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống
xã hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội”[14,43]
Trang 27Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020:
“CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân
cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội”
Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” [9, 4]
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về CTXH, ta có thể tổng kết “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [13, 19]
- Nghèo đói và một số khái niệm liên quan
Nghèo là một hiện tượng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu Nó không những tồn tại ở các nước có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định múc
độ nghèo đồng thời đưa ra các tiêu chí xác định nghèo khổ Giới hạn nghèo đói của các nước được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá cả hiện hành
Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế (Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói) Để giúp các nước chống lại sự đói nghèo, từ ngày 15 đến ngày 17/9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã diễn ra hội nghị giảm nghèo đói ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức, các nhà nghiên cứu và chuyên gia hoạch định
chính sách đã đưa ra khái niệm, định nghĩa đói nghèo như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy trình độ phát triển kinh tế
Trang 28xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Chúng ta có thể xem đây là một định
nghĩa chung nhất về nghèo đói, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo
Ở Việt Nam trước đây, nghèo được đánh giá theo thu nhập bình quân đầu người, theo từng khu vực thành thị và nông thôn, theo từng địa phương nhất định đều có những tiêu chuẩn nghèo riêng Ngày 19 tháng 11 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ–TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Trong đó quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020: Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Theo đó, nghèo đa chiều được định nghĩa là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Đặng Nguyên Anh, 2015)
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”
1.2.2 Khái niệm công cụ
- CTXH cá nhân:
Có nhiều khái niệm về Công tác xã hội cá nhân được sử dụng trên thế giới dựa
trên nghiên cứu kết hợp với kinh nghiệm thực tế của những người làm CTXH chuyên nghiệp
Bà Mary Richmond – nhà công tác xã hội tiên phong người Mỹ – cho rằng “Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật làm việc với từng cá nhân với các vấn đề khác nhau, thông qua việc nhân viên xã hội cùng hợp tác với thân chủ, giúp thân chủ thực hiện chức năng xã hội, cải thiện mối quan hệ giữa họ và môi trường xã hội trở nên tốt hơn.” Theo cố Thạc sỹ Phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh “Công tác xã hội cá nhân
là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân
Trang 29khăn Nó mang tính đặc thù, khoa học nghệ thuật Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng tư cũng như những vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết các vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là những công cụ chủ yếu của công tác xã hội cá nhân Nhờ tính năng động của mối quan hệ trong công tác xã hội cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình”
Có nhiều học giả, nhà khoa học trong nước và nước ngoài đưa ra nhiều khái niệm
và định nghĩa về công tác xã hội cá nhân Trong cuốn luận văn này, khái niệm công tác
xã hội cá nhân được khái quát từ nhiều khái niệm khác nhau: “Công tác xã hội cá nhân
là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này nhân viên công tác xã hội cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan, đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, cùng với đối tượng,hỗ trợ người cao tuổi tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề đang gặp phải hòa nhập vào cuộc sống.”
- Các khái niệm liên quan đến phụ nữ đơn thân, phụ nữ nghèo đơn thân, phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ:
Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm 1990, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm Theo một số nhà khoa học: phụ nữ đơn thân là những người phụ nữ chưa lấy chồng hoặc không muốn lấy chồng, những người phụ nữ góa bụa, ly hôn, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc không có con Họ cũng có thể sống một mình hay sống cùng con cái, gia đình, họ hàng Trong đề tài này, khái niệm
“phụ nữ đơn thân” được tác giả sử dụng để đề cập tới những người phụ nữ vì những lý
do khác nhau mà đang sống, nuôi con một mình
2 Còn lại là những phụ nữ chưa lập gia đình không lấy chồng, đã nhiều tuổi, họ không lấy chồng vì những nguyên do khác nhau: có người không có chồng nhưng có con ngoài giá thú, thường họ sống với con hoặc cha mẹ đẻ Những người phụ nữ không chồng không con thì sống với anh chị em ruột hoặc cha mẹ của mình Số ít người sống độc thân, đơn côi
3 Còn phụ nữ đơn thân do lựa chọn, đây là một xu thế mới của thời đại ngày nay,
Trang 30những người phụ nữ đơn thân này họ theo đuổi hình mẫu người phụ nữ thành công trong công việc nhưng vẫn luôn bản lĩnh chăm sóc con một cách tốt nhất và họ lựa chọn làm mẹ đơn thân
* Phụ nữ nghèo đơn thân:
Phụ nữ nghèo đơn thân là những chủ hộ phụ nữ thuộc diện nghèo (có giấy chứng nhận hộ nghèo) và thiếu vắng chồng hoặc có chồng nhưng không sống chung cùng chồng
Họ người thường có học vấn thấp, nuôi con một mình, nhận thức hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt Họ chủ yếu là những người lao động thuần nông hoặc buôn bán nhỏ, lao động chân tay và có chuyên môn thấp Họ thường có hạn chế về cơ hội tiếp cận với khoa học, giáo dục, dịch vụ, bản thân họ đôi lúc còn chưa quyết đoán khi đưa ra những lựa chọn hoặc quyết định của mình trong cuộc sống, nhất
là những vấn đề mang tính chất quan trọng Họ thường là những người dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi, có rất ít cơ hội thăng tiến bản thân; đặc biệt, họ thường được trả công lao động thấp hơn nam giới kể cả cùng loại công việc Qua đây, chúng ta thấy phụ nữ đơn thân thường có đời sống vật chất khó khăn, họ còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, khó thăng tiến trong sự nghiệp
* Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ:
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là những người mẹ một mình nuôi con dưới
18 tuổi mà không có chồng và thuộc hộ nghèo
Những gia đình bà mẹ đơn thân như là một tổ chức xã hội mong manh dễ bị tổn thương sau khi ly hôn hoặc sinh con ngoài giá thú hoặc từ một loạt các hệ lụy của sống chung, sống thử Những đứa trẻ ở những gia đình này thường không được đảm bảo về những điều kiện vật chất, thiếu cảm giác an toàn, ấm áp, không có sự hỗ trợ tinh thần, tâm lý của chúng dễ bị tổn thương hơn so với những đứa trẻ bình thường tạo nên lỗ hổng lớn trong cách giáo dục, nuôi dưỡng con cái của họ Cuộc sống của những người phụ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ còn phải chịu những ánh mắt nhìn kỳ thị của cộng đồng, của những gia đình trong hàng xóm Tuy ngày nay, cái nhìn của xã hội không còn quá gay gắt nhưng họ vẫn còn rất nhiều khó khăn phải đương đầu
1.2.3 Lý luận về CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Khái niệm CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ:
CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là hoạt động giúp đỡ chuyên nghiệp của nhân viên CTXH nhằm hỗ trợ và tư vấn việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động ngồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ phụ
nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, hỗ trợ giúp họ một cách hiệu quả để họ vượt qua những rào cản và đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng như mọi người trong xã hội
Trang 31Mục đích của CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là: Đánh giá, tìm hiểu mong muốn và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, tư vấn và giới thiệu việc làm, kết nối các nguồn lực, hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã hội, các yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và các cộng đồng của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ; tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chương trình thông qua công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng quyền lực cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội
Do đó, chúng ta có thể hiểu: CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một hoạt động nghề nghiệp của CTXH nhằm giúp đỡ phụ nữ thuộc diện nghèo
và đang sống một mình, nuôi con dưới 18 tuổi giải quyết các vấn đề của chính họ Từ
đó, giúp họ cải thiện khả năng của mình để nâng cao các chức năng xã hội của họ, tạo
ra những thay đổi vai trò và địa vị của phụ nữ nghèo đơn thân, giúp họ hòa nhập xã hội
và cải thiện điều kiện sống, hoạt động của CTXH cũng giúp huy động các nguồn lực kết nối, vận động và hỗ trợ tâm lý xã hội để đáp ứng các nhu cầu cơ bản, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Trong phạm vi của
nghiên cứu, tôi vận dụng cách hiểu chung nhất về CTXH đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ như trên để phục vụ cho nghiên cứu hoạt động CTXH đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Hóc Môn
1.2.4 Nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Từ những cơ sở lý luận đã nêu trên, có thể hiểu hoạt động công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là phương pháp giúp đỡ từng cá nhân đối tượng thông qua mối quan hệ một – một Đây là quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính họ Nhân viên CTXH thông qua phương pháp công tác xã hội cá nhân để thiết lập mối quan
hệ tốt với người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại địa bàn nghiên cứu, giúp họ hiểu rõ bản thân, về hoàn cảnh, xác định lại mối tương quan với những người xung quanh, đồng thời giúp họ tăng khả năng huy động những nguồn lực của bản thân và của
xã hội nhằm tạo sự thay đổi cho chính mình Hay nói cách khác mục đích của công tác
xã hội với cá nhân là nhằm giúp cá nhân, gia đình phục hồi, củng cố và phát triển các chức năng xã hội, giúp họ giải quyết vấn đề, cải thiện tình hình của họ thông qua sự tham gia tích cực và phát huy tiềm năng của cá nhân và xã hội vào quá trình giải quyết vấn đề
Trang 32Chính vì vậy, CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ có thể xác định nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ bao gồm: Mục đích, nhiệm vụ của CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ; tiến trình CTXH cá nhân đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ; kế
hoạch hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Cụ thể:
- Về mục đích, nhiệm vụ: Tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, nhu cầu, mong muốn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Về tiến trình CTXH cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ:
* Tiếp cận ca và xác định vấn đề ban đầu:
+ Việc tiếp cận ca (do phía NVXH chủ động tìm đến thân chủ hoặc do thân chủ chủ động tìm đến với nhân viên xã hội để tìm kiếm sự hỗ trợ)
+ Việc đầu tiên NVXH phải làm là phải xác định vấn đề do thân chủ trình bày, nếu vấn đề đó nằm trong chức năng và khả năng của cơ quan xã hội thì chuẩn bị cho các bước tiếp theo, còn nếu nhu cầu giúp đỡ nằm ngoài khả năng của cơ quan xã hội thì cần nhanh chóng chuyển đối tượng đến với cơ quan chức năng phù hợp
+ Có ca chỉ liên quan đến bản thân một mình phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
cụ thể, nhưng có ca liên quan đến nhiều người (chẳng hạn vấn đề của gia đình) thì cần xác định ai trong số đó là đối tượng chính, tuy nhiên không được bỏ qua những người còn lại, mà xác định đối tượng chính để chúng ta có thể xác định được vấn đề trọng tâm
và giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn
+ Ngay từ giai đoạn này NVXH cần thiết lập được mối quan hệ gần gũi (không quá thân mật), hợp tác với thân chủ
* Thu thập thông tin:
+ Thu thập thông tin để có cái nhìn tổng thể về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các thông tin cần thu thập thường là: Những vấn đề của đối tượng; hoàn cảnh của đối tượng; những người liên quan; vấn đề đó bắt đầu từ khi nào; đã có những can thiệp
+ Công việc thu thập thông tin được duy trì liên tục trong thời gian tiến hành hỗ trợ vì bản thân người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và vấn đề hoàn cảnh của họ liên tục thay đổi, nhất là khi có sự tác động từ phía NVXH
* Chẩn đoán:
Trang 33Dựa trên những thông tin thu được từ những giai đoạn trước tiến hành chẩn đoán như sau:
+ Xác định xem thực chất vấn đề trục trặc là ở chỗ nào, tính chất vấn đề là gì? + Phân tích thông tin để chỉ ra những nguyên nhân/nhân tố dẫn đến vấn đề vướng mắc: Những điểm mạnh, điểm yếu của đối tượng; những điểm mạnh, điểm yếu của hoàn cảnh, thân chủ cần tham gia vào để nhận thức được về bản thân và hoàn cảnh của chính mình; tâm trạng, nhận thức, mong đợi của thân chủ
Bên cạnh đó, NVXH cũng cần nhận thức được những giới hạn của bản thân và cơ quan
xã hội để chia sẻ với thân chủ, giúp họ nắm bắt được tình hình, loại bỏ những khó khăn
+ Sự lựa chọn mục đích phải phụ thuộc vào mong muốn của đối tượng; sự cần thiết (theo kết luận đánh giá của NVXH); cơ sở khả năng có thể đáp ứng của tổ chức xã hội
+ Việc lựa chọn phương thức trị liệu cần xem xét các yếu tố tính chất của vấn đề; nguồn lực có được để giải quyết; động cơ và năng lực của thân chủ, sự tự nhận thức của thân chủ Trong giai đoạn này người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cần nắm vai trò chủ động tham gia với sự hỗ trợ của NVXH (phân tích, góp ý) Đây cũng là cơ hội
để NVXH tìm hiểu được nhiều hơn về đối tượng, ví dụ qua cách thức lựa chọn phương pháp cho sự giải quyết vấn đề của chính họ
* Triển khai kế hoạch
Đây là quá trình tiền hành các hoạt động, dịch vụ nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề dựa trên kế hoạch trị liệu đã được đưa ra Để thực hiện được mục tiê đề ra nhân viên xã hội có thể triển khai các hoạt động sau: Cung cấp một số dịch vụ cụ thể; tham vấn thân chủ Trong giai đoạn này bản thân người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ càng phải nỗ lực tham gia vào giải quyết vấn đề của chính mình, họ vừa là người chèo chống, vừa là người định hướng mục tiêu của chính mình Vai trò của NVXH là người định hướng, hỗ trợ, là người đánh giá, phản ánh lại với đối tượng những cái mà đối tượng đã đạt được, là chỗ dựa tinh thần động viên họ, khuyến khích họ thực hiện các hoạt động, đặc biệt lúc họ gặp khó khăn, không làm thay cho thân chủ Tiến độ của quá
Trang 34trình trị liệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khả năng của đối tượng, tâm lý, thể trạng, sự nhìn nhận của bản thân họ cũng như các tài nguyên và cơ hội mà thân chủ đang có
* Lượng giá
Là động tác đo lường và thẩm định các thay đổi tiến bộ của thân chủ, kết quả của
sự can thiệp, sự đối chiếu những cái đã đạt được với mục tiêu đề ra, xem đã đạt được đến mức nào để kịp thời bổ sung điều chỉnh
+ Nếu kết quả lượng giá cho thấy hướng đi là tích cực, thể hiện sự tiến bộ của người phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thì vai trò của NVXH cần được giới hạn để tạo điều kiện cho sự chủ động độc lập của đối tượng trong giải quyết vấn đề, giúp họ có sự tiến bộ hơn
+ Nếu kết quả cho thấy có chiều hướng xấu đi thì cần thẩm định rõ mức độ đến đâu và từ đó có hướng tác động phù hợp, có thể nhờ sự hỗ trợ của các đồng nghiệp khác, các chuyên gia hay cơ quan chức năng khác
+ Lượng giá được tiến hành trong suốt quá trình giúp đỡ
+ Chỉ có thể lượng giá tốt khi: Các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạc trên cơ sở thông tin đầy đủ; tham gia vào lượng giá phải có cả nhân viên xã hội, đối tượng và những người khác; có hồ sơ ghi chép tiến trình giải quyết vấn đề
* Kết thúc
Là sự chấm dứt (khép lại hồ sơ) hay chuyển ca giúp đỡ sang một cơ quan hoặc NVXH khác giải quyết Hoạt động này tùy thuộc vào những tình huống sau: Dịch vụ giúp đỡ đã được hoàn tất; mục đích đã đạt được hay chưa; đã chấm dứt hay muốn chuyển giao Việc chấm dứt hay chuyển giao qua nhân viên xã hội khác phải dựa trên: Nhu cầu và quyền lợi của đối tượng; không kéo dài chỉ vì ý tưởng chủ quan của NVXH; không chấm dứt chỉ vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội
1.2.5 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Xã hội hiện nay là quá trình xã hội phong phú, hiện tượng, hoàn cảnh đa dạng, đa phương diện, đa chiều cạnh, nếu việc nghiên cứu chỉ dựa vào tiếp cận chuyên ngành CTXH thực định thì không thể đáp ứng được các nhu cầu nói trên Do vậy, cần có các cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu để hiểu biết sâu hơn, tổng thể hơn, toàn diện hơn, hệ thống hơn Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn phát triển hiện nay, CTXH luôn có xu hướng xuyên ngành với xã hội học, tâm lý học, luật học, kinh tế học,… Đây là một trong những nội dung được tác giả chú ý đề cập trong luận văn này thể hiện qua các góc nhìn về đặc điểm tâm lý, hoạt động sinh kế, chính sách xã hội trong việc hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại địa bàn nghiên cứu Trên góc độ xã hội học, nghiên cứu phụ nữ nghèo đơn thân từ tương tác xã hội với môi trường, hệ sinh thái xung quanh, xem xét các mối liên hệ của gia đình họ với xã hội, từ vai trò vị thế cá nhân trong xã hội và những vấn đề về bất bình đẳng xã hội với
họ và gia đình Có thể thấy, sự bất bình đẳng trong xã hội với gia đình phụ nữ đơn thân
Trang 35biểu hiện qua cấu trúc gia đình, vấn đề về giới, về việc làm, về trình độ,… Đồng thời, qua góc độ xã hội học cũng giúp đánh giá quá trình phát triển liên tục của gia đình phụ
nữ nghèo đơn thân trong phạm vi xem xét sự ra đời của gia đình gắn liền với sự phát triển của xã hội, với sự phát triển của tổng hòa các mối quan hệ xã hội được rõ nét hơn Trong quan hệ với tâm lý học, tìm hiểu phụ nữ nghèo đơn thân từ đặc trưng tâm
lý, từ tổ hợp các trạng thái được trực tiếp thể nghiệm trong chuỗi hành vi của họ Vận dụng các lý thuyết để giải thích các hành vi giúp khám phá những quy trình sinh học thần kinh và sinh lý, là cơ sở của chức năng nhận thức và hành vi và đóng các vai trò trị liệu, tham vấn,… hỗ trợ họ ổn định tinh thần, tâm lý trong đời sống
Sự vận động của đói nghèo phụ thuộc rất nhiều vào thành phần hộ gia đình Những hộ gia đình chỉ có một người kiếm tiền như bà mẹ đơn thân phải đối mặt với rủi
ro đói nghèo rất cao Sự vận động này cũng phụ thuộc vào các mối tương tác trong gia đình là một chức năng của cấu trúc gia đình Do đó, dưới góc độ kinh tế học, nghiên cứu hành vi kinh tế của nhóm phụ nữ đơn thân này trong sự vận động của kinh tế thị trường, trong quan hệ lao động – việc làm Mặt khác cần phải xây dựng một chiến lược sinh kế để nhóm người này thoát nghèo bền vững
Hướng tiếp cận nghiên cứu theo quyền và trao quyền là nguyên tắc trọng yếu của CTXH Tiếp cận dựa trên quyền con người là phương pháp tiếp cận lấy tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người làm cơ sở và mục tiêu cho hoạt động là đích mà cách tiếp cận dựa trên quyền con người hướng tới Khác với cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền con người không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó với mục đích hỗ trợ người dân tham gia tích cực vào phát triển, chứ không phải chỉ là người hưởng lợi thụ động từ các chính sách của nhà nước Đối tượng khảo sát trong luận văn này hoàn toàn được tôn trọng từ việc giao tiếp, bảo mật các thông tin, được chấp nhận tính riêng biệt; họ có quyền được tham gia, chủ động trong tiến trình CTXH theo nhu cầu, được đảm bảo công bằng các chế độ theo quy định của pháp luật về quyền công dân
Hướng tiếp cận sinh kế là sự can thiệp hữu hiệu nhất cho thân chủ phát triển bền vững đối với các trường hợp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ hiện nay Sinh kế là một khái niệm được nhiều học giả trên thế giới chú ý Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) kế thừa định nghĩa của tác giả trước, khái niệm sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (vật chất và nguồn lực xã hội) và việc tạo ra các hoạt động cần thiết, làm thế nào để kiếm sống, ứng phó với căng thẳng, sinh kế bền vững trong các cú sốc; và phục hồi sau những căng thẳng và cú sốc này, đồng thời duy trì hoặc nâng cao năng lực
và tài sản hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên (Krantz, 2001)
Như vậy, đề tài thực hiện nghiên cứu chủ yếu theo ba hướng tiếp cận bao gồm: Tiếp cận xuyên ngành; tiếp cận theo quyền và trao quyền; tiếp cận sinh kế Trên cơ sở
Trang 36hệ thống lý luận tương đối đầy đủ, đề tài này tổng hợp, phân tích, đánh giá đời sống, những khó khăn, bất cập, các biện pháp trợ giúp đã thực hiện, tính hiệu quả và hạn chế của những biện pháp đó Tác giả cũng xây dựng và ứng dụng một số mô hình của CTXH với một nhóm thân chủ cụ thể nhằm phát huy tối đa tiềm năng của họ, giúp họ
tự mình giải quyết vấn đề, vươn lên hòa nhập xã hội Đề tài cũng khẳng định và nhấn mạnh về sự cần thiết phải đưa ngành CTXH vào đời sống nói chung, trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế nói riêng và đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm phụ nữ yếu thế trong cộng đồng
1.3 Các lý thuyết vận dụng trong luận văn
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Là con người trong xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và luôn phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của con người Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ
Để tồn tại con người cần phải đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống như: ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế, để phát triển con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định Xét cho cùng sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu của con người Việc đáp ứng các nhu cầu của con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 – 1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn, trường phái này được xem là thế lực thứ 3 khi thế giới lúc đó đang biết đến hai trường phái tâm lý chính: Phân tâm học và chủ nghĩa hành vi
Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa hưởng rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ có cả 5 thang bậc nhu cầu như người bình thường:
Trang 37Hình 1.1 Tháp Nhu cầu Maslow
* Nhu cầu cơ bản: bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ,
không khí để thở, tình dục, Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất, bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa được Đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ thì nhu cầu này lại càng quan trọng
vì đời sống họ có rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về kinh tế, thời gian làm việc nhiều nên không có thời gian nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động Sống đơn thân, không có chồng bên cạnh nên nhu cầu về tình dục của họ cũng luôn luôn thiếu, không được đáp ứng, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và sức khỏe của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
* Nhu cầu về an toàn, an ninh: nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả
thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, Khi không có người đàn ông bên cạnh – người mà chúng ta cho rằng là trụ cột của gia đình thì người phụ nữ đơn thân phải đảm nhận cả vai trò của một người chồng Họ luôn phải vượt qua những khó khăn và làm những công việc nặng nhọc đáng ra là của người chồng Chính vì vậy, họ luôn cảm thấy không được an toàn, không có được sự bảo vệ
Trang 38và che chở của người đàn ông Sự tham gia của nhân viên CTXH phần nào tạo ra sự an tâm của phụ nữ đơn thân
* Nhu cầu về xã hội: nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về
một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tâm lý Đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ thì nhu cầu này cũng luôn thiếu hụt, không được đáp ứng Vì đa số phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ mà đề tài nghiên cứu đều
có trình độ thấp, họ luôn phải tốn rất nhiều thời gian vào những việc nặng nhọc để lo cho cuộc sống Đặc biệt họ luôn thiếu thốn sự quan tâm, những tình thương gia đình, sự quan tâm, che chở của người chồng Chính vì vậy, họ không chỉ gặp khó khăn về đời sống vật chất mà họ còn gặp khó khăn trong đời sống tinh thần, họ luôn có trạng thái tâm lý căng thẳng và bất an
* Nhu cầu được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể
hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng
tự trọng, sự tự tin và khả năng của bản thân Về nhu cầu này thì phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ không được đáp ứng Vì hoàn cảnh của họ sống đơn thân, kinh tế, cuộc sống gặp nhiều khó khăn,… nên thường họ không được mọi người xung quanh yêu mến
và quý trọng Họ luôn sống trong tự ti và những khó khăn về tâm lý
* Nhu cầu được thể hiện mình: khi nghe về nhu cầu này, “thể hiện mình” chúng ta
khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà khi sinh ra mình đã được ấn định là phải làm Nói một cách dễ hiểu hơn, đây chính là nhu cầu mà bản thân được sử dụng hết tiềm năng, khả năng để khẳng định bản thân, để làm việc và đạt được các thành công để cống hiến cho xã hội Đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ thì họ khó có thể tiếp cận tốt các dịch vụ hỗ trợ xã hội để phát huy hết khả năng của bản thân Họ cũng có những khó khăn về trình độ chuyên môn, mối quan hệ xã hội và những nỗi lo, khó khăn trong cuộc sống thường ngày nên khó có thể hiện bản thân và cống hiến cho cộng đồng xã hội
Thông qua lý thuyết về thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhân viên CTXH sẽ tìm hiểu và chỉ ra hệ thống những nhu cầu của thân chủ Phù hợp với nhu cầu của đối tượng này là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp; việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ là khâu không thể thiếu trong việc thực hành CTXH
Thuyết nhu cầu của Maslow là căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên đối với mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong những bối cảnh không giống nhau Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên công tác xã hội tránh được việc “đánh đồng” hay “chủ quan” khi cung
Trang 39cấp các dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó nhân viên CTXH cần tìm kiếm những nhu cầu thực
mà đối tượng đang mong muốn được thỏa mãn Đối tượng và vấn đề của họ được đặt vào vị trí trung tâm chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên CTXH Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề mà đối tượng gặp phải Do điều kiện đặc biệt của họ, nên những người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ không được thực hiện đầy đủ các nhu cầu của một con người bình thường
Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn Tính nhân văn thể hiện
ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên CTXH loại bỏ tính chủ quan khi tiếp cận và nhận diện các đối tượng Thay vào đó nhân viên CTXH cần phải lắng nghe và cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của đối tượng Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng vào khả năng của con người trong việc tự làm chủ những vấn đề của mình Nhân viên CTXH với cách tiếp cận theo nhu cầu luôn tin tưởng đối tượng có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính họ Vì thế, sau khi tìm ra những nhu cầu của thân chủ, nhân viên CTXH sẽ cố gắng một cách tối đa để động viên, khích lệ thân chủ tham gia vào quá trình hiện thực hóa các nhu cầu của họ, cùng với sự hỗ trợ của các nguồn lực cần thiết Vận dụng lý thuyết: Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ:
Thứ nhất: Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con có đủ 5 thang bậc nhu cầu giống như người bình thường, nhưng do hoàn cảnh đặc biệt của họ nên các nhu cầu đó không được thực hiện đầy đủ Hầu hết phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình Trong đó có người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân như việc lo ăn, học hành, chữa bệnh cho con cái và thậm chí có nguy cơ bị đe dọa đến sự an toàn của cuộc sống Những đối tượng này rất cần sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội và đặc biệt là ngành CTXH
Thứ hai: Việc đáp ứng các nhu cầu của con người chính là động cơ thúc đẩy họ tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội Nếu không đáp ứng các nhu cầu của con người thì họ cũng mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xã hội
Thứ ba: Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp cho các hỗ trợ giảm chi phí và tăng hiệu quả khi tránh được các dư thừa hay không đầy đủ khi trợ giúp cho thân chủ
1.3.2 Lý thuyết hệ thống - sinh thái
Môi trường là yếu tố quan trọng đối với mỗi cá nhân và càng quan trọng hơn trong CTXH Xét từ khía cạnh con người luôn chịu sự tác động của môi trường, chịu ở dưới tác nhân khác nhau, các hệ thống khác nhau Để có thể đánh giá một cách khái quát và đưa ra những phương pháp can thiệp cụ thể và hữu ích, nhân viên xã hội cần có những cái nhìn những mối quan hệ xung quanh, dùng các thuyết để làm rõ vấn đề của thân
Trang 40chủ, và một trong những thuyết không thể thiếu đó chính là thuyết Hệ thống sinh thái Thuyết hệ thống sinh thái cho rằng con người chịu tác động ở ba cấp độ: Sinh học
và tâm lý (cấp vi mô), gia đình, bạn bè, đồng nghiệp (cấp trung mô), và các tổ chức thiết chế, cộng đồng (cấp vĩ mô)
Một số khái niệm về Thuyết hệ thống: Khái niệm về hệ thống theo từ điển tiếng Việt: “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan
hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất.”
Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”: “Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống,đồng thời là một bộ phận của hệ thống lớn hơn
Khái niệm về hệ thống sinh thái: Theo định nghĩa Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái (Ecology systems) Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển
cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái Lịch sử Quá trình hình thành: Lý thuyết hệ thống sinh thái được Carel Bailey Germain – Giáo sư ngành CTXH trường Đại học Columbia, Mỹ - đề xướng vào năm
1973 Cô đầu tiên phát triển các khái niệm về một "quan điểm sinh thái" trong khi giảng dạy tại Columbia vào giữa những năm bảy mươi, và sau đó, cô dựa trên nền tảng đó mà phát triển lý thuyết này với sự hỗ trợ của đồng nghiệp là Alex Gitterman Mục đích của Gitmain lúc đó là đưa lý thuyết này áp dụng vào CTXH với cá nhân Bởi lẽ mặc dù nhân viên xã hội cơ bản từ lâu đã biết rằng con người tồn tại trong một ma trận xã hội
và sự chuyển biến tâm lý sâu rộng và phức tạp, song nghề CTXH lúc đó lại thiếu một khái niệm nhằm liên kết các ảnh hưởng môi trường và văn hóa rộng lớn đối với mỗi con người, giúp cho nhân viên CTXH có đủ kiến thức để đối mặt với những khó khăn của thân chủ Quá trình phát triển: 1983 Meyer tiếp tục xây dựng và mở rộng ra để đáp ứng nhu cầu giảng dạy tại Mỹ Theo thời gian, Germain và Alex nhận thấy rằng quan điểm sinh thái không chỉ có thể áp dụng trong CTXH cá nhân mà còn thích hợp để áp dụng cho CTXH nhóm, CTXH cộng đồng và họ đã dựa trên thành quả nghiên cứu có được để phát triển mô hình đời sống (Life model) dùng trong thực hành Hiện nay, lý thuyết hệ thống sinh thái đã được áp dụng giảng dạy và đưa vào thực hành trên toàn thế giới
Lý thuyết hệ thống sinh thái và tiếp cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái theo truyền thống được dựa trên một mô hình tâm lý học của Freud, trong đó chẩn đoán
và điều trị tập trung chủ yếu vào tâm lý của thân chủ và sự can thiệp tích cực, nhanh chóng của gia đình Điểm đặc biệt nhất của cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh