1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi của lễ kỳ yên trong các ngôi đình được xếp hạng cấp quốc gia ở thành phố hồ chí minh

244 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HỮU NHÂN BIẾN ĐỔI CỦA LỄ KỲ YÊN TRONG CÁC NGÔI ĐÌNH ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA Ở THÀNH PHỐ HỒ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HỮU NHÂN

BIẾN ĐỔI CỦA LỄ KỲ YÊN TRONG CÁC NGÔI ĐÌNH

ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ NGÀNH: 8229040

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HỮU NHÂN

BIẾN ĐỔI CỦA LỄ KỲ YÊN TRONG CÁC NGÔI ĐÌNH

ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ NGÀNH: 8229040

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Hoàng Lan

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành luận văn này, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Đặng Hoàng Lan, người đã khơi mở và hướng dẫn tôi thực hiện công trình nghiên cứu của mình

Trong quá trình thực hiện, người viết luận văn đã nhận được sự hỗ trợ về tư liệu của Ban Quý tế tại các đình Bình Đông, đình Bình Hòa, đình Chí Hòa, đình Phú Nhuận, Thư viện Tổng hợp TP.HCM, Thư viện của trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân Văn, ĐHQG TP.HCM Nếu không có những nguồn tài liệu này, người viết khó có thể hoàn thành được công trình của mình

Lời cuối, xin dành lời cảm ơn đến gia đình, thầy cô, đồng nghiệp và bằng hữu

đã luôn đồng hành, hỗ trợ, động viên để giúp tôi hoàn thành luận văn và theo đuổi công việc nghiên cứu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Hoàng Lan

Các số liệu, biểu đồ, bảng thống kê, hình ảnh, thông tin, trích dẫn trong Luận văn được tra cứu và chú thích nguồn rõ ràng, đảm bảo tính trung thực và khoa học trong quá trình nghiên cứu của tác giả

Toàn văn luận văn chưa được công bố trên các phương tiện thông tin dưới bất

cứ hình thức nào

Trang 5

Mục lục

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 13

8 Bố cục của đề tài 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15

1.1 Các khái niệm có liên quan 15

1.1.1 Đình 15

1.1.2 Lễ hội 17

1.1.3 Lễ hội Kỳ Yên 19

1.1.4 Thần Thành Hoàng 20

1.1.5 Di tích cấp Quốc gia 25

1.1.6 Văn hóa và biến đổi văn hóa 27

1.2 Các lý thuyết tiếp cận 30

1.2.1 Mô hình cấu trúc văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử 30

1.2.2 Lý thuyết biến đổi văn hóa 31

1.2.3 Lý thuyết chức năng 32

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân cư và xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 33

1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 33

1.3.2 Dân cư và xã hội 34

1.4 Tổng quan về các ngôi đình được nghiên cứu 36

1.4.1 Đình Bình Đông 37

1.4.2 Đình Bình Hòa 39

1.4.3 Đình Chí Hòa 41

1.4.4 Đình Phú Nhuận 42

Tiểu kết chương 1 45

Trang 6

CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG LỄ HỘI KỲ YÊN TẠI CÁC

NGÔI ĐÌNH ĐƯỢC XẾP HẠNG DI TÍCH CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH 46

2.1 Biến đổi dưới góc nhìn văn hoá nhận thức 46

2.2 Biến đổi dưới góc nhìn văn hoá tổ chức 50

2.2.1 Cơ cấu tổ chức và nhân sự tham gia 53

2.2.2 Thời lượng của kỳ lễ 57

2.2.3 Nội dung chương trình lễ 57

2.2.4 Nghi thức tế lễ 58

2.2.5 Hoạt động bái tế 58

2.2.6 Các diễn lễ trong lễ hội Kỳ Yên 60

2.3 Biến đổi dưới góc nhìn văn hoá ứng xử 83

2.4 Nguyên nhân biến đổi 91

Tiểu kết chương 2 94

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ KỲ YÊN VÀ ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 96

3.1 Giá trị văn hóa của lễ Kỳ Yên 96

3.1.1 Giá trị về tâm linh, tinh thần 96

3.1.2 Giá trị về giáo dục 98

3.1.3 Giá trị về bảo tồn, lưu giữ truyền thống dân tộc 99

3.1.4 Giá trị về gắn kết cộng đồng 100

3.1.5 Giá trị giải trí, vui chơi 102

3.2 Lễ Kỳ Yên trong các mối quan hệ 103

3.2.1 Đối với quá trình đô thị hóa thành phố 103

3.2.2 Đối với thanh thiếu niên hiện nay 104

3.2.3 Đối với việc giáo dục cộng đồng 105

3.3 Tác động của sự biến đổi việc thực hành lễ Kỳ Yên trong đời sống đô thị hiện nay 106

3.3.1 Tác động tích cực 106

3.3.2 Tác động tiêu cực 107

3.4 Định hướng và giải pháp bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá trong lễ Kỳ Yên 110

3.4.1 Định hướng 112

3.4.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội Kỳ Yên 115

Tiểu kết chương 3 118

Trang 7

KẾT LUẬN 121 TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC 130

Trang 8

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Đã từ bao lâu nay, thiết chế đình làng cùng với các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của nó đã trở thành một nét độc đáo trong nền văn hóa của dân tộc ta Đình làng không chỉ đóng vai trò như là một cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng, mà đó còn là nơi

để thực hiện những cuộc hội họp quan trọng và trong những nếp sinh hoạt mang tính chất cộng đồng, làng xã của người dân trong một làng truyền thống ở nước ta Đình làng không chỉ là nơi thể hiện những thành tựu kiến trúc qua các thời đại

mà đó còn là “tiếng nói” của mỗi thành tựu về mặt tư tưởng, trí tuệ về nhân sinh quan và thế giới quan của từng thời đại còn đọng lại cho đến tận ngày nay Trong thiết chế đình làng, thì quan trọng nhất chính là các sinh hoạt tín ngưỡng, đặc biệt là

lễ Kỳ Yên, là buổi lễ mang tính trang nghiêm mà thông qua đó, người dân gửi gắm những niềm mong cầu chân thành nhất, chính đáng nhất đến các đấng thần linh siêu nhiên tối cao theo quan niệm cổ xưa của tổ tiên ta, để cầu xin sự an lành, sự may mắn và trọn vẹn trong cuộc sống thường ngày

Hiện nay, trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, cũng như quá trình đô thị hóa đang phát triển mạnh mẽ (nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh) thì đình làng hiện nay đã, đang dần bị ảnh hưởng lớn, cả về diện mạo vật chất lẫn các lễ hội tinh thần Quá trình đô thị hóa đang dần thu hẹp không gian của đình làng, bên cạnh đó, đời sống khoa học và tiện nghi hiện đại cũng đã gây ra các tác động thay đổi lớn cho các hoạt động tín ngưỡng nơi đình làng

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có số lượng dân cư được xếp vào nhóm đông dân của nước ta, với nền kinh tế sôi động, nhịp sống trẻ, hiện đại và đời sống kinh tế, xã hội luôn thay đổi nhanh chóng Ngôi đình vẫn tồn tại cùng với những nếp sinh hoạt tín ngưỡng thường niên mà không hề mất đi theo dòng lịch sử như nhiều nếp sinh hoạt dân gian nơi thành thị khác Tuy nhiên, những sinh hoạt tín ngưỡng này hiện nay, so với những tập tục cũ trước đây, đã không còn nét nguyên

Trang 9

bản nữa, mà đã có nhiều sự đổi mới cho phù hợp với xu hướng phát triển chung của

cả nước

Trước sự biến đổi đó, chúng ta cần có cái nhìn thấu đáo để đánh giá và xem xét nó, cần có những đề tài nghiên cứu khoa học, để từ đó có những nhận định, đánh giá khách quan; đề xuất các giải pháp, kiến nghị với các cấp có thẩm quyền nhằm bảo lưu, giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần đó Với mục đích này, chúng tôi

chọn đề tài: “Biến đổi của lễ Kỳ Yên trong các ngôi đình được xếp hạng cấp quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn thông qua việc nhận diện các dấu

hiệu văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng cúng lễ Kỳ Yên trong các ngôi đình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và xem xét nó dưới góc độ văn hóa học để góp phần lý giải hiện tượng biến đổi văn hóa đang diễn ra trong cuộc sống tâm linh của người dân nước ta nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử hình thành tương đối muộn hơn so với các vùng miền khác trên đất nước ta, nhưng lại là một vùng đất có nhiều nét văn hóa đặc biệt và rất đáng giá cho các công trình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vùng đất này như tác giả Hà

Minh Hồng với quyển sách Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh, Hành Trình 100 Năm (1911 - 2011) do nhà xuất bản Tổng hợp ấn hành năm 2011 mang đến cho độc

giả một cái nhìn tổng hợp, có hệ thống về những nét vàng son của cả một hành trình lịch sử, đi từ truyền thống đến hiện đại, của thành phố mang tên Bác

Tác phẩm Từ Bến Nghé tới Sài Gòn của tác giả Trần Nhật Vy xuất bản vào

năm 2015 tại nhà xuất bản Văn hóa văn nghệ, đã khắc họa một hình ảnh sinh động

về các dấu ấn đặc sắc của con người và vùng đất này về các mặt như quy hoạch thành phố, kiến trúc, giao thông, cùng với các di tích lịch sử đã trở thành biểu tượng của thành phố

Trang 10

Tác giả Nguyễn Thanh Lợi với tác phẩm Sài Gòn đất và người do nhà xuất

bản Tổng Hợp xuất bản năm 2015 đã mang đến một góc nhìn khác về thành phố Hồ Chí Minh khi viết về những tên địa danh đất và người, cùng những diễn biến lịch

sử, nhịp sống đời thường; bàn về cộng đồng dân cư, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, quan điểm thẩm mỹ, cùng với sự giao lưu văn hóa của thành phố trong quá khứ và hiện tại Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của những tác giả nghiên cứu về thành phố Hồ Chí Minh với nhiều đề tài từ lịch sử, văn hóa, nghệ

thuật được tập hợp trong bộ sách Nam Bộ đất & người do Hội Khoa học Lịch sử

thành phố Hồ Chí Minh biên soạn và xuất bản tập 1 từ năm 2002 đến tập mới nhất

là tập 14 xuất bản năm 2019 cũng đã cho thấy những đóng gớp rất quan trọng vào quá trình tìm hiểu sâu hơn về vùng đất này

2.1 Những công trình đề cập đến đình làng ở nước ta và các di tích đình được công nhận cấp Quốc gia trên địa bàn TP.HCM

2.1.1 Các công trình viết về đình

Khi nhìn lại các công trình của các nhà nghiên cứu về thiết chế đình làng ở nước ta nói chung và ngôi đình ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thì đã có nhiều công trình đã được công bố như:

Bài viết của nhà nghiên cứu Trịnh Cao Tưởng mang tiêu đề Đình làng – điểm lại bước đi ban đầu được in trong tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật năm 1982 số 1

Bài viết nêu lên một cái nhìn tổng hợp về thiết chế đình làng nước ta về các vấn đề như lịch sử hình thành, vị trí xây dựng đình, kết cấu kiến trúc của đình

Tác giả Trần Lâm Biền trong bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật

số 4 năm 1983 với tiêu đề Quanh ngôi đình làng – Lịch sử nói về lịch sử và nguồn

gốc hình thành nên ngôi đình ở nước ta, cũng như nêu ra kiến giải của tác giả về vị thần quan trọng nhất, vị thần tối cao trong thiết chế đình làng là thần Thành Hoàng

Công trình Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Hinh

do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1996 cho thấy cái nhìn tổng thể về

Trang 11

lịch sử hình thành đình Việt Nam cũng như phân tích về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng trong đình ở nước ta

Bài viết Tín ngưỡng thờ Thành hoàng dưới triều Nguyễn của tác giả Đặng Văn Thắng in trong sách Bảo tồn & Phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn TP

Hồ Chí Minhdo nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2002, đã liệt kê được sụ phân loại

các vị Thần được xếp hạng và được thờ trong đình dưới triều Nguyễn, như: Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần (Cấp cho thôn Thoại Sơn, tổng Định Phú, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang), ngày 15 tháng 8 năm Bảo Đại thứ 18 (1943)); Quảng hậu Chính trực Hựu thiện Đôn ngưng (Cấp cho thôn Phú Nhuận, huyện Bình Dương (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh), ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (8/1/1853)); Quảng hậu Chính trực Hựu thiện Đôn ngưng (Cấp cho thôn Thường Lạc, huyện Đông Xuyên (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (8/1/1853))

Công trình Đình Việt Nam của nhóm tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự,

Phạm Ngọc Long xuất bản năm 1992, tái bản năm 2014, là một công trình khoa học

có chất lượng về việc nghiên cứu hệ thống đình làng trên cả nước

Bài viết Đình làng Bắc bộ của tác giả Lê Hữu Trúc đăng trên tạp chí Kiến trúc

số 11 năm 2017 đã cho ta cái nhìn tổng quát về hình ảnh ngôi đình vùng Bắc bộ để

từ đó so sánh với ngôi đình ở Nam bộ, về những nét đẹp kiến trúc cũng như những giá trị về mặt nghệ thuật và văn hóa nơi đình làng cổ

2.1.2 Các công trình viết về đình ở thành phố Hồ Chí Minh

Về luận văn, luận án thì đầu tiên phải kể đến luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn minh Việt Nam của Nguyễn Long Thao bảo vệ năm 1974 tại trường đại học

Văn khoa Sài Gòn, với đề tài Nghiên cứu một ngôi đình làng Miền Nam – Phú Nhuận Đình, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đình Phú Nhuận để thông qua đó tìm

hiểu về kiến trúc đình miền Nam, về tín ngưỡng của người dân, về việc thờ cúng tại đình trong những ngày đại lễ

Trang 12

Luận án tiến sĩ ngành Dân tộc học của tác giả Lê Sơn với đề tài Hội đình Thông Tây Hội Gò Vấp trong bối cảnh hội đình làng tại Nam Bộ, bảo vệ năm 1996

tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Tp.HCM, luận án đã trình bày về hội đình Thông Tây Hội tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, đề tài còn tập trung nghiên cứu về thiết chế đình Thông Tây Hội từ lịch sử hình thành, vị trí xây dựng, kiến trúc cho đến các lễ hội của đình như một đối tượng riêng biệt và sau đó đặt nó vào trong bối cảnh chung của hội đình làng ở Nam Bộ

Về các bài viết nghiên cứu về ngôi đình ở thành phố Hồ Chí Minh, còn có tác

giả Nguyễn Quốc Chính với Đình làng trong một phần tín ngưỡng của người dân Nam Bộ, in trong sách Nam Bộ Đất & Người, tập 2 xuất bản năm 2004 do nhà xuất

bản Trẻ ấn hành, bài viết phân tích về việc các vị thần được thờ cúng theo các tín ngưỡng khác nhau của người dân Nam bộ tại đình làng

Tác giả Hồ Tường với công trình Đình ở thành phố Hồ Chí Minh do nhà xuất

bản Trẻ xuất bản năm 2005 Tác phẩm là một tập hợp những tri thức và nghiên cứu của tác giả về các ngôi đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực từ kiến trúc, tín ngưỡng, lễ hội đình cho đến vị trí của đình trong đời sống văn hóa của người dân thành phố

Tác giả Trần Ngọc Khánh có bài viết về đình làng với tiểu đề Đình làng Nam

Bộ và các giải pháp tồn sinh trong quá trình đô thị hóa Sài Gòn – Tp Hồ Chí Minh

đăng trên diễn đàn văn hóa học của trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng năm

2008, cho thấy những thực trạng hiện nay của những ngôi đình làng trong bối cảnh

đô thị hóa, đồng thời cũng nêu lên những giải pháp bảo tồn cụ thể

Luận văn ngành Văn hóa học Ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ của tác giả

Nguyễn Thị Minh Ngọc bảo vệ năm 2011 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, đã có những nghiên cứu chi tiết về ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ về kiến trúc, xây dựng đình, các tổ chức sinh hoạt đình và nêu lên vai trò của đình trong đời sống văn hóa của ngươi dân miền Tây Nam Bộ

Trang 13

2.2 Những công trình đề cập đến lễ hội và lễ Kỳ Yên của đình

Về hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng đình và các tín ngưỡng dân gian ở Nam bộ nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thì có tác giả Trần Thị Ngọc Diệp

với bài viết Một ngôi đình miền Nam in trong tập san Khảo cổ học số 6805, xuất

bản năm 1968 đã mô tả chi tiết về hoạt dộng cúng các lễ lớn trong đình làng Nam

Bộ mà tiêu biểu là lễ Kỳ Yên

Tác giả Nguyễn Thị Minh Hoa trong tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật

số 107 xuất bản năm 1992 có bài lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú đã phác họa hoạt động

cúng lễ Kỳ Yên nhưng chỉ mới dừng lại ở hoạt động mô tả sơ bộ về lễ hội

Về tài liệu nghiên cứu đối tượng được thờ cúng chính là thần Thành Hoàng

tiêu biểu có sách Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam do Nguyễn Duy Hinh viết

được xuất bản năm 1996, do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành đã mang lại một kiến thức sâu rộng cho người đọc về vị thần tối cao trong đình làng Việt Nam

Luận án tiến sĩ ngành Dân tộc học của tác giả Quách Thu Nguyệt với đề tài Hội đình của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ năm 1996 tại Viện Khoa học

Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, đã tập trung nghiên cứu vấn đề lễ hội, các nghi thức cùng các sinh hoạt tín ngưỡng diễn ra trong đình làng ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như của Nam bộ nói chung

Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và các cộng sự với tập sách Đình Nam bộ, tín ngưỡng và nghi lễ do nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993; sau

đó đến năm 2018 thì nhóm tác giả đã xuất bản thêm tác phẩm Đình Nam bộ xưa và nay do nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ ấn hành, để trình bày khái quát lên những

nghi lễ, những hoạt động tín ngưỡng, những lễ hội trong thiết chế đình ở vùng đất Nam bộ Tác phẩm cũng cung cấp các bản văn tế, những bản sắc phong thần, cũng như bàn về vị trí của ngôi đình trong đời sống người dân Nam bộ

Luận án tiến sĩ ngành Sử học của tác giả Huỳnh Quốc Thắng về đề tài Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam bộ (khía cạnh giao tiếp văn hoá dân tộc) bảo vệ thành công năm 1999 và sau này là công trình Lễ hội dân gian ở Nam Bộ do nhà

Trang 14

xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2003, với bài viết Lễ hội thờ cúng thần Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử, cả hai công trình đều có phân tích ngôi đình

Nam Bộ cũng như thần Thành Hoàng và các đối tượng được phối thờ trong đình, về các lễ nghi và hội đình

Tác giả Toan Ánh với hai tác phẩm Nếp cũ hội hè đình đám – quyển thượng

và Nếp cũ Tín ngưỡng Việt Nam – quyển thượng xuất bản năm 2005 do nhà xuất

bản Trẻ ấn hành đã nêu lên một cách rõ ràng và chi tiết về một kỳ lễ Kỳ Yên với những lễ thức và quy tắc truyền thống, nhưng cũng chưa bàn về vấn đề biến đổi của

lễ Kỳ Yên hiện nay

Đầ tài luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học của tác giả Trần Quang Ánh bảo vệ năm 2007 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

thành phố Hồ Chí Minh về đề tài Biến đổi văn hóa truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở huyện Hóc Môn – thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến hệ thống

đình làng tại Hóc Môn trong đời sống đô thị hóa và những thay đổi về kiền trúc, lễ hội, khuôn viên nhưng chỉ dừng lại ở việc miêu tả tổng quan

Tác giả Sơn Nam với tác phẩm Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam do

nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2014 đã nêu lên vấn đề về việc lập đình miếu với những lễ bái, lễ hội trong dân gian

Tác giả Hoàng Thị Hiếu với đề tài luận văn ngành Văn hóa học Lễ hội đình Tân Thới Nhất ở Bà Điểm, Hóc Môn trong bối cảnh đô thị hóa,bảo vệ năm 2017 tại

trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung nghiên cứu các lễ hội là lễ Kỳ Yên và lễ Cầu Bông vào trong bối cảnh của sự thay đổi do quá trình thị hóa ở huyện Bà Điểm, Hóc Môn

Có thể nói, các công trình nghiên cứu về vùng đất thành phố Hồ Chí Minh và sinh hoạt tín ngưỡng ở nơi đây là khá nhiều Thế nhưng, các nghiên cứu này đã nhìn

từ nhiều góc độ khác nhau: từ địa lý, kinh tế, lịch sử, xã hội, con người cho đến các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, nhưng vấn đề về sinh hoạt tín ngưỡng và đặc biệt là

lễ hội Kỳ Yên cùng những biến đổi của nó trong đình làng trên vùng đất này dường

Trang 15

như vẫn còn quá ít Kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước và

sử dụng những kết quả nghiên cứu đó làm tài liệu tham khảo quan trọng, đề tài

“Biến đổi của lễ Kỳ Yên trong các ngôi đình được xếp hạng cấp quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh” tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn về đời

sống văn hóa tinh thần gắn liền với các sinh hoạt tín ngưỡng đình làng của người dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong sự biến đổi đời sống trong bối cảnh

đô thị hóa và hội nhập quốc tế ngày nay

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra những biến đổi trong lễ Kỳ Yên tại các ngôi đình làng được công nhận di tích cấp Quốc gia trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Từ việc nghiên cứu về sự biến đổi đang diễn ra trong lễ Kỳ Yên hiện nay, để tìm ra những nguyên nhân, những yếu tố tác động đã phần nào làm ảnh hưởng đến hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian này trong bối cảnh xã hội hiện đại Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn khách quan hơn, đúng đắn hơn về ý nghĩa của

lễ hội này, cũng như những giá trị văn hóa đã phần nào thay đổi của nó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự biến đổi của lễ hội Kỳ Yên hiện nay

so với lễ hội truyền thống trước đây trong các đình làng đã được công nhận là di tích cấp Quốc gia

- Không gian nghiên cứu: là các đình làng của người Việt trên địa bàn thành

phố Hồ Chí Minh (các đình làng đã được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp Quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh) Hiện nay theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh (năm 2017) thì trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 49 ngôi đình đã được công nhận Di tích cấp Quốc gia Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn 04 ngôi đình để khảo sát trong luận văn là:

- Đình Bình Đông nằm trên cù lao giữa dòng Kinh Đôi, phường 7, quận 8

- Đình Bình Hòa tại số 15/77, Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh

Trang 16

- Đình Chí Hòa tài số 475/77 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 13, quận

10

- Đình Phú Nhuận tại số 179/18 Mai Văn Ngọc, phường 10, quận Phú Nhuận

Lý do chọn những ngôi đình trên do căn cứ vào các tiêu chí sau: thứ nhất là dựa trên niên đại của những ngôi đình, đây đều là những ngôi đình có niên đại hình thành vào khoảng những năm đầu thế kỷ XIX, cùng với thời gian hình thành thành phố Sài Gòn - Gia Định (tiền thân của thành phố Hồ Chí Minh ngày nay); thứ hai là dựa trên tiêu chí về vị trí địa lý của các ngôi đình và thứ ba là dựa trên điều kiện kinh tế của địa phương cũng như của riêng từng ngôi đình

Đình Bình Đông là ngôi đình có vị trí khá biệt lập và đặc thù, riêng lẻ trên cù lao Bà Tàng Đặc biệt, đây cũng là nơi có sự phối thờ vị anh hùng dân tộc là Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên cạnh vị thần Thành hoàng của đình

Đình Bình Hòa có niên đại xây dựng khá sớm, vào khoảng vào đầu thế kỷ XIX và có nhiều sự biến động lớn trong suốt thời gian tồn tại của đình (được cho thuê làm kho muối, làm cơ sở sản xuất bao bố ) cho nên sự thờ cúng thần Thành hoàng đã có một khoảng thời gian bị bỏ dỡ

Đình Chí Hòa là ngôi đình có vị trí tốt khi nằm trong khu vực có nền kinh tế sầm uất và sôi động nhất, đây cũng là ngôi đình có dấu ấn lịch sử khi là nơi dạy học của cụ Võ Trường Toản

Đình Phú Nhuận được chọn làm địa điểm khảo sát vì đây cũng là một ngôi đình cổ có niên đại lâu đời, được xây dựng vào năm 1852 và là ngôi đình duy nhất nằm trên địa bàn quận Phú Nhuận Đình Phú Nhuận cũng là một trong những ngôi đình nổi tiếng vì được bách tính công nhận về sự linh thiêng của vì thần Thành Hoàng tại đình và có sự gìn giữ khá đầy đủ những nguyên tắc cúng tế trong lễ Kỳ Yên

Trang 17

- Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu của luận văn là từ năm 1986 đến 2019, vì năm 1986 là năm đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp, mở đường cho nền kinh tế thị trường Kéo theo đó là những chính sách mới có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, chính trị

Nghiên cứu đến hiện nay (năm 2019), vì đây là giai đoạn mà đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển của nền công nghiệp thế hệ thứ 4 (thời đại công nghiệp 4.0), là thời đại khoa học công nghệ tiên tiến, với nền tảng blockchain và hệ thống tiền tệ ảo, là thời kỳ mà sự tất bật và vội vàng của nhịp sống công nghệ có tác động rất mạnh mẽ đến đời sống của người dân nước ta Tất cả những thay đổi này đã và đang gây ra các tác động không nhỏ đến các hoạt động tín ngưỡng làng xã như lễ

Kỳ Yên là một điển hình Trong chừng mực nhất định, chúng tôi cũng so sánh với hoạt động của lễ hội này hiện nay với trước năm 1975

Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 2 năm 2018 đến 11 năm 2019 vì đây là khoảng thời gian tác giả bắt đầu tiến hành đi khảo sát tại địa bàn nghiên cứu để thực hiện đề tài này

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục đích tìm hiểu, nhận diện những nét biến đổi trong lễ hội Kỳ Yên hiện nay, chúng tôi đặt ra những câu hỏi để xác định hướng đi cho việc nghiên cứu của mình như sau:

- Lễ Kỳ Yên hiện nay tại 04 ngôi đình được chọn nghiên cứu đã có những biến đổi như thế nào?

- Những nguyên nhân nào đã dẫn đến sự biến đổi như trên?

- Trước những biến đổi đang diễn ra, cần có những hướng xử lý như thế nào

để bảo toàn được các giá trị vốn có của một lễ hội Kỳ Yên truyền thống?

Trang 18

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời cho những câu hỏi trên, chúng tôi nêu ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

- Lễ Kỳ Yên hiện nay tại các ngôi đình được chọn khảo sát trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có một số biến đổi rõ rệt Các biến đổi này diễn ra từ cả hình thức sinh hoạt tín ngưỡng là những nghi lễ tế tự, cách cúng bái, vật phẩm cúng tế… cho đến những giá trị văn hóa nội tại của một thiết chế văn hóa là sự nhận thức, tổ chức và ứng xử của con người trong quá trình thực hiện lễ hội truyền thống dân tộc này

- Từ việc nhìn nhận sự biến đổi đã xảy ra đó, chúng tôi cho rằng những nguyên nhân đã gây ra các biến đổi là từ bốn nguyên nhân chủ yếu sau: Sự giao lưu văn hóa; Xã hội mới và hoàn cảnh sống mới; Sự đô thị hóa mạnh mẽ tại các thành phố lớn và sự ý thức và lựa chọn của con người trong đời sống hiện nay

- Từ những nhận định về các giá trị văn hóa vốn có của lễ hội Kỳ Yên cùng với những yếu tố quan trọng của lễ hội, tác giả xin nêu ra một số đề xuất nhằm đóng góp thêm những phương hướng để tiến hành bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc này

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện việc nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích các tài liệu, các bài viết, các công trình nghiên cứu và các sách, báo đã được xuất bản của các nhà nghiên cứu đi trước

về thiết chế đình, các lễ hội, các tín ngưỡng dân gian để làm cơ sở nền tảng cho lý luận của mình Bằng cách đọc các tài liệu nghiên cứu về lễ hội Kỳ Yên từ trong quá khứ để có được cái nhìn tổng quát hơn về lễ hội dân tộc này, từ ý nghĩa tồn tại cho đến cách thức thực hiện để từ đó so sánh với các hoạt động cúng tế lễ Kỳ Yên hiên

Trang 19

nay đang diễn ra tại các ngôi đình được chọn khảo sát nhằm chỉ ra được các sụ biến đổi cũng như giải thích được nhưng sự biến đổi đó trong bối cảnh hiện nay

 Phỏng vấn sâu

Để thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu này, đối tượng được được chọn chia làm

2 cấp: cấp cộng đồng, và cấp quản lý và chuyên gia Trong đó cấp cộng đồng bao gồm: những người dân đến tham gia thực hành nghi lễ, bái lễ thần Thành hoàng tại Đình Cấp quản lý và chuyên gia là những người quản lý trực tiếp Đình, những vị chức sắc trong ban Quý tế chịu trách nhiệm chỉ đạo, thực hiện lễ tế và lo các việc của đình, và những vị lãnh đạo các ban ngành có liên quan Tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu cho đến khi thông tin bão hoà

Việc phân chia các thành phần tham gia trong các lễ hội của đình là để tìm hiểu về những suy nghĩ, về đức tin và lòng thành kính mà người dân dành cho các

vị thần trong đình; đồng thời cũng để có cái nhìn đa chiều hơn về quan niệm của

Trang 20

người dân trong việc thực hành các lễ nghi ngày nay so với ngày trước, để từ đó thấy được sự thay đổi về lòng tin và ý niệm tâm linh của người dân thành phố trong việc cúng lễ đình làng

- Phương pháp so sánh

Chủ đề chính của luận văn là chỉ ra sự biến đổi của lễ Kỳ Yên, nên sử dụng phương pháp so sánh theo lịch đại là rất cần thiết để tìm ra sự khác biệt qua các thời

kỳ lịch sử Bằng cách thực hiện việc so sánh các quy trình diễn ra lễ, nghi thức tế lễ,

sự bảo toàn các buổi lễ, cơ cấu thanh phần thực hiên lễ tế, các lễ vật… trong lễ hội

Kỳ Yên giữa quá khứ với hiện tại để nhằm tìm ra những nét tương đồng hay khác biệt giữa lễ hội Kỳ Yên hiện nay so với trước đây; từ những sự thay đổi về hiện tượng đó sẽ giúp ta thấy được những giá trị văn hóa đã thay đổi cũng như nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan cho những thay đổi đó

Trong điều kiện nhất định, chúng tôi cũng sẽ tiến hành so sánh theo đồng đại giữa 04 ngôi đình được chọn khảo sát, để chỉ ra được những điểm chung và khác biệt trong lễ Kỳ Yên tại từng ngôi đình, từ đó làm rõ hơn những nhận định về nguyên nhân của sự biến đổi cũng như mức độ biến đổi giữa quá khứ và hiện tại

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt khoa học: Luận văn là một công trình khoa học tương đối có hệ thống,

mang lại cái nhìn đúng đắn, hoàn chỉnh thông qua việc nêu lên những đặc trưng sinh hoạt tín ngưỡng của lễ Kỳ Yên trong các ngôi đình đã được công nhận cấp Quốc gia ở thành phố Hò Chí Minh, cũng như cho thấy sự biến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay, khi tiếp cận nó dưới góc độ văn hóa học, từ đó góp phần vào việc nghiên cứu sự biến đổi trong các ngôi đình ở Việt Nam nói chung và tại thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng

Về mặt thực tiễn: Tiếp nối các đề tài đã có trước đây, luận văn đóng góp thêm

một phần vào kho tàng tư liệu về những sinh hoạt tín ngưỡng trong thiết chế đình làng của dân tộc ta, để từ đó giúp cho các nhà quản lý, các cơ quan chức năng có

Trang 21

thêm nhiều tư liệu trong việc thực thi các chính sách về lưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp này của dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế- xã hội Đề tài cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên của các trường cao đẳng, đại học

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn luận và phần kết luận, luận văn có bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn, đối tượng nghiên cứu

Chương này tác giả nêu lên một cách khái quát về các khái niệm có liên quan đến đề tài; khung lý thuyết tiếp cận; đồng thời cung cấp một cái nhìn khái quát về vùng đất và con người thành phố Hồ Chí Minh; tổng quan về các ngôi đình được công nhận cấp Quốc gia trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2: Hiện trạng những biến đổi trong lễ hội Kỳ Yên tại các ngôi đình được xếp hạng cấp Quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh

Chương này là phần miêu thuật về lễ Kỳ Yên diễn ra trong các ngôi đình đã được công nhận di tích cấp quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và những biến đổi của nó so với trước đây

Chương 3: Giá trị văn hóa của lễ Kỳ Yên và định hướng, giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Chương này làm rõ các giá trị văn hóa trong lễ Kỳ Yên, đồng thời nêu lên những định hướng và đề xuất một số giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị trong lễ hội này

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN,

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trong chương này tác giả trình bày khái quát các khái niệm liên quan và cơ

sở lý thuyết đẻ tiếp cận vấn đề nghiên cứu như khái niệm về Đình làng, thần Thành

Hoang Bổn Cảnh, lễ hội Kỳ Yên, văn hóa và biến đổi văn hóa, di tích cấp quốc gia;

mô hình cấu trúc văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ưng xử, lý thuyết

biến đổi văn hóa và lý thuyết chức năng Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày tổng

quan về các ngôi đình được chọn khảo sát của đề tài để làm cỏ sở lý luận của luận

văn

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Đình

Ngôi đình làng trang nghiêm từ bao đời nay đã trở thành nét đẹp của quê

hương, đã đi vào tâm thức ngàn đời của người dân Việt Nam ta Nó được sinh ra bởi

sự sáng tạo, lao động và tín ngưỡng của dân tộc và với niềm yêu thương trân quý,

đã được dân gian ta sử dụng như một biểu tượng để lồng ghép vào trong những câu

ca dao, tục ngữ mang đậm nét đẹp quê hương, tình cảm nơi xóm làng, tình yêu của

đôi lứa như:

“Cây đa, bến nước, sân đình,

Đi xa ta nhớ nghĩa mình mình ơi.”

Hay

“Qua đình ngả nón trông đình,

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Với dân tộc ta, ngôi đình làng đã trở thành biểu tượng đại diện cho một cộng

đồng, hay thậm chí như một chủ quyền của một ngôi làng Theo quan niệm của

người xưa, một ngôi làng dẫu cho có giàu có thế nào mà không có một ngôi đình thì

Trang 23

cũng chưa phải là một làng chính thức mà chỉ là một dạng “lưu dân tập thể”, một

thứ “lục bình trôi sông” như tác giả Sơn Nam đã đề cập “xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ” (Sơn Nam, 2014, tr 31) Chính vì lẽ đó mà mỗi một làng khi được

lập nên thì người ta đều nghĩ ngay đến việc thành lập một ngôi đình cho riêng làng mình

Theo những tư liệu nghiên cứu viết về đình làng của dân tộc ta thì trước kia

“mỗi làng đều có xây dựng một cơ ngơi được gọi là đình làng làm nơi hội họp dân làng, để treo những sắc lịnh và huấn dụ của nhà vua” (Sơn Nam, 2014, tr 26) Theo nhiều nhà nghiên cứu thì ngôi đình ở nước ta “xuất hiện vào thời nhà Trần ở vùng Bắc Bộ với mục đích làm nơi nghỉ chân cho vua, quan khi đi thị sát dân tình,

là nơi đình trạm phục vụ cho việc giao thông truyền tin tức của triều đình đi các địa phương” (Nguyễn Thế Long, 2005, tr.30) Như vậy, vào lúc ban đầu người ta chỉ sử

dụng đình như là một nơi nghỉ chân, nơi hội họp dân làng và là công sở hành chính

là chủ yếu chứ không có mục đích thờ thần linh tại đây Từ thời trước cách mạng tháng Tám, đình làng nước ta đã trở thành nơi thờ tự thần Thành Hoàng Bổn Cảnh của làng và là trung tâm sinh hoạt chính trị, xã hội, văn hóa của cộng đồng dân cư theo cơ chế nhà nước (Sơn Nam, 2014, tr 68)

Những ngôi đình làng thường được xây dựng theo lối kiến trúc nhà rường với

hệ thống các cột và kèo kết nối với nhau theo cấu trúc nhà hình chữ Đinh, chữ Công, chữ Môn hay chữ Quốc Đình thường có cấu trúc ba gian hai chái, tuy nhiên cũng có những ngôi đình lớn thì có thể tăng lên năm, bảy hoặc chín gian (Nguyễn Thế Long, 2005, tr.31) Bên trong đình thường được phân chia ra làm ba phần là: sân võ ca làm nơi diễn ra lễ xây chầu và hát bội trong dịp lễ cúng Kỳ Yên;

kế đến là sân võ quy hay còn gọi là nhà chầu, kế đến, nằm trước chính điện là nhà tiền bái và vào đến bên trong cùng là chính điện, là nơi có tính chất trang nghiêm nhất, nơi này được bài trí chỉnh chu và linh thiêng nhất, là nơi thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Bên cạnh đình là nhà Túc (là nơi ban Quý tế đình hội họp và tiếp

Trang 24

rước bạn hữu, cũng là nơi thờ tự các vị Tiên Hiền, Hậu Hiền , khu vực nhà bếp để phục vụ nấu nướng cho những dịp lễ hội, khu vực nhà ở của ông thủ Từ của đình Bên ngoài sân đình thì có thêm các miếu thờ các vị thần khác nhau, như miếu thờ nhị vị Công tử, miếu thờ Năm bà Ngũ Hành, miếu thờ thần Nông tùy theo mỗi đình mà có hệ thống những vị thần riêng của đình

Nhìn chung, đình làng là một thiết chế tín ngưỡng có nguồn gốc rất lâu đời trong lòng dân tộc ta Nó ra đời từ sự kết hợp giữa một công trình dân dụng với niềm tin và tín ngưỡng tâm linh của người dân Tâm linh, tín ngưỡng là sự cắm sâu, bén rễ vào trong tâm thức nguồn cội của dân tộc; đình làng với công dụng là nơi rộng rãi và là chốn hội họp công cộng của làng, mang đến giá trị sử dụng về mặt đời thường Dân tộc ta đã khéo léo kết hợp hai yếu tố đó lại với nhau để tạo nên ngôi đình làng với vị trí vô cùng quan trọng trong tâm trí của dân tộc

Từ những ý đã nêu trên, có thể thấy đình làng là một đặc điểm văn hóa của dân tôc Viêt Nam, nó mang tính đại diện cho một cộng đồng và được mọi người trong cộng đồng đó trân trọng, với những chức năng cụ thể là một ngôi nhà sinh hoạt chung cho cả làng, nơi để thực hiện các cuộc nghị sụ quan trọng của cộng đồng, là nơi để người dân thực hiện các hoạt động văn hóa của làng như các lễ hội, những trò chơi… trong đời sống làng xã ngày xưa

1.1.2 Lễ hội

Lễ hội là một thuật ngữ dùng để chỉ những hoạt động vừa mang tính chất lễ bái tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo vừa có tính hội hè vui chơi trong đời sống cộng đồng một dân tộc Lễ hội là một trong những hoạt động văn hoá cao, hoạt động văn hoá nổi bật trong đời sống con người Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới “xử lý” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó Hoạt động này diễn ra với những hình thức khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người; thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống

Trang 25

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “lễ hội là cuộc vui được tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc”

(Hoàng Phê, 2003, tr 561)

Theo tác giả Huỳnh Quốc Thắng trong tác phẩm Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ thì lễ hội dân gian là một thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian xoay quanh hai nội dung cơ bản là lễ và hội “Lễ là phần thiêng nên có các nghi thức, quá trình nghiêm ngặt chặt chẽ, ít thay đổi và chủ yếu gắn với nhu cầu tâm linh và Hội là đời thường (trần tục), nơi giải tỏa tâm lý, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng” (Huỳnh Quốc

Thắng, 2003, tr 40-41)

Như vậy ta thấy “lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời

Lễ là phần đạo đức, tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa mà chúng ta luôn mong muốn được đáp ứng bên trong mỗi con người, nó được thể hiện thông qua những quy tắc, cách thức thực hiện đã được cộng đồng định ra và tuân thủ thực hiện một cách nghiêm ngặt để kết nối với các đấng siêu nhiên từ thuở xa xưa

Hội là các trò diễn mang lại những niềm vui và sự háo hức cho cộng đồng, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng Bên trong lễ hội là sự tổng hợp những giá trị tinh hoa cả về vật chất và tinh thần của một cộng đồng, đó là thành quả của ý thức, sự sáng tạo, quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan và được đúc kết, lồng ghép vào trong đó những ước vọng, mong muốn của con người khi đối mặt với các đấng thần linh Con người sống trong trời đất, chịu sự chi phối của những thế lực tự nhiên không thể giải thích được, cho nên con người sợ hãi và tôn thờ Trước thờ trời đất, sau thờ các vị thần linh, đến nữa là thờ quân vương, và cuối cùng là thờ cha mẹ, tổ tiên, và lễ thức ra đời để đáp ứng cho nguyện vọng đó Trong cuộc sống trần tục, con người làm lụng vất vả quanh năm nên cần có những sự vui chơi giải khuây để nghỉ ngơi và gắn kết với nhau, hội hè ra đời để mang lại cho con người sự cần thiết đó Vì lẽ đó, lễ hội đã

Trang 26

trở thành một cột trụ tinh thần không thể thiếu trong đời sống của bất kỳ một cộng đồng dân cư nào

Theo thông kê của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch thì hiện nay nước ta có gần 8.000 lễ hội lớn nhỏ rải rác khắp các địa phương trên cả nước Điều này cũng là phù hợp với đời sống dân tộc ta với bề dày lịch sử hàng ngàn năm tồn tại và phát triển cũng như sự đa dạng của các tộc người trên lãnh thổ đất nước Mỗi tộc người, mỗi thời đại, trong những hoàn cảnh khác nhau sẽ có những niềm tin, những tín ngưỡng khác nhau và tất yếu sẽ hình thành nên những lễ hội khác nhau cho mục đích cụ thể nào đó mà cộng đồng, tộc người đó cầu mong

Có những lễ hội mang tính riêng biệt của từng nhóm cộng đồng, thế nhưng cũng có những lễ hội là thiêng liêng và mang tính chung cho cả dân tộc Việt Nam

như Tết Cổ truyền, lễ hội đền Hùng, lễ hội Kỳ Yên

1.1.3 Lễ hội Kỳ Yên

Lễ hội Kỳ Yên cũng mang trong nó những tính chất quan trọng của lễ hội dân gian nước ta Đó là lễ hội dân gian mang tính chất cộng đồng được truyền thừa từ trong quá khứ những tín niệm về một vị phúc thần có khả năng che chở, bảo hộ; vị thần sẽ mang lại ấm no, an lành và thịnh vượng cho một cộng đồng, một vùng định

cư theo đúng như tên gọi và ý niệm sơ khai ban đầu là thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Trong lễ hội này ta có thể được nhìn lại những nghi thức truyền thống như tam khấu cửu bái, nghi thức tửu châm tam tuần, những dáng đi, thế quỳ đã được truyền dạy từ cha ông thuở xa xưa

Theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì lễ Kỳ Yên “mỗi làng có dựng một ngôi đình, ngày cúng tế phải chọn cho được ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy lớn nhỏ đều nhóm tại đình, họ ở lại suốt đêm ấy, gọi là túc yết Sáng ngày mai, học trò lễ mặc áo, mão, gióng trống khua chiêng làm lễ chánh tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn, lễ xong lui về” (Trịnh Hoài Đức, 1972, tr

10)

Trang 27

Lễ hội Kỳ Yên (hay còn gọi là Cầu An) là một lễ hội lớn mang tính tín ngưỡng dân gian trong năm của các ngôi đình làng ở nước ta Đây được xem là một dịp lễ nhằm cảm tạ ơn đức của thần Thành Hoàng trong năm qua, đồng thời cũng là để cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, đáp ứng nhu cầu tâm linh mong mỏi một sự che chở bảo trợ trong lòng người dân khi hướng đến chiêm bái thần Thành Hoàng Từ thời xưa, đời sống người dân chủ yếu gắn liền với nông nghiệp, nên người ta thường tổ chức những cuộc lễ có tính chất gắn liền với các hoạt động nông ngiệp, trong đó quan trọng nhất là lễ Thượng Điền, Hạ Điền, Cầu Bông và nhất là lễ Kỳ Yên Trong đó hai lễ Hạ Điền và Thượng Điền là hai lễ được tổ chức hàng năm, rồi cứ mỗi ba năm, người ta lại chọn một dịp cúng Hạ Điền hoặc Thượng Điền để tổ chức đại lễ Kỳ Yên (tam niên đáo lệ Kỳ Yên) Thời gian

đó có thể là vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch hoặc vào tháng Tám, tháng Chín

âm lịch (Huỳnh Quốc Thắng, 2003, tr 72)

Có nhiều người cho rằng đây còn là một ngày giỗ lớn chung của cả làng vì trong dịp này ngoài việc thờ cúng thần Thành Hoàng làng, thì họ còn làm lễ cúng các vị Tiên hiền, Hậu hiền, vốn là những nhân vật có công lao to lớn trong việc khai thôn dựng ấp đối với người dân trong làng

Lễ hội Kỳ Yên là một lễ hội cộng đồng và do đó nó cũng mang trong mình hai yếu tố, đó là yếu tố Lễ và yếu tố Hội và ứng cùng với hai yếu tố đó là hai tính chất Thiêng và Phàm Phần lễ (thiêng) chứa đựng những yếu tố về mặt tâm linh, tinh thần khi nó hướng về đấng thần linh siêu việt để gửi gắm lòng biết ơn cũng như cầu xin sự che chở (thể hiện trong phần tế lễ); trong khi đó phần hội (phàm) lại thể hiện những giá trị về mặt vật chất, văn hóa, nghệ thuật đời thường để đáp ứng như cầu giải trí của người dân (biểu hiện là phần hát bội trong lễ Kỳ Yên)

1.1.4 Thần Thành Hoàng

Khi bàn về việc thờ cúng những vị thần linh gần gũi với người dân nước ta thì ngoài những vị phúc thần như Táo Quân, Thổ Địa, Thân Tài đối với đời sống cá nhân mà hầu như nhà nào cũng có thờ cúng bên cạnh bàn thờ thổ tiên thì vị Thần

Trang 28

Thành Hoàng Bổn Cảnh chính là đối tượng thờ cúng của một cộng đồng có sự gần gũi nhất trên nền tảng tâm linh của dân tộc ta Danh tự Thành Hoàng Bổn Cảnh là

để chỉ đến một vị thần linh có năng lực bảo hộ người dân sinh sống cùng nhau tại một vùng đất, địa phương cụ thể

Thành Hoàng nguyên thủy là một chức vị thần linh có nguồn gốc xuất hiện từ Trung Quốc Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hình đã viết trong bài viết nghiên

cứu Thần làng và Thành hoàng đã đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 9 năm 2004 thì “Thành hoàng là một khái niệm Hán, các triều đại phong kiến nước ta đã tiếp thu khái niệm đó” (tr 56-63) Theo giáo sư Hà Văn Tấn, thờ Thành Hoàng đã có từ

sớm ở Trung Quốc, như đã được ghi ở Lễ Ký Nhưng trở thành một vị thần có đền thờ riêng, sớm nhất là thời Tam quốc (220 – 265) Đó là đền thờ Thành Hoàng do Tôn Quyền lập năm 239 ở Vu Hồ, An Huy Đến thời Tùy (581 – 618) đã có tục dùng động vật tế Thành Hoàng Thời Đường (618 – 907) tục thờ Thành Hoàng đã phổ biến, có thơ văn tế Thành Hoàng Bấy giờ Thành Hoàng đã có hình ảnh con người và cũng từ đây, Thành Hoàng không còn hóa thân của thành trì nữa mà là một con người cụ thể nào đó (Đặng Văn Thắng, 2002, tr 402-412) Vai trò của vị thần Thành hoàng ban đầu của Trung Quốc chỉ đóng vai trò là người thủ hộ và bảo

vệ cho môt ngôi thành trì hay nói cụ thể hơn là bảo vệ cho nền chính trị ở đó trước các cuộc khởi nghĩa của người dân và các thế lực ngoại xâm (Nguyễn Duy Hinh,

2004, tr 57)

Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng được du nhập vào nước ta vào thời kỳ Bắc thuộc Vào năm 823, thần Tô Lịch đã trở thành vị thần đầu tiên bảo hộ cho thành Đại La Năm 1010, Lý Công Uẩn định đô và đổi tên thành Đại La thành Thăng Long, cũng cho xây dựng miếu thờ thần Tô Lịch Đến thời Trần còn có thần Long

Đỗ được thờ tự ở thành Thăng Long (Đinh Khắc Thuần, 2014, tr 115-125) Bên cạnh đó, trong dân gian thì cũng đã có việc thờ cúng thần linh trong các miếu ở địa phương mình tuy nhiên vẫn còn là manh mún, chưa được thống nhất và chưa được nhận sắc phong từ phía triểu đình Về sau thì triều đình nhận thấy ở mỗi địa phương

Trang 29

đều có những vị thần linh mà người dân đã thờ cúng từ lâu bèn tiến hành tập hợp các vị thần lại, xét rõ công trạng mà cho xây dựng các đền thờ cho dân ở các xã, địa phương thờ phụng Như vậy, vào lúc này thì thần Thành Hoàng cũng được chia thành hai nhóm khi xét theo mức độ và phạm vị ảnh hưởng là Đô Thành Hoàng được thờ ở kinh đô và Thành Hoàng làng hay thần Thanh Hoàng Bổn Cảnh, theo như Phan Kế Bình đã viết:

“Cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy để làm chủ tể cho việc âm ti một phương mà thôi Kế sau triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy

Từ đó, dân gian bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tế trong làng mình Làng nào có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà thờ Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị, việc bói khoa, việc tá khẩu, tin là một sự linh dị mà thờ Hoặc nơi thì vì một sự ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng

mà xin duệ hiệu để thờ Tổng chi là dân ta tin rằng: đất có thổ công, sông có

hà bá, cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh” (trích từ Đinh Khắc Thuần,

2014, tr 115-125)

Như vậy có thể thấy, khi đi vào dân gian thì thần Thành Hoàng có thể là một

vị trong những vị thần làng hay một vị anh hùng có nhiều công lao với nhân dân, với làng xã nên được người dân suy tôn và thờ phụng, về sau triều đình phong kiến lợi dụng uy tín của các vị thần cững như lòng tin tưởng và kính sợ của nhân dân mà tiến hành phân phong các vị thần Thành Hoàng Bổn Cảnh để đại diện cho nhà vua

mà cai quản các vị thần và dân chúng trong làng, đó là cách hợp nhất thần quyền và vương quyền rất thông minh và được lòng dân Điều đó cho thấy rõ ràng một điều rằng tín ngưỡng và sự ra đời của thần Thành Hoàng làng là đến từ phía nhân dân với sự suy tôn và kính vọng từ tâm thức tâm linh trong đời sống thường nhật của họ,

Trang 30

triều đình phong kiến chỉ đứng ra hợp thức hóa và làm cho nó trở thành một chỉnh thể có tính hệ thống và khuông phép hơn (Nguyễn Duy Hinh, 1996)

Việc tế tự thần Thành Hoàng đã được triều đình nhà Nguyễn quy định rất rõ ràng thông qua những nghi thức tế tự, những cấp bậc thần linh đã được triều đình sắc phong và chép trong tự điển của Bộ Lễ Đặc biệt là việc phân chia các đẳng cấp thần Thành Hoàng đã góp phần rất quan trọng trong việc hệ thống hóa, chuẩn mực hóa toàn bộ các vị thần được thờ cúng trong dân gian Nâng đẳng vị những vị thần

có công lao to lớn với đất nước, loại bỏ những vị thần xấu, ác thần để tránh cho nhân dân thờ bậy bạ Thống nhất danh xưng, tên hiệu, mĩ tự cho các vị thần Bằng cách xét theo công trạng mà các thần đã âm phù giúp nhà vua đánh giặc, giúp dân trừ thiên tai địch họa, bệnh dịch, tai ách và giúp dân lập ấp, mở nghề mà triều đình

ra sắc phong cho các thần Thành hoàng thành theo các cấp độ như sau:

Thượng đẳng thần bao gồm các vị thần có công lớn với dân, với nước, được nhà vua sắc phong và lập đền thờ như Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão,… và các thiên thần được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian

về các công trạng của họ giúp dân, giúp nước như Tản Viên Sơn Thần, Thánh Gióng, Liễu Hạnh công chúa, Chử Đồng Tử… Tất cả các vị thần này đều có công trạng hiển hách và được vua sắc phong làm Thượng đẳng thần Với các mỹ tự như Hàm Quang (Thổ thần), Trác Vỹ

Trung đẳng thần là các vị thần hoặc các quan địa phương có công khai điền lập ấp, có ơn với dân, có khi là các vị thần mà dân làng thờ đã lâu, có tên họ mà không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ tên họ, hoặc những vị thần có chút linh dị, cho tới khi vua cầu đảo, có ứng nghiệm thì triều đình phong làm Trung đẳng thần Với các mỹ tự Uông Nhuận (Thủy thần), Quang Y

Hạ đẳng thần là những vị thần được dân làng thờ cúng tuy không rõ thần tích, nhưng cũng thuộc bậc chính thần Triều đình cũng thuận theo dân làng mà sắc phong làm hạ đẳng thần Được đặt mỹ tự là Đôn Ngưng thời vua Tự Đức, hay Dực

Trang 31

Bảo Trung Hưng vào thời vua Bảo Đại (Thổ thần); mỹ tự Trừng Trạm (Thủy thần),…

Việc phân chia theo chủng thần được nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hình phân theo nguồn gốc chủng tộc của các vị thần Bao gồm chủng Nhiên thần (Thủy thần, Sơn thần như Cao Sơn Quý Minh, Tản Viên, Long Vương, Linh Lang Đại Vương ), Thiên thần (Thần Bạch Mã, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh ), Nhân thần (thần vô danh – là những vị thần không có công trạng vì với đất nước hay danh tiếng vang vọng nhưng lại gắn liền với một địa phương cụ thể, có công với một làng

xã nên được người dân tại đó tôn thờ và thần hữu danh – là những người có công lao tô lớn với đất nước, có uy vọng lớn lao đối với dân tộc và được cả nước kính trọng, thừa nhận như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hùng Vương ) (Nguyễn Duy Hinh, 1996)

Ngoài các vị phúc thần, những vị có công lao hay linh hiển phù hộ quốc gia dân tộc được mọi người công nhận đã nêu như trên, thì nhiều làng còn tiến hành thờ cúng cả những vị thần kỳ dị, bậy bạ như: thần ăn mày ở làng Thư Lan – Nam Hà; thần ăn trộm ở làng Lông Khê – Thái Bình; thần gắp phân ở làng Cổ Nhuế – Hà Nội; thần trẻ con, thần Tà Dâm… Theo cách giải thích của dân gian thì những vị thần này ngoài những khả năng khác thường, họ còn được thờ cúng bởi chết vào các giờ thiêng Thần Thành Hoàng do triều đình sắc phong là một vị thần có chức năng thay thế nhà vua mà bảo hộ, cai quản nhân dân tại một vùng đất có thể hiểu như là một vị quan thần do vua cắt đặt và chỉ định để hỗ trợ nhà vua trong việc quản lý nhân dân về mặt tinh thần hay nói cách khác là một vị thần làng khi trở thành thần Thành Hoàng thì phải thực hiện được hai chức năng chính là Hộ quốc và Tí dân Trong đó chức năng Tí dân là chức năng cơ bản mà vị thần làng nào cũng phải thực hiện để đổi lại sự tôn thờ mà dân chúng dành cho Đó là phò hộ nhân dân, đem lại

mưa thuận gió hòa, xã hội an ninh, không bị tai ương dịch họa Còn “chức năng Hộ quốc là chức năng đại diện cho nhà vua nhằm cai trị các thần làng và nhân dân, chống ngoại xâm và bảo vệ dân tộc” (Nguyễn Duy Hinh, 2004, tr 56-63)

Trang 32

Có thể nói tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng là một tín ngưỡng lâu đời và có

vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt, nó không chỉ phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, tôn trọng và sùng kính thần linh, luôn ước mong một cuộc sống hòa bình, thịnh vượng, mà nó còn là một sự duy trì tiếp nối hệ ý thức cổ xưa của tổ tiên ta về nhân sinh quan và thế giới quan trong cuộc sống xa xưa Thần Thành Hoàng là vị thần bảo trợ cho dân chúng, dân chúng tin tưởng và tôn kính thần Thành Hoàng, đó là nét đẹp trong đời sống tâm linh của

dân tộc Như Giáo sư Đào Duy Anh đã nhận định: “Thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng

là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ” (Đào Duy Anh, 2002, tr 248)

1.1.5 Di tích cấp Quốc gia

Theo từ điển tiếng Việt thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” (Hoàng Phê, 2003,

tr 254)

Căn cứ theo Luật Di sản văn hóa, đã được Chủ tịch nước Trần Ðức Lương ký

vào ngày 12/7/2001 và được kỳ họp thứ 9, QH khóa X thông qua thì “Di tích lịch sử

- văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.” (Luật di sản

văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành, 2002, Chương I, điều 4, tr 13)

Từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu được là di tích lịch sử-văn hóa là một công trình do con người tạo ra từ trong quá khứ, vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay

và nó mang trong mình những giá trị lịch sử-văn hóa của dân tộc Nó bao gồm những tính chất sau đây: do con người tạo ra; vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; nó phải chứa đựng những giá trị văn hóa (tinh thần, vật chất) và ý nghĩa lịch sử đối với con người Việc phân loại các di tích lịch sử- văn hóa thì căn cứ theo các đặc trưng được quy định tại điều 28 luật Di sản văn hóa thì gồm có:

- Di tích lịch sử

Trang 33

- Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Di tích Quốc gia là một cấp trong hệ thống phân cấp di tích lịch sử - văn hóa thuộc một quốc gia Đó là những di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam) quyết định xếp hạng di tích quốc gia Di tích quốc gia bao gồm:

- Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu những sự kiện, những mốc lịch

sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với các anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động chính trị, văn hoá, nghệ thuật và khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

- Công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc;

- Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ

- Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên

có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù (Luật di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành, 2002, Chương III, điều 13, tr 59-60)

Căn cứ vào các điều luật như trên, ta có thể thấy thiết chế đình làng đã đáp ứng các tiêu chí của một di tích, đó là tính lịch sử, văn hóa của nó Hệ thống đình

Trang 34

làng là một phần trong tâm thức làng xã của xã hội Việt Nam từ thời xa xưa, và có thể nói nó là một bộ phận gắn liền không thể tách rời, là linh hồn của chế độ làng xã nước ta Có đình tức là có làng, làng không có đình thì cũng không phải là làng, Từ

đó có thể thấy được đình làng là một loại hình di tích lịch sử mang dấu ấn quan trọng và giá trị tinh thần sâu sắc trong lòng dân tộc ta

1.1.6 Văn hóa và biến đổi văn hóa

1.1.6.1 Văn hóa

Khái niệm văn hóa là một khái niệm rất rộng và cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm mang tính thống nhất trong giới nghiên cứu về văn hóa Tủy theo mỗi nhà nghiêu cứu mà sẽ có những định nghĩa khác nhau

- Theo E.B Taylor (nhà nhân loại học người Anh) thì “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm thì “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu trưng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần Ngọc Thêm,

2014, tr 54)

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”

Từ những định nghĩa và tính chất đã nêu trên, tôi xin được đưa ra định nghĩa cho mình nhằm làm cơ sở cho việc phân tích đối tượng nghiên cứu là lễ hội Kỳ Yên

Trang 35

như sau: Văn hóa là một tổng thể những thành quả (gồm những cái hiện hữu và những cái trừu tượng) của ý thức và phương thức tư duy, hành động của một dân tộc trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội trong tiến trình lịch sử tồn tại của mình

Lễ hội Kỳ Yên là một lễ hội thuộc về văn hóa của dân tộc ta Trong nó là một tổng thể những kết quả của cả một quá trình tư duy, nhận thức và cách thức hành động trong một lịch sử lâu dài (lựa chọn lễ vật, trình tự lễ nghi, phương thức tế bái ) để thỏa mãn nhu cầu tâm linh (cầu mong an lành, hướng về thần linh, kính trọng đấng siêu nhiên), truyền thống đạo hiếu (tưởng nhớ về tổ tiên) đồng thời tạo

ra sự gắn kết cộng đồng (những lễ hội vui chơi, những sự tiếp rước khách khứa, đình bạn có giao kết với nhau, sự giao tiếp và gặp mặt của những người dân trong vùng ) Từ những ý đó, có thể khẳng định rằng lễ hội Kỳ Yên là một lễ hội văn hóa của dân tộc ta

1.1.6.2 Sự biến đổi văn hóa

Mọi sự vật, hiện tượng luôn có sự thay đổi (biến đổi) trong quá trình phát triển của mình, đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khi giải thích về nguyên lý sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội Theo lý thuyết đó, mỗi một sự vật, hiện tượng đều có xu hướng phát triển đi lên một cấp độ mới tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn

Văn hóa khi xem xét ở nghĩa rộng thì đó là toàn thể những hành vi xã hội và hành vi tự nhiên của con người và như một quy luật chung, nó cũng chịu sự chi phối của nguyên lý vận động phát triển đã nêu trên Tuy nhiên nó lại có một cách lý giải khác và đường đi cũng tương dối phức tạp hơn vì sự đa dạng của các thành tố cấu thành cũng như những sự phức tạp bên trong cấu trúc của nó

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn sách “Những vấn đề văn hóa học

lý luận và ứng dụng” thì văn hóa có ba thành tồ cấu thành là chủ thể văn hóa, không

gian văn hóa và thời gian văn hóa và văn hóa được tạo ra nhằm mang lại đời sống

Trang 36

tốt đẹp hơn cho cơn người Từ nhửng lý luận đó, có thể thấy rằng văn hóa tuy có sự

ổn định bên ngoài nhưng nó cũng rất dễ dàng thay đổi do sự thay đổi của các thành

tố bên trong nó hay do mục đích mà nó mang lại Trong đó có thể thấy chủ thể văn hóa là yếu tố dễ dàng thay đổi nhất do những sự tác động của thời cuộc hay những biến đổi của nhu cầu Bên cạnh đó, mục đích văn hóa mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cũng sẽ thay đổi theo thời gian khi mà những giá trị văn hóa xưa cũ đã không còn phù hợp với những nền tảng, bước tiến của thời đại mới thì những giá trị đó sẽ dần được biến chuyển hoặc bị loại bỏ để không kìm hãm sự phát triển của xã hội

Như vậy, sự biến đổi của văn hóa là điều tất yếu trong thời đại hiện nay, nó

là một mặt tồn tại không thể tách rời của một nền văn hóa; khi nền tảng công nghệ 4.0 cũng như sự trải rộng của thế giới phẳng đã đem con người đến gần nhau hơn và

cùng nhau chia sẻ hệ nhận thức cùng với sự tư duy mang tính chất toàn cầu, “xu hướng biến đổi văn hóa như một quá trình tất yếu của xã hội Việt Nam đương đại khi người dân có nhiều điều kiện tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài” (Lê Thị

Ngọc Điệp, 2018) Ở đây có thể nhận thấy rằng sự biến đổi của một hiện tượng văn hóa được diễn ra từ trong phần cốt lõi của một hành vi văn hóa, đó là từ sự nhận thức, thái độ, sự hiểu biết của chủ thể văn hóa cùng với những điều kiện, nhu cầu của xã hội hiện tại mà biến chuyển, thay đổi trong hành động thể hiện ra bên ngoài

Xét ở lễ Kỳ Yên trong bối cảnh hiện nay cũng chịu sự tác động như vậy, đã

có những thay đổi ít nhiều khác biệt so với trước đây khi mà những thủ tục, diễn tế

đã được điều chỉnh lại cho phù hợp hơn với những điều kiện mới trong đời sống hiện nay Tuy nhiên những sự điều chỉnh đó có thể là hợp lý mà cũng có thể là không đúng cho nên rất cần phải có sự xem xét, đánh giá nghiêm túc để đảm bảo rằng những giá trị văn hóa tốt đẹp đó vẫn giữ được nét truyền thống mà vẫn phù hợp với xu hướng thời đại mới

Trang 37

1.2 Các lý thuyết tiếp cận

Văn hóa với tư cách là một sản phẩm của xã hội loài người, được tạo ra nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh tồn cũng như làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn Viêc nghiên cứu văn hóa vì thế cũng rất đa dạng về phương pháp và hướng tiếp cận tùy theo trường hợp nghiên cứu Trong trường hợp nghiên cứu về sự biến đổi của lễ Kỳ Yên, tác giả vận dụng mô hình cấu trúc văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử của tác giả Trần Ngọn Thêm và hai khung lý thuyết

nghiên cứu chính là lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết chức năng Hai lý thuyết

này có tính chất bổ trợ cho nhau trong việc đưa ra sự giải thích về những biến đổi của đại lễ Kỳ Yên tại các đình làng

1.2.1 Mô hình cấu trúc văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng

xử

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam xuất bản

năm 1999, khi nghiên cứu văn hóa đã xây dựng nên mô hình cấu trúc của hệ thống văn hóa với các thành tố là văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử Văn hóa nhận thức đề cập đến những tri thức của con người về thế giới và về con người trong cuộc sống hàng ngày Văn hóa tổ chức dề cập đến việc tổ chức đời sống cộng đồng và tổ chức đời sống cá nhân, Văn hóa ứng xử đề cập đến cách thức ứng

xử của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong đề tài này chúng tôi sẽ vận dụng mô hình này để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về sụ biến đổi của lễ Kỳ Yên ở các thành tố văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử

Văn hóa nhận thức nhằm trình bày các đặc trưng về tư duy, nhận thức của người xưa về vai trò và vị trí của vị thần Thành Hoàng, những cách thức tế bái những quy định về từng khẩu lệnh khi lễ sinh hô lên trong những lúc tế lễ… Văn hóa tổ chức dược vận dụng để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức tổ chức lễ hội cộng đồng như thời gian, thời lượng lễ, thành viên tham gia, trình tự lễ… Văn hóa ứng xử cho thấy các cách thức mà người dân thể hiện khi

Trang 38

tiếp cận với các mối quan hệ xung quanh dưới sụ tác động của đời sống xã hội hiện đại trong những dịp lễ Kỳ Yên

1.2.2 Lý thuyết biến đổi văn hóa

Văn hóa bản chất vốn là một thiết chế có tính ổn định lâu dài vì tính cộng đồng và tính trao truyền của nó qua các thế hệ, tuy nhiên không vì vậy mà văn hóa

có tính bất biến Bất kỳ nền văn hóa nào cũng đều có những biến đổi trong nó, biến đổi từ cái nhỏ đến cái lớn, biến đổi từ cái cá nhân đến cái toàn thể xã hội, biến đổi dần dần hay biến đổi có tính bước ngoặt Chính nhờ có sự biến đổi này là yếu tố bảo đảm cho mỗi nền văn hóa được phát triển và tồn tại một cách liên tục

Có thể nói người đầu tiên đưa ra lý thuyết về biến đổi văn hóa là E Taylor khi ông nêu lên thuyết tiến hóa văn hóa (là lý thuyết phân tầng văn hóa và có sự chuyển biến đi lên từ tầng thấp đến tầng cao hơn) Khi hiểu rằng văn hóa là một sản phẩm cũa xã hội loài người và gắn liền với con người thì các lý thuyết về văn hóa cũng dần được xây dựng dựa trên những nền tảng lý thuyết của các ngành xã hội học và nhân học Theo các ngành khoa học này thì biến đổi xã hội loài người là một quá trình biến đổi của những thiết chế xã hội, những mối quan hệ xã hội, những tầng lớp trong xã hội mà nguyên nhân sâu xa là từ các yếu tố ngoại sinh cũng với các yếu

tố nội sinh trong lòng xã hội đó Văn hóa khi xem xét với tư cách là một sản phẩm của xã hội nên cũng chịu sự biến đổi như thế Sự biến đổi đó cũng do nguyên nhân chủ quan và khách quan như sự ra đời của những phát minh, sự giao lưu tiếp biến,

sự khuếch tán văn hóa giữa các dân tộc

Theo quan điểm hiện đại về biến đổi xã hội, các nhà nghiên cứu nhân học và

xã hội học cho rằng chính sự phức tạp của các thành tố cả bên trong và bên ngoài một xã hội, cũng như những mối tương quan phức tạp giữa các thành tố này đã dẫn đến sự biến đổi của một xã hội Tốc độ và quy mô của sự biến đổi ở mỗi xã hội do ảnh hưởng của những điều kiện khác nhau mà sẽ có những nét khác nhau, nhưng nhìn chung thì nguyên nhân chính yếu của sự biến đổi là:

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 39

- Sự chuyển biến cơ cấu kinh tế

- Sự giao lưu văn hóa

- Sự biến đổi do hệ tư tưởng

Giao lưu tiếp biến văn hóa là một trong những con đưởng có tác động sâu sắc tới sụ biến đổi của nền văn hóa bản địa Từ những mối tương tác, tiếp cận và du nhập các giá trị văn hóa từ những nền văn hóa bên ngoài, các giá trị văn hóa nội tại bên trong nền văn hóa bản địa sẽ bị xâm nhập, kết hợp hoặc dung hòa để dẫn đến việc tạo lập ra một giá trị văn hóa mới để bổ sung hoặc thay thế cho giá trị hiện tại

để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của con ngưởi

Bằng việc vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa vào trong đề tài nghiên cứu này, tác giả muốn nêu ra nguyên nhân (gồm những yếu tố vật chất và yếu tố con người) cũng như giải thích được sự biến đổi trong lễ hội Kỳ Yên hiện nay tại các ngôi đình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như là một tất yếu trong quá trình xã hội phát triển

1.2.3 Lý thuyết chức năng

Lý thuyết này do Bronislav Malinowski đặt nền móng trong ngành nghiên cứu Nhân học ở Anh quốc Quan niệm của B Malinowski rất ủng hộ việc tham gia thực địa, ông cho rằng việc nghiên cứu văn hóa của một cộng đồng cần phải được thực hiện từ góc nhìn của người bản xứ Ông quan tâm đến việc nền văn hóa đó vận hành như thế nào chứ không đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc và cách hình thành của chúng Theo quan điểm của ông, văn hóa là phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu của các cá nhân riêng biệt và cộng đồng nói chung Từ đó có thể hiểu mọi giá trị văn hóa (vô hình hay hữu hình) đều nhằm phục vụ cho các cá nhân và cả một xã hội nói chung

Theo thuyết chức năng của Malinowski thì các giá trị văn hóa đó được hình thành với mục đích gì và cách thức mà nó thực thi ra sao là những vấn đề được chú trọng tìm hiểu và lý giải trong việc tìm hiểu một thể chế văn hóa Để có thể lý giải một tập tục văn hóa, ta cần phải dựa vào chức năng hiện tại của chúng, và những

Trang 40

chức năng này chính là sự đáp ứng nhu cầu của con người trong một cộng đồng Từ quan niệm này của Malinowski cho ta thấy rằng mỗi một hành vi văn hóa dều là một chức năng trong đời sống cộng đồng và nó cũng giữ sự cân bằng trong đời sống

xã hội đó Khi hiểu rõ chức năng văn hóa đó thì ta mới có thể hiểu được một nền văn hóa qua những biểu hiện ra bên ngoài của nó

Khi xem xét lễ Kỳ Yên dưới góc độ tín ngưỡng tâm linh, ta thấy rằng mỗi một diễn lễ đều có chức năng riêng của nó và chúng đều phục vụ chung cho một kỳ lễ lớn Áp dụng lý thuyết chức năng vào nghiên cứu sự biến đổi của lễ Kỳ Yên sẽ cho

ta cái nhìn đúng đắn và khách quan khi tìm hiểu được các ý niệm tâm linh, các chức năng thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của người xưa Đồng thời khi xem xét sự biến đổi của lễ Kỳ Yên, ta cũng dựa vào lý thuyết chức năng để có thể khách quan giải thích phần nào những biến chuyển của nó so với trước đây

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân cư và xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở tọa độ 10º10’38 độ vĩ Bắc và 106º54’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Với tổng diện tích hơn 2.095 km2 và được chia thành 24 quận huyên Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây, có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình như sau: Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9); vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố; vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố Do nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch rất phát triển gồm các con sông lớn như sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Nhà Bè; các kênh rạch như kênh Rạch Chiếc, kênh Nhiêu Lộc, kênh Lò

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w